ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Viết Nhụ
HÀ NỘI – 2011
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC SƠ ĐỒ
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 5
1.1.1 Trên thế giới: 5
1.1.2 Ở Việt Nam: 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản: 12
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục: 12
1.2.2 Đội ngũ và đội ngũ giảng viên là gì: 18
1.2.3 Khái niệm về chất lượng, chất lượng đội ngũ 19
1.2.4 Biện pháp là gì: 20
1.3.Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, vị trí và vai trò của giảng viên trường CĐSP: … 21
1.3.1 Giảng viên: 21
1.3.2 Tiêu chuẩn và nhiệm vụ giảng viên trường CĐSP: 21
1.3.3 Vai trò và vị trí của giảng viên trong nhà trường ĐH - CĐ: 23
Trang 31.4 Những yếu tố cơ bản về chất lượng ĐNGV: 24
1.5 Những yếu tố giúp nâng cao chất lượng ĐNGV: 28
1.6 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV 30
Kết luận chương 1: 31
Chương 2: Thực trạng về chất lượng và biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên trường CĐSP Thái Bình . 32
2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của trường CĐSP Thái Bình: 32 2.2 Chức năng và nhiệm vụ của trường CĐSP Thái Bình 32
2.3 Quyền hạn và trách nhiệm của trường CĐSP Thái Bình 34
2.4 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường CĐSP Thái Bình 35
2.4.1 Số lượng và cơ cấu ĐNGV 35
2.4.2 Chất lượng 40
2.5 Đánh giá chung: 44
2.5.1 Mặt mạnh: 44
2.5.2 Mặt yếu: 46
2.5.3 Nguyên nhân 47
2.6 Thực trạng về các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV ở trường CĐSP Thái Bình trong thời gian qua 48
2.6.1 Công tác tuyển dụng GV 48
2.6.2 Công tác bố trí, sử dụng GV 49
2.6.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng GV 50
2.6.4 Công tác kiểm tra, đánh giá GV 51
2.6.5 Thực trạng về việc bố trí bộ môn giảng dạy, chế độ đãi ngộ và các chính sách tiền lương đối với GV của nhà trường 53
Kết luận chương 2: 55
Trang 4Chương 3: Một số biện pháp quản lý n ng c chất lượng ĐNGV củ
trường CĐSP Thái Bình 56
3.1 Định hướng, quan điểm và mục tiêu của việc xây dựng các giải pháp: 56
3.2 Nguyên tắc đề xuất các biên pháp 60
3.3 Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV ở trường CĐSP Thái Bình: 62
3.3.1 Biện pháp 1: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên 62
3.3.2 Biện pháp 2: Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác sinh hoạt chuyên môn ở bộ môn 64
3.3.3 Biện pháp 3: Thực hiện tốt công tác tuyển chọn, bổ sung giảng viên; tạo cơ chế chính sách hợp lý để thu hút giảng viên giỏi 66
3.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên 70
3.3.5 Biện pháp 5: Thực hiện chế độ chính sách, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giảng viên 75
3.4 Tổ chức thực hiện các biện pháp 79
3.5 Khảo sát ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 81
Bảng kết quả hỏi ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp83 Kết luận chương 3: 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận: 85
2 Khuyến nghị: 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 5DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
1
2
3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23
24
25 26
CBQL
CĐ
CĐSP
CNH – HĐH
CSVC
ĐH
ĐHSP
ĐNGV
ĐT
GD & ĐT
GDĐH
GV
HSSV
KH – CN
KT
KT – XH
NCKH
QL
QLGD
SV
TH
THCS
THCN
UBND
XH
XHCN
Cán bộ quản lý Cao đẳng Cao đẳng sư phạm Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Cơ sở vật chất Đại học
Đại học sư phạm Đội ngũ giảng viên Đào tạo
Giáo dục & Đào tạo Giáo dục đại học Giảng viên Học sinh sinh viên Khoa học – công nghệ Kinh tế
Kinh tế - xã hội Nghiên cứu khoa học Quản lý
Quản lý giáo dục Sinh viên
Tiểu học Trung học cở sở Trung học chuyên nghiệp
Uỷ ban nhân dân
Xã hội
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC SƠ ĐỒ
Tờn bảng, sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Chức năng và chu trỡnh của quản lý
Bảng 2.1 Thống kê số lượng CBGD trong những năm gần đây
Bảng 2.2 Đỏnh giỏ về số lượng giảng viờn so với yờu cầu
Bảng 2.3 Thống kê số lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên cơ hữu
của nhà trường xét trên các mặt: giới tính, tuổi đời, trình độ học
Bảng 2.6 Số lượng đề tài các cấp đã nghiệm thu và tỷ lệ số lượng
đề tài trên số lượng GV cơ hữu
Sơ đồ 3.1 Quy trỡnh tuyển chọn Giảng viờn
Sơ đồ 3.2 Nội dung đỏnh giỏ
Bảng 3.1 Kết quả hỏi ý kiến về mức độ cần thiết của cỏc biện
phỏp
Bảng 3.2 Kết quả hỏi ý kiến về tớnh khả thi của cỏc biện phỏp
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển nguồn nhân lực ở các trường CĐ, ĐH là vấn đề “ phát triển
đội ngũ giảng viên” và “ nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên” Một vấn
đề “hàng đầu” nhằm duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Đặc biệt với các trường sư phạm, chất lượng của đội ngũ giảng viên sẽ trực tiếp quyết định và ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng đội ngũ giáo
viên ngành học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Mà: “Phi mầm non bất
thành nhân cách, phi phổ thông bất thành dân trí” Vì vậy để phát triển GD –
ĐT, vấn đề quan trọng là nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên để tạo ra được một đội ngũ giảng viên chuẩn về trình độ đào tạo, giỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ sư phạm và mẫu mực về nhân cách
Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/ 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người”.[2]
“Trong lịch sử nước ta "Tôn sư trọng đạo" là truyền thống quý báu của dân tộc ta, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng Những năm qua chúng ta đã xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Đội ngũ nhà giáo đã đáp ứng được cơ bản yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước” [2]
Tuy nhiên trước tình hình mới của sự phát triển, đội ngũ nhà giáo, cán
bộ quản lý giáo dục còn có những bất cập hạn chế, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi phải tăng cường xây
Trang 8dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, một cách toàn diện Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn
Nhà giáo là đội ngũ cán bộ đông đảo, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người và đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định: “Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”.[11]
Giáo dục đại học giữ một vị trí quan trọng trong việc ĐT nguồn nhân lực có trình độ cao Khâu quyết định chất lượng ĐT trong các trường ĐH, CĐ
là đội ngũ giảng viên Đặc biệt đối với các trường CĐSP và ĐHSP thì vai trò của người GV ở đây càng trở nên có ý nghĩa hơn Việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV nhằm nâng cao chất lượng ĐT của các nhà trường này trở thành vấn đề then chốt trong giai đoạn hiện nay
Trường CĐSP Thái Bình là một trong những trường đầu ngành trong việc ĐT giáo viên cho tỉnh Thái Bình Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là
ĐT giáo viên cho các ngành học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Liên kết đào tạo ĐH và sau ĐH, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý các trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở cho tỉnh Thái Bình, ĐT các ngành ngoài sư phạm, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho tỉnh Thái Bình và các địa phương lân cận Cùng với nhiệm vụ ĐT, bồi dưỡng giáo viên và CBQL các cấp, nhà trường còn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
Một trong những vấn đề có tính quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường CĐSP Thái Bình là ĐNGV và chất lượng ĐNGV Việc tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV của nhà trường trước yêu cầu hiện nay là một đòi hỏi tất yếu
Với những lý do nêu trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản
lý nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình.” làm
Trang 9đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn góp phần tìm ra một
số biện pháp có tính khả thi và thiết thực cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của nhà trường
và công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, chất lượng đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Thái Bình chưa thật tốt, vẫn còn một số yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng GD-ĐT trong giai đoạn mới
Nếu các biện pháp được thực thi, hợp lý từ vấn đề nhận thức đến hành động thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường CĐSP Thái Bình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
5.2 Khảo sát thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình
Trang 105.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên, vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình trong những năm gần đây và đến năm 2015
7 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai tốt các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra tác giả đã kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau :
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Các văn bản, các thông tư, nghị định, sách báo, tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả khác… để xây dựng cơ sở lý luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp thử nghiệm kiểm tra
- Phương pháp phỏng vấn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham
khảo Nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương II: Thực trạng về chất lượng và biện pháp quản lý nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Thái Bình
Chương III: Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
viên Trường CĐSP Thái Bình
Trang 11tế hoá, hiện đại hoá (HĐH) và quốc tế hoá GDĐH
Để đáp ứng tốt hơn, nhanh hơn các yêu cầu của toàn cầu hoá, phát triển
KH - CN, kinh tế tri thức, nhiệm vụ quan trọng của các trường đại học cao đẳng là đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao để cung cấp cho thị trường lao động Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó, yếu tố cơ bản nhất, có tính quyết định là chất lượng của đội ngũ cán bộ, giảng viên của các trường đại học, cao đẳng
Cùng với quá trình phát triển về mọi mặt của đời sống KT- XH, hệ thống giáo dục của các nước luôn luôn được các quốc gia quan tâm phát triển
và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu phát triển giáo dục của các tầng lớp dân
cư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá và sự ra đời của nền tri thức ở tất cả nước trên thế giới, bất luận
là nước giàu hay nước nghèo, Châu Á hay châu Âu, ĐNGV có vai trò quyết định đến yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân
Trang 12tài và qua đó nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia Sau đây
là kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD $ ĐT một số nước trên thế giới
Pháp ( Châu Âu )
Nước đặt sự nhấn mạnh đầu tiên ở cá nhân con người hoàn thiện mạnh
về mặt tinh thần trí tuệ con người chân chính, được coi là mực thước cho mọi
sự vật và có thể đương đầu với mọi thách thức, thông qua sự giáo dục của bản thân từ một nền văn hoá phổ thông Chiến lược giáo dục của Pháp từ nhiều năm qua là, trước hết mở rộng nhanh chóng giáo dục sử học để mọi người biết chữ đều có thể duy trì thực sự và có một hiểu biết cơ sở về cuộc sống ( văn hoá phổ thông); đòi hỏi chú trọng về giáo dục, trong học tập có sự ganh đua ở mức độ cao để chọn những người thực sự có tài năng có một cơ hội tuyển vào để có thể tận dụng cơ hội của mình Để thực hiện chiến lược giáo dục có hiệu quả này, Pháp chú trọng đến việc đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên Đào tạo giáo viên đại học được coi như thuộc giai đoạn III của đào tạo đại học Giáo viên phải có bằng tiến sĩ mới được phát chức giáo sư Trong một số ngành học việc lựa chọn giáo viên đại học phụ thuộc vào kết quả kỳ thi tuyển lấy chứng chỉ dạy đại học
cả các chương trình dẫn đến văn bằng đại học Mục tiêu của các khoá học này
Trang 13cho phép thanh niên đã hoạt động nghề nghiệp được đào tạo đại học Về nguyên tắc, các khoá học buổi tối và hàm thụ được coi là tương đương các khoá học chính quy Thiết lập hệ thống giáo dục mềm dẻo nhờ có sự phát triển giáo viên đáp ứng nhu cầu mới cảu công nghệ, tác dụng tích cực của giáo viên thỉnh giảng từ các cơ sở dạy nghề tư nhân Việc học tại chức không thoát ly hoạt động nghề nghiệp, các khoá học buổi tối và hàm thụ rất được chú trọng
Hoa Kỳ (Châu Mỹ )
Người Hoa Kỳ với ba nét đặc trưng nổi bật “Lý tưởng, năng động, năng suất cao” Bản chất của sự phát triển và phong cách quốc gia được bộc
lộ trong giáo dục Các trường đào tạo giáo viên (teacher colleges), các trường
sư phạm ban đầu thường phát triển từ các trường Cao đẳng khoa học xã hội và nhân văn hay trường Cao đẳng của bang thậm chí từ các trường đại học đa ngành Mặt khác một số trường dạy văn học và khoa học đã tổ chức các chương trình đào tạo về sư phạm Xu hướng trong lĩnh vực này là mở rộng đào tạo cơ bản cho các giáo viên tương lai Việc đào tạo giáo viên tiểu học cũng như trung học được tiến hành ở nhiều bang của Hoa Kỳ, kéo dài 5 năm đại học Gần như toàn bộ giáo viên dạy cao trung và đa số giáo viên dạy sơ trung trên thực tế là người có văn bằng đại học đầu tiên là cử nhân, chỉ một tỷ
lệ nhỏ có văn bằng thứ hai Hiện nay, Hoa Kỳ có khoảng 700000 giáo viên đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học Nhìn chung, giáo viên có trình
độ cao, đảm bảo công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, để phát triển đội ngũ giáo viên trong thế kỷ 21, Hoa Kỳ cho rằng các vấn đề sau cần được thận trọng trong xem xét:
- Chất lượng giáo viên đang có xu hướng giảm sút do nhiều sinh viên suất sắc sau khi tốt nghiệp không thích làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học mà muốn công tác ở các ngành nghề khác
Trang 14- Một số ngành học phải cạnh tranh với mức lương cao hơn ở bên ngoài
có thể không đủ giáo viên chuyên trách, như vậy các cơ sở đào tạo phải thuê thêm giáo viên kinh nghiệm hoặc thỉnh giảng
- Các trường đại học và cao đẳng quan tâm một loạt vấn đề khác có tác động đến đời sống của giáo viên nhằm thu hút những giáo viên có trình độ cao để có thể cạnh tranh trong xã hội hiện đại
- Thay thế giáo viên cũ và phát triển đội ngũ giáo viên có chất lượng Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập,
để giáo dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới Trên sân chơi quốc tế chúng ta vừa phải nhập cuộc vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, để không thu mình lại nhưng cũng không bắt chước rập khuôn vội vã Làm thế nào để tiếp nhận và lớn lên qua làn sóng toàn cầu hoá Đó là thách thức đối với giáo dục, trước hết là thách thức đối với những người có trách nhiệm lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục hiện nay
1.1.2 Ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, “đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” bằng hàng loạt chủ trương, chính sách:
- Tháng 8/ 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc cách mạng tháng Tám thành công Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Nhà nước cách mạng non trẻ ra đời đã phải tiếp quản di sản nền giáo dục đô hộ sau hơn 80 năm Pháp thuộc với nhiều khó khăn chồng chất: Ngân khố trống rỗng, sự khác biệt trong chế độ giáo dục, hệ thống giáo dục giữa các vùng miền, đại bộ phận dân chúng thất học với hơn 95 % dân số mù chữ Để khắc phục hậu quả trên, trong sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Xây dựng nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng với ba nguyên tắc căn bản đó là: đại chúng – dân tộc – khoa học”
Trang 15- Ngày 19/12/1946 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đặt ra cho giáo dục nước ta những nhiệm vụ mới, trong đó vừa phục vụ kháng chiến vừa góp phần vào công cuộc kiến quốc
- Song song với việc tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, nhận thấy nhu cầu chuyển đổi cơ cấu hệ thống giáo dục, để phù hợp với cuộc kháng chiến Trên cơ sở cơ cấu lại hệ thống của nền giáo dục quốc dân bao gồm ba bộ phận: Phổ thông – bổ túc văn hoá - chuyên nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ vừa kháng chiến vừa sản xuất và xây dựng đất nước Trong
đó chú trọng bổ túc văn hoá để xoá nạn mùa chữ
- Năm 1954, hoà bình lặp lại ở miền Bắc, đứng trước nhu cầu thống nhất hệ giáo dục, tháng 3/1956, đại hội giáo dục phổ thông toàn miền Bắc đã họp thông qua đề án Hệ thống giáo dục mới hệ 10 năm đã được Thủ tướng chính phủ ký ban hành
- Trước đổi mới (1975 – 1985), sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tháng 11/1979, Bộ chính trị thông qua nghị quyết 14 về vấn đề cải cách giáo dục xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân mới thống nhất trong
cả nước với đầy đủ các bậc học:
+ Giáo dục mầm non: Nhà trẻ, mẫu giáo
+ Giáo dục phổ thông: Tiểu học, THCS, Trường đào tạo nghề
+ Giáo dục chuyên nghiệp: THCN, Trường đào tạo nghề
+ Giáo dục đại học: Cao đẳng, Đại học, Sau đại học
+ Giáo dục thường xuyên
- Sau đổi mới(1986 – nay), cùng với công cuôc đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội, năm 1986, Đảng ta có chỉ đạo đối với ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện những bước đổi mới trong hệ thống giáo dục quốc dân Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá X
kỳ họp thư tư thông qua ngày 9/12/1998, 2005 và sửa đổi 2009
Trang 16- Nghị định số 40/2000/QĐ - 10 được Quốc hội khoá 10 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Quyết định số 64/ 1998/ QĐ - TTG -10 được quốc hội khóa 10 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Quyết định số 64/1998/ QĐ-TTG ngày 22/2/1998 của Thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm Chủ tịch hội đồng xét tặng danh hiệu: “ Nhà giáo
ưu tú”
- Chỉ thị 18/2001/CT- TTG ngày 27/8/2001 của Chính phủ về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân
Các quyết định, thông tư, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
+ Thông tư số 18/1998/TT- Bộ GD & ĐT ngày 17/4/1998 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT về việc hướng dẫn công tác quy hoạch cán bộ
+ Chỉ thị số 29/1998/ CT Bộ GD & ĐT ngày19/5/1998 của Bộ GD&ĐT về việc bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo hè
1998
+ Chỉ thị số 38/1998/CT Bộ GD&ĐT ngày 18/6/1998 của Bộ trưởng bộ giáo dục về kiện toàn, tổ chức bộ máy công tác chính trị, tư tưởng trong các trường đại học, cao đẳng
+ Quyết định số 41/1998/CT- Bộ GD&ĐT ngày 5/8/1998 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT ngày 5/8/1998 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT giao quyền quản lý và cấp chứng chỉ hoàn thành khoá học bồi dưỡng cho cán bộ quản lý
và công chức nhà nước trong ngành giáo dục và đào tạo
+ Chỉ thị số 17/ CT/ 2000 Bộ GD&ĐT ngày 29/5/2000 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT về việc bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục hè năm
2000
Trang 17+ Quyết định số 36/2000/CT Bộ GD&ĐT ngày 25/8/2000 của bộ GD&ĐT về tiêu chuẩn giảng viên giỏi, trường tiên tiến, trường tiên tiến suất sắc của cao đẳng, đại học
+ Thông tư số 02/2002/TT Bộ GD&ĐT ngày 22/01/2001 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT hướng dẫn một số điều quy chế trường đại học dân lập liên quan đến tổ chức và nhân sự
+ Trong hệ thống các đường lối chính sách phát triển giáo dục, đầu tư xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo có vai trò chủ đạo Với vị trí, vai trò quan trọng đó, đội ngũ nhà giáo cần được hưởng lợi những ưu tiên của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực Sau hơn 20 năm đổi mới, nhiều giải pháp, biện pháp nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo ở các bậc học, ngành học đã được nghiên cứu và vận dụng rộng rãi nhất là từ khi có chủ trương của Đảng và nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục thì hàng loạt đề án, công trình lớn liên quan đến quản lý phát triển đội ngũ của nhà giáo được thực hịên
Các công trình nghiên cứu trong nước về quản lý ĐNGV đại học, cao đẳng:
- Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về GD&ĐT và phân tích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022 ( gọi tắt là dự án tổng thể về giáo dục)
- Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (đề tài khoa học mã số KX- 07, Năm 1996)
Một số đề tài luận văn chuyên ngành QLGD đã tiến hành nghiên cứu:
- Một số biện pháp quản lý nhằm phát triển ĐNGV Trường Đại học Hải Phòng đến 2010 (Luận văn thạc sĩ QLGD của Nguyễn Sơn Thành, Đại học sư phạm Hà Nội, 2004);
- Một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng Thống kê (Luận văn Thạc sĩ QLGD của Nguyễn Đình Dũng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005);
Trang 18- Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Sân khấu điện ảnh trước yêu cầu hiện nay ( Luận văn Thạc sĩ QLGD của Đặng Thị Thanh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004);
- Các biện pháp xây dựng đội ngũ giảng viên trường Đại học Lao động – Xã hội giai đoạn 2007 – 2015 (Luận văn Thạc sĩ QLGD của Nguyễn Thị Thanh Bình, Học viện QLGD, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2007);
- Những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cán bộ quản lý Văn hoá – Thông tin trước yêu cầu mới hiện nay ( Luận văn thạc sĩ QLGD của Lưu Thị Bích Hồng, Học viện QLGD, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2005);
- Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trường chính trị Trần Phú tỉnh Hà Tĩnh (Luận văn Thạc sĩ QLGD của Nguyễn Viết Thường, Đại học Vinh, 2007);
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên ở Trường Cao đẳng Phương Đông Quảng Nam (Luận văn Thạc sĩ QLGD của Trần Văn Thuận, Đại học Vinh, 2010);
Ngoài ra trong chương trình hằng năm của ngành giáo dục các địa phưong cũng có những đề tài nghiên cứu, hoặc một số biện pháp phát triển nhà giáo
Song về đề tài “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Thái Bình” chưa được nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý là gì?
Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động
xã hội đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao
Trang 19động mang tính đặc thù đó là hoạt động quản lý Thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
Quan điểm của điều khiển học thì cho rằng: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận hành và phát triển
Theo C.Mac: "Tất cả mọi lao động xã hội hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với vận động khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng " [15, tr.23]
Với nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, H Fayol thì cho rằng
“Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra Đó chính là các chức năng cơ bản của nhà quản lý”
Theo tác giả người Mỹ, H.Koontz và những người khác: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.[21, tr.19]
Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản
lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [28]
Frederick Winslow Taylor (1858 - 1915), được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học và là một trong những người mở ra "Kỷ nguyên vàng" trong quản lý, Ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất"
Trang 20Theo tác giả Phan Văn Kha: "Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định".[27]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì : "Quản lý
là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức” [17, tr.1]
Từ các quan niệm trên có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
Quản lý là giúp các thành viên của tổ chức hiểu tại sao làm việc này và khi họ hoàn thành thì sẽ đóng góp vào thành công của tổ chức như thế nào Quản lý là việc hình thành mục tiêu để theo đuổi và tập trung các hoạt động để đạt tới mục tiêu này Quản lý liên quan đến việc giúp mọi thành viên của tổ chức thoả mãn và hài lòng với công việc được phân công
Từ đó có thể hiểu quản lý bao gồm các yếu tố:
- Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức tạo ra những tác động quản lý ( ai quản lý?)
- Khách thể quản lý: là đối tượng quản lý, đó có thể là người (quản lý ai?), vật ( quản lý cái gì?) hay sự việc ( quản lý việc nào? )
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và
vi mô Đó là những hoạt động cần thiết thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung
Quản lý là nghệ thuật có nghĩa là nó phải làm cho con người làm việc có hiệu qủa hơn so với khi không có người quản lý
Chức năng quản lý: Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn
Trang 21chung quản lý có 4 chức năng sau: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá (xem sơ đồ ) Cụ thể:
Sơ đồ 1.1: Chức năng và chu trình của quản lý
a/ Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, chỉ tiêu, các điều
kiện, các phương pháp thực hiện và xác định hoạt động nào cần thực hiện để hoàn thành mục tiêu Thông qua lập kế hoạch để xác định kết quả mong muốn
và chỉ ra các phương tiện để đạt được kết quả
Lập kế hoạch Thiết lập các mục tiêu, chỉ tiêu, các điều kiện và phương pháp thực hiện
Chỉ đạo Đôn đốc, giám sát, điều chỉnh để đảm bảo mục tiêu kế hoạch
và các nguồn lực khác để hoàn thành nhiệm vụ Thông tin
quản lý
Trang 22b/ Tổ chức là quá trình sắp xếp, thành lập tổ chức, phân chia nhiệm vụ,
phân bổ nguồn lực để thực hiện các kế hoạch Thông qua tổ chức, các kế hoạch biến thành các hoạt động của mọi bộ phận, mọi cá nhân trong tổ chức
c/ Chỉ đạo là quá trình được tiến hành trong cả kỳ kế hoạch Chỉ đạo là
thực hiện các hoạt động như giám sát, đôn đốc, điều kiển các hoạt động, điều chỉnh các nguồn lực, khuyến khích, khêu gợi lòng nhiệt tình của mọi người làm việc chăm chỉ để hoàn thành các kế hoạch và các mục tiêu đã đề ra Thông qua lãnh đạo sẽ xây dựng được sự cam kết, khuyến khích các hoạt động để hoàn thành mục tiêu và ảnh hưởng tới người khác cùng nhau làm việc tốt nhất
d/ Kiểm tra - đánh giá là một chức năng đặc trưng và quan trọng của
chu trình quản lý Quản lý mà không có kiểm tra, đánh giá thì coi như không
có quản lý
Trong dạy học, kiểm tra đánh giá là một thành phần không thể tách rời của hoạt động dạy - học và đang được sử dụng như một biện pháp quan trọng thúc đẩy và cải tiến việc dạy - học trong trường
1.2.1.2 Quản lý giáo dục là gì?
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng được quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục đầu tiên được hình thành Khoa học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của quản
lý nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý giáo dục: Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:
“Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”.[17, tr.1]
Theo tác giả Trần Kiểm : "Quản lý giáo dục là những tác động tự giác
Trang 23(có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho nghành Giáo dục" (ở cấp vĩ mô).[28]
"Quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” (ở cấp vi mô).[28]
Theo M.I.Kondacốp: "Tập hợp những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch v.v nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng"
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch thích hợp với chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến đến trạng thái mới về chất ”.[32]
Như vậy, thực chất của quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến hoạt động của tập thể giáo viên và hoạt động của học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh
Tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý giáo dục mà QLGD có nhiều cấp độ khác nhau:
+ Cấp độ vĩ mô: “ Quản lý giáo dục” là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với
Trang 24trước, do chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn
hệ thống (tổ chức)" ( theo: Từ điển Tiếng Việt - Nxb Văn hoá thông tin).[40]
Khi nói đến đội ngũ, các nhà khoa học đều cho rằng: “Đội ngũ là tập hợp khối đông người cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp được tổ chức thành một lực lượng”
Trong các tổ chức xã hội, đội ngũ được dùng như: “Đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức, đội ngũ giáo viên ”
Từ đó chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ là một tập thể người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp cấu thành một tổ chức và là nguồn nhân lực của tổ chức đó; cùng chung một nhiệm vụ; họ làm việc theo kế hoạch đồng thời chịu sự ràng buộc của những quy tắc, nguyên tắc…của đơn vị và theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Đội ngũ giảng viên
Từ khái niệm đội ngũ nêu trên ta có thể hiểu ĐNGV là tập hợp những giảng viên được tổ chức thành một lực lượng có cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra Tập hợp GV của một trường ĐH, CĐ nhất định thì được gọi là ĐNGV của trường đó
Trang 25"ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến sức lực, toàn bộ tài năng của họ đối với giáo dục"
ĐNGV là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được
tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướng các quyền lợi theo Luật Giáo dục và các Luật khác được Nhà nước quy định
1.2.3 Khái niệm về chất lượng, chất lượng đội ngũ
- Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc, hiện tượng
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn
- Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia
Theo Từ điển Tiếng Việt (1999 - NXB Văn hóa Thông tin) [40] :Chất
lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ
rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Một
sự vật là một thể thống nhất giữa số lượng và chất lượng
Không có sự vật nào lại không có tính quy định về chất lượng, không
có sự tồn tại nào lại thiếu tính quy định về chất lượng Mỗi vật thể, sự vật khác nhau đều có tính quy định chất lượng khác nhau
Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộc tính của nó Mỗi sự vật bao gồm nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính tham
Trang 26gia vào việc quy định chất lượng của sự vật không giống nhau Các thuộc tính bản chất tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, giữ vai trò quyết định của sự vật làm cho nó khác với cái khác, nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì sự vật không còn Các thuộc tính không bản chất không giữ vai trò như thế, để thể hiện sự vật
Như vậy, khái niệm chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của
sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan
Khi xây dựng và phát triển đội ngũ, thường tập trung vào 3 yếu tố:
- Số lượng trong đội ngũ
- Chất lượng trong đội ngũ
- Cơ cấu của đội ngũ
Chất lượng đội ngũ giảng viên có thể được bao hàm từ các yếu tố:
1.2.4 Biện pháp là gì?
Để nâng cao chất luợng đội ngũ giảng viên của một nhà trường phải có
sự tác động một cách có ý thức, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, sự tác động đó có thể là hệ thống những phương pháp, những giải pháp và những biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn Ngữ học: [41]
Trang 27“Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một loạt hoạt động nào đó.”
“Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.”
“ Biện pháp là cách làm, là cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó.”
Như vậy, so với phương pháp, giải pháp thì biện pháp mang tính chất vi
mô rất cụ thể, trong phương pháp, giải pháp có biện pháp
Trong phương pháp quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành cụ thể của chủ thể quản lý nhằm tác động đến khách thể quản
lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra, phù hợp với quy luật khách quan
1.3 Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, vị trí và vai trò của giảng viên trường Cao đẳng sư phạm
1.3.1 Giảng viên
Khái niệm: Thuật ngữ “Giảng viên” đã được khẳng định trong Điều 70
- Luật Giáo dục “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng
viên” [10]
1.3.2 Tiêu chuẩn và nhiệm vụ giảng viên trường cao đẳng sư phạm
Tiêu chuẩn : Điều 26, Điều lệ trường cao đẳng quy định tiêu chuẩn của giảng viên: [3]
1 Giảng viên trường cao đẳng phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng
2 Giảng viên các trường cao đẳng phải có trình độ từ đại học trở lên phù hợp với các môn học của ngành đào tạo Ưu tiên tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi và người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên
Trang 28Những người tốt nghiệp các ngành ngoài sư phạm phải có chứng chỉ nghiệp
vụ sư phạm
Đối với giảng viên trường cao đẳng sư phạm, người làm nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên các cấp học từ mầm non đến THCS, cần có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm chuyên biệt để đào tạo được đội ngũ này
Nhiệm vụ: Điều 27, Điều lệ trường cao đẳng quy định nhiệm vụ của
giảng viên: [3]
1 Giảng viên, cán bộ, nhân viên trường cao đẳng phải nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế tổ chức hoạt động của trường và các quy định khác do Hiệu trưởng ban hành
2 Giảng viên trường cao đẳng phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể dưới đây:
a) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
b) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học;
c) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
d) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống;
đ) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
e) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao
Trang 29Như vậy, giảng viên phải là những người có trình độ khoa học kỹ thuật nhất định, họ là người truyền thụ kiến thức cho học sinh theo chương trình, nội dung khoa học và theo kế hoạch đã định trong những bậc học nhất định
Do vậy, bằng hoạt động giảng dạy – giáo dục, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, dịch vụ và các hoạt động xã hội khác, đội ngũ giảng viên trong các nhà trường đang thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển hệ thống giáo dục – đào tạo: Đào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp cần thiết đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta hiện nay
Lực lượng giảng viên là “Nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” Vì vậy, giảng viên phải có đủ những tiêu chuẩn: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp Lý lịch bản thân rõ ràng
1.3.3 Vai trò và vị trí của giảng viên trong nhà trường đại học, cao đẳng
Có thể nói, đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo,
họ là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong nhà trường đại học Trong quá trình dạy học, người giảng viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà phải thực sự trở thành một người thiết kế, tổ chức để sinh viên tự giác và tích cực tham gia học tập, kích thích, khơi dậy hứng thú học tập của sinh viên để
họ phát huy sáng tạo trong học tập
Giảng viên có những vai trò chủ đạo như sau:
1 Vai trò là người thiết kế: Giảng viên giảng dạy trong các trường đại
học trước hết họ là người thiết kế, được thể hiện rõ nhất trong việc soạn thảo
nội dung giảng dạy, tạo ra các tình huống để sinh viên tự giác học tập Trong quá trình soạn thảo nội dung giảng dạy, giảng viên phải gắn bài giảng phù hợp với mục tiêu của chương trình và đối tượng người học, làm cho sinh viên say mê học tập, làm tăng hiệu quả, chất lượng của sinh viên
Trang 302 Vai trò là người tổ chức: Giảng viên đồng thời là người tổ chức cho
sinh viên học tập, làm việc, tìm tòi, sáng tạo Vai trò tổ chức có ý nghĩa rất lớn đối với nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Lớp học phải trở thành một nơi hợp tác giữa thày – trò, trò – trò, Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, lấy “người học làm trung tâm” tạo mọi điều kiện để phát huy năng lực và trách nhiệm học tập sáng tạo của sinh viên, kết hợp hài hoà giữa học thày với học bạn, chủ động trong học tập là nhiệm vụ chủ yếu của giảng viên trong các giờ học
3 Vai trò là người cổ vũ: Giảng viên vừa là người hướng dẫn, đồng
thời vừa là người động viên cổ vũ sinh viên học tập Giảng viên cần có thái độ
cởi mở, trân trọng và đánh giá cao sức sáng tạo của sinh viên, giúp cho sinh viên nhận thức đúng đắn vai trò sáng tạo của mình trong học tập
4 Vai trò là người đánh giá: Người giảng viên còn là người đánh giá
đảm bảo chính xác và công bằng, là người “trọng tài” thật sự tin cậy của sinh viên Họ phải có phương pháp đánh giá hợp lý để phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập Ngoài việc đánh giá sinh viên, giảng viên tạo điều kiện để sinh viên tự đánh giá, như vậy cũng làm tăng tính chủ động và tích cực của người học
Rõ ràng, giảng viên có vai trò to lớn ở trong nhà trường đại học và cao đẳng Bởi vậy, trong công tác quản lý cần phải có những biện pháp hợp lý để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, làm sao để có được một đội ngũ giảng viên vừa mạnh về số lượng và mạnh về chất lượng Phải tạo mọi điều kiện để giảng viên nâng cao năng lực nghề nghiệp, phẩm chất, đạo đức và khả năng thích ứng cao nhằm đào tạo, cung cấp cho xã hội đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có phẩm chất, trình độ vững vàng và có tay nghề cao
1.4 Những yếu tố cơ bản về chất lượng đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên phải đạt chuẩn về chất lượng vì chất lượng của đội ngũ là vấn đề vô cùng quan trọng của một tổ chức Chất lượng của đội ngũ
Trang 31GV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Chất lượng của ĐNGV được thể hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và phẩm chất
Yêu cầu đối với ĐNGV trong các nhà trường CĐ – ĐH giai đoạn 2010 – 2015 về trình độ chuyên môn: 100% có trình độ đại học trở lên trong đó có
ít nhất 80% số GV đạt trình độ thạc sĩ và tiến sĩ Mỗi một giảng viên trường
ĐH – CĐ cần phải có những yêu cầu cơ bản về năng lực và phẩm chất như sau:
- Giảng viên phải là người nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, tham gia tích cực vào công tác NCKH thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình, đồng thời tham gia NCKH phục vụ đời sống xã hội GV là trí thức
và nhân cách của người GV là nhân cách của trí thức trong lĩnh vực hoạt động giáo dục “Nhân cách là tổ hợp những thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân”
- Giảng viên là trí thức nhưng đồng thời là nhà giáo cho nên ngoài các yêu cầu về nhân cách nói trên, GV phải đặc biệt phải chú trọng việc nâng cao phẩm chất tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực giảng dạy và tình cảm nghề nghiệp
- Giảng viên phải hội tụ đầy đủ những phẩm chất của người công chức nhà nước theo như quy chế giảng viên đã quy định
Hoạt động giáo dục vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Giảng viên, nhất
là GV các trường sư phạm thì uy tín nhà giáo có một tác dụng không nhỏ tạo nên hiệu quả giáo dục Uy tín ấy được xác lập trên cở sở trình độ, năng lực chuyên môn và đạo đức sư phạm Giảng viên phải là khuôn mẫu, đó là: “ phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp, có lý lịch bản thân rõ ràng”
Trang 32Năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm là cái quyết định vị trí, đồng thời quyết định kết quả giáo dục của giảng viên Giảng viên phải có lòng say
mê nghề nghiệp Nếu sinh viên có khát vọng chiếm lĩnh tri thức, nếu người học có khát vọng “tự tìm lấy tri thức” thì GV phải là người thày tận tuỵ, tận tâm, tận lực tổ chức, điều khiển, hướng dẫn với tinh thần “dạy không biết mỏi” Người học phải học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi nội dung và bằng mọi cách thì GV cũng phải có ý thức dạy mọi nơi, mọi lúc, mọi nội dung, cho mọi người và bằng mọi cách
Hiệu quả công tác của người GV phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực sư phạm là yếu tố cực kỳ quan trọng
Năng lực là “ những thuộc tính tâm lý của cá nhân đảm bảo cho việc thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định” Nói cách khác “ năng lực là tập hợp các kỹ năng tác động lên các nội dung trong tình huống có ý nghĩa đối với học sinh”
Năng lực sư phạm là loại năng lực chuyên biệt Đối với GV nó được thể hiện rõ ràng, chủ yếu ở các phẩm chất trí tuệ (khoa học và sáng tạo), ở các phẩm chất ngôn ngữ ( sử dụng ngôn ngữ chính xác, phù hợp, có tính thuyết phục, tính nghiêm túc, tính logic), các phẩm chất khác (khả năng giao tiếp, khả năng tạo sự thân thiện và tin cậy đối với SV, ở sự nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và giáo dục, biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt và
có hiệu quả cao nhất các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học – giáo dục, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật dạy học – giáo dục )
Mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm là mật thiết Năng lực chuyên môn xâm nhập và tác động mạnh mẽ vào cấu trúc hoạt động của người GV, khi người GV có năng lực sư phạm đồng thời năng lực
sư phạm tạo điều kiện và thúc đẩy khả năng thể hiện năng lực chuyên môn của người GV Người GV có năng lực chuyên môn tốt nhưng năng lực sư
Trang 33phạm chưa tốt thì sẽ rất khó khăn trong việc giảng dạy, giờ giảng sẽ thiếu hấp dẫn và tất yếu là hiệu quả giảng dạy sẽ không cao
Về năng lực chuyên môn, người GV cần có đầy đủ các điều kiện sau đây:
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh GV hay GVC
+ Có kiến thức cơ bản vững chắc chuyên sâu về bộ môn hoặc phân môn được đảm nhiệm giảng dạy và thường xuyên được cập nhật kiến thức bằng nhiều hình thức trong đó cơ bản là tự học, tự bồi dưỡng
+ Có năng lực nghiên cứu khoa học và hướng dẫn SV NCKH, vì đó là một trong những nhiệm vụ cơ bản của GV, một trong những yếu tố khác biệt của giảng viên đại học, cao đẳng với giáo viên phổ thông
+ Kết hợp tốt hoạt động giảng dạy với hoạt động NCKH Đối với GV
sự sáng tạo sư phạm gắn liền với sự sáng tạo khoa học Người GV giảng dạy một bộ môn khoa học đồng thời phải là người nghiên cứu nhằm tìm tòi, phát hiện cái mới trong lĩnh vực chuyên môn đó, mở rộng và làm phong phú, sâu sắc hơn những tri thức khoa học của bộ môn mình giảng dạy và sử dụng những kết quả nghiên cứu của mình vào hoạt động dạy học
Như vậy người GV cần phải hội tụ 3 thành tố sau:
- Kiến thức ( thành tố cơ bản nhất)
- Kỹ năng
- Thái độ Kiến thức chuyên môn là tiền đề quan trọng đảm bảo hiệu quả giảng dạy và NCKH Cùng với nó, các hiểu biết khác về môi trường công tác, về khoa học và quản lí hành chính nhà nước, đặc biệt quản lý ngành cũng hết sức quan trọng Nó là những yếu tố cần thiết đối với người GV ở bậc đại học, cao đẳng Đã từng có ý kiến cho rằng GV chỉ cần có kiến thức tốt là có thể giảng dạy tốt Sự thực đã chứng minh không phải như vậy Kiến thức là cơ sở cho
Trang 34năng lực hoạt động của GV nhưng bản thân kiến thức chưa đủ mang lại kết quả mong muốn nếu người GV không tự học hỏi, không tự rèn luyện để có được các kĩ năng cần thiết, nhất là các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng thiết
Từ những nhận định trên thì chất lượng ĐNGV được phản ánh bởi phẩm chất, năng lực và trình độ
1.5 Những yếu tố giúp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Những yếu tố giúp nâng cao chất lượng đội ngũ được hiểu là các biện pháp, cách thức, các điều kiện, v.v… được sử dụng để các chủ thể quản lý tác động vào đội ngũ nhằm phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu, v.v… của đội ngũ Công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV gồm những yếu
tố như: đào tạo, tuyển dụng, điều động, điều kiện làm việc, chế độ lương, thưởng và những sự khuyến khích động viên khác
- Đào tạo: Đây là phương tiện để nâng cao chất lượng, trình độ và năng lực làm việc của ĐNGV Phương tiện này được sử dụng để giảm thiểu sự chênh lệch về chất giữa nhu cầu và nguồn nhân lực, đồng thời nó cũng có thể gây tác động phụ đối với động cơ làm việc của các giảng viên, để họ tích cực phấn đấu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao
Trang 35- Tuyển dụng: là phương tiện để thu hẹp những chênh lệch cả về lượng
và chất giữa nhu cầu với nguồn nhân lực Đây là một hoạt động mang tính chiến lược đối với một nhà trường Một đợt tuyển dụng hỏng sẽ kéo theo những hậu quả hết sức nặng nề, tổ chức sẽ phải trả giá cho điều đó trong thời gian dài Vì vậy, công tác tuyển dụng là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý ĐNGV Để giúp nâng cao chất lượng ĐNGV phải cần
có những đợt tuyển dụng chuẩn và phù hợp với nhu cầu của một nhà trường
- Điều động: Là một trong những phương tiện làm giảm thiểu sự chênh lệch về chất giữa nhu cầu và nguồn nhân lực của tổ chức Tổ chức lao động là việc sắp xếp, bố trí người lao động vào đúng nơi cần và phù hợp với năng lực, trình độ của họ
- Sắp xếp thời gian lao động: Việc sắp xếp thời gian lao động là một phương tiện để giảm thiểu sự chênh lệch về lượng giữa nhu cầu và nguồn nhân lực Sắp xếp thời gian lao động hợp lý cho phép giải quyết tốt tình trạng thừa biên chế cũng như giải quyết tạm thời những khó khăn do thiếu hụt nguồn nhân lực
- Trả lương (ở đây tiền lương được hiểu là toàn bộ phần tiền lương cơ bản theo quy định hoặc theo việc làm cùng với các khoản tiền thưởng khác nhau và các khoản phúc lợi khác): giống như các biện pháp trên, trả lương là một phương tiện có khả năng giảm thiểu sự chênh lệch về chất giữa nhu cầu
và nguồn lực của tổ chức, nó tác động vào động cơ làm việc của các GV
- Tổ chức quản lý: là phương tiện nhằm giảm sự chênh lệch về chất giữa nhu cầu và nguồn nhân lực của một tổ chức bằng cách tác động lên các yếu tố và động cơ làm việc So với các phưong tiện khác, điểm đặc biệt của phương tiện này là nó sử dụng các công cụ đánh giá và chế tài thuộc phạm vi thẩm quyền của nhà quản lý
- Điều kiện làm việc: Việc thiết lập điều kiện làm việc thích hợp cũng được coi là một phương tiện hành động nhằm thu hẹp sự chênh lệch về chất
Trang 36giữa nhu cầu và nguồn nhân lực của tổ chức Điều kiện lao động được cải thiện sẽ làm giảm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc Đối với công tác quản lý ĐNGV, điều kiện làm việc chính là môi trường công tác, mối quan hệ công tác giữa các cấp, các đơn vị, hệ thống phòng học, thư viện, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy Những yếu tố này cũng góp một phần không nhỏ giúp nâng cao chất lượng ĐNGV của một nhà trường
1.6 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng ĐNGV tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục đào tạo Trong sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, khâu then chốt là đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục Muốn đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước thì phải có các nhà giáo giỏi Muốn trò giỏi thì thầy phải giỏi" "Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu" vì vậy ngành giáo dục - đào tạo phải coi việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên giỏi
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới và phát triển giáo dục
Trong quá trình phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, đội ngũ giáo viên ở các cấp học, ngành học tuy ngày càng lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng, hình thức đào tạo được thay đổi theo phương thức đa dạng hoá; quy
mô đào tạo ngày càng được mở rộng Nhưng so với yêu cầu phát triển thì đội ngũ giáo viên ở hầu hết các bậc học, ngành học còn thiếu và đặc biệt là thiếu giáo viên có trình độ cao và các chuyên gia đầu ngành về giáo dục
Lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp số lượng giáo viên có tăng nhưng không đáng kể, hiện nay ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề giáo viên trình độ chuyên môn còn thấp; một số trường Đại học mới thành lập ĐNGV có trình độ đang rất thiếu Ta thấy rằng giáo viên có một vị trí hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước phát triển ngang tầm các cường quốc trên thế
Trang 37giới Chúng ta phải "đi tắt, đón đầu" để đuổi kịp các nước tiên tiến Một trong những biện pháp để phát triển giáo dục - đào tạo là xây dựng các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng ĐNGV nói chung và giáo viên hệ thống trường Sư phạm nói riêng
Kết luận chương 1:
Trên cơ sở các vấn đề nghiên cứu, đã khẳng định một số khái niệm chủ yếu, những đặc trưng về chất lượng đội ngũ GV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, những yếu tố quản lý có liên quan đến việc nâng cao chất lượng ĐNGV trường CĐSP Thái Bình Nhận biết được những vấn đề lý luận mang tính định hướng cho việc nâng cao chất lượng ĐNGV trường CĐSP Thái Bình Muốn nâng cao chất lượng ĐNGV trường CĐSP Thái Bình, cần nắm chính xác thực trạng về chất lượng ĐNGV, ĐN cán bộ quản lý, công tác quản lý cán bộ của nhà trường hiện nay, vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập ở Chương 2
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CĐSP THÁI BÌNH 2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Trường CĐSP Thái Bình
Trường CĐSP Thái Bình tiền thân là trường Sư phạm Sơ cấp (thành lập tháng 9/1959), trường Bồi dưỡng cán bộ giáo viên (năm 1964), trường Sư phạm cấp II (1967) trường Sư phạm 10+3 (1973) Năm 1978 trường Sư phạm 10+3 Thái Bình là 1 trong 16 trường đầu tiên trên cả nước được chính thức công nhận là trường Cao đẳng sư phạm (Quyết định số 64/TTg ngày 21/3/1978 của Thủ tướng Chính phủ) Sau đó trường Trung học sư phạm (tháng 4/1997), trường Cán bộ quản lý giáo dục (tháng 7/2004) lần lượt sát nhập vào trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình là trường CĐSP hạng 1, trực thuộc UBND Tỉnh Thái Bình, cơ cấu tổ chức bộ máy của trường gồm: Hiệu trưởng và 2 phó hiệu trưởng, 5 phòng: Tổ chức - Chính trị và Công tác sinh viên; Đào tạo; Tài vụ; Hành chính tổng hợp; Quản trị đời sống, 6 khoa: Xã hội; Tự nhiên; Năng khiếu; Ngoại ngữ; Giáo dục Tiểu học - Mầm non; Bồi dưỡng cán bộ quản lý, 2 Bộ môn trực thuộc trường: Bộ môn Tâm lý giáo dục; Bộ môn Lý luận chính trị Đội ngũ viên chức của nhà trường là 235 người, số cán bộ giảng dạy là 167, trong đó
có 180 người có trình độ Đại học trở lên ( 05 Tiến sỹ, 08 nghiên cứu sinh, 61 Thạc
sỹ và 17 Sau Đại học), 27 người đang theo học Thạc sỹ ở trong và ngoài nước
2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình
2.2.1 Chức năng
- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ Cao đẳng cho các bậc học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở
Trang 39- Liên kết với các trường Đại học để đào tạo tại chỗ đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ Đại học và Sau Đại học.
- Đào tạo và liên kết đào tạo một số ngành nghề ngoài sư phạm ở các trình
độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Sơ cấp phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
ở địa phương và một số tỉnh lân cận
- Tổ chức nghiên cứu khoa học chuyên ngành giáo dục phục vụ hoạt động đào tạo, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục cho sự nghiệp phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của địa phương Tổ chức các hội thảo khoa học nhằm nâng cao chất lượng sinh viên và các nghiên cứu tìm “đầu ra” cho
“sản phẩm đào tạo” của nhà trường
2.2.2 Nhiệm vụ
1 Xây dựng kế họach hoạt động dài hạn và hàng năm của trường
2 Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe,
có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội
3 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có trình độ Cao đẳng và các
trình độ thấp
4 Tổ chức xét tuyển các hệ, các ngành theo chỉ tiêu Nhà nước
5 Thực hiện chương trình, nội dung, quy chế, phương thức đào tạo và
bồi dưỡng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
6 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản
lý giáo dục cấp tiểu học và trung học cơ sở của ngành giáo dục Thái Bình
7 Nghiên cứu khoa học cơ bản và tổ chức quản lý giáo dục Kết hợp
đào tạo với NCKH, sản xuất và dịch vụ khoa học theo quy định của pháp luật
8 Giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 409 Tổ chức liên kết, hợp tác, phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, thể dục thể thao trong và ngoài nước về công tác nghiên cứu,
đào tạo, bồi dưỡng
10 Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội
ngũ cán bộ giảng viên của trường
11 Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng
viên
12 Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt
động giáo dục và quản lý người học
13 Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia
các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu xã hội
14 Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính
theo quy định Pháp luật
15 Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh giao theo quy định của
pháp luật
2.3 Quyền hạn và trách nhiệm của Trường CĐSP Thái Bình
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình được quyền tự chủ và tự chịu
trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật, điều lệ trường cao đẳng
3 Quyết định thành lập các tổ chức trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức đã được phê duyệt, quyết định bổ nhiệm các chức vụ từ cấp khoa, phòng, ban, giám đốc các trung tâm trực thuộc nhà trường trở xuống
4 Tự chủ về tài chính theo Quyết định của Chính phủ