Vì vậy, nếu có một quy trình quản lý, lãnh đạo tốt các hoạt động giáo dục đạo đức để các nhà quản lý của trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm tốt các nhân tố của quá trì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DOÃN ĐÌNH THUẤN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MINH
ĐÀI, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DOÃN ĐÌNH THUẤN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MINH
ĐÀI, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tác giả gửi lời cảm ơn tới:
- Lãnh đạo trường Đại học Giáo dục, khoa Quản lý Giáo dục, quí thầy, cô
đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn
khoa học: TS.Nguyễn Thị Ngọc Bích, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Nhân dịp này tác giả xin được chân thành cảm ơn đến các đồng chí: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, cùng tất cả các thầy, cô giáo các trường THPT Minh Đài đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp số liệu, tư liệu và nhiệt tình đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu
- Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót; tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quí thầy cô, các cán bộ quản lý và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2016
Tác giả
DOÃN ĐÌNH THUẤN
Trang 4Giáo dục Giáo dục và đào tạo Giáo dục đạo đức Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm Học sinh
Khoa học - công nghệ Kinh tế - xã hội
Thể dục thể thao Trung học phổ thông Thanh niên
Thanh niên cộng sản Hồ chí Minh Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảnG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT 6
1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 9 1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Giáo dục đạo đức 10
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 13
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 13
1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 14
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 14
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường THPT 15
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 15
1.3.4 Các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 16
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT 18
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 18
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT 22
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 22
1.5.2 Bối cảnh xã hội và phong tục tập quán địa phương 24
1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức 26
1.5.4.Trình độ, năng lực quản lý của cán bộ quản lý và của giáo viên bậc THPT 28
Kết luận chương I 30
Trang 6CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MINH ĐÀI, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 31
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục 31
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn 31
2.1.4 Tình hình giáo dục và đào tạo huyện Tân Sơn 33
2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Minh Đài 39
2.2.1 Thực trạng giáo dục đạo đức của học sinh THPT Minh Đài 39
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Minh Đài 50
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông tại trường THPT Minh Đài 56
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục đạo đức 56
2.3.2 Thực trạng về sự tác động của các lực lượng giáo dục đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 57
2.3.3 Thực trạng phối hợp của nhà trường với các lực lượng giáo dục 59
2.3.4 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài 61
2.3.5 Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Minh Đài 62
2.3.6 Những lý do làm hạn chế tính hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Minh Đài 64
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 66
2.4.1 Ưu điểm 66
2.4.2 Hạn chế 67
2.4.3 Những nguyên nhân của hạn chế trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 67
Trang 7CHƯƠNG III : MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MINH ĐÀI, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 71
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng yêu cầu theo chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng và Nhà nước 71
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Minh Đài 73
3.2.1 Biện pháp 1: Quản lý các hoạt động nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh 73
3.2.2 Biện pháp 2: Quản lý việc kế hoạch hoá hoạt động giáo dục đạo đức học sinh 77
3.2.3 Biện pháp 3: Thành lập Ban chỉ đạo quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với đối tượng giáo dục và các lực lượng tham gia giáo dục 79
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý việc đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức học sinh 87
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cộng đồng, địa phương cho học sinh 93
3.2.6 Biện pháp 6: Quản lý nâng cao chất lượng văn hóa trong nhà trường 94
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.4 Khảo nghiệm về nhận thức tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 110
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô trường lớp, học sinh - cán bộ giáo viên THPT huyện
Tân Sơn 34
Bảng 2.2: Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Minh Đài, năm học 2015 - 2016 36
Bảng 2.3: Kết quả giáo dục toàn diện học sinh THPT Minh Đài 39
Bảng 2.4: Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của giáo dục đạo đức 40
Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho học sinh bậc THPT 40
Bảng 2.6: Ý kiến của học sinh THPT Minh Đài đối với các quan niệm về
đạo đức 42
Bảng 2.7: Số học sinh vi phạm đạo đức từ năm 2012 - 2015 45
Bảng 2.8: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức của học sinh THPT 47
Bảng 2.9: Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 50
Bảng 2.10 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài 50
Bảng 2.11: Ý kiến đánh giá về kết quả thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 51
Bảng 2.12: Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh 53
Bảng 2.13: Đánh giá việc sử dụng các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong thời gian qua 54
Bảng 2.14: Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 56
Bảng 2.15: Đánh giá tầm quan trọng của các lực lượng giáo dục đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh 57
Bảng 2.16: Sự phối hợp của nhà trường với các lực lượng ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh 59
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về nhận thức tính cấp thiết, tính khả thi của các biện
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các nhóm xã hội thì học sinh, sinh viên là lực lượng xã hội quan trọng có tính chất quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc Sinh viên học sinh là những thanh niên và là những tri thức trẻ tương lai của đất nước Họ là những người có ý chí, có khát vọng và hoài bão lớn lao, năng động và sáng tạo cao trong học tập và cuộc sống
Trong những năm gần đây do tác động của cơ chế thị trường, tác động của công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, và nhiều nguyên nhân khác nên hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên nước ta có xu hướng ngày càng tăng Đảng ta đã khẳng định trong nghị quyết TW II khóa VIII là: “ Đặc biệt đáng lo ngại là một
bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”[16] Đại Hội Đảng toàn quốc lần X cũng lại khẳng định:
“Hiện nay tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và phạm tội đáng lo ngại nhất là trong lớp trẻ”[17] Chính vì vậy một trong những định hướng đối với giáo dục đào tạo trong nghị quyết Đại hội Đảng
XI là tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức cho học sinh, sinh viên, làm chuyển biến mạnh mẽ việc xây dựng văn hoá đạo đức và lối sống
Trong thực tế, tình hình giáo dục của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong nhiều năm qua đã có sự phát triển: Số lượng học sinh được huy động đến trường ngày càng đông, mạng lưới trường lớp không ngừng phát triển đến cả các vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện tốt nhất cho các em đến trường Cùng với phong trào xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực, trường lớp ngày càng được xây dựng kiên cố khang trang, tạo điều kiện tốt nhất cho các em đến lớp Theo báo cáo tổng kết năm học 2014 - 2015 của trường THPT Minh Đài và phòng GD&ĐT Tân Sơn, chất lượng giáo dục có thay đổi khả quan hơn nhưng thực trạng tình hình học sinh, thanh niên huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ hiện nay cũng nổi lên nhiều vấn đề mà xã hội quan tâm bức xúc Bạo lực học đường và hiện tượng thanh niên, học sinh hư hỏng, trẻ em phạm tội hình sự gia tăng, thanh niên
Trang 10học sinh mắc các tệ nạn xã hội như ma tuý, HIV/AIDS tụ tập gây rối trật tự công cộng ngày càng gia tăng Gần đây xã hội, báo chí cũng đã đưa ra nhận định: Giới trẻ manh động, thiếu kiềm chế, nông nổi và cái tôi cá nhân quá lớn, có những cái đầu nóng, đôi khi những va chạm nhẹ cũng thành án
Bản thân tôi là một Phó Hiệu trưởng được phân công phụ trách công tác Đoàn Thanh niên, nên việc tiếp cận với Đoàn trường, với thanh niên học sinh khá nhiều, thấy rõ các hiện tượng tiêu cực trong thanh niên học sinh đang diễn
ra, nắm bắt được các nguyên nhân của các hiện tượng ấy Vì vậy, nghiên cứu tìm giải pháp khắc phục các hiện tượng trên là trách nhiệm của bản thân tôi nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách, giúp các em trở thành công dân hữu ích, thành viên tốt trong gia đình và trong xã hội
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Trung học phổ thông Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa lý luận, khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trường Trung học phổ thông Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
4 Giả thuyết khoa học
Học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước có vị trí và vai trò rất quan trọng trong xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, sự tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường
Trang 11phận không nhỏ học sinh Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đang là vấn đề cấp thiết, được toàn xã hội quan tâm Để xác định được nguyên nhân và cách khắc phục những biểu hiện tiêu cực đang ngày càng gia tăng, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã tiến hành các cuộc điều tra xã hội học, tâm lý học và đã và xác định được một số nguyên nhân căn bản sau:
- Nội dung chương trình không phù hợp, thiên nhiều về lý thuyết cao siêu, thiếu thực tế và không gần gũi với học sinh
- Phương pháp dạy học cổ điển, thiếu tính tích cực và thúc đẩy động cơ học tập
- Năng lực của giáo viên, đặc biệt là năng lực tư vấn tâm lý còn hạn chế
- Môi trường hỗ trợ dạy học đạo đức thiếu tính hỗ trợ trong trường/lớp và ngày càng nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường bên ngoài (gia đình, cộng đồng và xã hội)
- Sự phối hợp của các bộ phận chưa tốt
Tất cả các nguyên nhân cơ bản trên rất cần được điều tra, xác minh hoặc
bổ sung thêm để có hỗ trợ cho các nhà quản lý, lãnh đạo Vì vậy, nếu có một quy trình quản lý, lãnh đạo tốt các hoạt động giáo dục đạo đức để các nhà quản
lý của trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm tốt các nhân tố của quá trình giáo dục đạo đức hoặc điều chỉnh các hạn chế (nếu có) trong thực tiễn quản lý của trường thì chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài sẽ được nâng lên
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu là: Công tác quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đang có những khó khăn, thách thức gì? Nếu có, cần biện pháp quản lý phù hợp nào để hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả?
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tâm lý học lứa tuổi, giáo dục học sinh cá biệt, lý luận về các vấn đề quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 12theo chuẩn mực đạo đức mà xã hội và nhà trường đã quy định
6.2 Khảo sát thực tiễn, phân tích đánh giá về thực trạng công tác giáo dục
và quản lý giáo dục đạo đức cho các em học sinh trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp cho thanh niên học sinh trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn khảo sát: Trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Đối tượng khảo sát:
+ Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên (Dự kiến khoảng 60 người) + Học sinh (Dự kiến khoảng 200)
+ Phụ huynh học sinh (Dự kiến khoảng 200)
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2012 - 2013 đến năm học 2014 -
2015 (03 năm học)
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức và đề ra biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
8.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức học sinh trường THPT Kết quả nghiên cứu giúp trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có các biện pháp phù hợp để thực hiện mục
tiêu nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục đạo đức của nhà trường
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu văn kiện
- Nghiên cứu tài liệu, sách báo tạp chí
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
Trang 13- Thống kê số liệu, phân tích thực trạng
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
(Dựa trên các số liệu thống kê được về chất lượng hạnh kiểm qua từng năm học gần đây; về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của cán bộ quản lý qua các nguồn số liệu, nhằm hỗ trợ đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh Trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ)
9.3 Phương pháp bổ trợ (xử lí số liệu)
- Phương pháp thống kê toán học
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường Trung học phổ thông Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 14CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong bất kỳ
xã hội nào từ trước đến nay Do đó, từ xa xưa con người đã rất quan tâm nghiên cứu đạo đức, xem nó như động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực hướng con người tới cái chân - thiện - mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu, … Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định Bất kỳ thời đại lịch sử nào, đạo đức con người cũng được đánh giá theo khuôn phép, chuẩn mực và quy tắc nhất định Đạo đức là sản phẩm của xã hội Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các mối quan hệ, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng ngày càng phát triển, nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn
Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, chúng ta cũng biết rằng đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách Vì vậy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của các cấp chính quyền, các nhà giáo dục và của toàn xã hội Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong nước từ nhiều góc
độ khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và giáo dục đạo đức cho cán bộ, học sinh Khi còn sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Từ quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Chủ Tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên và học sinh , giúp họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng’’ vừa “chuyên”, trong sách
Hồ Chí Minh [23]
Trang 15Kế thừa tư tưởng của Người, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Giáo dục đã có nhiều đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này, với các tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc…và nhiều tác giả khác Để tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu Tác giả Hà Thế Ngữ và Bùi Đức Thiệp [33] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo dục đạo đức trong các công trình nghiên cứu của mình Tác giả Hà Nhật Thăng [39] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của giáo dục đạo đức, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống hiện đại Đặc biệt những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quả nghiên cứu được thể hiện trong các sách, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ Cụ thể:
Tác giả Phan Huy Lê đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính
Trang 16trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước [31] Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác giáo dục đạo đức Tuy còn ít ỏi nhưng
có thể kể đến: Tác giả Trần Đăng Sinh quan tâm đến mối quan hệ giữa pháp luật
và đạo đức, giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, mục tiêu giáo dục, điều kiện thuận lợi khó khăn, yêu cầu xã hội đối với giáo dục đạo đức, ý nghĩa của việc kết hợp giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên trong việc làm tăng hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức đạo đức và ý thức pháp luật [37]
Tác giả Lê Văn Hồng trên cơ sở tiếp cận việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, từ góc độ nhà quản lý đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tuy nhiên tác giả chưa nêu được điểm nhấn, điểm thúc đẩy quá trình quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh [27]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức đã quan tâm đến thực trạng đạo đức học sinh THPT Từ đó tác giả đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh đồng thời đưa ra những yêu cầu của các nhà quản lý giáo dục phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tổ chức đa dạng hoạt động thu hút học sinh vào việc rèn luyện đạo đức [22]
Tác giả Nguyễn Văn Lê lại đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Từ đó đưa ra 6 giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT [32]
Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người, cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông thể hiện trong những luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả như:
Lê Ngọc Tiến với đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở
Trang 17Trần Thị Thu Huyền với đề tài: “Quản lý giáo dục đạo đức ở trường
THPT Tô Hiệu thành phố Hưng Yên hiện nay”
Huỳnh Thị Kim Anh với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục: “Công
tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp ”
Nguyễn Thị Thu Hương với đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Chương Mỹ, Hà Nội”
(Tác giả luận văn tham khảo nội dung các luận văn trên tại thư viện trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu giáo dục đạo đức
và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở các trường Trung học phổ thông, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Những đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn chưa có Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết Vì vậy cần nghiên cứu cơ
sở lý luận về hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trong những hoàn cảnh, môi trường cụ thể là rất quan trọng Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THPT Minh Đài từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài là rất cần thiết
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.1 Quản lý
Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình “lí” bao gồm sự điều chỉnh, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế
“phát triển”
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lí là tổ chức, điều khiển hoạt động của
một đơn vi, một tổ chức”[41]
Trang 18Theo tác giả Nguyễn Văn Lê quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Tác giả Nguyễn Văn Lê viết “Quản lý một
hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu
là vào những con người nhằm đạt hiệ u quả tối ưu theo mục tiêu đề ra [32]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [29]
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định “tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8]
Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động
và gây ảnh hưởng tích cực đến những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm: Quản lý là một quá trình
tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể và các đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức
để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.2.2 Giáo dục đạo đức
1.2.2.1 Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: Triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất
Trang 19Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên chúng ta có ba cách hiểu đạo đức như sau:
Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất
của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành
vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [2]
Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [13]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [26]
Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên ta có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:
Một là góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự mhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình
Hai là góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của
con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội và được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình
độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay
là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến
Trang 20bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Đạo đức ra đời, tồn tại và biến đổi
từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" theo tác giả Đặng Bá Lãm [30]
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ
thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với
yêu cầu của xã hội”, theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng - Võ Văn Nam [26]
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [22]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu, nhân cách con người mới được hình thành và phát triển
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam là chú trọng giáo dục
Trang 21luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật và đặc biệt cần có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động giáo dục đạo đức là các tác động để hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của
xã hội Nhờ đó, con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành phát triển nhân cách phù hợp với từng giai đoạn phát triển
“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho
họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được những thói quen hành vi đạo đức”
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có
kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của
xã hội với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục
Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức
Theo tác giả luận văn, có thể hiểu hoạt động giáo dục đạo đức một cách
cụ thể như tác giả Đặng Vũ Hoạt thì hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
“là hoạt động thực tiễn của học sinh cả về khoa học - kỹ thuật, lao động công
ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí … để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường )” [21]
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm hoạt động giáo dục đạo đức đã nêu trên đây, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ
Trang 22thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất
Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra với thế hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân trở thành hiện thực
Có thể tóm tắt như tác giả Hà Nhật Thăng [39], quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục
1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
- Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời
kỳ mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức
- Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các quy phạm đạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh vì độc lập tự do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thực xung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân
- Về hành vi: Hỗ trợ học sinh hình thành các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Có quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực
Trang 231.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường THPT
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 35, năm
1992) nêu rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phát triển giáo dục
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện [35]; điều này cũng thấy
vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức trong giáo dục
Giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giáo dục tình cảm, niềm tin đạo đức
Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ
đó có thái độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội
- Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Nội dung giáo dục đạo đức là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung giáo dục đạo đức bao gồm những vấn đề sau:
Giáo dục ý thức chính trị: Là ý thức về quyền lợi giai cấp, sự tồn vong và
giàu mạnh của đất nước về vai trò của đất nước trong quan hệ với các quốc gia trên thế giới Nó bao hàm ý thức về chủ quyền dân tốc, về tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ, về sự giàu mạnh của đất nước, về đường lối lãnh đạo và chiến lược
Trang 24phát triển đất nước của Đảng và Chính phủ, sự tuân thủ chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia, về thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trong cuộc sống, học tập, lao động, nghĩa vụ quân sự
Giáo dục ý thức pháp luật: Thể hiện ở việc tham gia xây dựng các bộ luật,
thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp, đấu tranh để pháp luật được thực hiện công minh, quyền được bảo hộ của luật pháp
Giáo dục ý thức đạo đức: Thể hiện ở sự nhận thức và thực hiện các quy
tắc, chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận về thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm, mục đích cuộc sống, nếp sống, lối sống, trong gia đình, trong tập thể, trong cộng đồng và xã hội
Phát triển ý thức đạo đức: Trang bị cho học sinh những hiểu biết, niềm tin
về các chuẩn mực, các quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức sống; giáo dục lối sống cá nhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể
và ngoài xã hội; giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo; giáo dục về nghĩa vụ lao động và bảo vệ tổ quốc
Bồi dưỡng tình cảm đạo đức: Hình thành và phát triển những xúc cảm,
tình cảm đạo đức trong sáng; xây dựng niềm tin đạo đức dựa trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa nhận thức và tình cảm đạo đức đã đạt được Từ đó hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Giáo dục hành vi đạo đức: Trang bị cho học sinh những nhu cầu nhận
thức đạo đức và văn hoá đạo đức để họ có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực của xã hội
Trong nhà trường THPT Việt Nam hiện nay: Nội dung giáo dục đạo đức trên còn được cụ thể hóa, đó là giáo dục học sinh thấm nhuần thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, tình yêu quê hương đất nước, con người, lòng nhân ái, tình yêu lao động
1.3.4 Các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Giáo dục đạo đức là con đường để hình thành nhân cách thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
1.3.4.1 Giáo dục đạo đức thông qua các môn học
Trang 25Nội dung giáo dục đạo đức thông qua môn Giáo dục công dân và được tích hợp từ các môn học trong chương trình học của học sinh đảm bảo các nội dung:
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòng yêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc; Giáo dục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; Giáo dục lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền bối có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam
và kính yêu Bác Hồ
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa
và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáo dục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biết kính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; Đối với em nhỏ phải có
sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
1.3.4.2 Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đoàn thanh niên và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động xã
Trang 26hội, bảo vệ môi trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc
Giáo dục đạo đức thông qua các giờ lao động công ích và vệ sinh trường lớp, vệ sinh các công trình công cộng… Thông qua con đường này, giáo dục cho học sinh có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các thành quả lao động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội Qua lao động, các em sẽ thu được những kinh nghiệm, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau Thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể Đặc biệt lao động gắn liền với học tập
là một trong những nguyên lý giáo dục của chúng ta hiện nay
1.3.4.3 Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình
Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh
Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đến việc rèn luyện đạo đức
1.3.4.4 Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy
Lứa tuổi này, các em đã biết nhìn nhận, đánh giá người thầy với thái độ
“Trọng thầy vì đạo đức của thầy Phục thầy vì kiến thức của thầy Quý mến thầy
vì lòng độ lượng của thầy” Các em hiểu được mặt yếu, mặt mạnh của giáo viên, biết nhận xét đánh giá từng thầy cô và có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, có phẩm chất cao quý, luôn tự hào về các giáo viên đó Các em sẵn sàng làm theo sự hướng dẫn của họ và họ - những người thầy giáo cao quý đó thực sự
là tấm gương cho học sinh học tập và làm theo Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Nhân cách của người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng của quản lý nói chung là: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Trang 27Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Như vậy khi lập kế hoạch người quản lý cần phải chú ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục đạo đức với mục tiêu giáo dục Cần phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả giáo dục cao
- Thành lập được ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Căn cứ vào những chú ý vừa nêu trên người lãnh đạo cần phải xây dựng được kế hoạch quản lý trong quá trình giáo dục đạo đức nó bao gồm các loại kế hoạch sau:
- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm
- Kế hoạch hoạt động theo chương trình
- Kế hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động xã hội
Nói tóm lại, các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát, tính
cụ thể và tính khả thi
1.4.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
1.4.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có, thực hiện việc
Trang 28hướng dẫn công việc, theo dõi, giám sát, động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động của từng cá nhân và mỗi bộ phận thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức đã
có Cụ thể, cần chỉ đạo:
Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các môn học trong nhà trường giúp cho học sinh hiểu biết về các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nắm được các mức hành vi trong ứng xử, trong các quan hệ, từ đó có hành động đúng
Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đó
là các hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội - chính trị, hoạt động thể dục thể thao nhằm giáo dục cho học sinh những tri thức khoa học thực tế, những chuẩn mực đạo đức, kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
1.4.1.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dựng Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm giúp ta thấy được những gì còn tồn tại, những cái mới trong cái quen thuộc, những vấn đề mà thực tế đặt ra cần được giải quyết Việc kiểm tra giúp người quản lý nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót; khen thưởng và kỷ luật một cách khách quan; thu thập những thông tin để điều chỉnh những tác động quản lý, kiểm nghiệm các quyết định Để kiểm tra đánh giá một cách khách quan, chính xác cần phải có chuẩn Vì vậy cần coi trọng việc xây dựng các chuẩn để kiểm tra đánh giá Từ đó xây dựng các công cụ đánh giá phù hợp, các thủ tục quy trình đánh giá hợp lý hiệu quả
1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và
có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác …) để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằng phương pháp quản lý mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đi vào cuộc sống, biến thành thực tiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích con người Người ta thường sử dụng một số phương pháp quản lý dưới đây:
Trang 29Là phương pháp tác động trực tiếp của hệ quản lý (chủ thể quản lý) đến hệ
bị quản lý (đối tượng quản lý) bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý Phương pháp tổ chức hành chính thường thể hiện qua các nghị quyết của hội đồng hội đồng giáo dục, hội đồng sư phạm… Các Nghị quyết, quy định mang tính chất bắt buộc yêu cầu các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT: Cán bộ quản lý, Đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, nhà trường, gia đình, cán bộ giáo viên và học sinh phải thực hiện Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý, nó được xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷ luật trong ngành giáo dục, nhà trường, buộc các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình
1.4.2.2 Các phương pháp tâm lý - xã hội
Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văn trong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi
mở, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu cầu cao … Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập thể và mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huy được nội lực của cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuật của người quản lý
1.4.2.3 Các phương pháp kinh tế
Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của các lực lượng thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh THPT với những kích thích có tính đòn bẩy
Trang 30Kích thích việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tính tích cực của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Tạo động cơ mạnh cho hoạt động, mang lại lợi ích thiết thực và phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi tập thể, cá nhân trong công việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng đã chứa đựng sự cổ vũ về tinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất, năng lực của mỗi người Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xây dựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý nói chung và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những tập thể, cán bộ giáo viên có thành tích trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đối với tập thể, những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong giáo dục đạo đức học sinh (nhất là giáo viên chủ nhiệm) Phương pháp kinh tế thường được kết hợp với phương pháp hành chính - tổ chức Hai phương pháp này luôn bổ sung
và thúc đẩy lẫn nhau Ngày nay, trong bối cảnh cơ chế thị trường, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thận trọng để một mặt khuyến khích tính tích cực lao động của cán bộ giáo viên, mặt khác vẫn đảm bảo uy tín sư phạm của giáo viên
và tập thể nhà trường
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành, thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể, trí lực và tình cảm Đây cũng là thời kì các em tự xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống động, học tập để chuẩn bị cho tương lai của mình Nói một cách khác đây là thời kì nhân cách của các em đang phát triển hướng tới ổn định Trước hết về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em học sinh THPT phát triển khá nhanh về thể chất trong cuộc đời của mỗi con người Do điều kiện đời sống ngày càng được nâng cao nên, học sinh THPT hiện nay phát triển nhanh các tố chất thể lực như cân nặng, chiều cao, cơ bắp, sức bền, sự dẻo dai hơn so với thế
hệ trước cùng tuổi Mặt khác ở thời kì này hệ thần kinh trong bản thân mỗi con người các em có thay đổi quan trọng (như não có cấu trúc phức tạp hơn cùng với
Trang 31phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và hoạt động
Vì thế lứa tuổi này là giai đoạn con người có những điều kiện tâm lí, thể chất thuận lợi cho các hoạt động học tập, văn nghệ, thể thao
Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT và
có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của các em, đó là có sự phát triển tự ý thức Biểu hiện đặc trưng là nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá bản thân theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm
lí, đạo đức Nhìn chung, học sinh có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình dựa trên mục đích cuộc sống và ước mơ của bản thân Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân Sự tự ý thức của học sinh THPT xuất phát
từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động, từ vị trí mới mẻ trong tập thể, từ những mối quan hệ mới với thế giới xung quanh Tất cả những điều đó làm các em ý thức được những đặc điểm nhân cách của bản thân mình Học sinh THPT không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em đã có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết đánh giá nhân cách bản thân trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, những mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng chung sống, cùng hoạt động và của chính bản thân Tuy nhiên sự đánh giá của học sinh ở lứa tuổi này chưa thật phù hợp Các em thường có xu hướng cường điệu khi tự cao (đánh giá bản thân cao hơn so với thực tế) Vì vậy trong nhà trường, các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá Bên cạnh
đó việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường THPT
Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứa tuổi học sinh THPT còn
có khả năng hiểu biết sâu rộng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật, nhờ xu thế hội nhập của đất nước, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng phong phú và sự phát triển tốt về thể chất mà học sinh có điều kiện hiểu sâu, rộng các vấn đề tự nhiên, xã hội và có khả năng
tư duy hơn thế hệ trước Các em thích khám phá thế giới xung quanh và học
Trang 32được nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp Xuất phát từ vị thế của người học sinh trong nhà trường, xuất phát từ vị thế nhất định trong gia đình, trong xã hội ngày càng được tăng cường mà tính tích cực xã hội của các em có những sắc thái mới so với lứa tuổi trước đó Tính tích cực này được thể hiện ở các góc độ khác nhau: Các em quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế chính trị xã hội trong nước và quốc tế Giữa các em thường có sự trao đổi với nhau, có
sự đánh giá nhận định và tỏ thái độ của bản thân mình trước các vấn đề đó Các
em còn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú, sở trường của bản thân (như hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, từ thiện, phòng chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS ) Phần đông các em thích tham gia vào những công việc lớn lao, muốn thử sức ở những công việc có nhiều khó khăn Điều này liên quan đến khả năng tự đánh giá của các em Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đến vấn đề này để giúp các em lựa chọn những công việc phù hợp với bản thân, vượt qua những khó khăn để đạt được những mục tiêu mà các em đặt ra Học sinh THPT năng động, sáng tạo, dễ thích ứng và có nhu cầu
tự khẳng định mình Tính năng động, sáng tạo của các em được thể hiện trong suy nghĩ, qua hành động, đòi hỏi sự tôn trọng nhân cách và tạo điều kiện cho các
em được tự khẳng định mình Chính vì thế các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết khuyến khích những việc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các em, tránh lí thuyết suông, áp đặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành động của mình Để công tác giáo dục đạo đức tại các trường THPT đạt được hiệu quả cao, các nhà quản lý giáo dục cần nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi trên, phân tích được nguyên nhân và tìm ra các giải pháp phù hợp
1.5.2 Bối cảnh xã hội và phong tục tập quán địa phương
Thế giới hiện đại với những thành tựu to lớn của nền văn minh tin học đã
và đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn mang tính toàn cầu với các nguy cơ chiến tranh, khủng bố, bạo lực, phân hóa giầu nghèo Giáo dục (giáo dục) với chức năng xã hội to lớn của mình đã đưa đến cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ ở tất cả các quốc gia, các dân tộc những giá trị chung của nhân loại: Hòa
Trang 33phần thức tỉnh những bản chất tốt đẹp của con người, đẩy lùi sự đố kị, thúc đẩy
sự hướng thiện và hòa đồng, tinh thần hợp tác, khoan dung, thân thiện, nhân ái Trong xã hội hiện tại cũng như trong tương lai, con người cần có khả năng sống với nhau, học với nhau, làm việc với nhau và sử dụng những nguồn lực môi trường một cách khôn ngoan Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vài hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục đạo đức, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian qua, như: Bạo lực học đường, đua xe máy, nghiện hút,… một phần là do các em thiếu ý thức đạo đức Nếu tổ chức quản lý giáo dục đạo đức một cách khoa học, hợp lí chính là giúp các em có hành trang tự khẳng định, vững vàng tự tin trước sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái nên cần làm và cái cần tránh; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn
bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa lành mạnh
Kinh tế, văn hóa địa phương trong đó có gia đình học sinh cũng góp phần xây dựng môi trường sư phạm, tạo một lực lượng giáo dục hùng hậu quyết định một phần không nhỏ vào công tác giáo dục giáo dục đạo đức cho học sinh Nói tổng quát hơn, nếu quan hệ sản xuất lành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, các nghề phát triển tạo môi trường định hướng nghề nghiệp tốt, giúp học sinh tránh xa được các tệ nạn xã hội Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế quyết định mức sống, thu nhập của mỗi gia đình Mức sống nâng cao, các gia đình mới
có điều kiện nuôi con em ăn học, dành nhiều thời gian, nhiều điều kiện chăm lo tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xu thế hội nhập đã đem lại sự phát triển nhanh về mọi mặt song mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ cho việc giáo dục đạo đức đến học sinh Các phong trào văn hoá xã hội ở địa phương sẽ lôi cuốn gia đình, nhà trường và đặc biệt là các em tham gia các phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá”, “Giữ gìn trật tự trị an”, “Bảo vệ môi trường”, “Phòng
Trang 34chống tệ nạn”, kỷ niệm các ngày lễ lớn là điều kiện để giáo dục đạo đức cho học sinh tốt nhất Ngoài ra các truyền thống văn hoá địa phương là một môi trường
để các em được giáo dục về “cội nguồn”, lòng tự hào dân tộc, về tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc Nếp sống văn minh, các phong tục dòng họ, lễ hội, các phong trào đền ơn đáp nghĩa được địa phương tổ chức tốt sẽ
là một điều kiện để các em tham gia rèn luyện Qua đó tính nhân văn sẽ ngấm vào bản chất đạo đức của các em Tổ chức tốt phong trào văn hoá tinh thần như thư viện, các loại hình câu lạc bộ, phong trào thể dục thể thao Đó chính là môi trường để các em trưởng thành về nhân cách
Tóm lại, một xã hội có văn hoá là một xã hội mà con người ta luôn sống
vì cái đẹp, cái thiện thắng cái ác Mọi hoạt động của văn hoá kể trên sẽ giáo dục nhận thức để hình thành ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành và phát triển những xúc cảm, tình cảm đạo đức trong sáng, cao quý thuộc về nhân tính của con người; từ đó có giáo dục được niềm tin đạo đức, tập luyện hành vi đạo đức, trau dồi thói quen trong ứng xử của học sinh
1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức
1.5.3.1 Hoạt động học tập
Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng vào tuổi thiếu niên, việc học tập của các em có những thay đổi cơ bản Việc học tập mang ý nghĩa trực tiếp học sinh đã hiểu được rằng điều kiện cần thiết để tạo nên cuộc sống tương lai là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, là kỹ năng độc lập trau dồi những vốn hiểu biết, kỹ năng tự học mà các em thu được trong quá trình học tập Việc học tập ở trường THPT là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ Ở trường THPT, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở của các khoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao
Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập” đã được mở rộng; ở nhiều em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của
Trang 35thiếu niên bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống
1.5.3.2 Hoạt động lao động của học sinh
Hoạt động lao động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh Đến tuổi này, các em đã có những vai trò nhất định, được gia đình thừa nhận như là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ, anh chị giao cho những trọng trách khá nặng nề như: chăm sóc các em nhỏ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, chăn nuôi gia súc,… Thậm chí khá nhiều em trở thành lao động chính, góp phần tăng thu nhập của gia đình, các em đã ý thức được các nhiệm vụ đó và thực hiện tích cực
Như vậy, hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở nhà trường, lao động sản xuất, giúp đỡ gia đình Lao động của các em không những chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất như: tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kỷ luật, tính kiên trì Khi tham gia lao động sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động
và người lao động, làm nảy nở những tình cảm mới: Niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làm được, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì; tình nguyện lao động giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn Qua các hoạt động đó các em sẽ thu được những kinh nghiệm đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau
1.5.3.3 Hoạt động chính trị - xã hội của học sinh
Đây là một loại hoạt động vô cùng quan trọng vì nó giúp các em nắm bắt được những kỹ năng hoạt động xã hội Từ đó, các em nâng cao nhận thức của mình, trách nhiệm của mình đối với xã hội Tham gia các hoạt động chính trị-xã hội sẽ là hành trang để các em chuẩn bị bước vào cuộc sống Ở lứa tuổi này, các
em đã có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn làm được những công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người lớn Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn và muốn được thừa nhận mình là người lớn
Hoạt động chính trị xã hội học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú từ các phong trào thi đua của lớp, của Đội thiếu niên, Đoàn
Trang 36thanh niên cũng như các tổ chức chính trị xã hội Từ đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức lý luận đã được tiếp thu đem kiểm nghiệm vào thực tiễn Đây là một sản phẩm biểu hiện sự trưởng thành về mặt xã hội của các em và cũng là động
cơ để các em tự khẳng định và hoàn thiện nhân cách; đồng thời giúp các em có trách nhiệm đối với các nhiệm vụ xã hội giao cho, có trách nhiệm với tập thể và
có nhu cầu thường xuyên được tiếp xúc với các công việc tập thể Mặt khác, các hoạt động xã hội đó chính là các hoạt động tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, các vấn đề mà toàn xã hội cần quan tâm như tuyên truyền
cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, phòng chống các tệ nạn xã hội, về phát triển dân số, về bảo vệ môi trường
1.5.3.4 Các hoạt động tập thể khác
Đó là các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, từ thiện, phong trào mang tính hoạt động xã hội ở địa phương nhằm nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm tạo nên nếp sống vui tươi đoàn kết thân ái Đồng thời uốn nắn các lệch lạc của mỗi cá nhân giúp mọi người hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ bản thân Các hoạt động ngoài giờ lên lớp là nhu cầu không thể thiếu là phương thức giáo dục đạo đức tốt nhất cho học sinh, đưa các em vào hoạt động thực tiễn để tập dượt rèn luyện hành vi thói quen giúp các em hình thành nhân cách
Như vậy, việc tổ chức để phối hợp các hoạt động giáo dục cho các em là
một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách Đó chính là một nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
1.5.4.Trình độ, năng lực quản lý của cán bộ quản lý và của giáo viên bậc THPT
Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các trường THPT đều có trình độ tốt nghiệp đại học Một số giáo viên trong các trường THPT có trình độ thạc sĩ Phần lớn giáo viên tốt nghiệp ở các trường đại học sư phạm Trong quá trình học tập ở trường sư phạm, tất cả các giáo viên đều được học kiến thức tâm lí, nghiệp vụ sư phạm, được thực tập sư phạm, được tiếp xúc làm quen với các hoạt động giáo dục ở các nhà trường THPT Thời kì khó khăn nhất (khó khăn về kinh tế là chủ yếu) của giáo viên đã qua đi
Trang 37Cùng với sự phát triển của đất nước, được Đảng và nhà nước quan tâm, ngày nay đội ngũ giáo viên trong các nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT
đã có điều kiện được phát huy năng lực của mình trong giảng dạy và giáo dục thế hệ trẻ Phần lớn đội ngũ giáo viên THPT đều yêu nghề, yên tâm với công việc, gắn bó với nhà trường Tuy nhiên trong đội ngũ các nhà giáo vẫn còn không ít các thầy cô mới chỉ chú ý “dạy chữ” mà chưa thực sự chú ý “dạy người” Điều này được thể hiện trong cách giao tiếp, trong việc tham gia các hoạt động chung của nhà trường, nhất là hoạt động giáo dục đạo đức nếp sống cho học sinh, còn luộm thuộm, làm cho xong việc Cá biệt, do cá tính hoặc trong hoàn cảnh nào đó có giáo viên đã có lời nói hoặc hành vi phản cảm không có ý nghĩa giáo dục Cũng chính vì thế mà trong các nhà trường phổ thông hiện nay
đã xảy ra các hiện tượng học trò vô lễ với thầy cô, thậm chí còn đánh trả thù thầy cô giáo Điều này đã làm cho các nhà quản lý giáo dục, nhất là những thầy
cô tâm huyết không khỏi trăn trở day dứt
Vì thế các nhà quản lý giáo dục nói chung, ban giám hiệu các nhà trường phổ thông nói riêng cũng rất cần có và được phát triển năng lực quản lý, cần phải có kế hoạch chương trình yêu cầu trong công tác giáo dục tư tưởng, trình
độ nhận thức của giáo viên về nghề nghiệp, nhất là giáo dục rèn luyện các kỹ năng sống cho học sinh Dạy chữ, dạy người là hai yêu cầu phải song song trong
tư tưởng giáo dục của mỗi người thầy Chỉ khi nào trình độ nhận thức của đội ngũ thầy, cô giáo trong nhà trường khá đồng đều, thấy được vai trò trách nhiệm cũng như lương tâm của mình trước học sinh, trước yêu cầu ngày càng cao của
xã hội thì khi đó công tác giáo dục đạo đức mới đạt được hiệu quả mong muốn
Vì vậy, để hoạt động giáo dục đạo đức có hiệu quả thì năng lực quản lý và trình
độ, nghiệp vụ của giáo viên cũng đóng vai trò trọng yếu
Trang 38Kết luận chương I
Từ những cơ sở lý luận trên, tác giả khẳng định rằng đạo đức và giáo dục đạo đức là vấn đề lớn của mọi dân tộc, mọi thời đại Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nói chung trong nhà trường Mục tiêu giáo dục đạo đức trong nhà trường là hình thành nên những phẩm chất đạo đức cho học sinh trên cơ sở nhận thức tình cảm thái độ hành vi đúng đắn
Trong nội dung chương I, tác giả đã làm rõ thêm những khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý, quản lý giáo dục đạo đức và quản giáo dục đạo đức học sinh ở THPT Phần lý luận cũng làm rõ những yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh học sinh ở trường THPT Chăm lo giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng được yêu cầu mới của đất nước ta hiện nay là nhiệm vụ gia đình, nhà trường và của toàn xã hội Trong nhà trường, công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường, có ý nghĩa hết sức quan trọng - là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc phối hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của các lực lượng giáo dục Chất lượng giáo dục đạo đức phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan và chủ quan của công tác giáo dục, trong đó quản lý là nhân tố then chốt vì nó xâu kết tất cả các thành tố theo một mục tiêu nhất định Quản lý giáo dục đạo đức diễn ra và thông qua các quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; trong đó chủ thể quản lý phải thực hiện các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra; phải sử dụng nhiều phương pháp quản lý nhằm thực hiện tốt các nội dung quản lý, đạt được các mục tiêu quản lý mà mục tiêu cuối cùng là hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức theo chuẩn mực xã hội
Từ những định hướng về lý luận trên, muốn nâng cao được chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT; người quản lý phải có được các biện pháp quản lý cần thiết và khả thi Các biện pháp đó không những phải dựa trên các cơ sở lý luận trên, mà còn phải dựa trên thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại nhà trường Những kết quả nghiên cứu về các thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức tại trường THPT Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ sẽ được tác giả trình bày tại chương 2 dưới đây
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MINH
ĐÀI, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn
2.1.1 1 Điều kiện tự nhiên
Tân Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, được thành lập theo Nghị định 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập 2 huyện: huyện Thanh Sơn và huyện Tân Sơn
Huyện Tân Sơn nằm về phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì (trung tâm của tỉnh) 75km
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 68.858 ha
+ Diện tích đất nông nghiệp: 5.297 ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 52.577,5 ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng: 8.779 ha
Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La
2.1.1.2 Về hành chính
Về mặt hành chính, huyện Tân Sơn chưa có Thị trấn; có 17 xã: Tân Phú, Minh Đài, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền, Thạch Kiệt, Lai Đồng, Kiệt Sơn, Tân Sơn, Đồng Sơn, Thu Cúc, Thu Ngạc,
Mỹ Thuận, Văn Luông Trong đó có 13 xã có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn, 1 xã An toàn khu, 3 xã vừa thoát nghèo năm 2013
2.1.1.3 Về Kinh tế
- Tốc độ tăng bình quân giá trị tăng thêm: 5,55%;
- Giá trị tăng thêm bình quân đầu người: 11,5 triệu người;
- Tổng sản lượng hạt lương thực: 27.760 tấn;
- Sản lượng chè búp tươi đạt: 29.300 tấn;
Trang 40- Trồng mới rừng tập trung đạt: 9.700ha;
- Giá trị sản phẩm thu hoạch bình quân trên 1 ha đất canh tác 72,9 triệu đồng;
- Cơ cấu giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế: nông, lâm nghiệp và thủy sản: 54,22%; công nghiệp xây dựng: 8,07%; dịch vụ: 37,71%
2.1.1.4 Về văn hóa - xã hội
+ Về công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em
Tính đến năm 2015, 12/17 trạm y tế xã đạt bộ tiêu chí Quốc gia giai đoạn
2011 - 2020, bình quân có 4 bác sỹ và 23 giường bệnh trên 1 vạn dân, tỷ lệ trạm
xá có bác sỹ đạt 100%; các cơ sở y tế tư nhân, các cơ sở dược được tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh không để lây lan ra cộng đồng Chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng lên Tỷ lệ dân số được cấp thẻ BHYT đạt 95%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,31%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 17,5%; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng đạt 99,5%
+ Về văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao
Công tác thông tin, tuyên truyền đã được phục vụ kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ chính trị của huyện Phong trào văn hóa - thể thao quần chúng phát triển mạnh Hầu hết các khu dân cư đều có đội văn nghệ, đội bóng chuyền nam,
nữ Các lễ hội truyền thống được quản lý và tổ chức với nội dung phong phú , phát huy truyền thống bản sắc dân tộc; qua đó đã tạo được nhiều chuyển biến tích cực trong thực hiện nếp sống văn minh, văn hóa, đoàn kết, tương thân tương
ái trong nhân dân Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn văn hóa 64%; gia đình văn hóa 68%; 100% xã có nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% khu dân cư có nhà văn hóa Tỷ lệ phát sóng phát thanh, truyền hình đạt 100% Hệ thống đài truyền thanh hoạt động thường xuyên, bám sát nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của huyện; các phương tiện kỹ thuật phục vụ tốt các kỳ họp, các hội nghị chuyên đề học tập trực tuyến, tuyên truyền chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và xây dựng nông thôn mới
+ Về đào tạo nghề, giải quyết việc làm và thực hiện các chế độ, chính sách
Nguồn lao động của huyện Tân Sơn đến năm 2015 là 49.650 người, trong