Tầm quan trọng của việc học sinh tự học đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LƯU XUÂN MỚI
Hà Nội - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 35 Nhiệm vụ nghiờn cứu
6 Giả thuyết khoa học
7 Phương phỏp nghiờn cứu
8 í nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
9 Cấu trúc của luận văn
1.3 Cơ sở phỏp lý của quản lý hoạt động tự học 26
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học
sinh tr-ờng trung học cơ sở liên hồng và tr-ờng trung học cơ sở tân lập – huyện đan ph-ợng
Trang 4
2.5.1.í kiến của giáo viên về vấn đề tự học của học sinh 43
2.5.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch tự học của học sinh 45
2.5.5 Kiểm tra - đỏnh giỏ hoạt động tự học của học sinh 47
Chương 3: biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh
tr-ờng Trung học cơ sở huyện đan ph-ợng
3.1 Cỏc nguyờn tắc đề xuất cỏc biện phỏp quản lý hoạt động tự học của học
3.2.4 Quản lý cỏc hỡnh thức tự học của học sinh 66 3.2.5 Tăng cường kiểm tra-đỏnh giỏ hoạt động tự học của học sinh 71 3.2.6 Tạo mụi trường và điều kiện thuận lợi nhằm đỏp ứng hoạt động tự học của
Trang 5MỞ ĐẦU
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Từ cổ chí kim hoạt động tự học luôn được coi là cốt lõi của hoạt động học tập, ai cũng có khả năng tự học nhưng không phải bất kỳ người học nào cũng có ý thức tự giác học tập và biết cách tự học hiệu quả Tự học có
ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học hiện nay, do đó việc quản lý hoạt động tự học của học sinh cũng đang là vấn đề mà nhiều nhà giáo dục quan tâm Tầm quan trọng của việc học sinh
tự học đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Tập trung
sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT nhấn mạnh việc bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong học tập cùng với sự tổ chức hướng dẫn thích hợp của giáo viên, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, các kỹ năng tự học, năng lực tự học
để có thể học tập suốt đời
Thực tế nhiều năm qua, những tồn tại trong ngành giáo dục như, chạy đua theo thành tích giữa các trường, các địa phương đã ảnh hưởng không tốt đến ý thức, thái độ học tập của học sinh Một bộ phận học sinh không
cần nỗ lực học tập mà vẫn được lên lớp, hiện tượng ngồi nhầm lớp diễn ra
ở nhiều địa phương trong cả nước, từ đó khiến không ít học sinh có thói quen ỷ lại vào thầy cô mà không tự mình phấn đấu vươn lên trong học tập Chất lượng dạy học tại trường THCS huyện Đan Phượng mặc dù có cải thiện song vẫn còn những mặt hạn chế nhất định Có nhiều nguyên nhân, song lâu nay chúng ta chỉ thấy nguyên nhân cơ bản là do chất lượng quản lý, do chất lượng đội ngũ giáo viên mà quên đi yếu tố có tác động không nhỏ và quyết định đến chất lượng đầu ra chính là học sinh Ngành giáo dục có đổi mới nội dung chương trình, thay sách giáo khoa, nhà
Trang 7trường có được đổi mới về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, giáo viên được bồi dưỡng nâng cao, đổi mới phương pháp dạy học mà học sinh lười học, ham chơi, lười suy nghĩ, học đối phó, thiếu những kỹ năng tự học… thì khó có thể nâng cao chất lượng dạy học
Để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cần thực hiện nghiêm túc, đồng bộ việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học hiệu quả Tuy nhiên để đổi mới toàn diện đạt hiệu quả cao thì cần phải lấy việc
“tự học làm cốt” như Bác Hồ từng nói “Tự học” được hiểu theo nhiều cách khác nhau song ở đây đối với học sinh THCS, chúng ta chưa bàn tới vấn đề “tự động học tập” mà chủ yếu tập trung vào vấn đề “Tự học theo chương trình sách giáo khoa, theo kế hoạch dạy học của nhà trường” Tự học của học sinh gắn với qui trình dạy- tự học, có kiểm tra-đánh giá của giáo viên theo từng tiết học, kỳ học và đánh giá chung cho toàn bộ quá trình học tập
Qua thực tế cho thấy, nhận thức về tự học của mộ bộ phận học sinh còn hạn chế, thụ động trong tự học, chưa được rèn luyện các kỹ năng tự học; giáo viên chưa thực sự quan tâm bồi dưỡng, hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra hoạt động tự học của HS Sự chỉ đạo của các cấp quản lý trong nhà trường về hoạt động tự học của HS chưa được chú trọng, chưa tạo được môi trường thuận lợi và kỷ cương nề nếp tự học, những điều kiện, phương tiện dành cho tự học còn thiếu thốn Hoạt động tự học của các em
sẽ không thường xuyên và không đạt hiệu quả cao nếu thiếu sự hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra của thầy cô giáo Học sinh chưa có ý thức tự giác tự học cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc dạy thêm, học thêm tràn lan Chính vì vậy việc tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THCS đang là một vấn đề cấp thiết
Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học
của học sinh trường Trung học Cơ sở huyện Đan Phượng – Hà Nội” làm
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh Trung học cơ sở huyện Đan Phượng - Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: hoạt động tự học của học sinh trường THCS
huyện Đan Phượng - Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học
sinh THCS huyện Đan Phượng - Hà Nội
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh tại hai trường THCS Liên Hồng và THCS Tân Lập thuộc huyện Đan Phượng-Hà Nội; từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tự học của học sinh trường THCS có hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tự học của học sinh
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học của học sinh THCS , các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THCS huyện Đan Phượng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THCS có hiệu quả
6 Giả thuyết khoa học
Đổi mới PPDH yêu cầu người học chủ động (tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo), có khả năng làm việc tự lập, theo nhóm, cặp và khả năng tự học,
tự nghiên cứu Nếu thực hiện tốt các biện pháp quản lý hoạt động tự học
Trang 9của HS trường THCS do tác giả đề xuất thì sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS huyện Đan Phượng
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những
tư liệu về giáo dục học, tâm lý học, lý luận về quản lý giáo dục, luật giáo dục, các văn kiện của Đảng, tạp chí khoa học có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, điều tra bảng hỏi, phỏng
vấn, chuyên gia, khảo nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý
số liệu điều tra của đề tài
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vấn đề tự học, công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THCS
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THCS phù hợp, có tính khả thi, có giá trị thực tiễn, có thể áp dụng cho các trường THCS khác trên địa bàn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tự học và quản lý hoạt động tự học của học
sinh
Chương 2: Thực trạng hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của
học sinh trường THCS Liên Hồng và trường THCS Tân Lập huyện Đan Phượng- Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THCS
huyện Đan Phượng
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Ngay từ thời cổ đại, khi mà giáo dục chưa trở thành một khoa học thực
sự thì vấn đề tự học đã được đề cập đến Khổng Tử (551 - 479 trước công nguyên) là người rất coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học, cách dạy học của ông là sự gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý Ông cho rằng, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tự tìm ra, thầy không được làm thay tất cả cho trò Ông đòi hỏi người học phải biết suy nghĩ, phải biết phát huy tính năng động của bản thân trong học tập
Đến thế kỷ XVIII - XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng như J.J Rousseau (1712 - 1778), Pestalozi (1746 - 1827), Disterverg (1790 - 1886) và Usinxki (1824 - 1890) đã quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của học sinh và đã nhấn mạnh cách làm cho người học tự giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá tìm tòi
Phát triển những tư tưởng, quan điểm của các nhà giáo dục đi trước, các nhà giáo dục hiện đại cũng đã đi sâu vào nghiên cứu và tiếp tục khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của tự học
Dựa trên cơ sở lý luận của Tâm lý học hành vi và Tâm lý học trí tuệ, các nhà khoa học đã chủ trương đi tìm những phương pháp dạy học nhằm khai thác và phát huy tốt nhất “cái cá thể” trong mỗi người học Điển hình
Trang 11như Montaigne, ông khuyên các nhà giáo: “Tốt hơn là ông thầy nên để cho
học trò tự đi lên phía trước mà nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức trò” [17; Tr.9] Ngoài ra còn có
rất nhiều tác giả khác đã khẳng định vị thế của người dạy và người học, trong đó, vai trò tự học của người học được đặc biệt đề cao Theo họ, mọi việc của công tác giáo dục ở nhà trường phải tập trung nhằm phát triển trò Hiệu quả của công tác giáo dục không chỉ đòi hỏi có thầy giảng dạy tốt mà trò cũng phải tích cực tự học, tự nâng cao tri thức cho bản thân với sự giúp
tích cực của học sinh như thế nào?” cho rằng: Tự học đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh Ông đã nghiên cứu tự học theo hướng tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng các hình thức: tăng cường việc nghiên cứu sách, tài liệu học tập; dạy học nêu vấn đề; đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá ” [17; Tr.9]
N.A Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào” cũng đã nhấn mạnh vai trò của tự học trong việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh Theo ông, để tự học đạt kết quả thì đòi hỏi phải giáo dục cho người học động cơ
đúng trong tự học: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để
học sinh tích cực, chủ động trong tự học” [17; Tr.9] Đối với người học,
xác định được động cơ đúng trong tự học là vô cùng cần thiết, song trên thực tế, mặc dù có động cơ tự học đúng nhưng nếu người học thiếu kỹ năng thực hiện thì tự học vẫn không đạt được kết quả
Để đảm bảo việc tự học đạt hiệu quả thì đòi hỏi người học phải biết kế
Trang 12hiện một cách nghiêm túc kế hoạch đã lập Có kế hoạch tự học sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động học tập và thể hiện tác phong khoa học trong việc tự học của bản thân
Các công trình nghiên cứu của A.M.Machiuskin [43] đã khẳng định trong quá trình dạy học giáo viên phải tổ chức hình thành, rèn luyện KNTH cho học sinh Tác giả cũng khẳng định việc giáo viên giao bài tập nhận thức cho HS trong thời gian tự học là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong học tập
Ở Châu Á, vấn đề tự học cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ những năm 30-40 của thế kỉ XX nhà sư phạm nổi tiếng Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi [42] nhấn mạnh động lực giáo dục là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng
Tác giả Raija Roy Singh [44] chủ trương nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời Ông cho rằng cần phải đề cao vai trò chuyên gia, cố vấn là người thầy trong việc hình thành, phát triển năng lực tự học của người học
Như vậy, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đều khẳng định vai trò của việc tự học, chỉ ra một số KNTH cơ bản đó là KNĐS, kỹ năng lập kế hoạch tự học; đồng thời cũng nêu lên một số yếu tố ảnh hưởng đến họat động tự học của người học (trong đó động cơ, KNTH
là những yếu tố cơ bản nhất của tự học); chỉ ra vai trò của giáo viên trong việc tổ chức quá trình dạy học để phát huy được tính độc lập, tự giác, sáng tạo của người học…
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề tự học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Một số nhà giáo dục như Nguyễn Hiến Lê [27], Nguyễn Duy Cầu [7 ]…đã nêu vai trò của tự học và đưa ra lời kêu gọi mọi người hãy tự học Tuy vậy, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên một số kinh nghiệm tự học của
Trang 13bản thân để mọi người tham khảo chứ chưa nêu được cơ sở lí luận, phương pháp luận khoa học về hoạt động tự học của người học
Khi bàn về vấn đề học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lấy tự
học làm cốt” [32; Tr.18] Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Cách học tập: phải lấy tự học làm cốt ” [32; Tr.18] Người còn nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học” Người khuyên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập” [32; Tr.79] Để
đảm bảo việc tự học của người học có hiệu quả cao, Người cho rằng: “có
thảo luận và chỉ đạo giúp vào” và yêu cầu người dạy “phải nâng cao và hướng dẫn tự học” cho người học Người coi đây là một trong những yêu
cầu rất quan trọng của người dạy
Những năm 60 - thế kỉ XX, vấn đề tự học đã được nhiều tác giả đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học Các nhà giáo dục như Nguyễn Kỳ [24,25], Trần Kiều [23], Lê Khánh Bằng [5] đã chỉ ra các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả
tự học là hình thành ý thức tự học, bồi dưỡng phương pháp tự học, đảm bảo các điều kiện vật chất cho người học và giáo viên phải thường xuyên kiểm tra việc tự học của HS
Đến những năm 80 của thế kỷ XX, nhóm các nhà khoa học do nhà khoa học Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm đã tiến hành nghiên cứu đề tài đào tạo giáo viên theo phương thức tự học có hướng dẫn kết hợp với thực tập làm giáo viên dài hạn Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp dạy học có tên là dạy - tự học
Thực hiện yêu cầu về “tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”
và “phong trào tự học, tự đào tạo của toàn dân”, Bộ trưởng Bộ Giáo dục-
đào tạo đã có công văn số 7603/VP ngày 4-9-1997 đã cho phép các Sở Giáo dục-đào tạo, các trường đại học và cao đẳng, các cơ quan thuộc Bộ, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng phát triển tự học và dạy-tự học với Trung
Trang 14tâm nghiên cứu và phát triển tự học với Nhà xuất bản giáo dục, Trường cán
bộ quản lý giáo dục, Trường ĐHSP, ĐHQGHN là tổ chức hội thảo khoa
học với tiêu đề “Nghiên cứu, phát triển tự học-tự đào tạo” Mục tiêu của
hội thảo nhằm trao đổi cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học, dạy - tự học, đào tạo-tự đào tạo, và đóng góp ý kiến xây dựng chương trình hành động:
“Chương trình nghiên cứu và phát triển tự học - tự đào tạo”
Vấn đề tự học được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong các nghiên cứu của mình, tác giả Lê Khánh Bằng [5,6] đã đề cập đến việc
tổ chức công tác tự học cho sinh viên từ việc xác định ý nghĩa, cơ sở lý luận chung của việc tự học, phương pháp tự học Tác giả cũng đi sâu vào một số biện pháp cụ thể như nghe giảng, ghi chép, đọc sách, lập kế hoạch
và tổ chức việc học tập của học sinh Tác giả cho rằng đối với thời đại ngày nay, thời đại của sự bùng nổ thông tin, khối lượng tri thức học được trong nhà trường đại học dù có nhiều bao nhiêu đi nữa thì cũng chưa đủ
Tác giả Nguyễn Văn Đạo [14;Tr.10] nhấn mạnh rằng, tự học là công việc suốt đời của mỗi người Theo tác giả, do cuộc sống và thực tiễn vô cùng phong phú, luôn luôn biến động và phát triển, những kiến thức mà con người thu nhận được ở nhà trường chỉ là những kiến thức cơ bản và tối thiểu, do đó, mỗi người sau khi ra trường phải tự bổ túc thêm kiến thức rất nhiều Tác giả cũng đã chỉ ra những điều kiện cơ bản cần thiết cho việc tự học: thứ nhất, tự học phải được coi là công việc tự giác của mỗi người, khi
tự học đã trở thành việc tự giác thì mọi khó khăn (thiếu thời gian, thiếu tài liệu, sách vở, thiếu các điều kiện khác ) trong tự học đều có thể vượt qua; thứ hai, để tự học có kết quả cần phải có một nền kiến thức cơ bản vững và thông thạo vài ngoại ngữ; thứ ba là cần phải có phương pháp tự học tốt Tác giả Trần Bá Hoành [18; Tr.14] nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học,
tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo Tác giả cho rằng việc rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu dạy học Tác giả chỉ rõ: “nếu rèn luyện cho người học có được kỹ năng, phương
Trang 15pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng các điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng trong mỗi con người Làm được như thế thì kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội, học sinh có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống lao động trong
xã hội” Còn tác giả Đặng Thành Hưng [20], Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc [16] đã đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản của hoạt động tự học Tác giả cho rằng tự học là quá trình tự giác, chủ động, gắn với nhu cầu, giá trị và khả năng cá nhân Tác giả Lưu Xuân Mới [35] cho rằng việc rèn luyện cho người học các KNTH là rất quan trọng, cần tập dượt cho người học xây dựng kế hoạch tự học một cách tỉ mỉ và thiết thực, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra - đánh giá và hướng dẫn học sinh biết cách tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học của mình Trong quá trình dạy học, nếu cá nhân nào đó đã thực sự trở thành chủ thể học thì đồng thời cũng là người tự học
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu vấn đề tự học của HS ở những bình diện khác nhau, có thể khái quát một số điểm chung của các công trình đó như sau:
- Tự học có vai trò rất quan trọng: tự học không chỉ quyết định kết quả học tập mà còn là cơ sở để người học có thể học suốt đời
- Các tác giả đều khẳng định bản chất của tự học là người học tự giác, tích cực, chủ động, độc lập lĩnh hội tri thức bằng hành động của chính mình nhưng không tách rời sự tổ chức, điều khiển của giáo viên
- Một số công trình đã nêu lên một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học, trong đó khẳng định yếu tố chủ quan của người học đóng vai trò quyết định kết quả học tập
- Các tác giả đã chỉ ra một số KNTH, song các KNTH được các tác giả trình bày chủ yếu dưới dạng chia sẻ kinh nghiệm, đưa lời khuyên cho người
Trang 16Về vị trí và vai trò của việc tự học trong học tập được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, song việc tự học dường như vẫn
là vấn đề khó khăn đối với học sinh vì không phải ai cũng biết cách tự học hiệu quả, các kỹ năng và phương pháp tự học không phải là do bẩm sinh Chính vì vậy việc hướng dẫn, quản lý hoạt động tự học không chỉ có ý nghĩa và quan trọng đối với sinh viên, học sinh THPT mà cũng rất cần thiết cho học sinh THCS
Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm ra các biện pháp để quản lý hoạt động
tự học của sinh viên Việc quản lý hoạt động tự học của học sinh phổ thông gần đây cũng được chú ý hơn song cũng chỉ tập trung vào đối tượng THPT, còn học sinh THCS dường như chưa được nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THCS, tác giả có tham khảo một số luận văn có liên quan tới quản lý hoạt động tự học của tác giả Phạm Thị Hồng Nga “ Một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THPT Quang Trung tỉnh Hà Tây; tác giả Trịnh Khắc Hậu với đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THPT nội trú Đồ Sơn”; tác giả Trịnh Khôi với “Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học, tự nghiên cứu của học sinh trường THPT chuyên”
Các tác giả đưa ra nhiều biện pháp khác nhau trong quản lý hoạt động
tự học của SV và học sinh THPT vì vậy cũng tạo điều kiện để chúng tôi tham khảo và đưa ra những biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THCS Tuy nhiên các tác giả chưa tập trung vào chủ thể quản lý các hoạt động tự học của học sinh là người giáo viên và chính bản thân học sinh Vì vậy trong luận văn này chúng tôi đề cập đến những biện pháp quản
lý mà chủ thể quản lý chính là giáo viên và học sinh
1.2 Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động tự học
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
Trang 171.2.1.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm ngay khi loài người hình thành hoạt động nhóm Quản lý chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại
Theo Harol Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”’ [21]
- Theo Wtaylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng
bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”
Ngày nay, thuật ngữ quản lý trở lên phổ biến nhưng tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa quản lý khác nhau:
Theo cách tiếp cận trên phương diện hoạt động của tổ chức thì: “Quản
lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” hoặc “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8; Tr.26]
Với cách tiếp cận tình huống thì: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”
Trang 18Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [9; Tr.1] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [4; Tr.176]
Tác giả Nguyễn Văn Lê [28; Tr.126] cho rằng: “Quản lý là một công việc mang tính khoa học song nó cũng mang tính nghệ thuật” Ông cho rằng mục đích của công việc quản lý chính là nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra Ông viết: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”
Từ nhiều cách hiểu về “quản lý” như đã nêu trên, ta thấy khái niệm quản lý được hiểu từ nhiều góc độ:
- Quản lý là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo hoàn thành các công việc qua những nỗ lực của người khác
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức
- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố
cơ bản của hệ thống xã hội
Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều chung những nội dung cơ bản, đó là quản lý bao gồm các điều kiện sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý - là tác nhân tạo ra các tác động, phải có
ít nhất một đối tượng bị quản lý- tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra, và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
Trang 19- Chủ thể có thể là một người, nhiều người còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Cũng có thể hiểu quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng), kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
a) Bản chất của quản lý:
Từ những định nghĩa về quản lý nêu trên ta thấy bản chất của quản lý là
sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, là tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung, được thể hiện qua sơ đồ dưới đây
Trong đó:
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý
- Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý
- Khách thể quản lý tiếp nhận các tác động quản lý và đem tài lực, trí tuệ của
mình để sinh ra các giá trị vật chất, tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp, đáp ứng nhu cầu con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý
- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể
Chủ thể quản lý Khách thể quản lý
Nội dung quản lý Công cụ, Phương
pháp quản lý
Mục tiêu quản lý
Trang 20- Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể
quản lý Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có
thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hoạt động quản lý
Quản lý nhà trường là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục
b) Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Hoạt động quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán Quản lý có chức năng: dự báo, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Sơ đồ 1.3: Chu trình quản lý
Qu¶n
lý
C«ng viÖc
Con ng-êi
Kû c-¬ng T×nh th-¬ng Tr¸ch nhiÖm Phßng
vÖ TËn dông c¬
héi
C¹nh tranh thi
®ua
QuyÕt
®o¸n D©n chñ l¾ng nghe
Tu d-ìng tinh hoa
Kiểm tra Thông tin
quản lý
Chỉ đạo
Tổ chức
Kế hoạch
Trang 211.2.1.2 Quản lý giáo dục
QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý trẻ em (21; Tr.16)
Chức năng của quản lý giáo dục:
- Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ
thống các hoạt động giáo dục và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục
tiêu đó
- Tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành
và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu giáo dục của tổ chức một cách hiệu quả
- Chỉ đạo (lãnh đạo, điều hành): chỉ đạo là quá trình tác động (chỉ huy, can
thiệp, điều phối, hướng dẫn cách làm, khai thác tiềm lực, động viên kích thích) đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục của tổ chức Đồng thời chỉ đạo
cần đảm bảo thông tin hai chiều, bảo đảm sự hợp tác trong thực tế
- Kiểm tra: Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử
lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức Xây dựng định mức và
tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và
Trang 22+ Hoạt động dạy: giữ vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển, hướng dẫn,
tư vấn)
+ Hoạt động học: có vai trò chủ động (tự giác, tích cực, và sáng tạo)
Hai hoạt động: dạy, học có mối quan hệ tương tác, biện chứng, gắn bó hữu cơ, bổ sung hỗ trợ cho nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau Hoạt động dạy học diễn ra trong không gian và thời gian nhất định, ở đó diễn ra tương tác sư phạm giữa thầy-trò và môi trường được gọi là quá trình dạy học
- Quá trình dạy học: QTDH là một hệ thống toàn vẹn, có cấu trúc gồm nhiều thành tố: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung, phương pháp và phương tiện, thầy, trò, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị dạy học và kết quả cùng chịu ảnh hưởng của môi trường văn hoá - chính trị - xã hội, kỹ thuật - khoa học, kinh tế Mỗi thành tố có vị trí nhất định, có chức năng riêng và chúng có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau Mỗi thành tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời tuân theo quy luật chung của toàn hệ thống Mặt khác, toàn bộ hệ thống các thành tố của quá trình dạy học lại có mối quan
hệ qua lại và thống nhất với các môi trường của nó
Sơ đồ 1 4: Cấu trúc của quá trình dạy học
Trong cấu trúc của quá trình dạy học thì thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là 2 nhân tố trung tâm, hai nhân tố này luôn gắn bó mật
Trang 23thiết với nhau, bổ sung cho nhau, vì nhau và cùng hướng vào một mục đích dạy học nhất định Hoạt động dạy học là hoạt động chủ yếu trong nhà trường, luôn hướng tới mục tiêu đào tạo trên cơ sở phải hoàn thành những nhiệm vụ dạy học nhất định
Dạy và học là hai hoạt động thống nhất với nhau nhưng mỗi hoạt động lại có chức năng riêng của nó Hoạt động dạy có chức năng kép, người thầy vừa truyền đạt kiến thức cho học sinh vừa điều khiển quá trình dạy học Hoạt động học có chức hai năng thống nhất với nhau: lĩnh hội và
tự điều khiển; người học tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của người thầy Hai nhân tố trung tâm thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là đặc trưng cơ bản nhất của quá trình dạy học Nếu không có thầy và trò, không có dạy và học thì sẽ không có quá trình dạy học Các nhân tố mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học có chức năng hỗ trợ nhằm phát huy tác dụng tích cực trong sự vận động và phát triển của 2 nhân tố trung tâm này Hoạt động dạy
và học có mối quan hệ cộng tác và quá trình này vừa chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường, kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, vừa tác động trở lại môi trường kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ
Xã hội Khoa học - Công nghệ
Trang 24Sơ đồ 1.5 : Cấu trúc chức năng của hoạt động dạy học
- Quản lý hoạt động dạy học chính là việc quản lý các thành tố cấu thành nên quá trình dạy học (như môi trường, nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học, cơ sở vật chất- thiết bị dạy học, mối quan hệ, kết quả) Trong đó trung tâm là quản lý hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò thông qua nội dung dạy học
1.2.2 Tự học và hoạt động tự học
1.2.2.1 Hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tương ứng, những hành vi và những dạng hoạt động nhất định [18 ; Tr 82]
1.2.2.2 Tự học
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về tự học từ các góc độ khác nhau, do
đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về tự học Có thể điểm qua một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về tự học như sau:
- M.A.Rubakin: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội
lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan
hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm,
kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [17; Tr.30]
Quan điểm này cho thấy tự học là quá trình người học chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại Do đó, tự học là một công việc khó khăn, mệt nhọc đòi hỏi tiêu tốn năng lượng thần kinh và cơ bắp tương đối lớn Tự học
sẽ đạt kết quả cao khi cá nhân tiến hành quá trình đó phù hợp với những đặc điểm của bản thân và tìm những tài liệu học tập thích hợp với khả năng nhận thức của mình
Trang 25- Theo tác giả Lưu Xuân Mới "Tự học là quá trình tự tìm lấy kiến thức, kỹ
năng, thái độ một cách tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo bằng sự lỗ lực hành động của chính mình hướng tới những mục tiêu nhất định." [35]
- Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [5;Tr 3]
Các tác giả trên đều cho rằng tự học là việc học của chính bản thân người học, khi họ huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để lĩnh hội những tri thức khoa học của loài người, biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm riêng của mình để hình thành và phát triển nhân cách của bản thân
Bàn về tự học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chỉ rõ: “Tự học là tự mình
động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [38; Tr.59]
Những quan điểm trên cho thấy các tác giả quan niệm tự học là việc người học huy động các phẩm chất tâm lý của mình để lĩnh hội tri thức Tự học thể hiện sự tự giác, sự nỗ lực trong việc chiếm lĩnh tri thức của nhân loại ở người học, nhằm không ngừng nâng cao vốn hiểu biết và phát triển nhân cách của bản thân Muốn cho hoạt động học diễn ra thì phải tự học; ai muốn học thì đều phải tự học, người khác không thể học thay được Nói cách khác, tự học là điều kiện, là bộ phận không thể tách rời của học Trong
“học” bao giờ cũng có “tự học”, nghĩa là tự mình lao động (trí óc, tay chân)
để chiếm lĩnh tri thức
Trang 26Trên cơ sở tham khảo các quan điểm của những tác giả đã nêu ở trên,
chúng tôi cho rằng: tự học là hoạt động học do bản thân người học tự
nhận thức, tự quyết định và thực hiện hoạt động tự học một cách tự giác, tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo để đạt được mục tiêu đề ra
Tự học của HS có ba hình thức bao gồm:
+ Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên, hay tự học diễn ra có sự hướng dẫn “mặt đối mặt” của thầy với trò và các phương tiện
kỹ thuật ở trên lớp Ngay cả trong trường hợp này, để có thể học được dưới
sự hướng dẫn của thầy (ngoại lực) HS phải tự động não, tự quan sát, tự phân tích, tự tổng hợp, tự trừu tượng hóa, tự khái quát hóa, Nói cách khác,
HS phải huy động toàn bộ nhân cách (nội lực) để tiếp thu tri thức
+ Tự học diễn ra không có sự hướng dẫn “mặt đối mặt” của thầy mà chỉ có sự hướng dẫn của thầy một cách gián tiếp (thầy hướng dẫn, giao nhiệm vụ trên lớp hoặc hướng dẫn từ xa một cách gián tiếp thông qua thư hay các phương tiện kỹ thuật của công nghệ thông tin)
+ Tự học diễn ra hoàn toàn thoát ly khỏi sự hướng dẫn của thầy: HS tiến hành tự học nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết riêng của mình về những tri thức mà thầy không bắt buộc
KNTH của HS sẽ được dần dần hình thành và phát triển trong khi thực
hiện ba hình thức tự học trên KNTH được hiểu là những phương thức tiến
hành tự học phù hợp với mục đích và điều kiện tự học nhằm giải quyết có kết quả các nhiệm vụ học tập đã đề ra KNTH của HS rất đa dạng, trong đó
KNĐS và kỹ năng thực hành là những tri thức cơ bản nhất Kĩ năng thực
hành là những phương thức thực hành phù hợp với từng điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục đích thực hành đề ra KNĐS là những phương thức đọc sách phù hợp với từng điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục đích đọc đề ra
Để thực hiện có kết quả tự học, điều quan trọng là HS phải có các KNTH Chính những KNTH giúp HS hoàn thành những nhiệm vụ tự học, làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân Do đó, việc hình thành và
Trang 27rèn luyện các KNTH là vô cùng cần thiết đối với HS, không chỉ giúp HS đạt được kết quả học tập cao ở trường mà giúp các em có được năng lực tự học, có khả năng đáp ứng được những yêu cầu liên tục phát triển của xã hội
Việc hình thành và rèn luyện KNTH của HS chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan (yếu tố ngoại lực) và yếu tố chủ quan (yếu tố nội lực) Các yếu tố khách quan đó là: phương pháp giảng dạy của giáo viên; những điều kiện vật chất và tinh thần do nhà trường tạo ra phục vụ cho việc
học tập của HS; tập thể HS; cách kiểm tra, thi cử và đánh giá kết quả học
tập của nhà trường, điều kiện sống và sinh hoạt của HS; gia đình HS
Các yếu tố chủ quan đó là: động cơ học tập; ý chí học tập; ý thức tự giác, hứng thú học tập; trình độ ngoại ngữ
1.2.2.3 Hoạt động tự học
Khi xem xét tự học dưới góc độ là một hoạt động, nhiều tác giả trong
và ngoài nước đã chỉ ra rằng hoạt động tự học là một loại hình hoạt động
của HS “Hoạt động tự học là hoạt động có chủ đích của con người, liên
quan đến sự tìm kiếm và tiếp thu tri thức của người ấy trong lĩnh vực mình
ưa thích, kể cả bằng con đường nghe các buổi phát thanh và truyền hình theo chuyên đề” [41]
Tự học được hiểu là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính chất cá nhân của HS trong quá trình nhận thức, học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của quá trình giáo dục- đào tạo nói chung ở nhà trường Hoạt động tự học là hoạt động tự tiếp thu, thể hiện và
tự kiểm tra đánh giá Như vậy hoạt động tự học là hoạt động học tập tích cực, chủ động, tự giác của người học Tự học phản ánh khả năng tự tổ chức, điều khiển của bản thân người học nhằm đạt được kết quả nhận thức, học tập nhất định
1.2.3 Quản lý hoạt động tự học
Trang 28Hoạt động tự học của học sinh như đã nói ở trên không chỉ là việc tự học của học sinh ở nhà mà còn là hoạt động tự học ở trên lớp có sự hướng dẫn, chỉ đạo của thầy và hợp tác với bạn cùng lớp Chính vì vậy việc quản
lý hoạt động tự học của học sinh cần có sự phối hợp của cán bộ quản lý nhà trường, GVCN, GV bộ môn, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và gia đình học sinh Quản lý hoạt động tự học của học sinh cần tập trung vào các vấn đề sau:
1.2.3.1 Quản lý kế hoạch tự học: kế hoạch tự học là bảng phân chia nội
dung tự học theo thời gian một cách hợp lý, dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học Việc xây dựng kế hoạch tự học giúp cho HS biết mình phải làm gì để đạt mục tiêu nào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng dự kiến, do đó giúp học sinh thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tự học và kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học một
cách thuận lợi, tiết kiệm thời gian
Kế hoạch tự học của HS càng rõ ràng thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra - đánh giá kết quả và mức độ đạt mục tiêu tự học, tự đào tạo của học sinh Muốn vậy kế hoạch tự học của học sinh cần được cụ thể hoá thành thời gian biểu tự học cho từng buổi học, từng tuần, từng tháng Quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tự học của học sinh
- Quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch tự học:
Khi học sinh đã có kế hoạch tự học thì quản lý việc tổ chức thực hiện
kế hoạch tự học chính là việc rất quan trọng Học sinh thực hiện kế hoạch
tự học là việc rất khó và việc quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học còn khó hơn Để quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học của học sinh có hiệu quả cần quản lý nội dung tự học và các phương pháp tự học của học sinh
- Quản lý nội dung tự học:
Trang 29Nội dung tự học, tự đào tạo trong nhà trường đã được xác định một cách chặt chẽ theo mục tiêu đào tạo, bao gồm các khối kiến thức về khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn Ngoài nội dung học tập bắt buộc trong nhà trường, học sinh có thể tự học, tự nghiên cưú những lĩnh vực tri thức theo sở thích riêng, theo năng khiếu, sở trường của bản thân Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợp với mục tiêu yêu cầu đào tạo, giáo viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho HS Nội dung tự học bao gồm hai phần:
- Quản lý các hình thức tự học:
Hình thức tự học đối với từng người, từng môn học là khác nhau Tuy nhiên, các hình thức tự học vẫn có điểm chung là sử dụng: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, quy nạp, diễn dịch trong khi đọc sách, diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ, sơ đồ, bản vẽ, ký hiệu Bên cạnh các phương pháp học chung còn có phương pháp đặc thù đối với từng môn học, chẳng hạn như phương pháp học môn thực hành tiếng trong học ngoại ngữ là các phương pháp học dựa trên quan điểm giao tiếp tích cực Từ những quan điểm về hình thức tự học như trên, mỗi học sinh cần xác định và chọn cho mình một hình thức tự học phù hợp
Cán bộ quản lý, thầy giáo cần hướng dẫn cho học sinh xây dựng kế hoạch tự học và các phương pháp tự học của mình, đồng thời hướng dẫn các cách quản lý các nội dung và phương pháp tự học
Để giải quyết vấn đề quản lý các hình thức tự học, phải bắt đầu từ việc
Trang 30thức tự học, biện pháp học và kỹ thuật học phù hợp Do vậy, người học sinh cần biết quản lý các hình thức tự học của mình theo một kế hoạch hợp
lý, biết tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc học tập và tự học tập suốt đời, học ở mọi người, mọi lúc, mọi nơi Muốn tự học thành công, mỗi học sinh phải biết tự vượt khó, vượt khổ, phải tìm ra được nội dung và hình thức tự học phù hợp với điều kiện và năng lực của mình, quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch tự học, tự đào tạo từng ngày, từng tháng và từng năm; phải tận dụng được sự giúp đỡ của giáo viên, của các bạn cùng lớp và những người đã có kinh nghiệm về tự học
Quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học phải căn cứ vào việc thực hiện
kế hoạch tự học của học sinh đã đề ra, nội dung tự học và thực hiện các hình thức tự học để đạt kết quả cao nhất Người giáo viên cần nắm được kế hoạch tự học, nội dung và các hình thức tự học của học sinh để từ đó có những cách thức biện pháp quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học của HS
1.2.3.2 Tổ chức cho học sinh tự học
Người giáo viên cần phối hợp với cha mẹ học sinh, ban cán sự lớp hoặc tổ trưởng của các nhóm nhỏ để tổ chức cho học sinh tự học theo nhóm, theo cặp, cá nhân Việc tổ chức cho học sinh tự học theo đúng kế hoạch một cách khoa học, hợp lý giúp học sinh tự học hiệu quả Có thể chia nhóm theo khu vực học sinh cư trú tạo điều kiện thuận lợi trong học tập Tổ chức thảo luận theo chủ điểm môn học, xây dựng dự án và làm dự án cũng
là những hình thức rèn luyện cho các em có kinh nghiệm tự học và biết cách tự học hiệu quả
1.2.3.3 Chỉ đạo hoạt động tự học
Trong quá trình học sinh thực hiện kế hoạch tự học rất cần có sự chỉ đạo hướng dẫn thực hiện kế hoạch tự học Chính vì vậy việc chỉ đạo hướng dẫn thực hiện có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tự học của HS Cán bộ quản lý hay giáo viên cần có hướng chỉ đạo phù hợp với chương trình học, lịch học Ví dụ, khi chuẩn bị cho các kỳ thi tập trung nên phổ biến cho học
Trang 31sinh lịch trình chung và đôn đốc các em chuẩn bị lập đề cương ôn tập cho các môn một cách chi tiết Còn các giáo viên bộ môn hướng dẫn các em cách lập đề cương cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và hỗ trợ các em trong việc tự học
12.3.4 Kiểm tra-đánh giá hoạt động tự học
Để biết được hoạt động tự học của HS đạt hiệu quả như thế nào thì việc kiểm tra-đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động
tự học đạt được hiệu quả
Trước tiên cần kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của HS xem
đã hợp lý chưa, có phù hợp với các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập không Nếu thấy bất hợp lý, cần giúp học sinh điều chỉnh, tránh tình trạng lập được kế hoạch nhưng lại không thực hiện được theo đúng kế hoạch Tiếp theo đó cần kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học của học sinh, theo dõi xem học sinh có làm đúng như kế hoạch đã đặt ra không và kết quả thực hiện như thế nào Để làm được công việc này người quản lý cần phối hợp với giáo viên, phụ huynh học sinh, cán sự lớp và các trưởng nhóm, thậm chí thông qua việc báo cáo, hay kết quả, sản phẩm tự học của chính người học
Vấn đề tự kiểm tra, tự đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của học sinh là yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nói chung, tự học nói riêng, mọi sự tác động từ bên ngoài như từ phía thầy, bạn…chỉ đóng vai trò
hỗ trợ Do đó cần giúp học sinh có khả năng tự kiểm tra-đánh giá hoạt động
tự học của mình
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động tự học
- Luật giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
+ Chương I: Những quy định chung: Điều 5 Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục: khoản 2 " Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho
Trang 32người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"
+ Chương II Hệ thống giáo dục quốc dân Điều 28 Yêu cầu về nội
dung, phương pháp giáo dục phổ thông " Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cuẩ học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đã chỉ rõ: "Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên"
- Chỉ thị số 40/2008/CT- BGDĐT Về việc phát động phong trào thi đua
“ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013
- Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT ngày 13/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm
học 2008-2009, Bộ GDĐT có văn bản số 7475/BGDĐT-GDTrHPT hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm 2008-2009 có yêu cầu giáo viên đánh giá đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập của mình
Các văn bản của Đảng, Nhà nước, Ngành là cơ sở pháp lí, chỉ đạo việc quản lí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học sinh trong các nhà trường
Trang 33Chương 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊN HỒNG VÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN LẬP HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 2.1 Khái quát chung về các trường THCS huyện Đan Phượng
Trang 34Huyện Đan Phượng nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tây (cũ), huyện Đan Phượng đã đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS năm 1998, năm học 2007-2008 vừa qua, huyện Đan Phượng tiếp tục được công nhận phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi Công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia được huyện Đan Phượng tiếp tục đẩy mạnh, đến nay, toàn huyện đã có 23/52 trường Mầm non, Tiểu học và THCS đạt chuẩn Quốc gia Bên cạnh đó, toàn ngành Giáo dục huyện Đan Phượng cũng đạt được nhiều thành tích về số lượng học sinh giỏi các cấp, là một trong những huyện đứng đầu về chất lượng giáo dục của tỉnh Hà Tây (cũ)
Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh vừa qua, Đan Phượng đã có 52 em đạt giải (trong đó có 5 giải Nhất, 13 giải Nhì, 16 giải Ba và 18 giải Khuyến khích), xếp thứ 5 toàn tỉnh về số lượng học sinh đạt giải Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện, toàn huyện đã có 280 em đạt giải Chất lượng giáo dục toàn diện, đại trà, mũi nhọn của huyện đều được nâng lên, tỷ lệ học sinh xếp loại khá ở bậc THCS đạt 65%
Để tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, huyện Đan Phượng đang đầu tư trọng điểm, phấn đấu mỗi năm học có thêm 5 trường đạt chuẩn Quốc gia Những nội dung và giải pháp chủ yếu mà ngành đề ra là tiếp tục huy động số lượng học sinh ra lớp, thực hiện giáo dục toàn diện; không ngừng phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục trong xây dựng cơ sở vật chất trường học; phát động phong trào thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến, phấn đấu đưa chất lượng giáo dục Đan Phượng ngày càng đi lên
2.2 Vài nét về trường THCS Liên Hồng và trường THCS Tân Lập
2.2.1 Vài nét về trường THCS Liên Hồng
Trường THCS Liên Hồng thuộc địa bàn xã Liên Hồng, với 34 giáo viên, 416 học sinh, 7 phòng học, 1 phòng thí nghiệm Trong năm học 2007-
2008, trường THCS Liên Hồng có 6 học sinh giỏi cấp huyện Tỉ lệ HS hoàn
Trang 35thành chương trình lớp 9 là 95.9%; tỉ lệ học sinh thi đỗ vào trường THPT công lập là 65%, tỉ lệ học sinh bỏ học là 1.39%
Cơ sở vật chất của trường THCS Liên Hồng còn nhiều hạn chế: chưa
có phòng học đa năng, chưa có phòng vi tính và thư viện…
Trong hoạt động dạy và học, nhà trường tiếp tục thực hiện nghiêm túc
phong trào hai không do Bộ Giáo dục và Đạo tạo phát động; đội ngũ giáo
viên thực hiện chương trình môn học và dạy mô học tự chọn nghiêm túc, đúng quy chế, đúng phân phối chương trình Đội ngũ giáo viên của trường đều đạt chuẩn, số giáo viên trên chuẩn chiếm 38% Các giáo viên luôn có
đủ giáo án đúng quy chế chuyên môn khi lên lớp Thực hiện giờ lên lớp nghiêm túc theo đúng nội quy của nhà trường, không vào muộn ra sớm Hàng tuần nhà trường luôn tổ chức họp tổ chuyên môn trao đổi kinh nghiệm, dự giờ thăm lớp Hàng tháng nhà trường tổ chức họp hội đồng, 100% giáo viên tham gia đầy đủ và có ý thức đạo đức, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và thực hiện nghiêm túc những chủ chương của Đảng, Nhà nước và Ngành giáo dục Trường THCS Liên Hồng tích cực tham gia thực hiện phong trào “xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực”; tiếp tục thực hiện phong trào “hai không” của ngành giáo dục, do đó tỷ lệ học sinh quay cóp và ngồi nhầm lớp giảm dần Chất lượng dạy học thực chất dần dần được cải thiện và nâng cao
2.2.2 Vài nét về trường THCS Tân Lập
Trường THCS Tân Lập giáp với thị trấn Phùng, có 58 giáo viên, 876
HS Nhiều năm học trường đạt danh hiệu trường tiên tiến Năm học
2007-2008, trường có 1 HS giỏi cấp tỉnh, 16 HS giỏi cấp huyện, tỉ lệ HS hoàn thành chương trình là 97%, tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường THPT công lập chiếm 73.6%; tỉ lệ học sinh lưu ban là 1.25%
Trong những năm học vừa qua, trường luôn thực hiện tốt các phong trào phát động của Bộ Giáo dục và đào tạo, cũng như của ngành giáo dục
Trang 36giáo viên trên chuẩn hai năm gần đây chiếm 76 % Các giáo viên luôn có
đủ giáo án và soạn giảng đầy đủ đúng quy chế chuyên môn trước khi lên lớp Thực hiện giờ lên lớp nghiêm túc theo đúng nội quy của nhà trường, không vào muộn ra sớm
2.3 Thực trạng về hoạt động tự học của học sinh
Để tìm hiểu hoạt động tự học của học sinh và hoạt động quản lí tự học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến đối với các giáo viên và học sinh Bên cạnh đó, chúng tôi còn trao đổi với một số cán
bộ quản lí, giáo viên và học sinh; đồng thời tham khảo các báo cáo tổng kết năm học của trường, các văn bản của ngành giáo dục đào tạo Đan Phượng Khảo sát được tiến hành với 92 giáo viên của hai trường THCS Liên Hồng và trường THCS Tân Lập Số học sinh tham gia vào khảo sát này là
296 học sinh gồm 138 học sinh trường THCS Liên Hồng và 158 học sinh trường THCS Tân Lập Trong số đó, có 140 học sinh nam và 156 học sinh
nữ Tính theo khối lớp thì có 94 học sinh lớp 7; số học sinh lớp 8 là 104 em
và 98 học sinh lớp 9 Về học lực, có 18.2% đạt loại giỏi, 46.5% học sinh khá và 35.3% học sinh xếp loại học lực trung bình
2.3.1 Nhận thức của học sinh về vấn đề tự học
Để tìm hiểu quan niệm của học sinh về sự cần thiết của vấn đề tự học, chúng tôi đã yêu cầu học sinh đánh giá mức độ cần thiết của tự học đối với hoạt động học tập của các em, kết quả cho thấy như sau: các học sinh đều
khẳng định ở mức độ “rất cần thiết” và “cần thiết” của vấn đề tự học So sánh theo trường thì số học sinh trả lời ở mức rất cần thiết ở trường THCS
Liên Hồng (78.6%) chiếm tỉ lệ cao hơn so với trường THCS Tân Lập (71.2%) Xét theo khối lớp thì không có sự khác biệt nhiều về ý kiến của học sinh ở cả ba khối lớp 7, lớp 8 và lớp 9 về sự cần thiết của vấn đề tự học
Mức độ
Tân Lập Liên Hồng Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9
Trang 37SL (%) SL (%) SL (%) SL (%) SL (%) Rất cần thiết 99 71.2 103 78.6 22 75.9 93 75.6 79 73.1 Cần thiết 40 28.8 28 21.4 7 24.1 30 24.4 29 26.9
Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh về tự học
Tự học là một quá trình tự giác, chủ động và tích cực của mỗi học sinh Để có thể tự học tốt thì một trong những yếu tố quan trọng là mỗi học sinh phải có nhận thức đúng về vai trò và ý nghĩa của việc tự học Tìm hiểu
về vấn đề này, chúng tôi thu được kết quả trả lời của học sinh được trình
bày trong bảng số liệu dưới đây:
6 Cốt lõi của học tập là hoạt động tự học 145 50.7 103 36.0 37 12.9
B¶ng2.2: Ý kiến của học sinh về ý nghĩa và vai trò của tự học
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, phần lớn học sinh tham gia khảo sát này nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của tự học đối với việc tiếp thu kiến thức cũng như kết quả học tập của bản thân Cụ thể, có 81.6%
học sinh trả lời rằng “Tự học tốt giúp em đạt kết quả cao trong học tập”; tương tự có 80.2% học sinh được hỏi cho rằng “Tự học tốt giúp em hiểu
kiến thức sâu sắc hơn” Việc tự học không chỉ giúp cho học sinh nắm bắt
kiến thức tốt hơn mà còn giúp các em có khả năng vận dụng những kiến
Trang 38thức đã học vào thực tế cuộc sống, có 73.8% học sinh đồng ý với ý kiến
rằng: “Tự học giúp em vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn” Ngoài ra, tự
học còn giúp các em học sinh chủ động và tích cực hơn trong hoạt động
học tập của chính mình, 64.3% học sinh đồng ý với ý kiến rằng: “Tự học
tốt giúp rèn luyện phong cách làm việc độc lập, chủ động, tích cực” và
43.3% đồng ý rằng, tự học còn giúp “Hình thành năng lực tự học suốt đời”
Qua kết quả nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, về mặt nhận thức, phần lớn HS của hai trường THCS Tân Lập và Liên Hồng tham gia khảo sát này đều thấy được tầm quan trọng của vấn đề tự học đối với việc tiếp thu kiến thức và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống; tự học còn giúp cho các em học sinh có phương pháp học tập chủ động và tích cực trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng kỹ xảo, tự học ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh, đồng thời hình thành nên năng lực tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu suốt đời ở mỗi người Bên cạnh những học sinh có nhận thức tốt thì vẫn còn một bộ phận học sinh có nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề tự học Cụ thể là, có 38.8%
học sinh phân vân và 17.5% học sinh không đồng ý rằng “Tự học giúp hình
thành năng lực tự học suốt đời”; có 48.9% học sinh phân vân và không
đồng ý “Cốt lõi của học tập là hoạt động tự học” và 35.8% phân không đồng ý rằng “Tự học tốt giúp rèn luyện phong cách làm việc độc lập,
vân-chủ động, tích cực” Với nhận thức như vậy thì những học sinh này khó có
thể có lòng say mê, vượt mọi khó khăn để tự mình chiếm lĩnh tri thức Học sinh lứa tuổi THCS chiếm một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em Đây là giai đoạn chuyển biến từ trẻ em sang người lớn Về
tư duy, học sinh THCS đã có khả năng phân tích, tổng hợp, liên tưởng phức tạp hơn Tư duy trừu tượng và tư duy độc lập dần chiếm ưu thế; ghi nhớ máy móc giảm dần thay vào đó là ghi nhớ logic và ghi nhớ ý nghĩa Học sinh lứa tuổi THCS cũng bắt đầu hình thành những phẩm chất mới về trí
Trang 39tuệ, nhân cách phù hợp cho hình thành năng lực tự học của các em để tạo nền tảng cho các em phát triển năng lực tự học ở mức độ cao
2.3.2 Thực trạng hoạt động tự học của học sinh
- Kế hoạch tự học
Học sinh muốn có kết quả tự học tốt thì các em phải xây dựng được kế hoạch tự học cụ thể Việc xây dựng kế hoạch tự học giúp cho HS biết mình phải làm gì để đạt mục tiêu nào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng
dự kiến, giúp HS thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tự học và kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học một cách thuận lợi, tiết kiệm thời gian
Kế hoạch tự học của HS càng rõ ràng thì càng thuận lợi cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả Muốn vậy kế hoạch tự học của HS cần được cụ thể
hoá thành thời gian biểu tự học cho từng buổi học, từng tuần, từng tháng Việc xây dựng kế hoạch tự học ở nhà, có 53,3% học sinh cho biết “có
thời gian biểu cho việc tự học và thực hiện đúng thời gian biểu” của mình,
không có sự khác biệt giữa học sinh của hai trường Liên Hồng và Tân Lập
Số học sinh trả lời “Em không có thời gian biểu cho việc tự học” là 8.4%,
trong đó, học sinh trường THCS Liên Hồng chiếm tỉ lệ cao hơn là
10.4%/6.5% Ngoài ra, còn không ít học sinh được hỏi đã trả lời rằng “tự
học khi rảnh rỗi, không theo thời gian biểu” (chiếm 32.1%), không có sự
khác biệt đáng kể giữa học sinh của hai trường
Tìm hiểu thêm ý kiến của giáo viên về kế hoạch tự học của học sinh
cho thấy, có 6.7% giáo viên nói rằng, “phần lớn học sinh có thời gian biểu
tự học và thực hiện đúng”; 11.1% nói rằng “phần lớn học sinh có thời gian biểu tự học nhưng không thực hiện đúng”; 31.1% giáo viên cho rằng “phần lớn học sinh không có thời gian biểu tự học” và 51.1% giáo viên cho rằng,
“phần lớn học sinh tự học khi rảnh rỗi”
Tân Lập Liên
Hồng
Chung
Trang 40Kế hoạch tự học
1 Em có thời gian biểu tự học và thực
hiện đúng thời gian biểu 82 53.6 71 53.0 153 53.3
2 Em có thời gian biểu tự học nhưng
3 Em không có thời gian biểu tự học 10 6.5 14 10.4 24 8.4
4 Em tự học khi rảnh rỗi, không theo
thời gian biểu 49 32.0 43 32.1 92 32.1
Bảng 2.3: Ý kiến học sinh về kế hoạch tự học
Với kết quả trả lời trên đây của các em học sinh và giáo viên, chúng
ta thấy, nhiều học sinh chưa đặt ra cho mình kế hoạch tự học rõ ràng mà mang tính cảm hứng hoặc khi các em có thời gian rảnh rỗi Với tính chất tự học như vậy thì khó có thể đạt được kết quả tốt, và cũng khó hình thành được ở các em thói quen tự học, tự tìm tòi khám phá tri thức mới
- Nội dung tự học
Khi được hỏi về nội dung tự học ở nhà, phần lớn các em học sinh trả
lời là “Làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới” Học sinh khá, giỏi chiếm
tỉ lệ cao hơn so với học sinh trung bình (Giỏi: 96.2%; Khá: 94.7%; Trung bình: 84.5%) Ý kiến của giáo viên cũng cho thấy, phần lớn học sinh dành
thời gian tự học để “Làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới” (56.7%) Nội dung tự học thứ hai của các em là “Học lý thuyết và bài tập thầy cô sẽ kiểm
tra” (Giỏi: 61.5%, Khá: 63.6% và Trung bình: 52.6%) Thực vậy, hai nội
dung tự học này chủ yếu là để thực hiện nhiệm vụ mà thầy cô giáo giao cho hơn là tự tìm tòi, học hỏi để mở rộng và nâng cao kiến thức của bản thân Còn những nội dung tự học khác thể hiện tính tích cực của học sinh thì tỉ lệ
không cao như: “Đọc sách tham khảo, nâng cao” hoặc “học các môn mà
em ưa thích” Qua kết quả này, chúng ta thấy, học sinh khá giỏi thường
chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh trung bình ở tất cả các nội dung tự học Điều