1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) biện pháp quản lý đào tạo nghề nhà hàng khách sạn tại trường cao đẳng nghề trần hưng đạo

119 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong định hướng phát triển của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo từ năm 2010 đến năm 2020, đã lựa chọn các nghề về Nhà hàng – Khách sạn là lĩnh vực đầu tư trọng điểm của Nhà trường; Qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THÀNH HƯNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHÀ HÀNG-KHÁCH SẠN

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRẦN HƯNG ĐẠO

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THÀNH HƯNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHÀ HÀNG-KHÁCH SẠN

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRẦN HƯNG ĐẠO

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Thức

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ, giáo viên các trường : Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Giáo dục –Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo, Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới :

- Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, thư viện trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, các khoa, tổ bộ môn và tập thể cán bộ, giáo viên trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo đã động viên, hỗ trợ tác giả nghiên cứu hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn PGS-TS Nguyễn Xuân Thức, đã có công lớn trong việc hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp một cách hiệu quả

Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài nghiên cứu là lĩnh vực mới mẻ,

và những hạn chế của bản thân trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn mặc dù đã rất cố gắng nỗ lực hết mình, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp

ý kiến chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn này hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thành Hưng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

LĐTB&XH Lao động, thương binh và xã hội

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Ngành nghề đào tạo và thời gian đào tạo theo chương trình

khung của Bộ LĐTB&XH………33

2 Bảng 2.2 Ngành nghề đào tạo và thời gian đào tạo các môn tự

hiện các biện pháp quản lý mục tiêu đào tạo………36

7 Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực

hiện các biện pháp quản lý kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo……… 38

8 Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực

hiện các biện pháp quản lý phương pháp đào tạo……….40

9 Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực

hiện các biện pháp quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề………41

10 Bảng 2.10 Đánh giá chất lượng đào tạo nghề nhà hàng - khách sạn

của CBQL và GV………43

Trang 6

11 Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực

hiện các biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đào tạo nghề………44

12 Bảng 2.12 Đánh giá của CBQL doanh nghiệp và chuyên gia về trang

bị kiến thức nghề Nhà hàng - Khách sạn cho sinh viên……… …46

13 Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL và GV về các yếu tố ảnh hưởng đến

việc quản lý đào tạo nghề……….48

14 Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết và

mức độ khả thi của các biện pháp……….76

15 Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá của 50 học sinh đã tốt nghiệp về tính cần

thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lí…… 79

16 Bảng 3.3 Ý kiến đánh giá của 20 CBQLDN về tính cần thiết và mức

độ khả thi của các biện pháp quản lí………82

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Mô hình hoạt động quản lí………12

2 Sơ đồ 1.2 Quá trình quản lí……… ……… …14

3 Sơ đồ 3.1 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí giảng

viên 58

4 Sơ đồ 3.2 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất……….74

BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp theo đánh giá của CBQL và GV……… 78

2 Biểu đồ 3.2 Quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp theo đánh giá của 50 học sinh đã tốt nghiệp………81

3 Biểu đồ 3.3 Quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp theo đánh giá của 20 CBQLDN……….83

Trang 8

lượng quá trình đào tạo trong các nhà trường nói chung và trong các trường nghề nói riêng vẫn còn nhiều khiếm khuyết Chất lượng đào tạo nghề đang gặp nhiều bất cập do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập của người học và nhu cầu của người sử dụng nguồn lực với khả năng còn hạn chế của hệ thống giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng, mâu thuẫn giữa đào tạo với khả năng sử dụng thu hút nguồn nhân lực của nền kinh tế còn bị hạn chế

Nước ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước văn minh hiện đại Trong sự nghiệp cách mạng to lớn

đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng Nghị quyết lần thứ

XI Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục và đào

tạo nghề: " phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan

trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" Ngày 29/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ban hành Quyết định

630/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020, trong

đó nêu rõ: “Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một

nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia Thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước về dạy nghề, nhằm tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa

và hội nhập quốc tế Đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN

và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”

Trang 9

Sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới chuyển sang kinh tế tri thức, nền kinh

tế cơ bản dựa vào trí tuệ Động lực để phát triển kinh tế tri thức đó là giáo dục và đào tạo nghề, đồng thời với xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam phải nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực Phát triển giáo dục và đào tạo nghề sẽ góp phần nhanh chóng rút ngắn khoảng cách đó Ngày nay các ngành nghề dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, nên yêu cầu về đào tạo nhân lực cho các ngành dịch vụ tăng lên không ngừng Việc giao lưu, mở rộng quan hệ, đầu tư, mở rộng kinh doanh, du lịch… khiến cho nhu cầu đi lại, ăn ở ngày càng lớn; Vì vậy, đào tạo nghề về lĩnh vực Nhà hàng - Khách sạn chất lượng cao đang là yêu cầu cấp bách của các cơ sở đào tạo nghề nhằm đáp ứng với nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế

1.2 Trong định hướng phát triển của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo từ năm 2010 đến năm 2020, đã lựa chọn các nghề về Nhà hàng – Khách sạn là lĩnh vực đầu tư trọng điểm của Nhà trường; Quyết định 1477/ QĐ-BLĐTBXH ngày 20 tháng 10 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phê duyệt các nghề trọng điểm giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo được phê duyệt nghề Quản trị khách sạn là nghề trọng điểm quốc tế và nghề Kỹ thuật chế biến món ăn là nghề trọng điểm khu vực ASEAN; Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp quản lý đào tạo nghề về lĩnh vực Nhà hàng – Khách sạn của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo là một đòi hỏi cấp bách trong định hướng phát triển Nhà trường đến năm 2020

1.3 Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo – Đóng tại Phú Mỹ, Mỹ Đình Huyện

Từ Liêm, Thành phố Hà nội, đã trải qua 5 năm hình thành và phát triển, công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn nói riêng tuy đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận: quy mô số lượng ngày một tăng nhanh (năm

2010 nghề Nhà hàng - Khách sạn mới có khoảng 30 sinh viên, đến năm 2012 đã có

số lượng khoảng trên 800 HSSV); chất lượng đào tạo đã phần nào đã đáp ứng với thị trường trong nước Tuy nhiên, quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập: Vấn đề nội dung, chương trình đào tạo còn thiếu đổi mới, thiếu tính đặc thù là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Phương pháp

Trang 10

giảng dạy chủ yếu vẫn là phương pháp giảng giải, sử dụng phấn, bảng, thiếu sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các công cụ giảng dạy hiện đại khác, không thích ứng với khối lượng tri thức mới tăng nhanh, không khuyến khích sự chủ động sáng tạo của sinh viên Giảng viên ít quan tâm đến phương pháp dạy học theo nhóm và trau dồi các kỹ năng khác như tác phong lao động công nghiệp, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng giao tiếp thuyết trình, chưa rèn khả năng sáng tạo và năng lực nghề nghiệp cho HSSV Việc đầu tư cho công tác đào tạo còn quá thấp, cơ sở vật chất – trang thiết bị còn thiếu và yếu, cơ chế quản lý đào tạo còn mang nặng tính hành chính thiếu sự phân công, phân cấp hợp lý, tính chuyên nghiệp trong quản lý trong đào tạo là chưa cao

1.4 Để công tác quản lý đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn nói riêng của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo đạt chất lượng hiệu quả cao đáp ứng với nghề trọng điểm quốc tế và khu vực thì việc nghiên cứu và đưa ra những biện pháp quản lý hoạt động đào tạo có hiệu quả là vấn đề hết sức cấp thiết của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ các lí do trên học viên đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý

đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo” nhằm nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng -

Khách sạn với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn để đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 11

- Biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu đề xuất và áp dụng những biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn một cách phù hợp hơn tại Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng-Khách sạn của nhà trường và góp phần phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong nước

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý đào tạo nghề của Trường Cao đẳng nghề 5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề Nhà hàng-Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý đào tạo đã đề xuất

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Một số biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

6.2 Địa bàn nghiên cứu

Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

6.3 Khách thể khảo sát

Cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo; một số Khách sạn, Nhà hàng trên địa bàn Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang

7 Phương pháp nghiên cứu đề tài

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp… các tài liệu lí luận để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra bằng phiếu, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia…

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Dùng các công thức toán thống kê để xử lý số liệu đề tài như số trung vị, trung bình cộng, hệ số tương quan…

Trang 12

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận

Tổng kết thực tiễn công tác quản lý đào tạo nghề nói chung và nghề Nhà hàng-khách sạn nói riêng của của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình quản lý đào tạo nghể

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các cơ sở khác trong cả nước đang đào tạo nghể Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục

9 Dự kiến cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học, cao

đẳng

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn ở trường

Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

Chương 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng -

Khách sạn tại trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó còn Tổng cục dạy nghề Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động (ví dụ như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc Đường, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương, ) đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu khác như Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, đã đi sâu nghiên cứu về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường Tuy nhiên, sau đó những nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề ở nước ta bị lắng xuống, ít được chú trọng Chỉ đến những năm gần đây vấn đề đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm nghiên cứu trở lại thông qua những đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lí giáo dục Những nghiên cứu này đã ít nhiều khái quá hoá và làm rõ được những vấn

đề lý luận và đề xuất những biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả quản lí quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói riêng

Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quát về vấn đề đào tạo nghề, về quản lý đào tạo nghề đã được các nhà nghiên cứu, các bộ ngành liên quan đề cập đến, trong những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Tuy ở những điều kiện, hoàn cảnh nghiên cứu khác nhau, nhưng trong đề tài cũng đều tập trung đi sâu giải quyết vướng mắc trong công tác quản lý các hoạt động đào tạo Có thể kể đến một số công trình có cùng hướng nghiên cứu sau đây:

- Nguyễn Văn Dũng (2004), Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở trường Trung cấp kỹ thuật – dạy nghề tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học sư phạm Hà Nội

- Nguyễn Quang Huy (2008), Biện pháp quản lý đào tạo nghề sửa chữa, lắp ráp ô tô ở trường Cao đẳng nghề GTVT TWII Hải Phòng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học sư phạm Hà Nội

Trang 14

- Đào Hữu Đắc (2011), Biện pháp quản lý đào tạo nghề công nghệ ô tô ở trường Cao đẳng nghề Sông đà đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học sư phạm Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với công tác quản lý đào tạo nghề, quản lý các hoạt động thực tiễn trong hoạt động đào tạo nghề Tuy nhiên các công trình nghiên cứu các lĩnh vực khác đào tạo nghề khác đã

có nhưng ở lĩnh vực Nhà hàng – Khách sạn chưa có công trình nghiên cứu nào

Do vậy, nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng –

Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo” và áp dụng tại trường sẽ góp

phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn cho học sinh sinh viên để khi ra trường các em đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lí

“Quản lí” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lí”

“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định “Lí”

là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy, “Quản lí” là trông coi,

chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển

Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và

ở mọi thời đại Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với bản thân mình Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lí nhóm, điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lí Như vậy, quản lí xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay

Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo toàn cấu trúc

Trang 15

các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lí là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển

Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lí là "Phương thức tác động có

chủ định của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc

về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu"

Khái niệm quản lí được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau

Về góc độ các nhà khoa học có thể kể ra một số cách hiểu:

Ở các nhà khoa học nước ngoài:

Các Mác đã viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một

sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [29, tr 28-480]

Còn Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định:"Quản lí là biết

được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [36, tr 89]

Theo Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì "Quản lí là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức" [27, tr 33]

Các Ông Thomas J Robins và Wayned Morrison lại cho rằng: "Quản lí là

một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [35, tr 19]

Các nhà khoa học trong nước:

Theo Từ điển Tiếng Việt-Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: "Quản lí là trông

coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [41, tr 772]

Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: "Quản lí là

một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục

Trang 16

tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn"

[30, tr 17]

Còn Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: "Quản lí là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [33, tr 31]

Theo tác giả Hồ Văn Vĩnh thì: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng

đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [42, tr

15]

Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: "Quản lí là một nghệ thuật đạt được mục

tiêu đã đề ra thông qua điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác" [3, tr 178]

Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lí là sự tác động qua lại

một cách tích cực giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí qua con đường tổ chức,

là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lí và hành động của các đối tượng quản

lí, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [12, tr 55]

Tác giả Mai Hữu Khuê quan niệm: "Quản lí là sự tác động có mục đích tới

tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích

đã định trước” [22, tr 19; 20 ]

Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục

đích đến tập thể người-thành viên của hệ-nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến" [23, tr 15]

Theo Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định hướng

của chủ thể lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường" [40, tr 43]

Còn tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lí là sự tác động của chủ

thể quản lí để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí nhà quản lí, phù hợp với quy luật khách quan” [37, tr 1]

Trang 17

Tóm lại: các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay

mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lí là hoạt động có tổ

chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định Hay nói một cách khái quát

nhất: quản lí là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật

của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức đã đề ra

Khái niệm quản lí bao hàm một ý nghĩa chung là:

- Quản lí là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Quản lí là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức

- Quản lí là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm

- Quản lí là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia

- Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí, thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định

Trong công tác quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí, khách thể quản lí quan hệ với nhau bằng các tác động quản lí Quá trình quản lí phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung Khi thực hiện nhiệm vụ quản lí, chủ thể quản lí luôn hướng theo mục đích quản lí đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản lí thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lí bao hàm các khía cạnh: Hệ thống quản lí gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lí với đối tượng quản lí Khi chỉ ra chủ thể quản lí thì phải chỉ ra đối tượng quản lí và ngược lại

Nếu ta trả lời được câu hỏi: Ai quản lí? Thì ta đã xác định được chủ thể quản

lí Chủ thể quản lí có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ thể lập nên Cá nhân làm chủ thể quản lí được gọi chung là CBQL

Trang 18

Nếu xét ở góc độ vĩ mô toàn cầu thì đó là Tổng thư ký Liên hợp quốc; ở một nước là Chủ tịch hoặc Thủ tướng; ở trong một ngành là Bộ trưởng, ở góc độ vi mô một doanh nghiệp là Giám đốc; ở một nhà trường là Hiệu trưởng,

Còn nếu trả lời được câu hỏi: Quản lí ai? Quản lí cái gì? ta sẽ xác định được

đối tượng quản lí Đối tượng quản lí có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể hoặc có thể là một sự việc Khi đối tượng quản lí là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại diện có thể trở thành chủ thể quản lí cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc Ví dụ: như ở một Trường TCCN thì Trưởng khoa là đối tượng quản lí của Hiệu trưởng nhưng cũng lại là chủ thể quản lí của Trưởng tổ môn Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tượng quản lí là người hoặc tổ chức được con người đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể

Giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lí nảy sinh các động lực quản lí, còn khách thể quản lí thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lí

Công cụ quản lí là các phương tiện mà chủ thể quản lí dùng để tác động đến đối tượng quản lí như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch,

Phương pháp quản lí là cách thức tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí Phương pháp quản lí rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính-tổ chức, phương pháp tâm lí-giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau

Mục tiêu của quản lí là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người

Mô hình hoạt động quản lí có thể biểu diễn qua sơ đồ 1.1

Trang 19

Sơ đồ1.1: Mô hình hoạt động quản lí

Như vậy: ở đâu có những hoạt động chung thì nơi đó có sự quản lí Để đạt được những mục tiêu đã định quản lí phải thực hiện bốn chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong đó:

+ Kế hoạch hoá: là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác định mục đích chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu rủi ro, hạn chế phát sinh, lãng phí Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xẩy ra, những ý tưởng của chủ thể quản lí để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu Đây là bước cơ

sở cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo của quản lí

+ Tổ chức thực hiện: là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm

vụ Tổ chức là xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lí tác động đến các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tượng quản lí để đạt hiệu quả cao nhất Tổ chức giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch

Lê Nin đã từng nói về công tác tổ chức: "Hãy cho tôi tổ chức những người

Bônsêvích chân chính có kỷ luật tôi sẽ làm đảo tung nước Nga bảo thủ, man rợ"

CHỦ

THỂ

QUẢN LÝ

KHÁCH THỂ QUẢN LÝ

MỤC TIÊU QUẢN LÝ Phương

pháp Quản lý

Công cụ Quản lý

Môi trường Quản lý

Trang 20

Câu nói bất hủ ấy của Lê Nin cho chúng ta hiểu rõ tổ chức và vai trò của tổ chức

Người còn nói: "Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có

vũ khí nào khác hơn là tổ chức"

Khi giai cấp đã nắm chính quyền rồi, người còn nói: "Lĩnh vực trọng yếu

nhất và khó khăn nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức"

Thực hiện nhiệm vụ của một ngành hay một cơ quan bất kỳ nào trong hệ thống chính trị của chúng ta cũng đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức thích hợp

+ Chỉ đạo: là công việc thường xuyên của người quản lí nhằm tác động đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lí luôn phục tùng, phát huy tính tự giác

và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm vụ đã phân công Nói cách khác đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu đã định

+ Kiểm tra đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp quản

lí nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lí để kiểm soát hoạt động của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy đạt được mục tiêu Có thể nói: kiểm tra là tai mắt của quản lí

Trong công tác lãnh đạo, quản lí và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói: "Không có

kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo" Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra đánh

giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lí là việc làm không thể thiếu của chủ thể quản lí

Các chức năng quản lí tạo thành một chu trình thống nhất Trong đó, mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác Quá trình ra các quyết định quản lí là quá trình thực hiện các chức năng theo một trình tự nhất định Nhà quản lí không được bỏ qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lí cần quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng là: thông tin quản lí và quyết định quản lí

Thông tin quản lí: là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xử lí giúp cho người quản lí hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lí Thông tin quản lí

Trang 21

không những là tiền đề của quản lí mà còn là huyết mạch quan trọng để duy trì quá trình quản lí, lí là cơ sở để người quản lí đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời

và hiệu quả

Quyết định quản lí: là sản phẩm của người quản lí trong quá trình thực hiện các chức năng quản lí Quá trình quản lí được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lí

1.2.2 Quản lí giáo dục và quản lý nhà trường

Quản lí giáo dục là cũng như quản lí xã hội là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình

Xét ở cấp vĩ mô, cấp quản lí một nền/hệ thống giáo dục:

Theo D.V Khuđomixki thì: “quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống,

có kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [21, tr 33]

Theo Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân thì: ”Quản lí giáo dục là những tác

động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [26, tr 14]

Kế hoạch

Thông tin quản lý Quyết định quản lý

Trang 22

Còn theo tác giả Trần Kiểm: “quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ

thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [25, tr 10]

Còn xét ở cấp vi mô, cấp quản lí một nhà trường/cơ sở giáo dục:

Theo học giả nổi tiếng M.I Konđakốp: "Quản lí giáo dục là tập hợp những

biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [28, tr 93]

Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [16, tr 7]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí giáo dục vi mô được hiểu là những

tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng

xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục của nhà trường” [25, tr 12]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lí nhà trường là thực hiện đường

lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [34, tr 61]

Tóm lại: Quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của

ngành giáo dục, nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó

thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục

Trang 23

Quản lý nhà trường liên quan đến các quy đi ̣nh cho phép thành lâ ̣p , hoạt

đô ̣ng và giám sát hoa ̣t đô ̣ng theo quy đi ̣nh của nhà nước ; là quản lý hệ thống các nhà trường của các cấp quản lí giáo dục, dưới góc nhìn đó là quản lý vĩ mô

Quản lý bao gồm 3 yếu tố: Chủ thể quản lý ; Khách thể/đối tươ ̣ng quản lý và mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý là toàn bộ bộ máy QLGD ; cao nhất là Chính phủ với Bộ GD&ĐT, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đối với trường nghề, là cơ quan thườ ng trực; dưới Bô ̣ GD &ĐT là hê ̣ thống sở , phòng GD &ĐT của Tỉnh và Huyê ̣n (mă ̣c dù quyền QLNN về GD thuô ̣c UBND nhưng Sở , Phòng là “cơ quan thường trực” QLGD của đi ̣a phương)

Quản lý nhà trường theo quan điểm vi mô thực chất là quản lý quá trình dạy học (hoạt động chủ yếu ) ở nhà trường Đối với bất kỳ tổ chức nào khách thể /đối tượng quản lí đều là Người -Việc-Vật và đối với một cơ sở GD &ĐT nói chung và nhà trường nói riêng “Việc” chủ yếu là hoạt động thực hiện nhiệm vụ GD &ĐT con người và hoạt động dạy học là nội dung hoạt động quan trọng nhất của một nhà trường và cơ sở GD

Tóm lại, quản lí nhà trường về bản chất là quản lí con người Điều đó tạo cho chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những qui luật khách quan của một tổ chức xã hội – Nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lí của chính bản thân giáo viên và học sinh Trong nhà trường, giáo viên và học sinh vừa là chủ thể quản

lí, vừa là đối tượng quản lí Với tư cách chủ thể quản lí, họ là người tham gia chủ động tích cực vào hoạt động quản lí chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lí Với tư cách là đối tượng quản lí giáo viên và học sinh chịu sự tác động của chủ thể quản lí – Hiệu trưởng

Vì vậy quản lí nhà trường là phải vận dụng tất cả các nguyên lí chung của quản lí giáo dục, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm thực hiện có hiệu quả tiêu đào tạo của nhà trường

1.2.3 Đào tạo

Đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ chức, một xã hội về một vấn đề, và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định

Trang 24

Đào tạo là phương pháp truyền thống nhằm thay đổi kiến thức, các kỹ năng, nhưng nó không giống với việc học của người lớn Trong khi việc đào tạo thường được sử dụng, kết quả của nó sẽ được nâng cao hơn nếu thực hiện cách tiếp cận theo những nguyên tắc đào tạo người trưởng thành

Quá trình này gốm ba giai đoạn:

- Quảng cáo thông tin mới và dữ liệu,

- Phân tích thông tin & dữ liệu mới nhằm mở mang kiến thức mới

- Tiếp thu và liên kết kiến thức mới với những kíên thức đã được học để biến

nó trở thành tài sản riêng của mình

Một chương trình đào tạo tốt phải luôn luôn chú trọng rằng mình hướng vào đối tượng nào, họ đã có kiến thức gì trước đây và huấn luyện viên và giảng viên sẽ giúp như thế nào trong giai đoạn phân tích chương trình đào tạo Những người trưởng thành luôn dễ tiếp thu hơn khi được đào tạo

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo

Trong lĩnh vực quân sự, đào tạo thường đề cập đến việc huấn luyện, dạy những kỹ năng làm người học có năng lực thể chất để chiến đấu và tồn tại trong chiến đấu, học được những kỹ năng sống cần thiết trong thời chiến Quá trình này bao gồm cả việc làm thế nào để sử dụng những loại vũ khí khác nhau, kỹ năng sống ngoài trời, ở thực địa, làm thế nào để thoát khỏi sự bắt giữ của kẻ thù

1.2.4 Đào tạo nghề

Đào tạo nghề là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức nhất định đã được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo các nghề đào tạo

Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy nghề)

Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:

Trang 25

Đào tạo nghề là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra,

tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp

Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà các

công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty”

Ông Max Forter (1979) đưa ra khái niệm Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện:

+ Gợi ra những giải pháp cho người học

+ Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ

+ Tạo ra sự thay đổi trong hành vi

+ Đạt được những mục tiêu chuyên biệt

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho

người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 Trong đó viết:

“Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và

thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc

từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [32, tr 02]

Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố

cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp

để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo

ra công việc sản xuất cho bản thân

Hiện nay, Dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương lai

Trang 26

phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay nghề Đây là

điểm khác biệt lớn trong Dạy nghề so với dạy văn hoá Dạy nghề cung cấp cho học

sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết của một nghề nhất định Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ,

trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lí sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới Học sinh được cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn Đó là những cơ sở ban đầu để người học sinh-người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp

Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện

Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề

và cao đẳng nghề Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy, dạy nghề thường xuyên

1.2.5 Quản lý đào tạo nghề

Quản lí đào tạo nghề là một quá trình tổ chức lập kế hoạch, điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của toàn hệ thống

Quản lý quá trình đào tạo nghề thực chất là quản lí các yếu tố sau theo một trình tự, qui trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo Các yếu tố đó là:

+ Mục tiêu đào tạo nghề

+ Nội dung đào tạo nghề

+ Phương pháp đào tạo nghề

+ Hình thức tổ chức đào tạo nghề

+ Hoạt động dạy nghề (chủ thể là thầy, cô,)

+ Hoạt động học nghề (chủ thể là học trò)

Trang 27

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề

+ Môi trường đào tạo nghề

+ Tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo nghề trong kiểm tra, đánh giá

+ Tổ chức bộ máy đào tạo nghề

Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau

Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lí đào tạo nghề cần tiến hành các bước theo quy trình như quản lí giáo dục: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình quản lí công tác đào tạo các yếu tố trên luôn luôn vận động

và tác động qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lí Do vậy, Nhà quản lí phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lí các sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục, đào tạo và nhà trường phát triển liên tục

Nhiệm vụ của quản lí đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội

1.3 Nghề nhà hàng – khách sạn

1.3.1 Đặc điểm nghề

Nghề nhà hàng – khách sạn là nghề thuộc lĩnh vực du lịch và dịch vụ mà trong các nền kinh tế phát triển thì các ngành kinh tế dịch vụ đóng góp từ 40 đến 60% GDP của một nước Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa, thế giới ngày càng hội nhập, mở rộng kinh doanh trên toàn cầu thì nhu cầu giao thương, đi lại, du lịch ngày càng nhiều nên nghề Nhà hàng – Khách sạn ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu

ăn ở, khám phá ẩm thực của mọi người

Nghề Nhà hàng – Khách sạn là nghề dịch vụ, phục vụ nhu cầu ăn ở, lễ hội, vui chơi, thưởng thức cho mọi người, do đó được coi là nghề làm dâu trăm họ Với nghề này khi mọi người ở ngành nghề khác nghỉ ngơi thì những người phục vụ trong nghề Nhà hàng-Khách sạn phải làm việc, thậm chí làm việc cả ban đêm, ngày

lễ tết Nghề này gắn liền với việc đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, an ninh khu vực, phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc và nhiều quốc gia Để có thể phục

vụ tốt trong nghề Nhà hàng – Khách sạn thì mỗi nhân viên phải có kiến thức tốt về

Trang 28

các loại món ăn của từng khu vực trên thế giới như các món ăn Âu, Á, Latinh… cùng phong cách phục vụ, hiểu được phong tục tập quán, văn hóa của khách đến lưu trú tại khách sạn để có thể phục vụ được chu đáo tận tình, phải coi khách đến như người thân trong nhà

Đặc điểm của nghề là thường xuyên tiếp xúc với khách hàng nên hình thức của người trong nghề, cũng như kỹ năng giao tiếp, ứng xử với khách là điều vô cùng quan trọng Việc một khách hàng có trở nên tiềm năng và gắn kết với nhà

hàng – khách sạn hay không, ngoài chất lượng sản phẩm còn phải kể đến vai trò lớn của kỹ năng giao tiếp phục vụ khách Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập quốc tế thì vai trò của ngoại ngữ trong ngành nghề này rất lớn Việc phục vụ khách nước ngoài đòi hỏi nhân viên trong nghề phải sử dụng thông dụng ít nhất một ngoại ngữ phổ biến như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nga… Ngôn ngữ gần như là bắt buộc sử dụng hiện nay đối với các nhà hàng- khách sạn là tiếng Anh

Thu nhập của người trong nghề có sự phân biệt rõ rệt giữa chất lượng lao động có tay nghề và lao động phổ thông chưa qua đào tạo Đối với lao động phổ thông, công việc vất vả và thu nhập từ 3-5 triệu/tháng, thấp hơn rất nhiều so với lao động ở những vị trí đòi hỏi tay nghề cao hoặc đối với các vị trí quản lý Thu nhập của một quản lý nhà hàng, khách sạn cỡ trung tại Việt Nam từ 10-18 triệu/tháng, còn đối với khách sạn 3-5 sao, thu nhập ở mức 2.000USD/tháng trở lên Nhìn chung

so với các nghề khác thì mức thu nhập nghề Nhà hàng - Khách sạn vẫn cao hơn và

có xu hướng tăng gắn với sự phát triển ngày càng cao của xã hội

1.3.2 Nội dung nghề

Nội dung của đào tạo nghề là những yêu cầu đặt ra để mang lại cho người học có được những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết

Về yêu cầu của nội dung đào tạo nghề, Luật giáo dục năm 2005, tại điều 34,

khoản 1 có ghi: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực

thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện

kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo” [32, tr 22]

Nội dung phải phù hợp với mục tiêu đào tạo, phải đảm bảo tính cân đối, toàn diện giữa các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức và lương tâm nghề nghiệp

Trang 29

cần thiết Bên cạnh đó, nội dung phải gắn liền với thực tế sản xuất, phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, tính liên thông phù hợp với trình độ của người học

Nội dung nghề Nhà hàng - khách sạn rất phong phú, người học sẽ được học

về các kiến thức và kỹ năng thực hành về buồng, bàn, bar, bếp, cách tổ chức phục

vụ, tổ chức sự kiện, quản trị marketing du lịch, quản trị nhân lực, quản trị cơ sở vật chất, quản trị chất lượng dịch vụ, quản trị tài chính nhà hàng - khách sạn Dựa trên kiến thức tổng hợp trên, người học nghề sẽ lựa chọn kỹ năng thực hành chuyên sâu phù hợp với năng lực bản thân và đam mê nghề nghiệp

1.3.3 Yêu cầu của nghề

Với đặc thù là một ngành công nghiệp không khói, nhà hàng - khách sạn phải đảm bảo các tiêu chí tiêu chuẩn của nghề du lịch Sự phân biệt đẳng cấp của lĩnh vực hoạt động này là sự khác biệt từ những tiểu tiết Con người làm trong Nhà hàng

- khách sạn không những phải được rèn luyện về phẩm chất, đào tạo kiến thức cơ bản về nghề mà còn phải chuyên sâu về kỹ năng, các thao tác phải thành thạo và chuẩn mực, việc xử lý tình huống phải năng động linh hoạt và khéo léo Để đạt được yêu cầu đó chỉ có qua đào tạo gắn liền với thực tiễn thì mới tạo ra được sản phẩm dịch vụ chuyên nghiệp

Kỹ năng làm việc là rất quan trọng đối với bất cứ nghề nào Riêng nghề Nhà

hàng - khách sạn đòi hỏi kỹ năng giao tiếp khéo léo phù hợp với văn hóa khách du lịch, kỹ năng nghiệp vụ tốt phù hợp với vị trí làm việc (buồng, bàn, bar, bếp, tổ chức quản lý…) Kiến thức về nghề càng rộng cùng với kỹ năng nghề chuyên sâu sẽ

quyết định vị trí làm việc trong hệ thống các nghề nhà hàng - khách sạn

Trong xu thế chung của nền kinh tế thị trường như hiện nay, một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng khách sạn quan tâm đó là nguồn nhân lực có chất lượng cao Nhà trường cần quan tâm chú trọng đến việc cải tiến chương trình đào tạo, giành nhiều thời gian cho sinh viên được tiếp cận với thực tế và được trau truốt về kỹ năng nghiệp vụ, xây dựng quy trình, phương pháp đào tạo phải phù hợp với yêu cầu thực tế theo tiêu chuẩn Nên có sự phối hợp giữa nhà trường với Doanh nghiệp, nội dung đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu của các Doanh nghiệp thì mới giải quyết được tình trạng bất cập sinh viên sau khi tốt nghiệp

Trang 30

thiếu việc làm như hiện nay và hỗ trợ cho Doanh nghiệp trong việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao

1.4 Quản lý đào tạo nghề nhà hàng – khách sạn

Quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn là một quá trình tổ chức lập kế hoạch, điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn của nhà trường và khoa theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo

Mục tiêu đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn là sinh viên sau khi tốt nghiệp

có được kiến thức, kỹ năng thành thạo và thái độ nghề nghiệp tốt để có thể phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn với các tiêu chuẩn đòi hỏi nghiêm ngặt Do đó để thực hiện tốt mục tiêu này thì cần phải quản lí các yếu tố sau:

1.4.1 Quản lý chương trình đào tạo

Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu của từng nghề, dựa trên chương trình khung của từng nghề mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, nhà trường lập

kế hoạch và xây dựng chương trình đào tạo nghề cụ thể, từ các môn học cơ bản, đến các môn học cơ sở và kỹ thuật nghề Chương trình đào tạo phải phù hợp với từng cấp độ, thời gian đào tạo, tương ứng với số giờ thực hành nhất định nhằm đảm bảo cho học sinh có đủ kiến thức và kỹ năng thực hành nghề Chương trình phải đảm bảo đủ số giờ lên lớp, tự học ở nhà, đủ số giờ thực hành, và tất cả học sinh phải được hướng dẫn thực hành

1.4.2 Quản lý thực hiện chương trình đào tạo

Dựa vào chương trình đào tạo đối với các hệ dạy nghề cụ thể (Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề), Phòng Đào tạo là đơn vị tham mưu cho Hiệu trưởng để lập Kế hoạch đào tạo chung cho cả khóa học, tiến độ đào tạo cho từng năm học Các khoa chuyên môn dựa trên tiến độ đào tạo của Nhà trường lên Kế hoạch giảng dạy của giáo viên cho năm học sao cho phù hợp với từng môn học, mô-đun đào tạo

Phòng Đào tạo phối hợp với các khoa chuyên môn giám sát quá trình thực hiện chương trình đào tạo thông qua hệ thống giáo án, bài giảng lý thuyết, thực hành của giáo viên Hệ thống giáo án, bài giảng phải được tổ bộ môn, khoa chuyên

Trang 31

môn kiểm tra, chỉnh sửa, cập nhật kiến thức mới sao cho phù hợp với chương trình môn học, mô-đun trước khi giáo viên lên lớp

Quản lí chất lượng giảng dạy của giáo viên được thực hiện thông qua kế hoạch dự giờ, rút kinh nghiệm thường xuyên của khoa chuyên môn, ban giám hiệu nhà trường Nhà trường phải luôn tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề chuyên sâu, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên

Bên cạnh đó, hệ thống các bài kiểm tra định kỳ, kiểm tra kết thúc môn học, mô-đun sẽ đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như chất lượng học tập, thực hành của người học nghề

Quá trình quản lí thực hiện chương trình đào tạo sẽ quyết định chất lượng đầu ra của người học nghề theo sát mục tiêu đào tạo nghề

1.4.3 Tổ chức hoạt động đào tạo

Hiệu trưởng phải thường xuyên nắm chác vai trò chỉ đạo, điều hành của mình, xử lí thông tin chính xác, kịp thời, chỉ đạo mọi hoạt động một cách đúng đắn, kiên quyết để quá trình quản lí đạt hiệu quả cao

Hiệu trưởng ra các quyết định quản lí cần thiết để chỉ đạo, điều hành kế hoạch và mọi hoạt động của nhà trường Duy trì sự phối hợp giữa các bộ phận làm cho toàn bộ hệ thống hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng Thường xuyên giám sát các hoạt động trong nhà trường nhất là hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh Ban giám hiệu thiết lập các kênh thông tin quản lí nắm bắt, nghiên cứu và khai thác có hiệu quả các kênh thông tin, tham mưu cho Hiệu trưởng

ra các quyết định quản lý nhằm can thiệp, điều chỉnh đảm bảo cho mọi hoạt động của nhà trường đi vào nề nếp

Khi điều hành thực hiện kế hoạch, hiệu trưởng phải lường trước những khó khăn, có khả năng ứng phó nhanh, xử lí linh hoạt kịp thời với những tình huống xảy

ra và tìm được biện pháp tối ưu để khắc phục sự đi lệch hướng

Luôn phát huy dân chủ ở cơ sở, quyền làm chủ, tính tích cực sáng tạo của cán bộ, giáo viên CNV và học sinh trong nhà trường, tạo môi trường lành mạnh, đoàn kết, gắn bó, từ đó phát huy nội lực, đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp giáo dục

Trang 32

1.4.4 Đánh giá kết quả đào tạo

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghề là khâu quan trọng trong quá trình dạy và học nghề Kiểm tra, đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá trình dạy và học nghề Nó là động lực người học tích cực hoạt động Kiểm tra đánh giá giúp cho nhà quản lí điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình, điều chỉnh kế hoạch, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nghề Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghề phải đảm bảo những yêu cầu về tính chính xác, tính khoa học, tính khách quan và công khai

Đối với giáo viên cần xác định được thành tích và thái độ học tập của từng học sinh và của toàn bộ lớp học, thông qua kết quả kiểm tra phân tích nguyên nhân

để đề ra biện pháp cải tiến công tác sư phạm, dạy nghề

Đối với học sinh học nghề: cần tự xác định được mức độ hiểu biết và năng lực thực hành nghề của chính mình so với các mục tiêu, tiêu chuẩn đã xác định của chương trình giáo dục nghề

Đối với cán bộ quản lí cần xác định những trọng tâm giáo dục – đào tạo nghề của nhà trường mình để từ đó có biện pháp trong công tác tổ chức, quản lí và chỉ đạo mọi hoạt động đào tạo của nhà trường

Kiểm tra đánh gía là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau Kiểm tra là

để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra

Trong Trường Cao đẳng nghề sử dụng hai dạng kiểm tra đó là kiểm tra định

kỳ, kiểm tra kết thúc môn học hoặc mô đun theo Quy chế 14/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Giáo viên thường sử dụng các phương pháp kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra trắc nghiệm và kiểm tra thực hành nghề…Các phương pháp kiểm tra rất phong phú, cần phải lựa chọn phương pháp phù hợp với mục tiêu đánh giá

1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Với một trường nghề thì yếu tố trang thiết bị, phương tiện dạy học và cơ

sở vật chất phục vụ cho đào tạo là rất quan trọng Chất lượng thực tập tay nghề, chất lượng giảng dạy phụ thuộc phần lớn vào sự phù hợp của trang thiết bị dạy học, vật

tư, vật liệu cung cấp cho học tập Các yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề cần đạt được:

Trang 33

+ Có đủ thiết bị máy móc, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, nguyên, nhiên vật liệu phù hợp cho quá trình đào tạo

+ Thường xuyên đầu tư mua sắm bổ sung trang thiết bị, sửa chữa, nâng cấp thiết bị, nhà xưởng, phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện, Đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh

+ Các trang thiết bị, máy móc đầu tư mới nên theo hướng tiếp cận hiện đại, tiếp cận thực tế hiện nay

+ Cung cấp đầy đủ tài liệu học tập, giáo trình, sách tham khảo phục vụ cho giảng dạy và học tập

- Hiệu quả các biện pháp xây dựng và triển khai hệ thống kiểm định đánh giá chất lượng dạy nghề theo công nghệ mới đảm bảo tính khách quan, hiện đại

- Chất lượng công tác tổ chức liên kết, liên thông giữa các cơ sở đào tạo và cơ

sở sản xuất cần phải kết hợp đào tạo kiến thức, kỹ năng cơ bản tại trường với đào tạo kỹ năng nghề nghiệp tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo ở trường Đại học, Cao đẳng

Chất lượng phương pháp dạy và học nghề cần theo hướng phát huy đựơc năng lực, tính tự chủ và tính tích cực của mỗi cá nhân

- Khả năng huy động nguồn vốn đầu tư cho các nguồn lực phục vụ quá trình đào tạo nghề:

Nhà trường có thể tranh thủ nguồn viện trợ hoặc vay với lãi suất ưu đãi từ các tổ chức trong và nước ngoài; đẩy mạnh công tác xã hội hóa sự nghiệp dạy nghề bằng huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là từ các doanh nghiệp và mở rộng

Trang 34

các hình thức liên kết đầu tư với Doanh nghiệp Du lịch-khách sạn-nhà hàng trong

và ngoài nước đầu tư cho phát triển dạy nghề

Cơ chế, chính sách nhằm phát huy nội lực, thu hút các thành phần kinh tế, các đơn vị, cá nhân đầu tư vào Nhà trường

Các nguồn lực để nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật cho nhà trường, tập trung từng bước chuẩn hóa về diện tích, về phòng học, nhà xưởng, ký túc xá và trang thiết

bị dạy nghề Nhà trường cần tập trung đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, thực nghiệm và ứng dụng công nghệ mới vào phục vụ công tác giảng dạy và học tập

1.5.1 Các yếu tố khách quan

+ Xu thế toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế Quốc tế đem lại nhiều thời cơ và cũng nhiều thách thức to lớn đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải tích cực đổi mới về chiến lược và sách lược trong đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

+ Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam Quá trình tăng cường hợp tác khu vực ASEAN và các nước trên thế giới đã và đang đặt ra những yêu cầu mới không chỉ về kinh tế mà cả về giáo dục đặc biệt là về đào tạo nguồn nhân lực theo các chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế

+ Tiến bộ KHCN và những đổi mới về tổ chức, quản lý sản xuất-dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực KTXH cũng đặt ra những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo nghề nghiệp nói riêng

- Nhận thức về đào tạo nghề của xã hội đã có một bước chuyển đổi nhảy vọt,

xã hội đã quý trọng tay nghề, người công nhân kỹ thuật có khả năng và cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn, sức lao động đã được đề cao hơn

- Yêu cầu mới đối với công tác quản lí đào tạo nghề nhằm mang lại hiệu quả

và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đó là tăng nhanh tỷ trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ, do vậy trong tình hình mới mỗi nhà trường đều phải tự đánh giá chất lượng quá trình đào tạo nghề để từ đó có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp nhằm làm cho kỹ năng tay nghề, khả năng chuyên môn ngang tầm với quốc tế và khu vực đó là nhanh chóng đưa Việt Nam nói chung

Trang 35

và các cơ sở đào tạo nói riêng sớm hoà nhập, tiếp cận với sự phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch trong khu vực và trên thế giới

- Cơ chế, chính sách của Nhà nước, sự quan tâm đầu tư các nguồn lực cho đào tạo nghề Hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục đào tạo, dạy nghề

Nội dung của quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn là quản lí mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, quản lí việc tổ chức thực chương trình đào tạo, quản lí các hoạt động đào tạo, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo, và cuối cùng là quản lí cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn

Trong quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn thì có những yếu tố khách quan, bên ngoài cũng như các yếu tố chủ quan của nhà trường ảnh hương rất lớn đến quản lí đào tạo nghề Nếu biết nắm bắt các cơ hội, hạn chế được tối đa các yếu

tố bất lợi, tiêu cực và phát huy được những yếu tố tích cực, có lợi thì quá trình đào tạo nghề trong nhà trường sẽ phát huy tối đa hiệu quả góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo nghề

Trong chương này, luận văn đã nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, làm rõ các khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài, phân tích các cơ sở khoa học của việc quản lý đào tạo nghề, nêu ra một số lí luận, tác động tích cực về quản lí đào tạo nghề góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề Nhà hàng-Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo nói riêng, phục

vụ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHÀ HÀNG – KHÁCH SẠN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRẦN HƯNG ĐẠO 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.1.1 Mục đích

Để đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất mới các biện pháp quản lí đào tạo nghề Nhà hàng-Khách sạn của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo, tác giả tổ chức điều tra khảo sát lấy số liệu, từ đó phân tích đánh giá để chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, bất cập và thách thức trong công tác quản lý; Từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn của Nhà trường đáp ứng với định hướng đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước

2.1.2 Nội dung điều tra khảo sát

Các nội dung điều tra khảo sát tập trung vào thực trạng đào tạo nghề và các biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng-Khách sạn của Trường và của Khoa Du lịch – Khách sạn, các yếu tố ảnh hưởng cũng như những thuận lợi khó khăn trong việc thực hiện quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn

2.1.3 Phương pháp khảo sát

Từ mục đích và nội dung điều tra khảo sát, thiết kế mẫu phiếu điều tra theo từng nội dung cần khảo sát, đưa phiếu điều tra đến cán bộ quản lí, giáo viên để điều tra lấy ý kiến đóng góp của từng người, từ đó dùng các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, tính toán phân tích số liệu để đánh giá các hoạt động đào tạo và các biện pháp quản lí hiện hành

2.1.4 Địa bàn và đối tượng khảo sát

2.1.4.1 Địa bàn khảo sát

Cán bộ, giáo viên, của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo và một số trường nghề; một số Khách sạn, Nhà hàng trên địa bàn Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang (Trường Cao đẳng nghề Bắc giang, trường Cao đẳng nghề Công nghệ Việt Hàn Bắc Giang, khách sạn Dầu khí Thái Bình, nhà hàng Hương Cau thành phố Thái Bình…)

2.4.1.2 Đối tượng khảo sát

Trang 37

Để đánh giá thực trạng quản lý đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo, do hạn chế về thời gian và một số điều kiện khác nhau, tác giả đã tiến hành khảo sát ở 3 nhóm đối tượng sau :

+ Nhóm 1 : Gồm 30 cán bộ quản lý và giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy tại trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

+ Nhóm 2 : Gồm 50 cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy tại một số trường nghề ở Hà Nội, Bắc Giang

+ Nhóm 3 : Gồm 20 cán bộ quản lý các doanh nghiệp có sử dụng lao động là học sinh nghề Nhà hàng – Khách sạn của trường

2.4.1.3 Nội dung khảo sát

Công tác khảo sát được tiến hành tập trung vào các nội dung sau :

- Đưa ra các tiêu chuẩn yêu cầu đối với nghề Nhà hàng – Khách sạn

- Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn của trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động

Trang 38

2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn của trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

2.2.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo

Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo là cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập được thành lập theo Quyết định 1229/QĐ-LĐTBXH ngày 16 tháng 09 năm 2008 do

Bộ Trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Trụ sở hoạt động của Trường tại: Phú Mỹ – Mỹ Đình – Từ Liêm – Hà Nội

Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo nghề cho học sinh, sinh viên có chất lượng thực hành cao, có phẩm chất của người lao động mới, có tác phong lao động công nghiệp Nhà trường đang từng bước phấn đấu xây dựng là cơ sở đào tạo nghề có thương hiệu trong cả nước và khu vực, xứng đáng được mang tên Đức Thánh Trần

Hưng Đạo

Cơ cấu tổ chức của trường gồm có : Hội đồng quản trị (có 7 thành viên), Hội đồng cố vấn (có 3 thành viên), Ban giám hiệu (có Hiệu trưởng và 01 Phó hiệu trưởng ), các phòng nghiệp vụ (Phòng TC - HC, Phòng Kế toán, Phòng Đào tạo, Phòng công tác HSSV) và các khoa chuyên môn (Khoa môn cơ bản, Khoa Kế toán – Tài chính, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Khách sạn – Du lịch) Các đơn vị trực thuộc như: Trung tâm tuyển sinh và tư vấn việc làm, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, Công ty TNHH PN Toàn Cầu, Xưởng thực hành nghề Trong Nhà trường còn thành lập các tổ chức đoàn thể như Chi bộ Đảng, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức Công đoàn với chức năng nhiệm vụ quy định và thường xuyên phối hợp với chính quyền để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị đề ra

Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo được Bộ LĐTB&XH giao chỉ tiêu đào tạo hệ chính qui: Cao đẳng nghề (học 3 năm); Trung cấp nghề (học 2 năm) với các nghề sau: Kế toán doanh nghiệp, Lập trình máy tính, Thiết kế đồ họa, Tin học văn phòng, Kỹ thuật sửa chữa lắp ráp máy tính, Kỹ thuật chế biến món ăn, Quản trị khách sạn, Hàn, Cắt gọt kim loại Ngoài ra nhà Trường còn đào tạo các nghề ngắn hạn từ 03 đến 06 tháng, với các nghề sau: Kế toán máy, Kế toán thuế, Kế toán tổng hợp, Nấu ăn, Làm bánh, Kỹ thuật pha chế đồ uống, Dịch vụ quầy Bar, Lưu trú buồng, Thiết kế Website, Làm phim hoạt hình, Sửa chữa máy tính, Sửa chữa điện thoại di động…

Trang 39

Ngoài nhiệm vụ đào tạo nghề theo quy định, hiện nay Nhà Trường đang liên kết và phối hợp đào tạo với các trường đại học, các doanh nghiệp như: Liên kết với Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 trong việc đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp, cao đẳng cho giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở lên đại học theo hình thức vừa học vừa làm; Liên kết với Trường Đại học Quản trị Kinh doanh Hà Nội trong việc đào tạo kế toán, tài chính từ trình độ trung cấp lên đại học; Liên kết với Trường Đại học Điện lực để đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề lên trình độ đại học Liên kết với các doanh nghiệp như: Công ty cổ phần

kỹ nghệ Phúc Anh trong việc đưa học sinh đi thực tập và thực hành nghề Công nghệ thông tin, kế toán; Liên kết với Công ty Cổ phần Biển Bạc và Hiệp hội an ninh chuyên nghiệp Châu Á trong việc đào tạo nghề Thiết bị an ninh; Liên kết với khách sạn, nhà hàng Điểm hẹn, Thăng Long, Nhà hàng Thủy Tạ trong việc thực tập nghề cho học sinh học quản trị khách sạn và Kỹ thuật chế biến món ăn Các liên kết này

đã tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện tay nghề cũng như tìm việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp

2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn

2.2.2.1 Thực trạng nội dung chương trình và thời gian đào tạo

- Đối với hệ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề, Nhà trường tổ chức đào tạo theo chương trình khung của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội ban hành phù hợp với quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung dạy nghề Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan tổ chức xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề, trung cấp nghề Chương trình khung dạy nghề sau khi được thẩm định sẽ được Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương ký quyết định ban hành Chương trình dạy nghề bắt buộc gồm các môn học chung (chính trị, pháp luật, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng, tin học, ngoại ngữ); các môn cơ sở nghề và các môn chuyên nghề Số tiết của chương trình dạy nghề bắt buộc chiếm từ 75% đến 85% chương trình đào tạo nghề Cụ thể đối với các nghề Nhà hàng - khách sạn như sau:

Trang 40

Bảng 2.1 Ngành nghề đào tạo và thời gian đào tạo theo chương trình

khung của Bộ LĐTB&XH

TT Nghề/hệ đào tạo

Chương trình đào tạo

Chương trình khung của Bộ

- Bên cạnh chương trình khung bắt buộc của Bộ Lao động - Thương binh &

Xã hội, Nhà trường tự xây dựng chương trình đào tạo tự chọn đối với các nghề khác nhau sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo và thị trường lao động Chương trình đào tạo tự chọn chiếm từ 15% đến 25% chương trình dạy nghề Chương trình tự chọn sau khi được hội đồng thẩm định cấp trường duyệt sẽ được tổng hợp cùng chương trình khung tự chọn của bộ để thành Chương trình đào tạo nghề của Trường, được Hiệu trưởng ra quyết định ban hành và được báo cáo lên Vụ đào tạo - Tổng cục dạy nghề

Bảng 2.2 Ngành nghề đào tạo và thời gian đào tạo các môn tự chọn

TT Nghề/hệ đào tạo

Chương trình đào tạo

Chương trình tự chọn của Trường

Ngày đăng: 03/12/2020, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w