1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường đại học nông nghiệp hà nội

114 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

26 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI .... Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý lu

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KHÁNH THỌ

BIỆN PHÁP QUẢN Lí ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

TẠI CÁC CƠ SỞ LIấN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC

Mó số: 601405

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN Lí GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2009

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối lượng nghiên cứu 3

4 Câu hỏi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6

1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 8

1.2.1 Quản lý 8

1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường 14

1.2.3 Quản lý nhà nước về giáo dục 18

1.2.4 Hệ đào tạo vừa làm vừa học 25

1.3 Đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết 25

1.3.1 Đặc điểm về đào tạo hệ vừa làm vừa học 25

1.3.2 Cơ sở liên kết đào tạo và việc phối hợp thực hiện 26

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 28

2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 28

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 28

2.1.2 Đối tượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 29

Trang 3

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 29 2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 30 2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên 31 2.1.6 Quy mô đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 34 2.1.7 Nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật 37 2.1.8 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo 38 2.2 Thực trạng đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 40 2.2.1 Công tác tuyển sinh hệ vừa làm vừa học của Nhà trường 44 2.2.2 Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học 45 2.2.3 Hoạt động dạy học hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào

tạo 45 2.2.4 Đánh giá kết quả học tập, công nhận tốt nghiệp cho sinh viên 46 2.3 Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 47 2.3.1 Cơ sở pháp lý để quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học của Nhà

trường 47 2.3.2 Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 48

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA

LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 69 3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 69 3.1.1 Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 69

3.1.2 Định hướng phát triển của Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội 69

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý đào tạo 69

3.2.1 Dựa trên nguyên tắc đồng bộ 69

3.2.2 Dựa trên nguyên tắc khả thi; lựa chọn ưu tiên 70

Trang 4

3.2.3 Dựa trên nguyên tắc thừa kế 70

3.3 Các biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 70

3.3.1 Xây dựng quy trình khép kín quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết 71

3.3.2 Tăng cường chỉ đạo xây dựng và thực hiện tốt nội dung, chương trình đào tạo 74

3.3.3 Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát công tác đổi mới phương pháp giảng dạy 76

3.3.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động học của sinh viên 78

3.3.5 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy học 81

3.4 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý cơ bản 13

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục 14

Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức quản lý của Nhà trường 30

Bảng 2.1 Thực trạng quy mô đào tạo đại học 5 năm (2004 - 2008) 35

Bảng 2.2 Thực trạng quy mô đào sau tạo đại học 5 năm (2004 - 2008) 35

Bảng 2.3 Số ngành và số học phần đào tạo đại học tại các khoa 36

Bảng 2.4 Nhu cầu diện tích nhà làm việc, ký túc xá, dịch vụ sinh viênđến năm 2015 và 2020 39

Bảng 2.5 Số ngành và địa phương liên kết đào tạo với Nhà trường 41

Bảng 2.6 Số lượng sinh viên đã tốt nghiệp và đang học tại các địa phương 42

Bảng 2.7 Đánh giá CBQL phòng đào tạo đại học về các biện pháp quản lý giờ lên lớp của giảng viên 57

Bảng 2.8 Đánh giá của Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Khoa, Phòng về các biện pháp quản lý giờ lên lớp của giảng viên 59

Bảng 2.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về các biện pháp quản lý hoạt động học của sinh viên 60

Bảng 3.1 Đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 87

Trang 6

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra nhiệm vụ cho giáo dục đại học phải đào tạo ra những con người có sức khoẻ, có đạo đức, có tri thức và trình độ chuyên sâu, có năng lực học tập thường xuyên và học tập suốt đời, năng động, sáng tạo để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ Quốc Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến vị trí và vai trò của giáo dục và luôn coi đó là quốc sách hàng đầu Phát triển nguồn nhân lực luôn được coi là nhiệm vụ đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo ở nước ta

Hiện nay với việc ngày càng có nhiều các Trường Đại học tư được thành lập bên cạnh hệ thống các trường đại học công lập đang hoạt động thường xuyên thì số lượng sinh viên được đào tạo trình độ đại học ngày càng tăng dẫn đến một vấn đề tất yếu được quan tâm đó là chất lượng đào tạo ngày càng phải được nâng cao để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và mục tiêu phát triển nền kinh tế

Nền giáo dục của nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình đào tạo đại học như: đào tạo chính quy, đào tạo tại chức (vừa làm vừa học), đào tạo từ

Trang 7

xa Theo con số thống kê của Bộ Giáo và đào tạo thì cả nước có trên 1,5 triệu sinh viên đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng, trong đó có khoảng 700.000 tức gần 50% sinh viên đang theo học hệ tại chức (vừa làm vừa học) Một con số khá ấn tượng bởi mục tiêu của đào tạo hệ vừa làm vừa học là hướng đến những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính và điều kiện thời gian để theo đuổi học hệ chính quy Tuy nhiên với một số lượng đông đảo người vừa làm vừa học như vậy thì đòi hỏi các trường Đại học, Cao đẳng phải có biện pháp quản lý tốt việc tổ chức đào tạo cũng như đảm bảo quyền lợi, chất lượng đào tạo cho người học, đồng thời giải quyết triệt để những bất cập đối với loại hình đào tạo này mà rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã và đang phản ánh

Là một trong số các Trường Đại học trọng điểm quốc gia, trong những năm qua, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã và đang tiến hành đổi mới

để đáp ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các cấp quản lý giáo dục cũng như đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội Nhà trường luôn phấn đấu để trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, chất lượng hàng đầu trong cả nước, tiên tiến trong khu vực về nông nghịêp và phát triển nông thôn Vì vậy mục tiêu của Nhà trường là: Không ngừng phấn đấu cho chất lượng đỉnh cao trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ và phục vụ xã hội, đóng góp thiết thực cho sự phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững và nông thôn Việt Nam văn minh, giầu đẹp

Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây số người học đại học nói chung và học đại học Nông nghiệp nói riêng đang ngày một tăng, quy mô đào tạo đại học của Trường năm 2008 tăng gấp gần 1,6 lần so với năm 2003 Số lượng sinh viên đang theo học tại trường năm 2008 là 20.677 sinh viên trong

đó có 8540 tức gần 50% sinh viên thuộc hệ vừa làm vừa học (tại chức) Số lượng sinh viên hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo trong những năm qua không ngừng tăng lên Năm 2003, số lượng sinh viên hệ vừa làm vừa

Trang 8

học tại các cơ sở liên kết đào tạo là 4373 sinh viên, đến năm 2009 số lượng sinh viên của hệ đào tạo này đã tăng lên 6998 sinh viên Mặc dù Nhà trường

đã chú trọng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo nhưng cũng như rất nhiều các Trường Đại học khác, việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường vẫn còn khá nhiều bất cập từ khâu quản lý đào tạo cho đến chất lượng đào tạo (quá trình dạy và học; thi, kiểm tra, đánh giá ), cần được chấn chỉnh và giải quyết triệt để tránh gây dư luận không tốt, ảnh hưởng tới uy tín của Nhà trường

Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, từ thực tiễn công tác, tác giả nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đaị học Nông nghiệp Hà Nội nhằm rút ra những kinh nghiệm để góp phần đề ra các biện pháp quản lý đào tạo một cách đồng bộ, có tính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp ứng được mục tiêu phát triển của Nhà trường

Lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm

- vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội”, tác giả mong muốn xây dựng được các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý đào tạo cũng như chất lượng đào tạo của Nhà trường

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đưa ra một số biện pháp quản lý đào tạo thực hiện đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo

3 Khách thể và đối lượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Hệ đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 9

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ

sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Việc quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nảy sinh những vấn đề gì bất cập?

Câu hỏi 2: Làm thế nào để giải quyết những vấn đề đó nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội?

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay công tác quản lý tổ chức đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các

cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội chưa toàn diện

và đồng bộ, điều này ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo và việc thực hiện các mục tiêu phát triển của nhà trường Nếu đề xuất và áp dụng được những biện pháp quản lý phù hợp hơn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cũng như chất lượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi không gian và thời gian: Quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học

tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội từ năm

2003 tới nay

6.2 Phạm vi nội dung: Các biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại

các cơ sở liên kết của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Phòng Đào tạo

đại học quản lý trực tiếp

7 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và

hệ thống các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà

Trang 10

nước; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.1 Sử dụng các phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn giảng

viên, sinh viên, cán bộ tại cơ sở liên kết đào tạo để thu thập thông tin về thực trạng quản lý tổ chức đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

7.2.2 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát quá trình dạy và học của

giảng viên, sinh viên

7.3 Phương pháp bổ trợ

7.3.1 Phân tích xử lý số liệu: dùng phần mềm thống kê để xử lý những số liệu

thu được từ khảo sát quản lý đào tạo

7.3.2 Phương pháp chuyên gia: trao đổi, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến cán bộ

quản lý của nhà trường và các cơ sở liên kết đào tạo

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

- Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ

sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ

VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học là một vấn đề đang được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của các trường đại học nói chung Trong thời gian qua đã có rất nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học, có cả sự tham gia của các tổ chức nước ngoài về thực trạng đào tạo hệ vừa làm vừa học nói chung và hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết nói riêng để từ đó tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của hệ đào tạo này

Đã có rất nhiều bài báo hoặc những bài viết của trực tiếp những người đang công tác trong ngành giáo dục được đăng tải đề cập đến chất lượng của việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường đại học và tại các

cơ sở liên kết

Bộ Giáo dục và đào tạo vẫn thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo tại chức (vừa làm vừa học) Đã có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhiều ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toàn loại hình đào tạo này Bên cạnh đó là đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của

Bộ Giáo dục và đào tạo tiếp tục cho đào tạo và phát triển loại hình đào tạo này được đưa ra Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyến Thiện Nhân đã kết luận : chưa thể dừng hẳn loại hình đào tạo này vì như vậy sẽ đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước và sẽ vô tình đập bể "nồi cơm" của các trường đại học Chúng ta cần thảo luận theo hướng tích cực để tìm ra giải pháp hữu hiệu quản lý chặt chẽ, nâng cao chất lượng đào tạo

Trên trang web www.tuanvietnam.net có đăng tải lá thư gửi Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và đào tạo của Giáo sư Nguyễn Đình Cống - Nguyên chủ nhiệm khoa xây dựng - Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đề cập đến chất lượng đào

Trang 12

tạo của hệ vừa làm vừa học với hàng tít: "Bức tranh đại học tại chức đã quá đen tối, tình hình đã quá mức phải báo động"

Giáo sư Phạm Phụ -Thành viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia, trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên đài RFA đã nói: "Tôi không nghĩ dừng lại việc đào tạo tại chức để củng cố đại học chính quy đã là tốt vì tôi nghĩ đây là nhu cầu rất chính đáng của xã hội, vì bên cạnh những người theo học cần bằng cấp để lên chức thì cũng có một số khá đông có nhu cầu học tập thực sự, cho nên không nên đặt vấn đề là ngưng đào tạo tại chức nhưng phải có ngay một loạt các chính sách để quản lý có hiệu quả"

Bên cạnh các ý kiến nêu trên thì Thanh tra Bộ Giáo dục và đào tạo sau khi tiến hành kiểm tra hàng loạt các cơ sở liên kết đào tạo hệ tại chức (vừa làm vừa học) ở địa phương thời gian qua đã kết luận: "Việc thực hiện liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng với các địa phương trong thời gian vừa qua mang tính lợi nhuận là chính Các địa phương chỉ làm nhiệm vụ tuyển sinh, còn các trường gần như chỉ nhằm kiếm việc làm cho cán bộ giảng viên để tăng thu nhập" Ông Phạm Văn Tại, Phó Chánh Thanh tra Bộ Giáo dục và đào tạo đã kết luận như vậy sau khi tiến hành thanh tra hàng loạt các cơ sở liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng với các địa phương Bên cạnh việc tạo cơ hội rất lớn cho nhiều người không có điều kiện học chính quy có thể có tấm bằng trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thông qua liên kết đào tạo… thì vẫn có khá nhiều sai phạm, hạn chế trong hình thức liên kết đào tạo này Cụ thể, các lớp liên kết đào tạo liên tục “trăm hoa đua nở”, trung tâm nào hay tổ chức nào thấy có điều kiện liên kết là đều xin làm Kể cả doanh nghiệp tư nhân cũng xin mở lớp đào tạo đại học, rồi các tổ chức, đoàn thể, công ty, tổ chức chính trị xã hội… liên kết đào tạo như “nấm”

Theo Điều 46 của Luật Giáo dục quy định “cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng cao đẳng, đại học chỉ

Trang 13

được liên kết với cơ sở GD địa phương là trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh với điều kiện các cơ sở này phải đảm bảo đủ điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ cán bộ quản

lý về đào tạo đại học, cao đẳng” Nhưng thực tế các trường triển khai đào tạo liên kết với cả trung tâm giáo dục cấp huyện, thậm chí cả trung tâm xúc tiến việc làm cũng liên kết đào tạo đại học

Việc mở quá nhiều các lớp liên kết nhưng không quản lý, không kiểm soát được dẫn đến hệ quả tất yếu là chất lượng đào tạo kém Mới đây, Bộ Giáo dục và đào tạo đã kiểm tra các trung tâm giáo dục thường xuyên và phát hiện một số trung tâm cấp tỉnh còn “sướng hơn” các trường đại học vì có thể tiến hành liên kết với chục trường đại học ở tất cả các ngành Trong khi đó, trường đại học muốn mở ngành phải làm đầy đủ thủ tục hồ sơ sau đó trình Bộ xem xét phê duyệt Còn các trung tâm giáo dục thường xuyên muốn đào tạo đại học chuyên ngành gì thì thực hiện liên kết với trường đại học cùng chuyên ngành đó chỉ cần qua một thủ tục nho nhỏ Như vậy, Bộ Giáo dục và đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các cấp quản lý có thẩm quyền tại các địa phương

để quản lý chặt chẽ các cơ sở xin đặt lớp, từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp, nên quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở liên kết xin mở lớp đào tạo vừa làm vừa học với các trường đại học

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 14

chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó

C Mác đã viết: “Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình

điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc tì cần phải có nhạc trưởng”

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, Khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.” [16,tr.15]

Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.” [23,tr.8]

Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.” [1,tr.17]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [5, tr.3]

Trang 15

Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:

Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý

Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý

Do đó: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đặt ra Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua

sự nỗ lực của người khác Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

Trang 16

Tóm lại: Con người là độc đáo và phức tạp, họ có thể hoặc là đóng góp cho sự tiến bộ của tổ chức hay là nguyên nhân làm cho tổ chức bị tiêu huỷ

Do đó, quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống con người Quản lý

là sự chi phối và dẫn dắt mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức đi đến một đích nhất định trong từng giai đoạn, hay xuyên suốt thời gian – không gian và ở đó tồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điều khiển được

1.2.1.2 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau bao gồm:

(a), Lập kế hoạch (hoạch định chiến lược): Phán đoán trước toàn bộ

quá trình và các hiện tượng mà tương lai có thể xảy ra mang tính định hướng, chuẩn bị các giải pháp thực hiện hoạt động mong muốn này bằng cách xác định rõ:

- Hoạt động nào mà tổ chức muốn thực hiện

- Cách thực hiện các hoạt động này được thực hiện như thế nào, khi nào thì thực hiện

- Ai sẽ là người thực hiện, nguồn lực nào cần có để thực hiện các hoạt động đó (tiền bạc, thiết bị, con người)

- Các hoạt động này được thực hiện ở đâu, khi nào kết thúc Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến trong tương lai Chức năng này được coi

là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Nhà quản lý lập kế

Trang 17

hoạch bao gồm cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra

và phối hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu

(b), Tổ chức: Tổ chức là đảm bảo tất các các hoạt động và các tiến trình

được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra Nội dung quan trọng nhất của tổ chức là tìm được đúng người, đúng việc, xác định được trách nhiệm của họ, thiết kết một tổ chức và cơ cấu đảm bảo các nhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu và với ai hay báo cáo cho ai, phải rõ ràng quyền lực, trách nhiệm để tránh tình trạng hỗn loạn Đảm bảo một môi trường làm việc lành mạnh, tích cực và khuyến khích làm việc hiệu quả

Tiến trình tổ chức gồm 5 bước:

- Xem xét các kế hoạch và mục tiêu

- Xác định các hoạt động

- Phân loại và nhóm các hoạt động

- Phân bổ công việc và các hoạt động

- Đánh giá kết quả để quyết định xem có cần những thay đổi hay điều chỉnh nào không

(c), Lãnh đạo điều khiển (phối hợp): Các nhà quản lý phải là những

người lãnh đạo hiệu quả, họ phải học cách làm việc với người khác, cách chi phối và động viên người khác để đảm bảo công việc được thực hiện Các công nhân, nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽ làm những việc họ muốn nếu họ không thích những mệnh lệnh hoặc các chỉ dẫn của các nhà quản lý đưa ra

Chức năng quản lý điều khiển của cán bộ bao gồm:

(d), Kiểm tra: Trong tất cả các tổ chức phải có một mức độ kiểm tra

nhất định đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động Thường các nhà quản lý hay nhầm lẫn phối hợp với kiểm tra Phối hợp hàm ý là một

Trang 18

cách tiếp cận mềm dẻo để kiểm tra và kiểm tra ngụ ý là các hoạt động được giám sát để đảm bảo sự tuân thủ các luật và quy định

Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý Để cho chức năng này có hiệu quả, nhà quản lý phải thiết lập được các tiêu chuẩn, quy trình kiểm tra, đo lường và phân tích các kết quả các nhà quản lý xác định được là

tổ chức có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, và có được liên kết chặt chẽ với việc lập kế hoạch hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục đích

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý cơ bản

Đạt được các mục tiêu của tổ chức có hiệu quả

Nguồn lực con người

Nguồn lực tài chính

Nguồn lực vật chất

Qua việc nghiên cứu về các chức năng cơ bản của quản lý, sau khi tìm hiểu và nắm bắt được nội dung cơ bản về các chức năng quản lý, chúng ta còn thấy được mối quan hệ mật thiết giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo

Trang 19

dục Các chức năng này gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ khác nhau Trong mọi hoạt động quản lý giáo dục, thông tin quản lý giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý giáo dục, điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 2: Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục

Môi trường bên ngoài

1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường

1.2.2.1 Khái niệm

Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy quản lý giáo dục đến hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến kết quả mong đợi Quan hệ căn bản của hoạt động quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan

Lập kế hoạch

Thông tin quản lý

Chỉ đạo

Tổ chức Kiểm tra đánh giá

Trang 20

hệ khác biểu hiện trong mối quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (giảng viên - học sinh), giữa con người với cơ sở vật chất và điều kiện phục vụ giáo dục Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung

Quản lý giáo dục (QLGD) là sự vận dụng khoa học quản lý vào hoạt động giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục như mong muốn Quan niệm về QLGD cũng được hiểu theo nhiều hướng khác nhau:

- Theo Đặng Quốc Bảo: “ QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.” [1, tr.31]

- Theo Đỗ Hoàng Toàn: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính … nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng.” [27, tr.29]

Có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Trong hoạt động giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm, họ vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi tác động của quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Do đó, một lần nữa phải khẳng định rằng, con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản

lý giáo dục

Quản lý trường học

Trang 21

Nhà trường với tư cách là một thể chế nhà nước – xã hội, là nơi trực tiếp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và giáo dục đào tạo lại cho nhiều đối tượng có nhu cầu trong xã hội Tuỳ thuộc vào hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia mà quy định cấp bậc học và phạm vi, quy mô cũng như các cách thức hoạt động của mỗi nhà trường

Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt đặc thù của xã hội, được hình thành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội để đạt mục tiêu tồn tại và phát triển của cá nhân, phát triển của cộng đồng

Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là QLGD thì QLGD phải coi nhà trường là nút bấm và quản lý nhà trường phải lấy quản lý việc dạy và học là khâu cơ bản, việc dạy học xuất phát và hướng vào người học

Theo điều 48 của Luật giáo dục năm 2005: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nằm phát triển sự nghiệp giáo dục.” [7, tr.21]

- Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:

Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường

- Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên hệ trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó

- Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động: quản lý giảng viên; quản lý học sinh; quản lý quá trình dạy học – giáo dục; quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học; quản lý tài chính trường học; quản lý lớp học xem như nhiệm vụ của giảng viên quản lý

Trang 22

- Quản lý trường học là giữ ổn định và tìm cách đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục

1.2.2.2 Mục tiêu quản lý trường học

Mục tiêu quản lý trường học là nhằm đạt được chỉ tiêu cho mọi hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai công việc đó Mục tiêu quản lý trường học thường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học của nhà trường

Trong quản lý cần xác định các mục tiêu, bộ phận chính xác để từ đó có các biện pháp quản lý tốt hơn và cũng là thực hiện phát huy tốt công tác kiểm tra hoạt động chuyên môn ở nhà trường

Mục tiêu bộ phận bao gồm:

(a), Quản lý đảm bảo hiệu lực pháp chế về GDĐT

Đảm bảo sao cho các quy định trong hệ thống pháp chế, các quy định pháp luật được thực hiện đầy đủ và đúng đắn trong dạy học, trước hết là trong khâu thiết kế chương trình, soạn bài giảng, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học của giảng viên

(b), Phát huy và điều hành có hiệu quả bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học

Nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giảng viên, nhằm tạo cho họ có đủ điều kiện thích ứng với việc cải tiến phương pháp dạy học Thiết lập được cơ cấu tổ chức của trường một cách phù hợp và xây dựng được cơ chế vận hành hợp lý cho nhà trường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho từng bộ phận, từng cá nhân dễ dàng liên hệ, phối hợp và hỗ trợ sư phạm cho nhau khi chuẩn bị bài giảng, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học

(c), Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực và vật lực dạy học

Trang 23

Thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục nhằm huy động tối đa tài lực

và vật lực từ cộng đồng và toàn thể xã hội, các tổ chức nước ngoài, các nguồn vốn vay ưu đãi, các nguồn vốn tài trợ khác bổ trợ thêm cho nguồn và ngân sách Nhà nước cấp, nguồn học phí cho các nhà trường

Tận dụng khoa học, triệt để công suất, năng lực cơ sở vật chất và thiết bị dạy học Sử dụng nguồn tài lực, vật lực đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm

(d), Nâng cao chất lượng thông tin và môi trường quản lý dạy học

Xây dựng hệ thống thông tin quản lý dạy học có chất lượng, đồng thời giải quyết các mối quan hệ giữa nhà trường – xã hội, nhằm tạo môi trường dạy học thuận lợi nhất trong đó chú trọng tới việc tranh thủ các cơ hội thuận lợi từ cộng đồng và xã hội Giải quyết sự cạnh tranh, thực hiện tự vệ hay phòng ngừa những tác động bất lợi của thiên nhiên, xã hội và các yếu tố khác đối với hoạt động dạy học trong nhà trường

1.2.3 Quản lý nhà nước về giáo dục

1.2.3.1 Khái niệm

Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với giáo dục Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước về giáo dục được đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý

1.2.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;

Trang 24

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;

- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

- Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;

- Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

- Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

- Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

1.2.3.3 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền

Trang 25

và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương

về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục

- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục

- Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo

sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương

1.2.3.4 Quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học

Giáo dục đại học là một trong các thành tố quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ giáo dục và đào tạo Nhìn lại 23 năm đổi mới và 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Bộ GD - ĐT cho rằng, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn,v.v… Tuy nhiên, giáo dục đại học đang đứng trước thách thức to lớn: Phương thức quản lý nhà nước đối với trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên Chất lượng nguồn nhân lực đang là một khâu yếu kém kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế

Bộ Giáo dục và đào tạo nhìn nhận, có hai nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong hệ thống giáo dục đại học Cụ thể là: Cùng lúc bị chi phối bởi nhiều loại quy luật (quy luật sư phạm, quy luật quản lý hệ thống, quy

Trang 26

luật kinh tế và quy luật xã hội) Bên cạnh đó, các cán bộ quản lý giáo dục đại học, nhất là ở cấp quốc gia không được quy hoạch và đào tạo có hệ thống để

có thể nắm vững các loại quy luật trên, vận dụng sáng tạo trong công tác nên yếu kém kéo dài không khắc phục được

Cùng với đó, hệ thống quản lý giáo dục đại học còn nặng theo hướng chỉ đạo từ trên xuống, xin từ dưới lên, chưa có cơ chế buộc lãnh đạo cấp trên phải nghe cấp dưới ở mức cần thiết Ngoài ra, chưa có cơ chế sàng lọc cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ

Trong tổng số 376 trường ĐH, CĐ cả nước hiện nay, Bộ GD-ĐT quản

lý 54 trường (chiếm 14,4%); các bộ, ngành khác quản lý 116 trường (30,8%); UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (33,2%); có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%)

Mặc dù, Bộ GD-ĐT là cơ quan duy nhất được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giáo dục cấp bộ, thì việc kiểm tra chấp hành các văn bản đó ở các trường ĐH, CĐ lại thuộc các bộ, ngành khác là cơ quan chủ quản Thậm chí có bộ còn ra văn bản chồng chéo lên chức năng quản lý nhà nước của Bộ GD-ĐT…

UBND các địa phương chưa được phân cấp quản lý các trường ĐH, CĐ ngoài công lập trên địa bàn Mọi nội dung quản lý nhà nước về giáo dục ĐH đối với các trường đại học này đều thuộc Bộ GD-ĐT, trong khi khả năng kiểm soát hoạt động của các trường trong cả nước của Bộ rất hạn chế

Báo cáo của Bộ Giáo dục và đào tạo khẳng định gần 30 năm, chúng ta chưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại học vì chưa có chuẩn đầu

ra của các trường đại học, cao đẳng (chuẩn năng lực của người tốt nghiệp); chưa giữ được chuẩn của nhiều yếu tố đầu vào (giáo viên, chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất); chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng; hàng năm chưa có đánh giá thực tế và báo cáo về chất lượng đạo tạo của các trường

và cả hệ thống giáo dục đại học

Trang 27

Do đó, xét về tổng thể Bộ GD-ĐT chưa thể trả lời được 3 câu hỏi: Chất lượng đào tạo của các trường thế nào? Các trường tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến đào tạo thế nào? Hiệu quả đầu tư từ ngân sách cho các trường ĐH, CĐ công lập thế nào?

Tóm lại, công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng cần giải quyết, từ cơ chế phân cấp quản lý đến cách thức quản lý Nền giáo dục đại học có thực sự phát triển hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý này

1.2.3.5 Các thành tố của giáo dục đào tạo đại học

a Mục tiêu đào tạo đại học

- Mục tiêu đào tạo đại học ở nước ta hiện nay là phát triển nguồn nhân lực có học vấn đại học, có khả năng lao động trình độ mới, phù hợp với nhu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào mọi lĩnh vực của

xã hội nhằm thúc đẩy sự phát trển kinh tế xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước

- Đào tạo đại học cần phải mở rộng chức năng đào tạo, bồi dưỡng, không chỉ phục vụ cho những người học để đạt được những văn bằng đại học mà còn phục vụ tất cả những ai đã có bằng tú tài hoặc tương đương mà có nguyện vọng tiếp tục học để có kiến thức hoặc có một nghề mà không nhất thiết phải cần đến văn bằng đại học

- Đào tạo đại học phải chú trọng vào đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ, phải là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho đất nước, một lực lượng tuy không lớn

về số lượng nhưng có chất lượng cao, có khả năng sáng tạo, tìm ra các hướng

đi mới có hiệu quả cao, mở ra những khả năng mới cho sự phát triển

- Đào tạo đại học phải là một lực lượng nghiên cứu, triển khai có tiềm lực mạnh, liên kết chặt chẽ với lực lượng nghiên cứu của cả nước, phục vụ sự phát triển của xã hội và cộng đồng Nhà trường đại học phải trở thành một

Trang 28

trung tâm sáng tạo khoa học và công nghệ của đất nước, của từng ngành, từng vùng và từng địa phương Giáo dục đại học phải hết sức coi trọng nhiệm vụ phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc trong công tác đào tạo bồi dưỡng cũng như trong công tác nghiên cứu, triển khai

b Nội dung đào tạo đại học

Nội dung đào tạo ở đại học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo và nhiệm

vụ dạy học Nội dung đào tạo phản ánh đậm nét những tri thức khoa học cơ bản , tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa học chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học chuyên ngành Ngày nay, chúng ta cần hiện đại hoá nội dung đào tạo đại học để phù hợp với thời đại bùng nổ và phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, thông tin Thực tế đó tạo áp lực đến những nhà làm công tác đào tạo, cần không ngừng cập nhật, phản ánh thông tin về những thành tựu khoa học trong các lĩnh vực khoa học vào nội dung, chương trình dạy học đại học Đây là một yêu cầu cấp thiết trong giáo dục đại học nhằm tiến tới quốc tế hoá, từng bước làm cho giáo dục đại học nước ta ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Bên cạnh đó cần tăng cường tính tư tưởng và tính nhân văn trong nội dung dạy học ở trường đại học vì cùng với việc trang

bị nội dung học vấn, nội dung dạy học đại học cần phải mang tính giáo dục tư tưởng đạo đức và ý thức công dân, giáo dục lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm cộng đồng Tính nhân văn, tính tư tưởng phải được lồng ghép, được phản ánh đậm nét trong nội dung từng bài giảng tuỳ theo tính chất đặc trưng của từng môn học

Nội dung đào tạo đại học phải phản ánh được thực tiễn đời sống xã hội của đất nước nói chung, thực tiễn giáo dục - đào tạo nói riêng, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội Việc xác định nội dung giáo dục đào tạo nói chung, nội dung đào tạo đại học nói riêng phải xuất phát từ thực tiễn phong phú, đa dạng của cách mạng khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế tri thức trong thời kỳ công

Trang 29

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực tế đó cần được phản ánh đậm nét trong nội dung các môn học Điều đó thể hiện mối quan hệ tương tác giữa mục đích, nội dung và môi trường trong quy trình đào tạo đại học

c Phương pháp đào tạo đại học

Phương pháp đào tạo gắn liền với nghề nghiệp đào tạo ở trường đại học Đặc điểm này thể hiện tính mục đích đào tạo rõ nét của nhà trường đại học, nó đòi hỏi phương pháp dạy học các môn học cơ bản, cơ sở, chuyên ngành đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, nó yêu cầu người giảng viên ngoài việc trang bị tri thức khoa học cần phải chú ý rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho sinh viên

Phương pháp đào tạo đại học gắn liền với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và phát triển của khoa học, công nghệ Đặc điểm này phản ánh mối liên kết có tính quy luật giữa giáo dục đào tạo với khoa học và sản xuất của các trường đại học, đòi hỏi người giáo viên trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển của khoa học kỹ thuật để kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo ở đại học

Phương pháp đào tạo ở đại học ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học Đặc điểm này phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung dạy học ở đại học, đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng dạy phải chú ý đến trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau

về vấn đề nào đó, phải quan tâm, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên

Phương pháp đào tạo đại học có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên Đặc điểm này một mặt phản ánh yêu cầu của mục đích, nội dung dạy học ở đại học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối tượng sinh viên ở lứa tuổi đang phồn vinh về trí tuệ Nó đòi hỏi người giảng

Trang 30

viên phải tôn trọng ý kiến của sinh viên, tổ chức, điều khiển sinh viên tích cực tham gia các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học

Phương pháp đào tạo đại học ngày càng gắn liền với các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại Đặc điểm này phản sánh mối quan hệ hữu cơ giữa phương pháp và phương tiện dạy học, nó đòi hỏi người giảng viên, cán

bộ quản lý cần quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy học, phải tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện hiện đại nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong dạy học

Sau khi tìm hiểu các khái niệm và các chức năng của "quản lý", chúng tôi nhận thấy, tại mỗi trường đại học bao giờ cũng tồn tại các thành tố của quá trình đào tạo như: Mục tiêu đào tạo; Nội dung, chương trình đào tạo; Phương pháp dạy học; Thầy, trò; cơ sở vật chất Chúng ta cần phối hợp sử dụng các chức năng quản lý như: Kế - Tổ - Đạo - Kiểm, để tiến hành quản lý theo các thành tố của quá trình đào tạo hoặc theo các chức năng của quản lý hoặc phối kết hợp cả hai vấn đề trên để công tác quản lý đào tạo đạt hiệu quả cao nhất

1.2.4 Hệ đào tạo vừa làm vừa học

Trước đây hình thức "vừa làm vừa học" thường được gọi là " đào tạo tại chức" Sau này được chuyển thành "vừa học vừa làm" và gần đây nhất được chuyển thành tên gọi như hiện nay là hệ "vừa làm vừa học" Đây là khái niệm dùng cho những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ văn hoá

và chuyên môn nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, thời gian, đặc biệt là vốn kiến thức để theo đuổi học hệ đại học chính quy

1.3 Đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết

1.3.1 Đặc điểm về đào tạo hệ vừa làm vừa học

Với đặc thù là loại hình đào tạo dành cho những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, điều kiện thời gian, đặc biệt là vốn kiến thức để theo đuổi học hệ đại học chính quy, nên việc quản lý đào tạo hệ này cũng sẽ

Trang 31

có những khác biệt so với các hệ đào tạo chính quy, tập trung khác như: Quản

lý chất lượng ngay từ đầu vào đã khác thì chương trình đào tạo về cơ bản cũng giống như đào tạo chính quy nhưng được xây dựng mềm dẻo hơn; thời gian đào tạo kéo dài hơn, đầu ra cũng được quản lý mềm mỏng hơn

1.3.2 Cơ sở liên kết đào tạo và việc phối hợp thực hiện

Hiện nay, cả nước có trên 1,5 triệu sinh viên đang theo học các trường đại học – cao đẳng, trong đó có khoảng 700.000 (gần 50%) học viên đang theo học hệ vừa làm vừa học Tuy nhiên hiện nay dư luận xã hội chưa hài lòng về chất lượng đào tạo của hệ đào tạo này tại các trường đại học và cao đẳng nói chung Học hệ vừa làm vừa học, người đi học như đi chơi, chỉ cần có mặt là xong, sếp thì có người đi học thay, nhiều đường dây thi thuê được phát hiện Trong khi đó, theo quy hoạch ngày càng thành lập thêm nhiều trường đại học và cao đẳng với mô hình hoạt động đào tạo đa lĩnh vực, đa ngành nghề, phân chia địa bàn vùng miền Chính vì vậy, hơn lúc nào hết đối với loại hình đào tạo đại học vừa làm vừa học phải tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này Những đặc điểm rất nhạy cảm về loại hình đào tạo vừa làm vừa học bao gồm: sàng lọc yếu, không

đủ quỹ thời gian để chuyển tải nội dung, học viên lại thường xuyên bận rộn công việc, không đầu tư cho việc học, tỷ lệ tốt nghiệp khá nhưng xã hội và chính học viên chưa hài lòng Như vậy, các trường đang đối diện với một thách thức là hướng về chất lượng hay vẫn là tiếp tục đào tạo theo kiểu “phổ cập” như hiện nay Rất nhiều các cơ sở liên kết chưa thật sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình là phối hợp cùng với các trường ĐH, CĐ trong khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo, hoạt động dạy và học Các cơ sở liên kết đó mới chỉ chú trọng tới việc thu lợi nhuận mà quên mất trách nhiệm của mình

Yêu cầu trước mắt được đặt ra đối với các trường đại học và cao đẳng trong việc đào tạo hệ vừa làm vừa học nói chung và các lớp đặt tại

Trang 32

các cơ sở liên kết đào tạo nói riêng là thực hiện đúng quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và đào tạo, các cơ sở mở lớp liên kết phải thoả mãn các điều kiện do Bộ Giáo dục và đào tạo quy định, Quản lý thật chặt và nghiêm túc từ khâu xét duyệt hồ sơ dự thi, thi tuyển sinh, quá trình dạy và học, thi kiểm tra và thi tốt nghiệp Cần có một quy trình giải quyết công việc một cách khép kín về việc liên kết giữa Nhà trường và các cơ sở liên kết để việc quản lý các hoạt động đào tạo được thuận lợi

Bên cạnh đó việc tổ chức thực hiện hợp đồng đào tạo một cách có hiệu quả, đúng quy chế cũng đang là vấn đề cần được giải quyết triệt để Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện hợp đồng để từ đó nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như hiệu quả của quá trình liên kết đào tạo

Trang 33

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là trường đại học có uy tín cao trong đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật, chuyên gia về nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt Nam, Nhà trường đã có lịch sử hơn 50 năm xây dựng

và phát triển Nhà trường toạ lạc trên diện tích đất đai rộng 190,195 ha; trong

Số cán bộ giảng dạy là 642 (53.68%), trong đó có 4 Giáo sư (0.33%); 57 Phó Giáo sư (4.77%); 129 Giảng viên chính (10.79%); 452 giảng viên (37.79%); số người có trình độ sau đại học là 387 trong đó 157 Tiến sỹ và 230 Thạc sỹ Ngoài số người thuộc đơn vị bảo vệ, lao công phục vụ thì 100% số cán bộ thuộc các phòng ban chức năng của Nhà trường có trình độ từ cao đẳng trở lên Tính đến 31/12/2008, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã đào tạo

44.000 kỹ sư (30.000 kỹ sư tốt nghiệp hệ chính quy, 14.000 kỹ sư tốt nghiêp

hệ vừa làm vừa học), 262 tiến sỹ và 915 thạc sỹ phục vụ có hiệu quả cho sự

nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn của đất nước Các sinh viên tốt nghiệp làm việc trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước Theo kết quả điều tra sinh viên tốt nghiệp năm 2006, sau 6 tháng sinh viên ra trường 84,2% có việc làm, trong đó 42,7% có công việc ổn định, hầu hết làm đúng nghề và 72,0% làm tại các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 34

2.1.2 Đối tượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Hiện nay Nhà trường đang đào tạo các hệ từ cao đẳng đến sau đại học Đối tượng đào tạo của từng hệ là tất cả các công dân Việt Nam và người nước ngoài có đầy đủ quyền công dân nằm trong quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhu cầu và nguyện vọng theo học các ngành và chuyên ngành của Nhà trường

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Đào tạo nguồn nhân lực hệ cao đẳng, đại học, sau đại học có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức và kỹ năng giỏi, đạt chất lượng hàng đầu trong cả nước, có một số ngành đạt trình độ tiên tiến trong khu vực vào năm 2015, và có một số ngành đạt trình độ tiên tiến trên thế giới vào năm

2020, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững và nông thôn Việt Nam văn minh, giàu đẹp Để thực hiện được những mục tiêu đào tạo đó, Nhà trường đã tiến hành Điều tra xã hội về nhu cầu, cơ cấu ngành nghề đào tạo, đánh giá chất lượng, nội dung và phương pháp đào tạo Xây dựng và không ngừng hoàn thiện chương trình đào tạo đại học, sau đại học theo hướng đa ngành, linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu đào tạo của xã hội; Đa dạng hóa các phương thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người học theo những chuẩn mực thích hợp; Phát triển hệ thống học liệu (giáo trình, bài giảng, sách tham khảo, chuyên khảo, thư viện sách và thư viện điện tử ) theo hướng hiện đại, tiên tiến, phù hợp với yêu cầu của đào tạo ngày càng đổi mới; Đổi mới phương pháp dạy và học, theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc tập thể của người học; Đổi mới đánh giá kết quả học tập và rèn luỵện của sinh viên và đánh giá giảng viên, đánh giá cán bộ quản lý một cách công bằng, công khai; Hoàn thiện hệ thống quy định về dạy và học

cho các hệ đào tạo (quy chế đào tạo tín chỉ, quy chế cố vấn học tập, đánh giá chất lượng dạy và học ), nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo, phát

huy sự tham gia của giảng viên và sinh viên vào sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo; Tổ chức đào tạo tín chỉ ở tất cả các ngành học, các bậc học;

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo

Trang 35

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Nhà trường thực hiện cơ chế phân cấp quản lý, tạo quyền chủ động cao cho các khoa, phòng ban chức năng và các đơn vị trực thuộc khác trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và đào tạo, đăc biệt là các văn bản cụ thể hoá, các bản nội quy, quy định tạm thời tạo ra sự thống nhất đồng bộ, sự chỉ đạo xuyên suốt từ Hiệu trưởng tới các đơn vị và tới từng cán bộ giảng viên, công nhân viên trong trường để triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao nhất

Thường xuyên tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị chuyên đề, giao ban các cấp để đánh giá, rút kinh nghiệm các hoạt động và triển khai định hướng chiến lược và cách thức thực hiện các nhiệm vụ và chỉ tiêu

Bộ máy tố chức quản lý của Nhà trường được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức quản lý của Nhà trường

ĐẢNG UỶ, BAN GIÁM HIỆU

4 Khoa Cơ điện

5 Khoa Tài nguyên và MT

6 Khoa C.nghệ thực phẩm

7 Khoa Kinh tế và PTNT

8 Khoa Lý luận CT - XH

9 Khoa Kế toán và QTKD

10 Khoa Sau đại học

11 Khoa C.nghệ thông tin

6 TT Sinh thái nông nghiệp

Trang 36

2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên

2.1.5.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên

Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội là một trong số các trường đại học trọng điểm Quốc gia, hiện nay Nhà trường có 13 Khoa chuyên môn; 14 Phòng ban chức năng phục vụ đào tạo, 14 trung tâm và viện nghiên cứu với tổng số 1196 cán bộ, viên chức, giảng viên Số cán bộ giảng dạy là 642 (53.68%), trong đó có 4 Giáo sư (0.33%); 57 Phó Giáo sư (4.77%); 129 giảng viên chính (10.79%); 452 giảng viên (37.79%); số người có trình độ sau đại học là 387 trong đó 157 Tiến sỹ và 230 Thạc sỹ Ngoài số người thuộc đơn vị bảo vệ, lao công phục vụ thì 100% số cán bộ thuộc các phòng ban chức năngcủa Nhà trường có trình độ từ cao đẳng trở lên

Trong những năm trở lại đây, mặc dù nhà trường liên tục tuyển chọn và

cử cán bộ giảng viên đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ trong và ngoài nước nhưng cho đến nay, đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy chưa được đồng đều về trình độ chuyên môn và cơ cấu giới tính Nhà trường đang trong thời kỳ chuyển giao thế hệ do những giảng viên có thâm niên và nhiều kinh nghiệm giảng dạy nay đã đến tuổi nghỉ hưu, rất nhiều người trong số đó được mời ở lại tiếp tục công tác để dìu dắt thế hệ trẻ lực lượng giảng viên trẻ chiếm hơn 40% tổng số giảng viên, là đội ngũ đông đảo và có khả năng thích nghi nhanh với công việc, chịu khó học hỏi, nâng cao trình độ nhưng kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, làm việc trong môi trưòng chậm đổi mới nên chưa phát huy hết khả năng và kiến thức Một số giảng viên trong số đó có xu thế tự bằng lòng với thực tại những gì mình đang có, mặc dù kiến thức chuyên môn chưa sâu, thiếu kiến thức thực tế, kinh nghiệm giảng dậy chưa nhiều nhưng biểu hiện

có nhiều sức ỳ, không có ý thức vươn lên để tự khẳng định mình

Do điều kiện thu nhập của đại bộ phận cán bộ, giảng viên còn gặp nhiều khó khăn nên chưa thực sự yên tâm và dành tất cả tâm huyết, thời gian chăm lo đến sự nghiệp đào tạo Một số chỉ coi mình là nguời làm công ăn

Trang 37

lương nên thiếu tâm huyết với nghề, ít quan tâm theo dõi đến hoạt động học

và mức độ đạt được của sinh viên Chính vì vậy chất lượng đào tạo còn khiêm tốn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của sinh viên và sự phát triển của đội ngũ giảng viên

Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy đã được triển khai áp dụng và thu được kết quả khả quan, không còn việc dạy chay, không chuẩn bị

đề cương giáo án trước khi lên lớp, đề tài sáng kiến cải tiến tăng lên hàng năm

cả về số lượng lẫn chất lượng thông qua thực tế giảng dạy và thực tế sản xuất, biên soạn khá đầy đủ tài liệu giáo trình phục vụ đạo tạo Tuy nhiên chất lượng của các đề tài chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi, biên soạn tài liệu còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các tài liệu chuẩn Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật có được quan tâm nhưng chưa có những kết quả thuyết phục và xứng tầm của một trường Đại học trọng điểm Quốc gia Cho tới nay hoạt động nghiên cứu khoa học vẫn đang tiếp tục được Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường quan tâm đặc biệt và tạo điều kiện thuận lợi

2.1.5.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng Đào tạo Đại học

Phòng Đào tạo đại học gồm 17 người: 01 Trưởng phòng, 02 Phó trưởng phòng, 14 chuyên viên được chia ra phụ trách hai mảng công việc chính là: Quản lý học tập và quản lý giảng dạy Phụ trách chính các công việc liên quan đến hệ vừa làm vừa tại các cơ sở liên kết đào tạo gồm có 4 chuyên viên

Trình độ chuyên môn của các cán bộ trong Phòng: 03 Tiến sỹ, 05 thạc

sỹ, số còn lại đều có trình độ đại học

Phân công chức trách, nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân:

- Trưởng phòng phụ trách chung:

Công tác tổ chức, chương trình giáo dục đại học, tuyển sinh, tài chính;

Tổ chức, xây dựng và triển khai thực hiện các nghiên cứu về công tác đào tạo đại học; Quản lý phầm mềm Edusoft; Tham gia giảng dạy đại học và cao học

Trang 38

- Phó trưởng phòng thứ nhất:

Quản lý sinh viên (ngừng học, thôi học, chuyển lớp, chuyển trường, khen thưởng, học tiếp, chế độ chính sách, tốt nghiệp, ); Xây dựng và quản lý Hợp đồng đào tạo; Phụ trách công tác máy tính tuyển sinh; Phụ trách thi tập trung,

tổ chức học lại

- Phó trưởng phòng thứ hai:

Chương trình và kế hoạch đào tạo đại học; Phối hợp với các Khoa đề xuất và xây dựng các chuyên ngành, ngành học mới; Quản lý thống kê giờ giảng, thỉnh giảng; Tham gia giảng dạy đại học và cao học

Đội ngũ cán bộ quản lý của phòng phần lớn là những người có nhiều kinh nghiệm, có thâm niên trong nghề Lực lượng cán bộ trẻ thuộc tầng lớp kế cận đều có sức khoẻ tốt, yêu nghề, khả năng làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc, khả năng vận dụng kiến thức tin học vào công việc tốt nên hiệu quả công việc không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó thì họ lại thiếu kinh nghiệm do thời gian công tác chưa nhiều nên nhiều lúc gặp khó khăn trong các khâu giải quyết công việc

2.1.5.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các Khoa, Phòng:

Mỗi cấp khoa, phòng đều có 01 trưởng đơn vị và ít nhất 02 phó trưởng đơn vị Thực trạng cán bộ của các đơn vị này cũng giống như phòng Đào tạo đại học nên việc đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận cần được làm đồng bộ và có

kế hoạch tuyển lựa kỹ càng mới đáp ứng đựơc yêu cầu thực tế công việc

Cách thức quản lý còn mang nặng tính hình thức, chỉ quản lý về mặt thời gian, chưa thực sự đi sâu quản lý chất lượng theo kết quả công việc Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế, phần lớn không được đào tạo

cơ bản mà trưởng thành qua quá trình công tác và quản lý theo phương thức tiếp thu kinh nghiệm qua các thế hệ, chưa nghiêm túc nghiên cứu, học tập tìm

ra các phương cách quản lý có hiệu quả

Trang 39

Việc lập kế hoạch và tổ chức công tác quản lý giảng dạy, quản lý nội dung chương trình đào tạo, kế hoạch, tiến độ còn chậm chưa kịp thời, dẫn đến việc theo dõi quản lý còn chậm, chồng chéo và kém hiệu quả Khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi khoa học công nghệ và sự phối hợp với các đơn vị chưa thực sự được coi trọng Trình độ ngoại ngữ và tin học còn chậm so với các cơ sở đào tạo trong nước, chưa dám so sánh với các nước trong khu vực

và trên thế giới

Tóm lại, đội ngũ giảng viên phần lớn đạt chuẩn về chuyên môn, trình

độ lý luận vững vàng, kiên định, luôn luôn được quan tâm Thường xuyên được học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức tốt, yên nghề Nhà trường đã tổ chức các hội nghị giảng viên dạy giỏi, khuyến khích các giảng viên tham gia các hội nghị giảng viên giỏi và nhiều giảng viên đã đạt giải trong các đợt hội giảng

Tuy nhiên do nhà trường đào tạo đa ngành nên sự phân bố giảng viên chưa hợp lý Giảng viên cùng một lúc tham gia giảng dạy nhiều môn, bên cạnh đó do quy mô đào tạo tăng quá nhanh nên xảy ra tình trạng quá tải đối với giảng viên, cơ sở vật chất nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và hệ vừa làm vừa học nói riêng

2.1.6 Quy mô đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trong những năm gần đây, số người học đại học nói chung và học đại học Nông nghiệp nói riêng đang ngày một tăng, quy mô đào tạo đại học của Trường năm 2008 tăng gấp gần 1,6 lần so với năm 2004 (Bảng 1) Hiện tại trong 11 khoa quản lý sinh viên có tới 4 khoa có từ 1600 đến 2000 sinh viên, hai khoa có từ 1100 đến 1300 sinh viên

Từ năm 2004 đến năm 2008 có 8 khoa tham gia đào tạo sau đại học cho

14 ngành với quy mô học viên tăng từ 355 học viên năm 2004 đến 842 học viên (2008) tăng 2,37 lần (bảng 2)

Trang 40

* Phát triển quy mô đào tạo

Bảng 2.1 Thực trạng quy mô đào tạo đại học 5 năm (2004 - 2008)

(Trích nguồn: Viện đào tạo Sau đại học)

* Phát triển các ngành và chuyên ngành đào tạo

Hiện nay, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đang đào tạo 38 ngành

và chuyên ngành đại học (bảng 3) Ngoài những ngành nghề truyền thống, Nhà trường luôn bám sát nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu của người tuyển dụng để xây dựng và mở thêm ngành đào tạo mới

Ngày đăng: 03/12/2020, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w