1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường trung học cơ sở huyện mỹ lộc tỉnh nam định

110 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 28 Luật Giáo dục2005 cũng đã quy định rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số : 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học : TS Đặng Văn Cúc

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học 5

2.3 Khái quát về các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh NamĐịnh 30 2.3.1 Đặc điểm đối tượng đào tạo của các trường THCS huyện Mỹ 31

Trang 3

2.4.4 Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về tự học 40

2.6 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường

THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

46

2.6.1 Thực trạng về hoạt động xây dựng động cơ tự học cho học sinh

các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

46

2.6.2 Quản lý hoạt động dạy tự học của giáo viên THCS trong huyện

Mỹ Lộc

56

2.6.3 Đánh giá về nhận thức của giáo viên về hoạt động tự học 58

2.7 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện các biện

Trang 4

3.3.1 Nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà

trường, đặc biệt cho học sinh, về tầm quan trọng của tự học

64

3.3.2 Giáo viên bộ môn dạy cho học sinh biết kế hoạch hoá thời gian

học tập, có ý chí tự học, tự nghiên cứu đối với bộ môn mình phụ trách

67

3.3.3 Giáo viên chủ nhiệm cải tiến nội quy học tập theo hướng giúp

cho học sinh tự giác thực hiện sự tự học

69

3.3.4 Tổ chức, tập huấn giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo

hướng thúc đẩy học sinh tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa

71

3.3.5 Hoàn thiện biện pháp quản lý, chỉ đạo học tập của học sinh trung

học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tự học

Trang 5

Vì lí do trên, quá trình dạy học ở bậc THCS đang tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là khối lượng tri thức đã được đổi mới tăng lên với một bên là thời hạn học tập không thể tăng lên được Để giải quyết mâu thuẫn đó phải đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Bản chất của hướng đó là khơi dậy và phát huy năng lực tìm tòi tự học của học sinh một cách độc lập sáng tạo thông qua việc hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề, nhờ đó mà học sinh nắm vững tri thức và học được cách học Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, đó cũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Chất lượng

và hiệu quả giáo dục được nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học,biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục

Điều 28 Luật Giáo dục2005 cũng đã quy định rõ

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định nằm trên địa bàn giáp ranh thành phố Nam Định, một mặt được hưởng những điều kiện thuận lợi của việc gần trung tâm thành phố, một mặt gặp khó khăn của một huyện thuần nông nghèo

Trang 6

Những năm gần đây,công cuộc đổi mớivà cải cách giáo dục của cả nước đã tác động mạnh tới hoạt động dạy và học của các trường THCS trong huyện Mỹ Lộc, tuy nhiên chất lượng học tập của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế không được như kết quả mong muốn Tỉ lệ học sinh khá giỏi còn thấp, học sinh vẫn còn thờ ơ với việc học, lười học bài và làm bài ở nhà, lười đọc sách, việc học tập đối với học sinh còn phải mang tính bắt ép Công tác quản lý,tổ chức của nhà trườngđối với hoạt động tự học của học sinh chưa được quan tâm đúng mức; số lượng giáo viên tại địa bàn huyện còn ít,đa số là các giáo viên ở nơi khác chuyển về do đó hay bị thay đổi xáo trộn khi thuyên chuyển giáo viên đi nơi khác Với các nguyên nhân đã nói ở trên đã một phần ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, dẫn đến kết quả học sinh của của các trường THCS trong huyện còn thấp Muốn chất lượng học tập của học sinh các trường THCS trong huyện đạt kết quả cao, phải thay đổi cách dạy tự học của giáo viên cho học sinh THCS trong huyện và phải bồi dưỡng động cơ, thái độ tự học, kỹ năng tự học cho học sinh

Việc tìm ra biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc là một trong những nhiệm vụ cấp thiết với các trường,

do đó tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh các trường THCS trong huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Các biện pháp quản lí hoạt động tự học của học sinh các trường THCS trong huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận làm luận cứ giải quyết các nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động tự học, các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

- Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm khẳng định tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp để nâng cao kết quả hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định còn nhiều hạn chế Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Nguyên nhân chủ quan là do học sinh còn thiếu ý chí

và nỗ lực, thiếu phương pháp tự học, chưa ý thức được tầm quan trọng của hoạt động tự học để lĩnh hội và tiếp thu kiến thức Nguyên nhân khách quan là

do công tác quản lý còn thiếu sự phối kết hợp đồng bộ, thiếu tác động thích hợp Đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh bao quát từ việc lập kế hoạch đến tổ chức, kiểm tra, khi đó chất lượng hoạt động học tập của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định được nâng cao và mục tiêu của các trường sẽ được thực hiện tốt hơn

6 Phạm vi nghiên cứu

Vì hạn chế nguồn lực và thời gian, luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu khối lớp 9 đang học tại trường THCS Mỹ Hà, trường THCS Mỹ Thắng, trường THCS Mỹ Tiến, trường THCS Mỹ Hưng, trường THCS Mỹ Thịnh huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Trang 8

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích tổng hợp những tư liệu như: tư liệu về giáo dục học – tâm lý học, lý luận về quản lý giáo dục, các văn bản về nhà trường trung học cơ sở và luật giáo dục năm 2005

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia

- Nhóm các phương pháp xử lý số liệu : Sử dụng các công thức toán học như trung bình cộng, tính tổng số điểm của từng loại phiếu điều tra cho từng mức độ khác nhau, rồi sau đó lấy trung bình chung để đưa ra kết quả và kết luận cụ thể

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường

1.1.1 Trên thế giới

- Socrate đã từng đề ra khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” thông qua

đó ông muốn người học tự phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt ra các câu hỏi

để dần dần tìm ra kết luận [19, tr 55]

- Khổng Tử quan tâm tới việc kích thích sự suy nghĩ sáng tạo của học sinh ông nói: “Bất phẫn, bất phải, bất phi, bất phát Cứ bất ngưng, bất dĩ tam

Trang 9

ngung phản, tác bất phục dã” (Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho; vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa) (Luận ngữ)

- Mạnh Tử (372 – 289) trước CN đã đòi hỏi người học phải tự học, tự suy nghĩa, không nên nhắm mắt tin theo sách: "Tận tín thư bất như vô thư" (Tin cả ở sách chi bằng không có sách)

-Nhà sư phạm J.A.Comenxki (1592 – 1670) người Slovaquya đưa ra những yêu cầu cải cách nền giáo dục theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của người học Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”

- Theo tác giả Raja Roy Sigh, nhà giáo dục Ấn Độ thì “Sự học tập do người học chủ đạo” [37, tr 110]

Các nhà giáo dục và nhân văn Châu Âu, Châu Mĩ và Châu Á đều có quan điểm thống nhất dự báo về con người thế kỷ 21: xem thái độ học tâp và

kỹ năng ứng dụng của giới trẻ đang diễn biến ra sao Tuỳ theo đồ thị tăng trưởng ấy như thế nào, sẽ biết được diện mạo của lớp trẻ trong tương lai và cả gương mặt của xã hội ngày mai Các tác giả đã đưa ra bốn thái độ học tập và mười kỹ năng ứng dụng học vấn vào đời sống xã hội, một trong mười kỹ năng

đó là: kỹ năng tự nâng cao trình độ cá nhân trong mọi tình huống [19, tr 4]

1.1.2 Ở Việt Nam

Trong những năm gần đây chúng ta đã chú ý nhiều đến đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, trong đó người học phải tích cực, độc lập, sáng tạo trong việc học tập của mình Quan điểm này đã được thể hiện qua văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều"

Trang 10

Tinh thần này cũng được thể hiện trong luật giáo dục, ở mục 2 điều 5

"Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục" đã nêu rõ: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say

mê học tập và ý chí vươn lên" và mục 2 điều 28 "Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông" cũng đã nêu rõ: "phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "coi trọng việc tự học, tự đào tạo… học ở mọi lúc, mọi nơi, học mọi người" [20, 194] Người nhấn mạnh:

"phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học", Người khuyên "không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập" [23, tr 97]

- Nguyên tổng bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã khẳng định: "Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau;

đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực tự học, sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục" [26]

Có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục ở Việt Nam viết về vấn đề tự học như: "Để tự học đạt được hiệu quả" của Vũ Quốc Chung - Lê Hải Yến;

"Quá trình Dạy - Tự học" của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường; tuyển tập tác phẩm "Tự Giáo dục, tự học, tự nghiên cứu" tập 1 - 2 của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn; "Luận bàn về kinh nghiệm tự học" của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn…và rất nhiều luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục trong những năm gần đây đề cập về hoạt động học, các biện pháp quản lý

tổ chức hoạt động tự học nhằm nâng cao hiệu quả tự học của học sinh

Trang 11

Do đó tự học ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáo dục và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói chung và học sinh THCS nói riêng

nó giúp cho học sinh rèn luyện, nâng cao khả năng độc lập trong học tập, thúc đẩy sự phát triển nền giáo dục Việt Nam

1.2 Những vẫn đề lý luận về học sinh THCS

1.2.1 Khái niệm về học sinh THCS

"Lứa tuổi THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14,15 tuổi

Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS" [25, tr 27]

1.2.2 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS

Lứa tuổi này gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em, được phản ánh bằng các tên gọi khác nhau "tuổi khó bảo", "tuổi bất trị", … Đây là một thời kỳ chuyển giai đoạn từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành Học sinh THCS có sự phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu cân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức "Sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt Điều đó quyết định sự tồn tại song song, "vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn" ở lứa tuổi này Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn Sự khác nhau đó do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em" [25, tr.28] Hoàn cảnh này có hai mặt:

- Các yếu tố hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: do trẻ chỉ bận tập trung vào việc học tập, không phải làm bất kỳ việc gì khác, cha mẹ các

em không để cho con cái họ làm những công việc trong gia đình, xã hội

- Các yếu tố hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính cách của người lớn: nhiều gia đình cha mẹ quá bận trong công việc, gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống đòi hỏi các em phải lao động thêm để mưu sinh tồn tại, dẫn đến các

em có những tính độc lập và tự chủ nhất định

Một số em do tập trung vào học làm cho các em hiểu biết về tri thức, sách vở nhưng các mặt khác nhau trong đời sống thì hiểu biết rất ít, ngược lại

Trang 12

bè, với người lớn, quan tâm đến ăn mặc…để tỏ ra mình cũng như người lớn…, lứa tuổi này là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ thể: Sự phát triển các xương tay, xương chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân phát triển chậm, các em có vẻ lóng ngóng vụng về khi làm việc, điều này gây cho các em biểu hiện tâm lý khó chịu Ngoài ra sự phát triển của

hệ thống tim mạch cũng không cân đối, hệ thần kinh còn chưa có khả năng chịu đựng được các kích thích mạnh, do đó dẫn đến tình trạng các em hay bị

ức chế hoặc bị kích thích với những tác động trong học tập và trong cuộc sống

Nói chung lứa tuổi học sinh THCS có tính tích cực cao, có nhiều dự định trong học tập và trong cuộc sống, nhưng thiếu kiên trì, không có các định hướng rõ rệt Do đó phụ huynh và các thầy, cô giáo, các nhà giáo dục cần có những biện pháp hợp lý trong việc giáo dục các em để đạt được những hiệu quả tốt nhất

1.3 Những vấn đề lý luận về tự học

1.3.1 Khái niệm về tự học

Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành

sở hữu của mình" [28, tr 60]

Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo: "Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể [30, tr 19]

Tự học là nội lực của người học, có tự học mới có khả năng phát triển tư duy độc lập, khả năng phát triển vấn đề từ đó mới dẫn đến tư duy sáng tạo của người học Tự học là tự giác chiếm lĩnh tri thức của chính bản thân người học, nhờ đó mà người học mới làm chủ được tri thức để vận dụng vào cuộc sống thực tiễn

Trang 13

1.3.2 Vị trí, vai trò của tự học

Trong việc học cốt lõi là tự học, hễ có học là có tự học, chính mình phải học để lấy kiến thức, không có ai có thể học hộ người khác được Khi nói đến học tức là có hàm ý xét đến mối quan hệ giữa nội lực của người học và ngoại lực của người dạy, còn khi nói đến tự học tức là chỉ xét riêng nội lực của người học Không ai có thể đưa một khối lượng kiến thức nào từ bên ngoài vào đầu người học nếu người đó không chịu tích cực trong học tập

Hoạt động tự học có vai trò không chỉ mang ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn mang ý nghĩa to lớn đối với vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, hoạt động tự học có liên quan tới nhu cầu nhận thức của cá nhân và liên quan tới sự phát triển trí tuệ của con người

Theo Giáo sư Phan Trọng Luận:

- Tự học- con đường khắc phục nghịch lý: Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có giới hạn

- Tự học để phát triển, bằng không là tự vô hiệu hoá mình

- Tự học- con đường thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi người trên con đường lập nghiệp

- Tự học- con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trên con đường học vấn thường xuyên của cả cuộc đời [30, tr.21]

1.3.3 Các hình thức tự học, hoạt động tự học của học sinh THCS

Hoạt động tự học diễn ra dưới các hình thức khác nhau:

* Hình thức 1: Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp của thày và các phương tiện kỹ thuật trên lớp gọi là học “giáp mặt”, thày trò nhìn mặt nhau, trao đổi thông tin bằng lời nói, chữ viết trực tiếp Học sinh

là chủ thể nhận thức tích cực, phải tập trung để phân tích, tổng hợp, khái quát

để tiếp thu tri thức kỹ năng kỹ xảo mà giáo viên truyền đạt cho

Hình thức tự học này bao gồm thảo luận theo nhóm, tổ chức các buổi hội thảo về phương pháp học tập bộ môn do học sinh chủ trì dưới sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên

Trang 14

* Hình thức 2: Tự học của học sinh diễn ra khi không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên – gọi là học “không giáp mặt”, khi đó học sinh phải tự

bố trí, sắp xếp thời gian, có kế hoạch để tự bản thân củng cố tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo về môn học, hình thức này bao gồm: đọc sách giáo khoa, làm bài tập ở nhà, tự chuẩn bị các vấn đề cho thảo luận nhóm

* Hình thức 3: Học sinh tự học các kiến thức mới, tự tìm tòi khai thác một vấn đề nào đó của môn học hoàn toàn không có sự tổ chức điều khiển của giáo viên, các em tự mua sách báo tham khảo, tự sưu tầm tài liệu trên mạng để

mở rộng tầm hiểu biết của mình Đây là hình thức tự học ở mức độ cao thường

có rất ít ở những học sinh giỏi hoặc lớp chuyên, lớp chọn

Hoạt động tự học của học sinh về bản chất là một hoạt động nhận thức độc lập của chính học sinh đó Hoạt động tự học của học sinh có một phạm vi rộng: tự học trên lớp dưới sự tổ chức điều khiển trực tiếp giáo viên tới việc tự học ở nhà dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, cao hơn nữa là tự học hoàn toàn không có sự tổ chức điều khiển của giáo viên Trong đề tài này, do mục đích và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập tới hoạt động tự học của học sinh dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của giáo viên

Trong đề tài các cụm từ “tự học”, “việc tự học”, “Quá trình tự học” được hiểu là hoạt động tự học

- Năng lực tự học là khả năng của chính học sinh đó có thể chiếm lĩnh kiến thức mà không cần sự hỗ trợ nào khác từ bên ngoài

- Chất lượng tự học: là kết quả thu được của bản thân người học sau một quá trình tự học, chất lượng tự học đạt được phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tự học của bản thân học sinh đó Chất lượng tự học được thể hiện ở các lĩnh vực: + Kiến thức: Hiểu sâu, kỹ, nhớ lâu

+ Kỹ năng: Lập kế hoạch, kỹ năng đọc tài liệu, ghi chép tài liệu, tổ chức quá trình học tập phải thành thạo

+ Năng lực: Tự giác, chủ động và sáng tạo

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của học sinh THCS

Trang 15

1.3.4.1 Tạo nội lực tự học

Nội lực của người học là nhân tố quyết định tới sự phát triển bản thân người học: người học phải có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ đó mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và từ đó mới có tư duy sáng tạo Tất cả mọi hoạt động của con người đều có mục đích, đều có động

cơ Đó là các nhân tố định hướng, thúc đẩy và duy trì các hành vi của con người Hoạt động học tập cũng như các hoạt động khác được diễn ra có hiệu quả khi người học có thái độ học tập tốt, có mục đích tích cực, rõ ràng, có nhu cầu lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

Trước khi đề cập đến mục đích, động cơ học tập của học sinh, ta tìm hiểu sơ qua vấn đề mục đích động cơ nói chung Tác giả Abraham MasLow đã đưa ra thuyết thoả mãn, gồm các nhu cầu được sắp xếp từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh học (nhu cầu cơ bản), nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện, mong muốn hiểu biết, nhu cầu thẩm mỹ Tương tự như thế mục đích, động cơ học tập của học sinh có nhiều cung bậc khác nhau:

Bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình; tự khẳng định mình, tạo cơ hội thi đỗ vào các trường chuyên, lớp chọn, học vì hứng thú, học vì lòng khao khát tri thức Từ những mục đích những mong muốn đó tác động đến người học và được chuyển hoá thành nhu cầu, hứng thú,

lý tưởng của người học, tạo ra nguồn nội lực cho học tập và tự học, đây là điều kiện không thể thiếu cho bất cứ các hoạt động nào Một trong những nội dung

cơ bản, ý nghĩa của công tác quản lý tự học là tạo nguồn nội lực tự học cho học sinh

1.3.4.2 Tạo môi trường tự học

Môi trường tự học của học sinh THCS gồm:

- Góc học tập ở nhà: mỗi học sinh cần phải bố trí chỗ học hợp lý, yên tĩnh,

đủ ánh sáng không chịu ảnh hưởng nhiều của tác động bên ngoài khi học sinh

Trang 16

tự học Học sinh phải tạo cho mình thói quen tự học theo TKB đề ra một cách nghiêm túc, tự giác

- Xây dựng nhóm tự học:

Do yếu tố tâm lý và nhận thức, nếu quá trình tự học của cá nhân học sinh hoàn toàn “khép kín” thì kết quả học tập không thể cao được, vì không phải người nào cũng có đầu óc siêu việt để có thể đọc đến đâu trả lời đến đó, gặp bài toán hay câu hỏi khó nào cũng đều trả lời được, kể cả các học sinh có ý chí

và nghị lực cao, có phương pháp tự học đúng nhiều khi cũng gặp khó khăn trong việc đọc sách, làm bài tập, trả lời các câu hỏi Do đó các học sinh có thể tập trung tự học theo nhóm để có thể trao đổi cùng bàn luận, tìm cách tháo gỡ vấn đề còn khúc mắc mà chưa tự mình giải quyết được

Nhiều kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm bổ sung đóng góp ý kiến, qua đó mỗi thành viên có thể tự rút ra được những kiến thức bổ ích cho riêng mình, không khí học tập của nhóm sẽ thúc đẩy từng học sinh trong nhóm phải chuẩn bị trước các ý kiến, các câu hỏi của mình để lúc tranh luận bàn bạc phải có chủ kiến trước rồi sẽ được các bạn trong nhóm góp ý sửa đổi bổ sung hoàn thiện, nếu ai cũng dựa dẫm, không chuẩn bị trước thì khi học nhóm sẽ trở nên vô tác dụng

1.3.4.3 Cung cấp các điều kiện tự học

- Cung cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập có tác động ảnh hưởng lớn đến hiệu quả học tập của học sinh Phòng học được thiết kế với hệ thống chiếu sáng thích hợp, làm giảm những tác động

từ bên ngoài, có những phương tiện phục vụ cho học tập như máy vi tính, máy chiếu có ý nghĩa thiết thực cho việc đảm bảo chất lượng giảng dạy, học, tự học và nó còn có ý nghĩa tạo hứng thú cho học sinh học tập

- Cung cấp sách giáo khoa, sách đọc thêm, sách tham khảo, các loại băng hình, băng tiếng, đĩa VCD các trang web, nối mạng internet phục vụ cho việc

tự học của học sinh

Trang 17

- Đảm bảo sự phục vụ tích cực của thư viện nhà trường, thư viện tỉnh có ý nghĩa to lớn góp phần kích thích động cơ học tập của học sinh

- Thư viện của nhà trường nên có tương đối đầy đủ những danh mục sách giáo khoa, sách chuyên đề, sách tham khảo liên quan để phục vụ học sinh trong trường Ngoài ra học sinh còn phải tự tìm kiếm thêm sách bên ngoài để đọc nhằm tăng mức độ hiểu biết của mình

1.3.4.4 Hướng dẫn tự học, dạy cách tự học

Ở cấp THCS, học sinh chưa có định hướng một cách cụ thể được mục đích, nội dung tự học, do đó giáo viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho học sinh để cho phù hợp với mục đích, yêu cầu đào tạo, mục tiêu- yêu cầu môn học, đảm bảo tính hiện thực và hiệu quả cao

1.3.4.5 Kiểm tra đánh giá

Kiểm tra đánh giá theo cách nào thì giáo viên dạy học sinh học theo cách

ấy Chính vì thế chúng ta phải dùng kiểm tra đánh giá để khuyến khích giáo viên sử dụng phương pháp dạy học tích cực và động viên học sinh trong việc nâng cao năng lực tự học

Hiện nay hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan có thể kiểm tra học sinh được nhiều nội dung của môn học buộc học sinh phải suy nghĩ và vận dụng kiến thức, phải hiểu kiến thức mới trả lời được Hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan còn có nhược điểm là không thấy được quá trình tư duy

Trang 18

bên cạnh trắc nghiệm khách quan phải có bài tập tự luận đi kèm, có thể cho mẫu đáp án và thang điểm để học sinh theo đó tự chấm, tự đánh giá kiến thức của mình xem chỗ nào đạt, chỗ nào chưa đạt từ đó có cách khắc phục lập “lỗ hổng kiến thức” cho phù hợp

1.3.4.6 Khen thưởng, trách phạt

Yếu tố khen thưởng là biện pháp nhằm kích thích học sinh cố gắng vươn lên giành kết quả cao nhất trong học tập, từ đó các em nỗ lực tự học Công tác khen thưởng làm tốt sẽ tác động vào tư tưởng, tình cảm, ý thức của học sinh xây dựng ở các em niềm tin để thúc đẩy mọi hành động Để phát huy tốt công tác thi đua khen thưởng nhà trường cần xây dựng chỉ tiêu, quy chế khen thưởng rõ ràng ngay từ đầu năm học phù hợp với tình hình của nhà trường, công khai kết quả thi đua theo từng tháng, học kỳ, năm học

Bên cạnh đó cần có hình thức trách phạt với những học sinh không chịu học tập, khi đó phải có các hình thức nhắc nhở trước lớp, trường Các hình thức đó tuỳ theo mức độ của từng học sinh nhưng vẫn trên cơ sở răn đe, giáo dục là chính, làm cho học sinh ý thức được việc học là cho chính mình, từ đó tính tự giác trong việc tự học được từng bước củng cố và phát triển

1.4 Những vấn đề chủ yếu của quản lý, quản lý hoạt động tự học

1.4.1 Khái niệm, chức năng quản lý, biện pháp quản lý

1.4.1.1 Khái niệm quản lý

Theo TS Nguyễn Quốc Chí; PGS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc:

- Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý, cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức” Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này, nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, môt con ngừơi riêng lẻ không thể nào đạt đến

- Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Vậy hoạt động quản lý là: Tác động có định hướng, có chủ đích

Trang 19

của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (ngừơi bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của

tổ chức

- Hiện nay, hoạt động quản lý được định nghiã rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra

Trong quá trình phát triển của xã hội loài mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là nghệ thuật vừa là khoa học trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô và vi mô Mọi cơ quan, tổ chức đều phải có

sự quản lý để hoạt động Các Mác đã viết một điều rất cơ bản: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc là cần phải có nhạc trưởng” [18, tr 6]

Vậy hoạt động quản lý là gì ? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý

- Quản lý là: tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý(người bị quản lý) - trong một tổ chức -nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [32, tr.1]

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [30, tr.11]

- Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.[32, tr 1]

Các định nghĩa quản lý của các tác giả có quan niệm khác nhau nhưng đều thống nhất ở các điều sau đây :

+ Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống các yếu tố: chủ thể quản lý (tổ chức quản lý, người quản lý); đối tượng quản lý (khách thể quản lý)

Trang 20

công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý + Bản chất của quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức

nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra

1.4.1.2 Chức năng quản lý

Quản lý thực hiện nhiều chức năng, có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý Ngày nay việc mọi người đều thống nhất hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo (chỉ đạo) kiểm tra [32]

* Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là một chức năng của quản lý Kế hoạch hoá

có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức

và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu và mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung cơ bản sau:

- Xác định và hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra

- Quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được các mục tiêu

đó và xác định rõ các hoạt động ưu tiên

* Tổ chức:

Tổ chức là một quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Chính nhờ

sự tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối được các nguồn vật lực và nhân lực một cách tốt hơn Kết quả thu được của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho hiệu quả và đạt kết quả cao

Theo Ernest Dale, chức năng của tổ chức là quá trình có 5 bước:

Trang 21

- Bước 1: Lập danh sách các công việc phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra

- Bước 2: Phân chia công việc thành những nhiệm vụ cụ thể để các thành viên (hoặc các bộ phận) của tổ chức thực hiện một cách thuận lợi, phù hợp với logic, bước nay gọi là phân công lao động

- Bước 3: Kết hợp nhiệm vụ một cách logic, hiệu quả, đây là bước phân chia bộ phận

- Bước 4: Thiết lập cơ chế điều phối: Hoạt động của các cá nhân, các nhóm, các bộ phận liên kết với nhau một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra một cách dễ dàng và hiệu quả

- Bước 5: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiêm của cấu trúc tổ chức và điều chỉnh nếu thấy cần thiết

* Lãnh đạo (chỉ đạo):

Lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành tốt những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức đề

ra Việc lãnh đạo tất nhiên không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết

kế bộ máy hoàn tất, mà nó thấm vào và ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia

* Kiểm tra:

Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó mỗi cá nhân, nhóm hoặc

tổ chức theo dõi giám sát các kết quả của quá trình hoạt động và tiến hành những uốn nắn, sửa chữa nếu cần thiết Kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải điều chỉnh cho phù hợp Theo quan điểm Rorbert J.Mockler thì kiểm tra được chia thành 4 bước:

- Bước 1: Xác định rõ tiêu chuẩn và phương pháp đo lường kết quả đạt được: Các tiêu chuẩn phải rõ ràng, thống nhất, phương pháp đo lường phải chính xác, chuẩn mực

- Bước 2: Đo lường thành tựu, là quá trình lặp lại nhiều lần, liên tục, tần suất phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản lý

- Bước 3: Xác định mức độ đáp ứng (mức độ phù hợp) của thành tựu so

Trang 22

- Bước 4: Tiến hành hoạt động uốn nắn, sửa chữa khi phát hiện ra sai lệch của thành tựu so với chuẩn mực hoặc sửa đổi chuẩn mực nếu thấy chúng không có khả năng thực hiện được

Tóm lại bốn chức năng quản lý có quan hệ hữu cơ và biện chứng với nhau, cả bốn chức năng đó đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý

và tạo thành một chu trình quản lý Khi thực hiện hoạt động quản lý thì yếu tố thông tin có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện vừa là phương tiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý

Quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ:

Chỉ đạo

Trang 23

pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp Ví dụ: Sử dụng biện pháp so sánh trong phương pháp vấn đáp và phương pháp thuyết trình

* Biện pháp quản lý là cách quản lý, cách giải quyết các vấn đề có liên quan đến quản lý

Do đó biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh là cách làm, cách giải quyết những vấn đề liên quan đến những việc: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra công việc tự học của học sinh nhằm đạt được mục tiêu của học sinh THCS là tự học và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

1.4.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.4.2.1 Quản lý giáo dục

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:

- QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản

lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả cao nhất [30, tr 12]

- QLGD là quá trình tác động có ý thức được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách có hiệu quả [30, tr 12]

- QLGD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng có ba đối tượng quản

lý cơ bản: Đó là quản lý con người và các mối quan hệ lên nhân cách (mà ở nhà trường là đội ngũ giáo viên và học sinh) Quản lý toàn bộ quá trình giáo dục và dạy học diễn ra trong nhà trường cùng các mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh và cộng đồng xã hội nơi trường đóng; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện nguồn lực cho dạy và học [17, tr 1]

Theo PGS – TS Đặng Xuân Hải :

+ QLGD (QLNT) trong tiếp cận của quản lý hành chính nhà nước đối với giáo dục: đây là cách tiếp cận quan trọng xác định vai trò chủ đạo của quản lý nhà nước đối với giáo dục, để đảm bảo mục tiêu giáo dục của nhà nước được thực hiện và bảo đảm chế độ chính sách đối với các đối tượng tham gia giáo dục

Trang 24

Nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là tổ chức thực hiện những quy định của nhà nước về giáo dục, về nhà trường với tiêu chí về tính hiệu lực được đặt lên hàng đầu

+ QLGD (QLNT) theo tiếp cận trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường luôn tác động đến sự phát triển của giáo dục (nhà trường) và nói ngắn gọn là cộng đồng – xã hội: trong tiếp cận này xác lập vai trò quan trọng của cộng đồng xã hội trong việc xây dựng và phát triển giáo dục nói chung, phát triển nhà trường nói riêng Ở đây, tư tưởng xã hội hoá giáo dục và huy động cộng đồng hay dân chủ hoá nhà trường được coi là phương tiện cơ bản để giải các bài toán quản lý có liên quan Nội dung chủ yếu của tiếp cận này duy trì “cân bằng động” mối quan hệ giáo dục (nhà trường) với cộng đồng xã hội Tiêu chí được coi trọng ở đây là tính thích ứng, mềm dẻo

+ QLGD (QLNT) dưới góc độ kinh tế học giáo dục trong thực tế các bài toán đầu tư cho giáo dục; bài toán “lợi ích - chi phí” trong giáo dục hay đối với những đối tác tham gia quá trình giáo dục cần phải có kiến thức và tư duy kinh tế học giáo dục mới tìm ra được lời giải tối ưu Nội dung cơ bản của tiếp cận này là “hoạch toán” trong giáo dục thế nào để đảm bảo chức năng phát triển và tiêu chí ưu tiên trong tiếp cận này là tính hiệu quả của các hoạt động giáo dục

Để có thể quản lý giáo dục (QLNT) tốt, người cán bộ quản lý giáo dục cần có kiến thức và kỹ năng cả ba cách tiếp cận nêu trên và quản lý giáo dục trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội là một bộ phận kiến thức quan trọng trong kiến thức quản lý giáo dục

Nói tóm lại QLGD là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động giáo dục trong đó:

Chủ thể QLGD là hệ quản lý giáo dục các cấp từ trung ương đến địa phương

Khách thể QLGD(đối tượng quản lý giáo dục) gồm:

Trang 25

- Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục

+ QLGD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung

+ Trong QLGD các hoạt động quản lý chuyên môn, quản lý hành chính đan xen vào nhau không thể tách rời

+ QLGD đòi hỏi các yêu cầu cao về tính toàn diện, thống nhất, liên tục,

kế thừa và tính phát triển

+ QLGD phải thấm nhuần quan điểm quần chúng vì giáo dục là sự nghiệp của quần chúng

* Người ta chia QLGD ra hai loại là:

+ Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô trên phạm vi toàn quốc hoặc trên địa bàn tỉnh, thành phố

+ QL nhà trường: QLGD ở tầm vĩ mô trong phậm vi một đơn vị, một cơ

sở giáo dục

+ Mục tiêu của QLGD: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội"

1.4.2.2 Quản lý nhà trường

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

Trang 26

tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh" [31, tr 24-25]

QLNT là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với quy luật của chủ thể QLGD nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra trong từng thời kỳ của đất nước QLNT thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục của nhà trường

* QLNT bao gồm các hoạt động sau:

- Quản lý chương trình dạy- học và giáo dục của nhà trường

- Quản lý học sinh (các hoạt động của học sinh)

- Quản lý cán bộ, giáo viên, bồi dưỡng và phát triển nghề nghiệp của giáo viên

- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

- Quản lý quá trình dạy - học

- Quản lý tài chính của nhà trường

- Quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội

Trong các hoạt động quản lý trên thì quản lý quá trình dạy - học là một nội dung chính của quản lý nhà trường Quản lý quá trình dạy - học là quản lý việc chấp hành các quy định, quy chế về hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó được thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc, hiệu quả và chất lượng Trong quản lý quá trình dạy - học, giáo viên vừa là khách thể nhưng cũng vừa là chủ thể quản

lý vì giáo viên vừa phải giảng dạy - giáo dục học sinh đồng thời giáo viên cũng phải học tập, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt dẫn tới nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động giảng dạy - giáo dục của mình; học sinh cũng vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình đào tạo đó

* Quản lý quá trình dạy - học bao gồm:

Trang 27

- Quản lý các hoạt động dạy - học trên lớp

- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ trên lớp

1.4.3 Quản lý hoạt động tự học

1.4.3.1 Khái niệm

Quản lý hoạt động tự học của học sinh là hoạt động nhằm tạo điều kiện hình thành kỹ năng tự học và tạo ra nền nếp tự học, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng dạy học Nó là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy - học ở các trường học

1.4.3.2 Bản chất của quản lý hoạt động tự học

Quản lý hoạt động tự học là hoạt động tổ chức và quản lý việc lập kế hoạch tự học, việc tự học, nền nếp tự học của học sinh để hình thành kỹ năng tự học, xây dựng nền nếp tự học của học sinh góp phần trực tiếp nâng cao kết quả, hiệu quả và chất lượng đào tạo trong nhà trường

1.4.3.3 Nội dung, biện pháp quản lý hoạt động tự học

* Nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh

Quản lý hoạt động tự học có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập, tự học của học sinh Quản lý tự học của học sinh có những nội dung chính sau:

- Xây dựng động cơ tự học cho học sinh:

Các hoạt động của con người, hoạt động nào cũng đều có mục đích và động cơ Trong tự học, động cơ là nhân tố thúc đẩy, duy trì và định hướng hoạt động tự học của học sinh Việc xây dựng động cơ tự học cho học sinh một cách tích cực là nội dung cơ bản, quan trọng trong công tác quản lý hoạt động

tự học của học sinh; đó chính là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động tự học của học sinh

- Quản lý kế hoạch tự học của học sinh:

Trang 28

Quản lý kế hoạch tự học của học sinh là việc lập các kế hoạch tự học và việc thực hiện các kế hoạch đó

Các kế hoạch tự học bao gồm các việc: Phân chia thời gian cho những nội dung tự học, những phương pháp tự học; các kế hoạch tự học này của học sinh còn giúp cho giáo viên và những người quản lý có căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tự học của học sinh Các kế hoạch này cũng giúp cho cán bộ quản lý và giáo viên kiểm soát được quá trình tự học của học sinh một cách thuận lợi và có kết quả tốt, đưa việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh vào nền nếp

- Quản lý nội dung tự học của học sinh:

Quản lý nội dung tự học nhằm hướng nội dung tự học của học sinh cho phù hợp vơi mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, của môn học Giáo viên cần phải hướng dẫn nội dung tự học của học sinh theo các yêu cầu sau:

+ Phải hệ thống được toàn bộ kiến thức cũ có liên quan đến nội dung kiến thức đang được học

+ Mức độ, trình độ, những kỹ năng giải các bài tập một cách thông thạo + Giáo viên cần định hướng, giới thiệu các tài liệu liên quan, các sách tham khảo nâng cao để giúp học sinh mở rộng và hiểu sâu kiến thức

- Quản lý phương pháp tự học của học sinh:

Quản lý phương pháp tự học của học sinh bắt đầu từ việc xác định rõ mục đích, động cơ học tập đến việc lựa chọn cách học, biện pháp học cho phù hợp với học sinh, phù hợp với từng môn học

- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho việc tự học của học sinh:

Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của học sinh Để tăng cường hiệu quả tự học thì phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất như phòng tự học, thư viện, tài liệu sách giáo khoa, sách bài tập, các loại sách tham khảo liên quan

- Kiểm tra đánh giá kết quả tự học của học sinh:

Trang 29

Kiểm tra đánh giá kết quả tự học của học sinh là công việc thường xuyên của giáo viên Muốn cho học sinh tự học đạt kết quả cao, giáo viên cần phải thường xuyên kiểm tra đánh giá Phải đưa nội dung tự học của học sinh vào các bài kiểm tra 15', 45' Điều này giúp giáo viên nhận xét được quá trình

tự học của học sinh Việc kiểm tra, đánh giá nhằm kết quả giúp học sinh hệ thống kiến thức, xác định rõ trình độ hiện tại của mình, tự nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập

* Biện pháp quản lý hoạt động tự học:

Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm:

- Xây dựng động cơ tự học cho học sinh

- Xây dựng và thực hiện nề nếp học tập, xây dựng kế hoạch học ở trường và tự học ở nhà

- Áp dụng các hình thức khuyến khích, động viên học sinh học tập

- Phối hợp với các lực lượng giáo dục như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội cha mẹ học sinh để quản lý hoạt động học tập của học sinh

- Kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong trường và giáo viên chủ nhiệm

để kiểm tra việc lập kế hoạch tự học, thực hiện kế hoạch kết hợp với hội cha

mẹ học sinh để kiểm tra góc học tập và thực hiện kế hoạch tự học

1.4.3.4 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động tự học

Vấn đề tự học đã được Đảng và nhà nước rất quan tâm, vấn đề này đựoc

đề cập đến trong nhiều nghị quyết trung ương Đảng từ khoá VII tới nay Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nền nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh …phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn nhân dân, nhất là trong thanh niên" [27, tr 30]

Trang 30

Trong văn kiện Đại hội Đảng lần IX cũng nêu rõ: "Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay"[7, tr 203- 204]

Tinh thần của nghị quyết cũng được thể chế hoá trong luật giáo dục: Tại điều 28, khoản 2 "Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông"đã nêu rõ:

"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" [9, tr.17]

Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ sở để các trường xây dựng nội quy, quy chế của trường mình

và làm cơ sở pháp lý cho công tác quản lý hoạt động tự học ở mỗi trường

Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Vài nét về huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

- Diện tích: 72,67 km2

- Đơn vị hành chính: 10 xã là : Mỹ Hà, Mỹ Hưng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thắng, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, 01 thị trấn là thị trấn Mỹ Lộc

- Dân số: 68.693 người, trong đó 50,31% trong độ tuổi lao động

- Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2004 - 2008: 7%/năm

- Thu nhập bình quân: 3,58 triệu đồng/người

- Lương thực bình quân đầu người: 700 kg/người

(Số liệu năm 2008,UBND huyện Mỹ Lộc)

Trang 31

Truyền thống và thực tại

Đến Mỹ Lộc là đến với một không gian văn hoá rất rộng, rất sâu, mang đậm dấu ấn thời Trần Từ 7 thế kỷ trước, vùng đất này đã từng là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, quốc phòng, giao thông của cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Không chỉ vậy, về với Mỹ Lộc hôm nay để được chứng kiến sự khởi sắc trong từng ngôi nhà, từng ngõ xóm, đường làng, Mảnh đất

và người dân Mỹ Lộc đang vươn lên khẳng định mình để có thể tự hào bằng chính hiện tại và tương lai chứ không chỉ là những ánh hào quang của "quá

khứ vàng son"

Mỹ Lộc "đất trũng, đồng chua", bao đời nay người ta vẫn nhắc tới vùng đất này như thế Hơn ai hết, những con người Mỹ Lộc cần cù, chịu thương chịu khó thấm thía được nỗi vất vả trên đồng đất quê hương Để làm giàu trên chính mảnh đất quê hương, đãi vàng trên "đất trũng, đồng chua", bên cạnh việc tiếp tục khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn của nông nghiệp, huyện Mỹ Lộc còn huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, định hình thế đứng vững chắc trong tương lai

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Năm 1997, huyện Mỹ Lộc được tái lập trong hoàn cảnh hết sức khó khăn Kinh tế tăng trưởng ở mức trung bình, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm gần 90% GDP của toàn huyện Trong điều kiện đó, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Mỹ Lộc xác định: phải lấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn làm trọng tâm, từ đó đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dần dần thu hẹp tỷ trọng giữa nông nghiệp với các ngành công nghiệp, thương mại - du lịch - dịch vụ

Tỷ trọng các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ cũng từng bước được nâng cao trong GDP toàn huyện Điều này khẳng định tính tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 55,3% (năm 2007) xuống còn 46,4% (năm 2008) Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 đạt 35 tỷ đồng, tăng 2,8 lần so với

Trang 32

năm 1997 Trong đó, sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm 90% Ngành xây dựng cũng đạt mức tăng trưởng 27,7%/năm Các ngành dịch vụ trong thời gian qua có bước phát triển khá, chiếm 36,48% GDP của huyện (năm 2008)

Là cửa ngõ của tỉnh Nam Định, có quốc lộ 10, 21, đường sắt chạy qua,

Mỹ Lộc có lợi thế rất lớn trong giao thương, buôn bán với các địa phương trong cả nước, tạo đà cho ngành thương mại và dịch vụ phát triển Mảnh đất này cũng chứa đựng những tiềm năng to lớn để phát triển du lịch văn hoá Ngay từ bây giờ, những kế hoạch để địa danh Mỹ Lộc - nơi phát tích của triều Trần, không chỉ được biết đến trong phạm vi quốc gia - đã được đặt ra

Đầu tư kết cấu hạ tầng và giải quyết tốt các vấn đề xã hội

Bằng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, sau 8 năm vượt qua bao khó khăn, thách thức, Mỹ Lộc đã thay da, đổi thịt Bất cứ ngõ xóm, đường thôn nào cũng có đường rải nhựa, đường bê tông khang trang, sạch sẽ Đến năm 2008, 47% tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và giao thông nông thôn (tổng chiều dài 314 km) đã được nâng cấp và cải tạo Điều quan trọng là ngoài nguồn ngân sách do Nhà nước cấp, nhân dân huyện Mỹ Lộc đã tự nguyện tham gia đóng góp vào việc làm đường giao thông Bên cạnh đó, hệ thống điện, nước, thông tin - liên lạc của huyện cũng từng bước phát triển, đáp ứng nhu cầu của nhân dân

Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội, giải quyết việc làm đã có những chuyển biến tích cực Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường được đi học đạt 97% Chất lượng dạy và học được đặc biệt quan tâm, toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, cơ sở trường lớp cũng từng bước được kiên cố hoá, 100% số xã có trường cao tầng, đáp ứng nhu cầu dạy và học ngày càng cao Tất cả các xã trong huyện đều có trung tâm đào tạo cộng đồng Hoạt động y tế được đầu tư đúng mức cả về vật chất và nguồn nhân lực, phục vụ tốt nhất nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện Nhiều năm liền huyện không có dịch bệnh xảy ra, 100% xã có trạm xá, bác sỹ phục vụ, 90% số

xã được chuẩn hoá về y tế

Trang 33

Bên cạnh đó, chính quyền huyện Mỹ Lộc đã dành sự quan tâm đúng mức tới công tác xoá đói giảm nghèo, coi đây là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, đến năm 2008, toàn huyện chỉ còn 6,12% hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới), bằng mức bình quân của cả tỉnh Đến năm 2005, toàn huyện xoá nhà tranh vách đất Cùng với việc giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu, những vấn đề như giảm tỷ lệ tăng dân số, giải quyết việc làm đều được huyện

Mỹ Lộc thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động toàn dân xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, làng văn hoá đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo thành những phong trào sôi nổi, rộng khắp Đời sống tinh thần của nhân dân trên địa bàn từng bước được cải thiện và nâng cao

2.2 Mục tiêu đào tạo học sinh trung học cơ sở

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực

cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông , trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển nhưng nội dung đã học

ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, Toán, Lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết cần thiết, tối thiểu về

Trang 34

viên các trường THCS huyện Mỹ Lộc hầu hết ở nơi khác chuyển về sau đó một

thời gian ngắn họ lại chuyển công tác đi nơi khác

Bảng 2.1: Số liệu thống kê các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Số GV có trình độ

Số đảng viên

Số CBQL

Trang 35

Học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đa phần là xuất thân từ các vùng nông thôn, có nhiều hạn chế về tư tưởng, nhận thức, trình độ cũng như các phương tiện hỗ trợ cho học tập Các em học sinh chưa nhận thức đúng đắn về vấn đề tự học mà chỉ hiểu một cách mơ hồ chung chung

là tự làm đầy đủ các bài tập mà giáo viên dạy trên lớp giao về nhà cho các em

Đề cập đến cơ sở vật chất, điều kiện học tập cũng có nghĩa là hoàn cảnh kinh tế gia đình ở địa phương huyện Mỹ Lộc nói chung và gia đình các em học sinh ở các trường trung học cơ sở trong phạm vi nghiên cứu đời sống kinh tế vẫn còn rất khó khăn

2.3.1 Đặc điểm đối tượng đào tạo của các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời

Do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển

Thái độ của học sinh trung học cơ sở đối với các môn học trở nên có sự lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Cuối bậc trung học cơ sở các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này thường liên quan với một việc chọn một nghề nhất định sau này của học sinh

Nhưng thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là: một mặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng và yêu thích, mặt khác các

em lại sao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được điểm trung bình Giáo viên cần làm cho các em học sinh đó hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối với thực tiễn cuộc sống sau này

Tuy vậy hiện nay số học sinh trung học cơ sở đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi còn chưa nhiều Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính…

Trang 36

Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên

Hoạt động của học sinh trung học cơ sở ngày càng phong phú và phức tạp Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là: sự tự ý thức của học xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động - địa

vị mới mẻ trong tập thể những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình

Trong công tác giáo dục cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài trường Nhà trường không thể quán xuyến toàn bộ cuộc sống của thế hệ đang trưởng thành Ta cũng không thể loại trừ được các nhóm tự phát và các đặc tính của chúng Nhưng có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ chức hoạt động của các tập thể (nhóm chính thức) thật phong phú, sinh động…khiến cho các hoạt động đó phát huy được tính tích cực của thanh niên mới lớn Vì vậy, tổ chức Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên có vai trò đặc biệt quan trọng

2.3.2 Mục tiêu đào tạo của các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Giữ vững chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, triển khai mạnh mẽ giáo dục trung học cơ sở trong toàn huyện, xây dựng các trường THCS trong huyện đạt chuẩn quốc gia Phát triển các thiết chế văn hoá nhằm không ngừng nâng

cao chất lượng cuộc sống và nguồn nhân lực

2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý của các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Trang 37

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của các trường THCS huyện Mỹ Lộc,

và trao đổi chúng tôi đã xây dựng một số phiếu điều tra theo mẫu (phụ lục 1) Kết hợp kết quả điều tra và quá trình nghiên cứu chúng tôi đánh giá thực trạng hoạt động tự học của học sinh

2.4.1 Về mặt nhận thức

Qua điều tra, chúng tôi thấy đa số học sinh của trường đều có động cơ học tập đúng đắn phù hợp với lứa tuổi của các em Học tập là nhiệm vụ của thanh thiếu nhi, học để trở thành con ngoan, trò giỏi, học để sau có cuộc sống tốt, trở thành người có ích cho xã hội Do xác định được động cơ học tập đúng

nên các em học sinh đều chăm chỉ học tập muốn vươn lên học giỏi học khá

Trang 38

Sau khi xử lí 135 phiếu hỏi ý kiến của giáo viên, chúng tôi thu được đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của việc rèn kĩ năng tự học đối với kết quả quá trình học tập của học sinh như sau:

Bảng 2.2: Ý kiến của giáo viên

TT ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng

tự học

Mức độ cần thiết của việc rèn

kĩ năng tự học Rất

cần thiết (%)

Cần thiết (%)

Không cần thiết (%)

Phân vân (%)

2 Giúp học sinh củng cố, nhớ vững chắc

4 Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức

vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới 90 6 4 0

5 Giúp học sinh đạt kết quả cao trong kỳ thi 83 14,7 2.3 0

6 Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá

9 Giúp học sinh rèn luyện ý thức kỷ luật 80 12 8 0

10 Giúp học sinh tiếp tục học lên và tiến bộ

Qua kết quả điều tra chúng ta thấy:

- Có trên 80% các ý kiến cho rằng việc rèn luyện các kĩ năng tự học là rất cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh với các nội dung cụ thể ở bảng trên, số ý kiến còn lại cho là cần thiết

- Tuy nhiên có 8% cho là không cần thiết giúp học rèn ý thức kỉ luật vì

họ quan niệm việc rèn luyện đã có các hình thức tường minh khác; có 7% ý kiến cho rằng là không cần thiết với việc giúp học sinh tự đánh giá bản thân;

có 2,3% ý kiến cho là không cần thiết giúp học sinh đạt kết quả cao; 4% ý kiến

Trang 39

cho là không cần thiết giúp học sinh vận dụng vào giải quyết nhiệm vụ mới Các ý kiến này đều cho là do các em nhỏ tuổi nên việc rèn kĩ năng tự học là chưa phù hợp

Sau khi tập hợp xử lý 400 phiếu hỏi ý kiến học sinh của các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mỹ Lộc chúng tôi thu được đánh giá của học sinh

về sự cần thiết của việc rèn kĩ năng tự học đối với kết quả quá trình học tập như sau:

Bảng 2.3: Ý kiến của học sinh

cần thiết (%)

Cần thiết (%)

Không cần thiết (%)

Phân vân (%)

2 Giúp học sinh củng cố, nhớ vững chắc

4 Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức

vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới 81 13 6 0

5 Giúp học sinh đạt kết quả cao trong kỳ thi 89 8 3 0

6 Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá

9 Giúp học sinh rèn luyện ý thức kỷ luật 60 30 6 4

10 Giúp học sinh tiếp tục học lên và tiến bộ

Trang 40

- Có 84% học sinh cho rằng rèn kĩ năng tự học là rất cần thiết để học sinh hiểu bài; có 70% học sinh được hỏi ý kiến cho rằng tự học có tác dụng tích cực chủ động trong học tập; có 89% học sinh được hỏi ý kiến cho rằng việc rèn kỹ năng tự học sẽ giúp cho học sinh đạt kết quả cao trong các kì thi… Tuyệt đại đa số học sinh đều nhận thức được vai trò (tác dụng) của việc rèn luyện kĩ năng tự học

Tuy nhiên có 16% ý kiến cho rằng không cần thiết giúp các em có thói quen làm việc khoa học; có 6% ý kiến cho là không cần thiết đối với việc giúp các em vận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ mới; có 8% ý kiến cho không cần thiết giúp các em mở rộng kiến thức Ngoài ra có tỉ lệ nhỏ các em chưa thấy vai trò khác của việc rèn kỹ năng tự học, một số các em còn phân vân Các em học sinh này khi được hỏi vì sao không thừa nhận tác dụng của việc rèn kĩ năng tự học các em đều trả lời là chưa hiểu rõ, ví dụ có em nói là chưa hiểu tác phong làm việc khoa học là thế nào

Còn một bộ phận nhỏ học sinh không xác định được động cơ nên thái độ học tập chưa đúng đắn Biểu hiện: lơ là trong học tập (đi muộn, bỏ tiết, không chú ý nghe giảng….) Thiếu tự giác trong học tập, thi cử Việc phát biểu xây dựng bài trong lớp ít, lười làm bài tập ở nhà, các giờ kiểm tra bài cũ số học sinh thuộc bài thường chiếm tỷ lệ cao hơn số học sinh không thuộc bài Trong kiểm tra, thi cửa vẫn có hiện tượng xem tài liệu, copy bài của bạn, trao đổi với nhau Có một số học sinh không thấy được vai trò của việc tự học nên dành thời gian học ở nhà quá ít Số học sinh này thiếu tin tưởng vào khả năng tự học của mình nên dành thời gian đi học thêm nhiều

2.4.2 Về điều kiện tự học

Điều kiện để học sinh tự học là vấn đề phức tạp: điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình, tập quán, các phong trào của thôn xóm, sức khỏe, thói quen, hứng thú của học sinh, sự kiểm tra đôn đốc của cha mẹ, giáo viên… Tuy nhiên

Ngày đăng: 03/12/2020, 20:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm