1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một vài kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong trường tiểu học

32 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 35,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giáo dục học sinh Tiểu học được thực hiện chủ yếuthông qua các môn học trong nhà trường.. Lịch sử phát triển của tất cả các cường quốc trên thế giới đã cho ta bài học kinhnghiệm đó

Trang 1

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục hiện nay là đào tạo nên những con người mới,con người phát triển toàn diện Cơ sở nền móng của sự phát triển này là họcsinh bậc Tiểu học Việc giáo dục học sinh Tiểu học được thực hiện chủ yếuthông qua các môn học trong nhà trường Do vậy, học sinh ở Tiểu học được họctất cả các môn học Đảng và Nhà nước đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa

- hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,văn minh, đất nước vững bước đi lên Xã hội chủ nghĩa Giáo dục phải thực sự

là quốc sách hàng đầu,… Cải tiến chất lượng dạy và học để hoàn thành tốt việcđào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực con người cho công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII)

Theo định hướng đó, bậc Tiểu học là nền tảng nên mục tiêu giáo dục là nângcao chất lượng giáo dục toàn diện Từ đó, mỗi môn học ở Tiểu học đều gópphần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và cung cấp cho học sinhnhững kiến thức cần thiết , cơ bản Cũng không ngoài nhận thức đó, công tácbồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trongcông tác chuyên môn của nhà trường Công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi cần

có nguồn nhân lực giỏi để kế thừa, để gánh vác các công việc quan trọng Lịch

sử phát triển của tất cả các cường quốc trên thế giới đã cho ta bài học kinhnghiệm đó là muốn phát triển đất nước thì phải biết đi tắt đón đầu, đầu tư mạnhcho giáo dục và khoa học công nghệ Nước ta đi lên xây dựng Xã hội chủ nghĩaxuất phát từ điểm thấp, lại phải trải qua bao biến động của chiến tranh cho nênảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục Ý thức được điều đó, các năm học gần đây

có ý nghĩa hết sức quan trọng, cùng với Đảng, toàn dân, ngành giáo dục triểnkhai trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về giáo dục - đào tạo

Trang 2

“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nhằm “Nâng cao chất lượngnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế của đất nước”

Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, đòi hỏi con người phải có trí tuệ,

có tài năng, sức khỏe, năng động và sáng tạo Nhiệm vụ của nhà trường là giáodục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện Để đào tạo được nhữngthế hệ học sinh tốt đòi hỏi người giáo viên phải thực sự là một tấm gương “Đạođức tự học và sáng tạo”, luôn biết trau dồi phẩm chất đạo đức, nâng cao nănglực chuyên môn của chính bản thân mình

Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng coi trọng hiền tài “Hiền tài là nguyênkhí Quốc gia” Một đất nước phát triển là một đất nước có nền kinh tế vữngmạnh, chính trị ổn định, giáo dục phát triển đó là giáo dục nhiều nhân tài Nhântài ấy được tôi luyện trong quá trình giáo dục Mục tiêu của nhà trường là tạo ranhững con người có cả đức và tài như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói:

“Có tài mà không có đức thì thành người vô dụng, có đức mà không có tài thìlàm việc gì cũng khó” Để đào tạo được những con người tài đức cho đất nướcthì phải có nền giáo dục mạnh Để thực hiện được điều đó thì nhà trường phải

có chất lượng giáo dục tốt “Dạy thật, học thật” mà trên thực tế chắc chắn rằngchất lượng giáo dục tốt, đội ngũ thầy cô giáo giỏi thì sẽ có uy tín trước lãnh đạo

và phụ huynh học sinh

Con người là hội tụ của nền giáo dục cộng đồng đó là sự kết hợp giữa ba môitrường “nhà trường - gia đình và xã hội” Như chúng ta đã biết, học sinh giỏi đạtkết quả cao trong các kỳ thi do nhiều yếu tố như tố chất của học sinh, sự quantâm của gia đình, ý thức học tập của các em, việc bồi dưỡng và cũng không loạitrừ yếu tố may mắn Tuy nhiên, chúng ta không chỉ chờ đợi và cầu mong sựmay mắn bởi vì yếu tố may mắn chỉ là một phần rất nhỏ của sự thành công.Phương ngôn có câu: “Trở thành nhân tài một phần do tài năng, còn chín mươi

Trang 3

chín phần là nhờ sự tôi luyện” Để tố chất thông minh của học sinh phát triển tốtthì trách nhiêm của nhà trường là phải nắm bắt và bồi dưỡng cho các em trởthành một học sinh có ích Do vậy, việc bồi dưỡng vẫn là yếu tố quan trọng Với

ý thức yêu nước, yêu nghề, tôi luôn suy nghĩ cần bồi dưỡng học sinh với nhữngnội dung gì? Bồi dưỡng như thế nào cho đạt hiệu quả và lâu bền? Qua nghiêncứu và những năm tháng thực tế giảng dạy, tôi đã thực hiện có thể nói đã đạt kếtquả bước đầu về công tác học sinh giỏi nên đã đúc rút được một số kinh nghiệm

để bồi dưỡng cũng như phổ biến cho đồng nghiệp Đó là lý do tôi chọn đề tài

nghiên cứu “Một vài kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong trường Tiểu học”.

2 Mục đích của đề tài:

- Để nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh

- Đào tạo được một đội ngũ nhân tài cho đất nước

- Giúp học sinh hình thành kỹ năng, sử dụng thành thạo và vận dụng linh hoạtcác dạng toán đã học để áp dụng vào thực tiễn

- Giúp giáo viên nắm được vị trí và tầm quan trọng của việc nâng cao chấtlượng bồi dưỡng học sinh giỏi

- Giúp giáo viên thấy được những hạn chế trong việc tiếp thu và rèn luyện kỹnăng cần thiết trong quá trình học tập của học sinh

- Đề xuất một số biện pháp bồi dững học sinh giỏi Tiểu học mà người viết đãnghiên cứu qua các sách vở cũng như qua các lớp bồi dưỡng hay qua các tiếtdạy của các đồng nghiệp và các kênh thông tin khác được đúc kết lại

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Quan sát

Trang 4

- Thảo luận chuyên đề, nghiên cứu tài liệu.

- Thực nghiệp, so sánh, đối chiếu

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Là một sáng kiến kinh nghiệm nên đối tượng chính là con người, mà cụ thể đó

là các em học sinh lớp Bốn và lớp Năm về môn Toán của trường Tiểu học AnBình B - phường An Bình - thị xã Dĩ An - tỉnh Bình Dương

- Cơ sở vật chất đầy đủ để phục vụ trong công tác dạy và học

- Có thư viện đạt chuẩn theo QĐ 01/2003/QĐ-BGDĐT ngày 2/1/2003 của BộGiáo dục và Đào tạo

Trang 5

- 100% lớp học 2 buổi / ngày có bán trú thuận lợi cho công tác giảng dạy.

2 Khó khăn:

- Là địa bàn dân nhập cư đông, đủ mọi thành phần Đa số học sinh là con emcông nhân lao động, cha mẹ thường làm việc trong công ty, xí nghiệp từ sángcho tới tối, đôi khi còn phải tăng ca nên việc quan tâm đến con cái còn hạn chế

- Bản thân tôi mới về nhận nhiệm sở (Từ 01/10/2012) nên việc thăm nắm tìnhhình, tâm tư tình cảm cũng như năng lực của từng giáo viên và học sinh chưađược sâu sát

Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã suy nghĩ và tìm ra được một sốbiện pháp sau:

C - NỘI DUNG

1. 1 Vai trò của người Thầy:

Trước hết, ta phải xác định được vai trò của người Thầy là hết sức quan trọng.Bởi vì người Thầy có vai trò chỉ đạo và hướng dẫn học sinh, gợi ý, dẫn dắt họcsinh để đi đến các phương pháp học nói chung và giải toán nói riêng Nếu họcsinh có kiến thức cơ bản tốt, có tố chất thông minh mà không được bồi dưỡng,nâng cao tốt sẽ ít có hiệu quả hoặc thậm chí không có hiệu quả Đồng thời, giáoviên phải biết lựa chọn đúng đối tượng học sinh để bồi dưỡng và phải lên kếhoạch chương trình bồi dưỡng sao cho một cách hợp lý, khoa học và sáng tạo

Thực tế cho thấy, một số em có tố chất tốt nhưng ý thức học tập không cao, cẩuthả, thiếu nỗ lực trong học tập, tham gia các phong trào học sinh giỏi thường đạtđiểm thấp Vì thế, để học sinh luôn cố gắng hết khả năng của mình, giáo viêncần thường xuyên tác động tới ý thức học tập của học sinh bằng nhiều hình thứckhác nhau như: nêu gương sáng về học tập của các tầng lớp đi trước, gương

Trang 6

sáng về vượt khó trong học tập, kể cho học sinh nghe về một số cuộc thi, chocác em thấy được nếu nỗ lực cố gắng sẽ đạt giải cao trong các cuộc thi và sẽ cóích cho cuộc sống sau này Từ đó là niềm vinh dự, tự hào không chỉ cho chínhbản thân mà còn cho cả cha mẹ, thầy cô, bạn bè, người thân, ngược lại nếuthiếu cố gắng một chút thôi có thể không đem lại kết quả gì Nói chung ngườigiáo viên vừa phải có chuyên môn giỏi, vừa phải có tâm huyết và cũng phải cótâm lý hay thì mới là một giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi được.

1. 2 Vai trò của người học sinh:

- Giáo viên phải đánh giá học sinh một các khách quan, chính xác, không chỉqua bài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng hàng ngày Việc lựa chọn đúngkhông chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng mà còn tránh bỏ sót học sinh và cũngkhông bị quá sức đối với những học sinh không đủ tố chất

- Từ đó, tôi đưa ra những căn cứ để lựa chọn:

Lựa chọn các đối tượng học sinh thông qua các giờ học:

+ Những học sinh thông minh thường chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu ýkiến, ý kiến thường đúng và có sáng tạo

+ Cũng phải cần phân biệt với những em hăng hái nhưng không thông minh thìthường hay phát biểu trệch hướng

+ Ngược lại có những em tuy ít phát biểu nhưng khi gọi tên và yêu cầu trình bàythì những em này thường trả lời chính xác và có ý hay

Lựa chọn vào kết quả chấm, chữa bài:

Những em thông minh, chắc chắn thường có ý thức học tập tốt, làm bài đầy đủ,trình bày bài sạch đẹp, lý luận chặt chẽ, khoa học và thường có ý thức xungphong chữa bài tập cũ hoặc có ý kiến hay góp phần cho bài tập phong phú

Trang 7

Lựa chọn thông qua các vòng thi, kiểm tra:

+ Để việc thi, kiểm tra đánh giá đúng chất lượng học sinh thì ngoài việc thựchiện đúng qui chế thi cử như sắp xếp chỗ ngồi, giám sát chặt chẽ, quán triệt họcsinh không được nhìn bài nhau thì cũng cần sắp xếp những em thường ngàyngồi gần nhau, chơi thân với nhau, anh em với nhau, thì đến khi thi hay kiểmtra thì nên được ngồi xa cách nhau

+ Khi chấm bài thi, giáo viên cần phải vận dụng biểu điểm linh hoạt Cầ ưu tiênđiểm cho những bài làm có tính sáng tạo, trình bày bài khoa học

+ Tuy nhiên để việc thi cử, kiểm tra đạt hiệu quả, giáo viên cần ra đề trên cơ sởnhững dạng bài tập đã được bồi dưỡng và có độ khó tăng dần

Ví dụ khi ra đề ở lớp 4 thì giáo viên nên:

Câu 1: Lớp 4A có 40 học sinh Lớp 4B có 36 học sinh Lớp 4C có số học sinh ít

hơn mức trung bình của cả ba lớp là 2 bạn Hỏi số học sinh của lớp 4C?

Trang 8

Câu 2: Tuổi trung bình của một đội bóng đá ( 11 người ) là 22 tuổi Nếu không

kể đội trưởng thì tuổi trung bình của 10 cầu thủ còn lại chỉ là 21 Hỏi tuổi củađội trưởng hơn tuổi trung bình của toàn đội là bao nhiêu?

Câu 3: Tổng số tuổi của hai anh em là 25 Nếu bớt đi tuổi anh 3 tuổi, thêm vào

tuổi em 2 tuổi thì tuổi hai anh em bằng nhau Tính tuổi mỗi người

Giải

Anh hơn em số tuổi là:

3 + 2 = 5 ( tuổi )

Tuổi anh là:

Trang 9

( 25 + 5 ) : 2 = 15 ( tuổi )

Tuổi em là:

25 – 15 = 10 ( tuổi )

Đáp số: Anh 15 tuổi, em 10tuổi

Câu 4: Số trung bình cộng của ba số 50; 46 và a là 53 Tìm số liền trước của số

Câu 5: Một vườn trường hình chữ nhật có chu vi là 192m Tính diện tích của

vườn, biết rằng nếu chiều rộng tăng thêm 8m, chiều dài giảm đi 8m thì mảnh đất

đó trở thành hình vuông

Giải

Nửa chu vi vườn trường là:

Trang 10

Câu 6: Cả hai thùng chứa được 398 lít dầu Nếu đổ 50 lít từ thùng thứ nhất sang

thùng thứ hai thì lúc đó thùng thứ hai sẽ chứa nhiều hơn thùng thứ nhất 16 lít.Hỏi số lít dầu lúc đầu ở mỗi thùng?

Trang 11

191 + 50 = 241 ( lít )

Lúc đầu thùng thứ hai có:

398 – 241 = 175 ( lít )

Đáp số: 241 lít và 157 lít dầu

Câu 7: Chu vi tam giác ABC là 432cm Biết cạnh BC dài hơn cạnh AB là 14cm

nhưng lại ngắn hơn cạnh AC là 8cm Tính độ dài ba cạnh của tam giác

Trang 12

132 + 14 = 146 ( cm )

Cạnh AC dài là:

146 + 8 = 154 ( cm )

Đáp số: 132 ( cm ); 146 ( cm ); 154 ( cm )

Câu 8: Trong tháng đầu năm học, kết quả học tập của Mai đạt được như sau;

mười điểm 10, tám điểm 9, một điểm 7 và hai điểm 5 Hỏi điểm trung bình củaMai trong tháng đó là bao nhiêu?

Trang 13

Hai số chẵn liên tiếp nhau hơn kém nhau 2 đơn vị.

Do đó giữa hai số chẵn có 5 số lẻ thì hai số chẵn này hơn kém nhau:

Câu 11: Xã Phổ Văn trồng được 426 cây ăn quả và cây hồ tiêu, sau đó xã

lại trồng thêm 52 cây hồ tiêu nữa và như vậy số cây hồ tiêu nhiều hơn cây ănquả là 74 cây Tính số cây mỗi loại mà xã Phổ Văn trồng?

Trang 14

Câu 12: Có một số trâu buộc vào các cọc để khỏi đi lang thang ăn lúa.

- Nếu mỗi cọc buộc 3 con trâu thì thừa 2 con trâu

- Nếu mỗi cọc buộc 4 con trâu thì thiếu 2 con trâu

Tính số trâu và số cọc

Trang 15

Đáp số: 14 con trâu và 4 cái cọc

Câu 13: Bác Tư dùng 2 cây tre có chiều dài 16 dm và 2 cây tre có chiều dài 1m

buộc thành một hình chữ nhật Sau khi đưa lên giàn cây cao thì khung tre bịbiến dạng thành hình bình hành, nhưng vẫn giữ nguyên các cạnh ghép Tính chu

vi và diện tích của khung hình bình hành biết chiều cao đo được là 9 dm

Câu 14: Cắt một tấm gỗ hình bình hành rồi ghép lại thành một hình chữ nhật và

không làm hao hụt một chút nào nên hầu như không thay đổi diện tích Bác

Trang 16

Năm đã cắt ghép 8 tấm gỗ hình bình hành bằng nhau để ghép thành sàn nhàkho Biết rằng mỗi hình bình hành có chiều dài là 4m và diện tích là 80 dm2.Hình chữ nhật được ghép có chiều dài bằng với cạnh của hình bình hành Tínhdiện tích và chu vi hình chữ nhật.

Giải

4m = 40dm

Tổng chiều cao các hình bình hành là chiều rộng của hình chữ nhật

Chiều cao của hình bình hành là:

Câu 15: Lan có 18 nhãn vở, Hồng có 24 nhãn vở, Huệ có số nhãn vở hơn trung

bình cộng số nhãn vở của cả ba bạn là 2 nhãn vở Hỏi Huệ có bao nhiêu nhãnvở?

Giải

Trang 17

Theo đề bài ta có sơ đồ:

TBC TBC TBC

?

18 + 24 2

Huệ

Hai lần trung bình cộng số nhãn vở của 3 bạn là:

18 + 24 +2 = 44 ( nhãn vở )

Trung bình cộng số nhãn vở của 3 bạn là:

44 : 2 = 22 ( nhãn vở )

Số nhãn vở của Huệ là:

22 + 2 = 24 ( nhãn vở )

Đáp số: 24 nhãn vở

Câu 16: Tổng số sách của hai ngăn là 2995 quyển Nếu chuyển 125 quyển sách

từ ngăn thứ nhất sang ngăn thứ hai rồi lại chuyển 48 quyển sách từ ngăn thứ hai sang ngăn thứ nhất thì ngăn thứ nhất hơn ngăn thứ hai 341 quyển Hỏi mỗi ngăn

có bao nhiêu quyển sách?

Giải

Nếu chuyển 125 quyển sách từ ngăn thứ nhất sang ngăn thứ hai rồi lại chuyển

48 quyển sách từ ngăn thứ hai sang ngăn thứ nhất thì tổng số sách của cả hai ngăn không đổi ( vẫn là 2995 quyển ) mà khi đó số sách ở ngăn thứ nhất nhiều

Trang 18

hơn ở ngăn thứ hai là 341 quyển Vậy số sách ở ngăn thứ hai khi đólà: 0,25

Ngăn thứ hai 1250 quyển sách

Câu 17: Bốn năm trước đây tổng số tuổi của hai mẹ con là 40 tuổi Tính tuổi

của mỗi người hiện nay, biết mẹ hơn con 30 tuổi

Trang 19

Đáp số: Con 9 tuổi; Mẹ 39 tuổi

Câu 18: Tổng của hai số là 713 Nếu bớt ở số lớn đi 26 đơn vị thì số lớn vẫn

hơn số bé là 211 đơn vị Tìm hai số đó

Những đề như thế, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ và vận dụng những kiến thức

đã học để làm bài Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ đánh giá được những em nào cónăng lực thực sự trong học tập để bồi dưỡng

+ Để đánh giá một cách chính xác và nắm được mức độ tiếp thu cũng như sựtiến bộ của học sinh thì cần tổ chức thi, kiểm tra và sàng lọc qua nhiều vòng

1. 3 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng:

- Ngay từ đầu năm học, giáo viên giảng dạy trực tiếp phải chọn được đội tuyểnhọc sinh giỏi và tiến hành lập kế hoạch bồi dưỡng

Trang 20

- Giáo viên cần dựa trên khả năng học tập của học sinh mà xây dựng những yêucầu cần đạt trong khi dạy Cần khái quát các kiến thức cơ bản, trọng tâm củachương trình đã học Của từng mảng kiến thức giúp học sinh nắm chắc nộidung, yêu cầu cần đạt Để từ đó, học sinh có thể vận dụng vào bài làm một cáchlinh hoạt, sáng tạo và hiệu quả.

Phần 1: Ôn tập lại lý thuyết

Phần này, giáo viên cần củng cố lại phần lý thuyết liên quan đến kiến thức cần

ôn luyện trong giờ học (Học sinh nêu lại lý thuyết thì phải có ví dụ làm minhchứng)

Phần 2: Làm bài tập thực hành

Ở phần này, khi thiết kế và chọn các bài tập cho các học sinh làm, thì giáo viênphải lưu ý tới khả năng nhận thức của học sinh (Từ dễ đến khó, kiến thức liênquan đúng với phần lí thuyết đã ôn)

Quá trình hướng dẫn học sinh thực hành, giáo viên cần chú ý hướng dẫn kỹthuật làm bài để hướng các em tìm ra nhiều cách làm và từ đó chọn được cáchlàm phù hợp nhất cho mỗi bài tập

Phần 3: Củng cố kiến thức

Ngày đăng: 04/12/2020, 07:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w