Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay 35 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ VĂN NGÔN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 21.5.1 Các đặc trưng hoạt động dạy-học NPT và quản lý hoạt động
dạy-học NPT
32
1.5.3 Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong
giai đoạn hiện nay
35
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
37
Trang 3xã hội của Hải Phòng
2.2 Tiến trình phát triển của Trung tâm giáo dục KTTH – Hướng
2.3.2 Thực trạng về nhận thức của các chủ thể và đối tượng trong
hoạt động dạy-học nghề phổ thông
48
2.3.3 Thực trạng về năng lực chuyên môn và việc áp dụng các
phương pháp dạy-học của đội ngũ giáo viên dạy nghề phổ thông tại
Trung tâm
51
2.3.4 Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong
hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại Trung tâm
52
2.3.5 Thực trạng về các điều kiện và khai thác cơ sở vật chất phục vụ
dạy-học nghề phổ thông của Trung tâm
53
2.4 Thực trạng công tác quản lý dạy-học nghề phổ thông tại Trung
tâm giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
56
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ
THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
79
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại
trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
79
3.2.1 Chỉ đạo có hệ thống việc tìm hiểu đối tượng, thăm dò nhu cầu
học nghề phổ thông của học sinh, bố trí một cách hợp lý, khoa học
các lớp nghề phổ thông
79
Trang 4phù hợp với tình hình thực tế của Trung tâm
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy-học nghề phổ thông của giáo
viên, kích thích giáo viên có động lực cải tiến phương pháp rèn luyện
tay nghề cho học sinh
98
3.2.4 Quan tâm chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả dạy-học nghề phổ thông
106
3.2.5 Hoàn thiện cơ sở vật chất theo hướng hiện đại hóa, phát huy
hiệu quả sử dụng phương tiện, thiết bị dạy -học
116
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm của các biện pháp quản lý hoạt động dạy
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
“Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo
Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước” [2, tr 9]
Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong Điều 2 - Luật Giáo dục 2005:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23, tr 3]
Tính chất, nguyên lý giáo dục - “Triết lý của giáo dục Việt Nam” được khẳng định trong Điều 3 - Luật Giáo dục 2005:
“1 Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng
2 Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [23, tr.3]
Trang 6Quan điểm giáo dục của Đảng từ Nghị quyết đã được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục Việt Nam qua mục tiêu và triết lý giáo dục Để thực hiện được mục tiêu theo triết lý đó, trong những năm đầu và những năm tiếp theo của thế kỷ XXI, chúng ta cần phát triển giáo dục và đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực
có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa vì
đây là động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững “Kinh nghiệm của một số nước phát triển và đang phát triển cho thấy, phát triển giáo dục là bí quyết thành công, là con đường ngắn nhất đi tắt, đón đầu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa Mục đích của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, là những người có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ, có
đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế” “Ngày nay, đứng trước những đòi hỏi bức bách của sự phát triển khoa học công nghiệp,
sự thay đổi nhanh chóng của xã hội đã đòi hỏi giáo dục cần có sự điều chỉnh
và thay đổi sâu sắc, toàn diện” [3, tr.10]
“Trong bối cảnh của quốc tế và trong nước hiện nay, với những đổi thay to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, hơn bao giờ hết chất lượng giáo dục và đào tạo trở thành vấn đề sống còn quyết định sự thành bại của cả một quốc gia trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới” [10, tr.11] Chỉ có một
nền giáo dục toàn diện, hiện đại mới có thể đào tạo được những con người phát triển toàn diện, “vừa hồng vừa chuyên”, đáp ứng các yêu cầu về nguồn lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện theo đúng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đã đề ra
Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập
và cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là: năng lực nhận thức; năng lực hành động; tính sáng tạo, năng động; tính tự lực và trách nhiệm; năng lực cộng tác làm việc; năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp và khả năng học tập suốt đời
Từ những yêu cầu mang tầm vĩ mô ở trên đối với giáo dục đào tạo nói chung, mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục cụ thể nói riêng cũng không thể đứng ngoài những đòi hỏi đó Mỗi một cơ sở giáo dục phải đặt ra cho mình những yêu
Trang 7cầu hết sức cụ thể, những mục tiêu rõ ràng cần đạt đến, những biện pháp phù hợp, linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động của đơn vị mình, đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu cấp bách của phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phải tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động trong công tác chuyên môn đặc biệt là hoạt động quản lý chuyên môn Trong quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy - học trong các cơ sở giáo dục giữ vai trò then chốt, quyết định chất lượng giáo dục đào tạo Để nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, giáo dục đào tạo nói chung, việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học một cách hợp lý, khoa học đã trở thành một yêu cầu bắt buộc với những người làm công tác quản lý trong các cơ sở giáo dục
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (KTTH - HN) là một cơ
sở giáo dục phổ thông (Điều 30 - Luật Giáo dục), nhiệm vụ chính trị (chức năng cơ bản nhất) của nó là: Dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học, định hướng nghề nghiệp, góp phần phân luông đào tạo sau trung học cho học sinh phổ thông
Việc dạy nghề phổ thông và định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng được thực hiện từ nhiều năm nay, đã có những đóng góp nhất định cho ngành giáo dục - đào tạo của Thành phố Hải Phòng trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém Nguyên nhân không nhỏ trong đó là do hoạt động quản lý của các nhà quản lý Trung tâm chưa thực sự hiệu quả nhất là quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông
Do vậy, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng đã trở thành một nhu cầu cấp bách
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Biện
pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục
Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý chuyên môn tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động dạy
- học nghề phổ thông thì chất lượng hoạt động này tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng sẽ được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN thành phố Hải Phòng trong giai đoạn vừa qua
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng giai đoạn 2008 - 2013
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu để xây dựng khung lý thuyết và các khái niệm công cụ làm luận cứ lý luận cho vấn đề nghiên cứu
Trang 97.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản
lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giáo dục KTTH - HN
về thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá các giải pháp được đề xuất
- Phương pháp quan sát: nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng trong giai đoạn vừa qua
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình tiến hành luận văn chúng tôi thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đề xuất
Các phương pháp này được sử dụng trong quá trình xử lý các thông tin,
xử lý các kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm
- Phương pháp khảo nghiệm: khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi của các giải pháp được đưa ra trong luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ( tr 6 – tr 36).
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chúng ta biết rằng, trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn học tập chính quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh Giáo dục THPT không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh - những con người trưởng thành - bước vào cuộc sống lao động xã hội Xuất phát từ thực tế đó, thanh thiếu niên học sinh phổ thông dù học lên đại học hay sớm đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp, họ đều phải được trang bị những tri thức khoa học, kỹ năng lao động kỹ thuật, kỹ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, phát minh nhằm thiết thực góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Trên thực tế, khi khoa học - kỹ thuật phát triển, quy trình công nghệ thay đổi, người lao động thường không có khả năng để thích hợp kịp thời Trong khi đó, đa số học sinh phổ thông rời ghế nhà trường với vốn “văn hóa chay” không có cơ sở để hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội
Ở nước ngoài, các nhà khoa học sư phạm của Cộng hòa dân chủ Đức
trước đây đã đề cập đến các vấn đề cơ sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh Họ đã đưa ra các phương thức: Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông
Các tác giả Liên xô cũ đã trình bày những phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường
Nhiều nhà giáo dục học thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật
và kinh tế trong hoạt động dạy học của Cộng hòa Liên bang Đức đã làm sáng
tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp Họ khẳng định rằng, hoạt động dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với những môn học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông
Tác giả Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản của những
Trang 11ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông Theo tác giả, học sinh trung học phải được: Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân
Jacques Delors, Chủ tịch Ủy ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ
21 của UNESCO khi phân tích “Những cột trụ của giáo dục” đã viết : “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục”
[41, tr.6] Theo tác giả vấn đề học nghề của học sinh phổ thông là một căn
bản không thể thiếu được trong giáo dục: “Học làm việc là cột trụ thứ hai”
[41, tr.8] Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Như vậy, về thực chất các công trình nghiên cứu đều đề cập tới hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Tuy nhiên các công trình này chưa đề cập đến các biện pháp quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông, đặc biệt là
ở các trung tâm KTTH-HN
Ở nước ta, trước hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài:
“Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”, Người đã sớm chỉ ra:
… “ Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm” [26, tr.55]
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập
đến một yếu tố mới của giáo dục, đó là “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” [26, tr80],
“Những ngành sản xuất chủ yếu” [25, tr.212] trong xã hội Đó cũng chính là
những nội dung của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ
Trang 12Trong những năm sau này, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy học nghề phổ thông cho học sinh ở các khía cạnh khác nhau
Tác giả Phạm Tất Dong đã xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm” [11, tr.19], đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh… Đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản” [11, tr.40]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Duy Minh, Tô Bá Trọng, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Lê Đức Phúc, Hà Thế Truyền, Phạm Văn Sơn, đã cho chúng ta những khái niệm, số liệu, những kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho học sinh phổ thông Những công trình của các tác giả đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề dạy nghề như: tổ chức lao động sản xuất cho học sinh phổ thông, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, các phương thức giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông
Trong những năm gần đây, một số đề tài nghiên cứu trong các luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục của các tác giả Trần Văn Bẩy, Nguyễn Gia Thịnh, Nguyễn Quang Dũng, Đào Công Minh, cũng đề cập đến các vấn đề liên quan tới hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông, nhưng chưa có tác giả nào đề cập đến các biện pháp quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp, đặc biệt là tại Trung tâm giáo dục KTTH-HN Hải Phòng, một trung tâm có bề dày truyền thống, có số lượng học sinh của nhiều trường trong thành phố đến học nghề phổ thông rất đông,
đã có những đóng góp đáng kể trong công tác hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh của thành phố Hải Phòng Vì vậy, chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé bằng nghiên cứu của mình vào giải quyết một số bất cập
Trang 13trong quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung tâm nhằm làm cho hoạt động này ngày một hoàn thiện hơn, đưa chất lượng giáo dục, dạy học của trung tâm lên cao hơn, xứng với tầm vóc của một trung tâm đầu đàn của ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng Đó cũng là lý do để chúng
tôi chọn đề tài cho luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”
1.2 Các khái niệm và quan điểm cơ bản của đề tài
1.2.1 Dạy - học
“Dạy-học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy-học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận
“Phân tích khái niệm dạy-học, ngay cả khi xét về mặt hình thức, ta dễ
dàng nhận thấy Dạy-học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể, đó là giáo
viên và học sinh Dạy và học được thực hiện đồng thời cùng với một nội dung
hoạt động dạy và học như là mối quan hệ bản chất Mối quan hệ biện chứng này vừa là quy luật cơ bản vừa là nguyên tắc quan trọng, chính nó tạo nên
chất lượng thực sự của quá trình dạy-học
Dựa trên khái niệm này có thể hình thành quan điểm sau:
Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên, người tổ chức mọi hoạt động học tập của học sinh, người quyết định chất lượng giáo dục
Đối tượng hoạt động dạy của giáo viên là hệ thống kiến thức và sự phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh Trước khi lên lớp, giáo viên nghiên
Trang 14cứu các tài liệu giáo khoa, nắm vững và gia công tài liệu đó theo chiến thuật
sư phạm, bằng phương pháp giảng dạy để chuyển tải nội dung, tác động đến quy luật tâm lý nhận thức của học sinh, làm cho học sinh phát triển theo mục đích giáo dục
Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh nắm vững kiến thức
và hình thành kỹ năng hoạt động, từ đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách, nghĩa là làm cho học sinh trở thành người lao động thông minh, người công dân có ý thức
Nội dung của hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn luyện tập hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn và giáo dục thái độ học tập cho học sinh
Phương pháp của hoạt động dạy (phương pháp giảng dạy) bao gồm phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ
và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh
1.2.1.2 Hoạt động học
Là quá trình tự điều khiển tối ưu chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo của người học dưới sự tổ chức của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học
Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hóa nhân loại để chuyển hóa thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động thông minh, năng động và sáng tạo
Khi chiếm lĩnh được khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng tạo, người học đồng thời đạt được 3 mục đích bộ phận:
- Trí dục: Nắm vững tri thức khoa học (hiểu, nhớ và vận dụng tốt tri thức)
- Phát triển: Tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ
- Giáo dục: Thái độ, đạo đức, thế giới quan khoa học, quan điểm, niềm tin Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức của nhân loại thành học vấn của bản thân
Mọi hoạt động đều phải có ý thức Việc học tập càng phải có ý thức Người học phải xác định được mục đích học tập, có động cơ và thái độ học
Trang 15tập đúng, có kế hoạch học tập chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: chuyên cần và tính sâu sắc trong các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thể hiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập
và thực tiễn cuộc sống, thể hiện trong sự tìm tòi khám phá vấn đề mới bằng phương pháp mới, cái mới tạo ra không phải là sao chép mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân
Chủ thể của hoạt động học là học sinh Chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân, rèn luyện nhân cách Tuy nhiên học sinh còn là đối tượng giảng dạy và giáo dục của thầy giáo, người học vừa phải chủ động và sáng tạo trong học tập, vừa phải tiếp thu sự chỉ dẫn, dạy bảo từ phía thầy giáo Người học quyết định chất lượng học tập của mình
Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng tương ứng Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương trình học tập để sử dụng chúng trong những tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống
Hoạt động học là quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Phương pháp học tập là phương pháp nhận thức kiến thức, trí tuệ và phương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng, thực hành
1.2.2 Quản lý
1.2.2.1 Khái niệm
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, khi
xã hội loài người phát triển qua các phương thức khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng được nâng cao Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành Người quản lý và đối tượng quản lý, sự cần thiết của quản lý được C Mác khẳng
định: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
Trang 16trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung,… Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr.34]
Như vậy, Các Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó
là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm một mục tiêu chung
Khái niệm quản lý được lý giải từ nhiều góc độ Theo tác giả Nguyễn
Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr.35]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Một cách định nghĩa khác: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr.1]
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu
là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22, tr.15] Còn tác giả Trần Quốc Thành lại định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [34, tr.1]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Song tựu chung lại các định nghĩa trên đều thể hiện:
Trang 17- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Quản lý vừa là môn khoa học, vừa là một nghệ thuật Vì vậy, trong hoạt động quản lý, người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích Bằng cách nào đó để người bị quản
lý luôn sẵn sàng tận tâm, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội
Như vậy, quản lý phải bảo gồm các yếu tố sau: phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện, kế hoạch hành động và một môi trường nhất định Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu Đối tượng chủ yếu của quản lý là những con người xã hội, vì con người sử dụng các tài nguyên, các trang thiết bị kỹ thuật (cũng là đối tượng quản lý) đồng thời là chủ thể của xã hội loài người Khách thể quản lý này bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra các sản phẩm vật chất và tinh thần
có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý
1.2.2.2 Chức năng quản lý
QL là một quá trình, một khoa học, một nghệ thuật và có những chức năng riêng của nó Chức năng QL biểu thị hình thức tác động có chủ đích của chủ thể QL lên đối tượng QL, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL Có nhiều cách khác nhau phân loại
Trang 18các chức năng QL Căn cứ vào các giai đoạn thực hành thì Quản lý có bốn chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra
Theo hình thức quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến chức năng tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Song trong thực tế, các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý
Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý được mô tả theo sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý
(nguồn [2, tr.21])
- Chức năng kế hoạch: là một chức năng, một khâu quan trọng trong
hoạt động quản lý Lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp
cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một
tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền
hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể thực hiện được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức hợp
Kiểm tra
Lãnh đạo
Kế hoạch
Trang 19lý mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của
mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng quan trọng trong hoạt
động quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ
có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo
- Thông tin: Thông tin không phải là một chức năng quản lý nhưng nó
đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động quản lý Thông tin là tin tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy quản lý nhằm giúp nhà quản
lý điều hành bộ máy Thiếu tin tức (thông tin) nhà quản lý không thể thực hiện được các hoạt động quản lý Thông tin là cơ sở để các nhà quản lý đề ra các quyết định quản lý Thông tin là mạch máu của hoạt động quản lý và nó quan hệ hai chiều với các chức năng quản lý
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy-học
Quản lý hoạt động dạy-học là quản lý một quá trình với tư cách là một
hệ toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung học, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và phương tiện dạy-học, các hình thức tổ chức dạy-học, kiểm tra đánh giá kết quả dạy-học Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan hệ qua lại và thống nhất với môi trường của nó: Môi trường xã hội - chính trị và môi trường khoa học - kinh tế - công nghệ Điều đó có ý nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của hoạt động dạy-học theo quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa hoạt động dạy-học từ trạng thái này sang trạng thái khác cao hơn, tiến dần tới mục tiêu giáo dục
Trang 20dạy-Hoạt động dạy-học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành của nó vận động và tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình, góp phần thực hiện mục đích giáo dục nói chung
Vì vậy, quản lý hoạt động dạy-học vừa phải làm sao cho mỗi nhân tố
có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hòa và thống nhất của toàn bộ quá trình, không được để nhân tố nào vận động yếu làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của quá trình Điều này đòi hỏi người quản lý phải có nghệ thuật, vận dụng linh hoạt các biện pháp quản lý mới đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý hoạt động dạy-học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy-học Cụ thể hóa mục tiêu dạy-học qua các nhiệm vụ dạy-học nhằm nâng cao tri thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng thái độ, hình thành và phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung học Nội dung học phải bảo đảm bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy-học
dạy Quản lý hoạt động dạy của giáo viên (chuẩn bị giáo án, đồ dùng dạy học, lên lớp, kiểm tra học sinh học tập…)
- Quản lý hoạt động học của học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả học tập)
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ dạy-học
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học…
1.3 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp
1.3.1 Đặc điểm của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng nghiệp
1.3.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của Trung tâm KTTH-HN
* Vị trí của Trung tâm KTTH - HN:
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp là một trong những cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân
* Nhiệm vụ của Trung tâm KTTH - HN:
(1) Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh học chương trình giáo dục phổ thông
Trang 21(2) Bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp
(3) Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT
(4) Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông, thử nghiệm ứng dụng
và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
(5) Mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên và đối tượng khác khi có nhu cầu
(6) Trung tâm KTTH - HN được phép liên kết với Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác để thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theo quy định
1.3.1.2 Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm KTTH-HN
Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý, chỉ đạo Trung tâm KTTH - HN
1.3.1.3 Điều kiện thành lập Trung tâm KTTH - HN
- Việc thành lập Trung tâm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, phù hợp với mạng lưới cơ sở giáo dục, có tính khả thi và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng
- Có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
- Có địa điểm để xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh là người ký quyết định thành lập trung tâm
1.3.1.4 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm KTTH-HN
- Trung tâm KTTH-HN có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc
- Cơ cấu tổ chức của Trung tâm KTTH-HN gồm các tổ: tổ hành tổng hợp, tổ văn phòng-giáo vụ,tổ chuyên môn, tổ hướng nghiệp-dạy nghề, tổ lao động sản xuất-dịch vụ và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm Giám đốc trung tâm quyết định thành lập các tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ
chính-Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Trang 22Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trung tâm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp Đại học và đã công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN được
bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5 năm Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN hoặc
uỷ quyền Giám đốc Sở Giáo dục&Đào tạo bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người giúp việc cho Giám đốc, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học, đã công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là
5 năm Giám đốc Sở Giáo dục&Đào tạo bổ nhiệm Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
1.3.1.5 Kế hoạch giáo dục của Trung tâm KTTH-HN
1 Trung tâm KTTH - HN thực hiện chương trình giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
2 Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học
1.3.1.6 Công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập
1 Trung tâm KTTH - HN tổ chức kiểm ra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục&Đào tạo
2 Kết quả học tập của học sinh THCS, THPT học tại Trung tâm KTTH
- HN được chuyển về trường phổ thông để làm cơ sở đánh giá học sinh
1.3.1.7 Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN (sau đây gọi là giáo viên) là người là nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại Trung tâm KTTH - HN, tham gia giảng dạy các chương trình quy định chức năng, nhiệm vụ của trung tâm
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN tham gia giảng dạy các chương trình kỹ thuật tổng hợp để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục
Trang 23quốc dân phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáo dục phổ thông
1.3.1.8 Học sinh Trung tâm KTTH - HN
Học sinh Trung tâm KTTH - HN là người học đang theo học một hoặc nhiều chương trình của Trung tâm KTTH - HN
1.3.1.9 Cơ sở vật chất, nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN
Trung tâm KTTH - HN phải có đủ các phòng học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng với yêu cầu giảng dạy, học tập
Trung tâm KTTH - HN phải có các thiết bị dạy học, sách, tạp chí theo yêu cầu của việc thực hiện các chương trình dạy học tại Trung tâm, được quản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định
Nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN bao gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp
- Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác
- Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác
Trên đây là một số nội dung cơ bản về tổ chức và hoạt động của Trung
tâm KTTH – HN được lược trích dựa theo Luật Giáo dục 2005 và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH - HN, qua đó xác định được vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, cấp quản lý, chương trình thực hiện, cơ sở vật chất, đội ngũ cũng như nguồn tài chính để Trung tâm KTTH - HN có thể tồn tại, hoạt động và phát triển phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phù hợp với mạng lưới cơ sở giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng
1.3.2 Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH - HN
Xuất phát từ nhu cầu tổ chức thực hiện giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp nhằm trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tạo điều kiện cho một bộ phận không nhỏ học sinh tốt nghiệp ra trường tham gia vào cuộc sống lao động những năm 80 của thế kỷ trước; trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta lúc bấy giờ chưa thể đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động lao động - hướng nghiệp đến từng trường phổ thông, theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Quỹ nhi
Trang 24đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Hà Nội, Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp ra đời Năm học 1980 - 1981, UNICEF giúp ta trang bị cho 20 Trung tâm KTTH - HN Từ đó đến nay, mô hình Trung tâm KTTH - HN đã phát triển không ngừng về số lượng cũng như nội dung hết sức đa dạng Qua bảng thống
kê dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ sự phát triển đó
Bảng 1.1: Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH-HN (thời kỳ
Tên gọi các Trung tâm cũng phản ánh nội dung hoạt động của nó và được thay đổi qua các thời kỳ Thời kỳ đầu, Bộ Giáo dục gọi là Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp (Quyết định số 1889 ngày 30/12/1981 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục) sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trung tâm Giáo dục KTTH - HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT) Tháng 8 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề (theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Trung tâm
Ngày 11/7/2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (theo Quyết định số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) tên của trung tâm có sự thay đổi (trở lại như năm 1982) và được giữ cho đến nay
Ngày 30/7/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm KTTH - HN (theo Quyết định số BGD&ĐT ngày 30/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Quy chế
Trang 2544/2008/QĐ-này thay thế Quy chế 25 ((theo Quyết định số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000…), có một số thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Trung tâm cho phù hợp với yêu cầu của tình hình hiện nay
20 Trung tâm KTTH do UNICEF giúp đỡ lúc đầu chỉ bó hẹp trong 6 nghề (cắt gọt kim loại, biến dạng kim loại, nguội, mộc tay, mộc máy, thêu đan) chủ yếu để thực hành kỹ thuật công nghiệp cho vài ba trăm học sinh cấp
3 (THPT) vùng thành phố Nhiều Trung tâm đã tự mình mở tới 15 - 20 nghề nằm trong 6 nhóm nghề chính: Nông lâm ngư nghiệp, Tiểu thủ công dịch vụ, Mộc, Xây dựng cơ bản, Cơ khí, Điện và Điện tử Có nơi mở tới 16 nghề như Trung tâm Huế, Trung tâm Hải Phòng có lúc mở tới 14 nghề Đối tượng học sinh vào Trung tâm học tập ngày càng được mở rộng, đúng hướng Trung bình mỗi năm trung tâm cấp tỉnh có từ 1500 - 2000 học sinh cuối cấp THCS
và THPT vào học nghề phổ thông, có năm có Trung tâm đã thu hút tới 5000 học sinh như Trung tâm Lê Thị Hồng Gấm ở thành phố Hồ Chí Minh, 4000 -
4500 học sinh như Trung tâm Hải Phòng
Tất cả những điều nêu trên chứng tỏ Trung tâm KTTH - HN có sự hấp dẫn nhất định và có sức sống mạnh mẽ vì nó có tác dụng to lớn trong việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng, nó có chức năng, nhiệm vụ
rõ ràng, có quy mô, tổ chức và bước đi thích hợp với hoàn cảnh nước ta
1.4 Đặc trƣng của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.4.1 Dạy-học nghề phổ thông
1.4.1.1 Khái niệm
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Minh Hạc khi đề
cập vấn đề dạy nghề và xu thế phát triển nhà trường phổ thông đã ghi: “Việc đào tạo người lao động mà trường phổ thông có nhiệm vụ thực hiện, được kết thúc bằng việc huấn luyện cho học sinh một nghề cụ thể” [18, tr.11]
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Dạy nghề cho học sinh phổ thông với
tư cách là dạy tri thức, kỹ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [28, tr.44]
Về vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và
Đoàn Chi đã thể hiện quan niệm của mình: “Là một hoạt động dạy và học, dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục” Đồng thời các tác giả khẳng định: “Những nghề dạy cho học sinh phổ thông gọi tắt là nghề phổ thông” [35, tr.19]
Trang 26Tóm lại, dạy-học nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục phổ thông, được thực hiện dưới hình thức như một môn học nằm trong kế hoạch dạy-học,
có chương trình dạy nghề và danh mục nghề (do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định) cho học sinh phổ thông bậc trung học Nghề phổ thông là những nghề
có tính phổ biến cao, điều kiện dạy nghề không quá khó khăn và thời gian đòi hỏi không nhiều Lý thuyết nghề và công cụ sản xuất còn ở mức độ đơn giản, mang tính phổ thông Nguyên vật liệu để dạy nghề, trang thiết bị không thật tốn kém, đào tạo thầy không đòi hỏi thời gian lâu dài Kỹ năng thực hành nghề yêu cầu ở mức độ phổ thông, chưa đòi hỏi tương đương với các bậc thợ của dạy nghề đào tạo thợ (thực tế với thời lượng 105 tiết chỉ tương đương với trình độ 1/7, chưa đạt trình độ sơ cấp nghề) Thông qua tổ chức hoạt động dạy-học nghề phổ thông nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức kỹ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kỹ thuật mà còn giáo dục học sinh có thái độ, có tác phong lao động nghề nghiệp, thích ứng những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội, đồng thời tạo điều kiện để dịch chuyển lao động nghề nghiệp phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
1.4.1.2 Một số tính chất của dạy-học nghề phổ thông
* Tính chất phổ thông của dạyhọc nghề phổ thông
Dạy-học nghề phổ thông chưa phải là dạy nghề hoàn chỉnh như trong các trường dạy nghề, ở đó đòi hỏi dạy lý thuyết và thực hành nghề một cách hoàn chỉnh của một nghề, tương ứng với các bậc thợ theo quy định Sau khóa đào tạo nghề ở trường nghề, người học được cấp văn bằng chứng chỉ có tính pháp lí để ra hành nghề trong xã hội Nghề phổ thông được đào tạo theo một chương trình nghề nhất định tại các trường phổ thông hoặc các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, hoàn thành chương trình nghề phổ thông người học cũng được cấp chứng chỉ Tuy nhiên, chứng chỉ này chỉ có tính pháp lý về học vấn phổ thông, không có tính pháp lý để hành nghề trong xã hội (không có cơ sở nào tuyển lao động với chứng chỉ nghề phổ thông) Giá trị lớn nhất của dạy nghề phổ thông là giúp học sinh có kiến thức và kỹ năng ban đầu về một nghề để các em có thể sẵn sàng tham giao lao động giản đơn hoặc học tiếp để nhận được văn bằng nghề một cách nhanh chóng và phù hợp Đồng thời giúp học sinh có cơ sở lựa chọn đúng đắn cho mình một nghề để học (hướng nghiệp) trong tương lai
Trang 27* Tính ứng dụng/hành dụng của dạy-học nghề phổ thông
Hầu hết các nghề phổ thông được dạy đều có cơ sở lý thuyết nghề đã được học từ các môn học phổ thông, chủ yếu là các môn Công nghệ, Tin học
và một số môn học khác như Sinh học, Hóa học, Vật lí, Toán học Như vậy,
có thể coi nghề phổ thông là “môn học” về vận dụng các kiến thức đã học ở các môn học phổ thông vào một lĩnh vực nghề cụ thể và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo nghề cần thiết
* Tính chất dạy nghề của dạy-học nghề phổ thông
Đặc điểm này quy định dạy-học nghề phổ thông phải khác với dạy-học các môn văn hoá phổ thông là nhấn mạnh dạy thực hành nghề, là giáo dục phẩm chất người thợ và làm công tác tư vấn nghề cho học sinh Nghề phổ thông có quan hệ gắn bó với các môn học phổ thông ở chỗ các môn học phổ thông cung cấp các cơ sở lý thuyết nghề cho dạy nghề phổ thông Do đó, khi dạy nghề phổ thông không cần phải dạy lại toàn bộ lý thuyết liên quan đến nghề đã học ở các môn học phổ thông mà cần ôn tập để vận dụng, dành nhiều thời gian cho thực hành nghề và tư vấn nghề Chính vì vậy, trong chương trình giáo dục phổ thông quy định dạy-học nghề phổ thông là “hoạt động” chứ không gọi là “môn học” [21]
Dạy-học nghề phổ thông là một chương trình dạy-học thuộc học vấn phổ thông, vừa mang tính ứng dụng/hành dụng của các kiến thức phổ thông lại có cả tính chất dạy nghề Do vậy, việc tổ chức hoạt động dạy-học nghề phổ thông cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các Trung tâm KTTH - HN cần phải dựa vào các đặc điểm tâm lý cơ bản - các đặc điểm của tư duy kỹ thuật, cấu trúc tâm lý của hoạt động lao động nghề nghiệp, những đặc tính tâm lý của các nghề
1.4.1.3 Các đặc điểm của tư duy kỹ thuật
Về nguồn gốc và cơ sở, tư duy kỹ thuật cũng là sự nhận thức gián tiếp
và khái quát hiện thực khách quan, giống như bất kỳ loại hoạt động tư duy nào, và nó cũng được thực hiện thông qua việc giải các bài toán (các vấn đề) Song khi giải các bài toán kỹ thuật, một số mặt của tư duy (như là khuynh hướng của nó, các đặc điểm cấu trúc, các phẩm chất trí tuệ) lại phát triển mạnh hơn trong khi đó một số mặt khác được biểu hiện ở mức độ thấp hơn
Có tình trạng đó là do tri thức kỹ thuật và công nghệ có đặc điểm riêng, khác
Trang 28với các bài toán nhận thức - học tập được sử dụng rộng rãi khi dạy các môn văn hóa phổ thông Khi giải bài toán kỹ thuật, trường hoạt động của con người được mở ra rất rộng, các phạm trù cảm giác vận động và trí tuệ của cá nhân được huy động triệt để
Điểm quan trọng nhất của tư duy kỹ thuật là sự thống nhất chặt chẽ giữa các thành phần lý thuyết và thành phần thực hành của hoạt động, trong
sự tác động qua lại và kết hợp không ngừng giữa các hành động trí óc (suy nghĩ) với hành động thực hành Các thành phần lý thuyết của hoạt động suy nghĩ khi giải các bài toán kỹ thuật có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Những hành động vận dụng các tri thức kỹ thuật đã có, những hành động nhằm hình thành khái niệm kỹ thuật mới kết hợp với những khái niệm đã lĩnh hội từ trước, trên cơ sở này tạo ra hệ thống tri thức, những hành động được dùng làm cơ sở cho việc kế hoạch hóa hoạt động, làm cơ sở cho việc thực nghiệm trí tuệ, hoàn thành các thao tác nhằm biến đổi những tình huống đã xuất hiện Tất cả các hành động lý thuyết này làm điểm tựa cho việc thực hành những hành động đối tượng (hành động tiếp xúc với sự vật)
Chức năng của các hành động thực hành không phải là như nhau Người ta phân các hành động này ra thành các dạng sau: hành động thực hiện, hành động thể tìm tòi, hành động kiểm tra, hành động kiểm tra - điều chỉnh Tính chất lý thuyết thực hành của tư duy kỹ thuật là một trong những đặc điểm cơ bản nhất của loại tư duy này
Một đặc điểm quan trọng khác của tư duy kỹ thuật được biểu hiện bằng tác động qua lại và mối liên hệ lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các thành phần hình ảnh và khái niệm của hoạt động Tư duy “làm việc” bằng khái niệm Ở đây thành phần hình ảnh (hình tượng) chính là biểu tượng không gian, sự tưởng tượng không gian có ý nghĩa nhất định trong việc lĩnh hội một số tri thức lý thuyết (theo nghĩa rộng đó là những khái niệm) Thành phần hình ảnh đóng vai trò là điểm tựa khi lĩnh hội các tri thức lý thuyết tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình nắm vững và cụ thể hóa khái niệm Nếu không có sự tác động qua lại của biểu tượng và khái niệm thì không thể nào giải được nhiều bài toán kỹ thuật Vì thế, người ta khẳng định rằng bản vẽ là ngôn ngữ của kỹ thuật
Trong hoạt động sản xuất của con người, trong quá trình học nghề, các thành phần của hoạt động suy nghĩ chỉ là những thành phần độc lập tương đối
Trang 29với nhau Về mặt cấu trúc tâm lý bên trong thì tư duy kỹ thuật gồm ba thành phần: khái niệm - hình ảnh - thực hành Những thành phần lý thuyết (khái niệm), hình ảnh (trực quan) và thực hành (hành động) của tư duy kỹ thuật không chỉ có mối liên hệ lẫn nhau mà còn có sự tác động qua lại Đồng thời mỗi một thành phần trong cấu trúc thống nhất này lại có vai trò như nhau, do
đó chúng không thể tồn tại tách rời nhau được Tư duy kỹ thuật là tư duy ba thành phần: lý luận - hình tượng - thực hành
Do đặc tính của các dạng hoạt động kỹ thuật cũng như các bài toán kỹ thuật quy định, tư duy kỹ thuật có đặc điểm sau: có sự thống nhất biện chứng giữa tính lý luận và tính thực hành, yếu tố khái niệm và hình tượng kỹ thuật luôn luôn có quan hệ biện chứng với nhau, có tính linh hoạt và cơ động trong khi tìm lời giải cho các bài toán kỹ thuật
Tư duy kỹ thuật là yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng, quy định hiệu quả việc nắm vững kỹ thuật một cách nhanh chóng và chính xác, việc vận hành kỹ thuật cũng như việc hoàn thiện các đối tượng kỹ thuật đã có và tạo ra đối tượng kỹ thuật mới
Tư duy kỹ thuật là yếu tố tâm lý giữ vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch lao động, điều khiển, điều chỉnh quá trình sản xuất, giải bài toán kỹ thuật - sản xuất nảy sinh trong thực tiễn sản xuất Thiếu sự chỉ đạo của tư duy
kỹ thuật hoặc tư duy kỹ thuật kém phát triển, người lao động không thể chuẩn đoán sự làm việc của máy móc, công cụ kỹ thuật, không giải quyết được trục trặc kỹ thuật và các bài toán kỹ thuật khác nảy sinh trong sản xuất Do đó năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc giảm Hiệu quả của hoạt động dạy-học nghề phổ thông phụ thuộc rất nhiều vào việc vận dụng muôn hình, muôn vẻ các tri thức và hoàn cảnh thực tế để hình thành và phát triển tư duy
kỹ thuật cho học sinh [36]
1.4.1.4 Cấu trúc tâm lý của hoạt động lao động nghề nghiệp
Hoạt động của con người được phân thành ba dạng cơ bản: hoạt động chơi, hoạt động học tập và hoạt động lao động Tại các Trung tâm KTTH -
HN cần rèn cho học sinh cả ba dạng trên và chú trọng hoạt động lao động nghề nghiệp
Điểm đặc thù của bất kỳ hoạt động nào của con người là tính ý thức Tính ý thức biểu hiện trước hết ở tính mục đích và tính có chủ định Nhu cầu
Trang 30nếu được con người ý thức sẽ trở thành động lực hành vi của con người Tất
cả những gì thúc đẩy con người hoạt động được gọi là động cơ hoạt động Động cơ ảnh hưởng quyết định tới tính chất của hoạt động Vì vậy, nghiên cứu động cơ hoạt động lao động của học sinh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Khi phân tích hoạt động lao động nghề nghiệp, người ta tách nó thành những quá trình lao động cơ bản cấu thành hoạt động ấy, rồi sau đó thành những hành động, những thao tác riêng Tùy theo mức độ nắm vững kỹ năng, những hành động có mục đích riêng sẽ trở thành các phương pháp hoặc các phương tiện quen thuộc để thực hiện các hành động phức tạp hơn nhằm đạt mục đích đề ra Như vậy là, hành động sẽ trở thành thao tác Trong tâm lý học, người ta hiểu hành động là đơn vị cơ bản của hoạt động có mục đích nhất định của nó Thao tác cấu tạo nên hành động và là phương tiện thực hiện hành động
Theo quan điểm dạy lao động nghề nghiệp, điều có ý nghĩa quyết định
là việc nắm vững các kỹ năng vận động và các kỹ năng cảm giác (thị giác, thính giác, xúc giác), thích ứng với sự biến đổi bằng cách lập kế hoạch và tổ chức lao động, kiểm tra sự diễn biến của quá trình lao động, khắc phục các tình trạng chậm trục trặc có thể xảy ra trong quá trình lao động [36]
1.4.2 Dạy-học nghề phổ thông theo từng giai đoạn phát triển
1.4.2.1 Các giai đoạn phát triển
Hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại các Trung tâm KTTH-HN được tiến hành theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mới đầu chương trình một nghề phổ thông được quy định là 280 tiết (thời kỳ những năm 80) Sau đó khi Bộ Giáo dục triển khai chương trình phân ban THPT lần thứ nhất, nghề phổ thông trở thành một môn học bắt buộc đối với học sinh phân ban B (Tự nhiên - Kỹ thuật) chương trình được rút xuống còn 165 tiết và tên gọi là môn học Kỹ thuật ứng dụng (thời kỳ những năm 90)
Sau khi bãi bỏ chương trình phân ban THPT lần thứ nhất, nghề phổ thông trở thành môn học tự nguyện với chương trình 180 tiết, được học 2 năm (lớp 10 và lớp 11), mỗi năm là 90 tiết Học hết chương trình 180 tiết, nếu đạt
từ trung bình trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi nghề phổ thông do Sở Giáo dục&Đào tạo tổ chức Tốt nghiệp nghề phổ thông, học sinh được cấp
Trang 31một chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp THPT (loại giỏi: 2 điểm, loại khá: 1,5 điểm, loại TB: 1 điểm)
Học sinh THCS (lớp 9 hoặc lớp 8) học chương trình quy định cho bậc THCS là 90 tiết cho một nghề Sau khi học xong chương trình 90 tiết đạt từ trung bình trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi nghề phổ thông tương tự như THPT Khi còn thi tốt nghiệp THCS thì cũng cộng điểm khuyến khích tương
tự như tốt nghiệp THPT Sau khi bãi bỏ kỳ thi tốt nghiệp THCS, học sinh có Giấy chứng nhận Nghề phổ thông được cộng khuyến khích vào điểm xét tốt nghiệp THCS như cũ (loại giỏi: 2 điểm, loại khá: 1,5 điểm, loại TB: 1 điểm)
và được cộng điểm khuyến khích khi xét tuyển vào lớp 10 THPT với mức loại giỏi: 1,5 điểm; loại khá: 1 điểm; loại TB: 0,5 điểm) áp dụng từ năm học 2006
- 2007 (theo Quy chế tuyển sinh THCS và tuyển sinh THPT, ban hành kèm theo Quyết định số 12/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/4/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
1.4.2.2 Dạy học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, nghề phổ thông trở thành một hoạt động giáo dục trong Chương trình giáo dục phổ thông
Theo chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT (được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục được gọi là:
Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông, chỉ học ở lớp 11 (từ năm học 2007 -
2008) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học)
Nội dung giáo dục nghề phổ thông gồm các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công, dịch vụ và tin học Những nghề phổ thông được lựa chọn là những nghề phổ biến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với học sinh THPT Như vậy sẽ có nhiều chương trình nghề phổ thông được áp dụng cho học sinh trên toàn quốc và phù hợp với đặc thù các vùng miền khác nhau
Chương trình mỗi nghề phổ thông bao gồm các nội dung về nguyên vật liệu, công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và phần tìm hiểu nghề Để đảm bảo mục tiêu hình thành kỹ năng, trong mỗi chương trình phần lý thuyết không được quá 1/3 thời gian
Các địa phương được phép lựa chọn những nghề phổ thông phù hợp với nhu cầu học tập của học sinh, điều kiện phát triển kinh tế, giáo viên, cơ sở
Trang 32vật chất để tổ chức thực hiện Nhưng số nội dung (chương trình) nghề phải phù hợp với sự đa dạng của thực tiễn phát triển kinh tế ở địa phương và nguyện vọng cũng như năng lực của học sinh để đảm bảo cho mỗi học sinh được phát triển và phục vụ cho việc định hướng nghề
Do sự đa dạng của các nghề, hiện nay Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức xây dựng được 11 chương trình nghề đại diện các lĩnh vực nghề phổ biến, Bộ Giáo dục&Đào tạo sẽ còn tổ chức xây dựng tiếp chương trình những nghề phổ biến khác và hướng dẫn địa phương áp dụng chương trình những nghề có đặc thù riêng của địa phương (với điều kiện có tài liệu biên soạn được Sở Giáo dục&Đào tạo duyệt và Bộ thẩm định cho phép thực hiện)
Đối với cấp THCS, nghề phổ thông là môn học tự chọn, học 2
tiết/tuần, cả năm học 70 tiết Để có đủ điều kiện thi nghề (hết chương trình 90 tiết) học sinh phải học thêm 20 tiết Học sinh được đăng ký lựa chọn các nghề theo danh mục đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
1.4.3 Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Ở đây chúng ta cũng coi hoạt động dạy-học nghề phổ thông là một hệ
thống và chúng ta sẽ nêu lên các đặc điểm của từng nhân tố của hệ thống và đặc điểm trong các mối quan hệ qua lại hay tương tác giữa các nhân tố đó Chính những điều này toát lên đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Sau đây chúng ta lần lượt khảo sát từng nhân tố của hệ thống
mức độ nhất định hoặc nếu có học tiếp một nghề thì thời gian học nghề sẽ rất nhanh Nói tóm lại, học sinh phải có được những kỹ năng lao động nghề nghiệp nhất định
1.4.3.2 Nội dung dạy-học nghề phổ thông:
Đó là nội dung của sự chuyển biến nhân cách của học sinh trong lao động nghề nghiệp trên các mặt chính trị - tư tưởng, văn hóa - kỹ thuật, lao
Trang 33động - nghề nghiệp, sức khỏe nói chung là những chuyển biến về phẩm chất và năng lực của học sinh Những nội dung này thể hiện trong các chương trình môn nghề do Bộ Giáo dục&Đào tạo ban hành
Xét riêng trong việc dạy-học nghề phổ thông thì các Trung tâm KTTH -
HN phải đảm bảo những mặt tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp và nó là
sự cụ thể hóa chương trình thành những chuẩn tri thức kỹ thuật và chuẩn kỹ
năng lao động nghề nghiệp và những “chuẩn mực” này phải được giáo viên
và học sinh quán triệt
1.4.3.3 Phương pháp dạy-học nghề phổ thông
Phương pháp dạy-học nghề phổ thông là cách thức và phương thức làm việc của giáo viên và học sinh nhờ đó mà học sinh có thể lĩnh hội được một cách chắc chắn tri thức, kỹ năng cần thiết để lao động theo nghề nghiệp của mình, là hình thành và phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo
Sử dụng các phương pháp dạy-học trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, đòi hỏi biến đổi các phương pháp ấy tùy theo nội
dung dạy học, đòi hỏi vận dụng các phương pháp để “tích cực hóa hoạt động” của học sinh
Để tiến hành hoạt động dạy-học nghề phổ thông cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các Trung tâm KTTH - HN, giáo viên cần sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Các phương pháp thuyết trình (giảng thuật, kể chuyện, giải thích), đàm thoại, trao đổi Các phương pháp này được sử dụng nhằm truyền đạt cho học sinh phổ thông những tri thức mới, kể chuyện về những ngành nghề nhất định hoặc quá trình lao động nghề nghiệp, giải thích các nguyên tắc hoạt động
và cấu tạo của các dụng cụ lao động nghề nghiệp, thực chất khoa học của những quy trình công nghệ trong những nghề nhất định
- Các phương pháp trình bày trực quan: là phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới Phương pháp này còn được sử dụng trong quá trình ôn tập, củng cố và thậm chí cả khi kiểm tra tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp Trong thực tiễn, các trung tâm KTTH - HN đã sử dụng các mẫu vật liệu, các vật tượng trưng, các vật tạo
Trang 34hình Các vật thật như vật liệu, dụng cụ lao động, bộ phận của các máy móc, các cơ cấu tổng thể của máy móc, thiết bị giúp cho học sinh gần gũi với thực tế lao động nghề nghiệp, dễ gây ấn tượng và hứng thú học nghề phổ thông cho học sinh Các vật tượng trưng như sơ đồ máy móc, sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất một sản phẩm cụ thể, sơ đồ dây chuyền sản xuất của một
cơ sở sản xuất giúp cho học sinh thấy được một cách trực quan các sự vật, hiện tượng dưới dạng khái quát và đơn giản Các vật tạo hình như tranh ảnh,
mô hình, hình vẽ, mô phỏng, thí nghiệm ảo - thay thế cho sự vật và hiện tượng không thể trực tiếp nhìn thấy (như quá trình nạp - nén - nổ - xả của động cơ đốt trong, quá trình truyền lệnh và xử lý thông tin trong máy tính )
- Các phương pháp luyện tập là phương pháp vận dụng của dạy-học nghề phổ thông Luyện tập có tính đa dạng, các phương pháp luyện tập nhằm thực hiện các thao tác lao động, các công đoạn và các công việc tổng hợp trong lao động nghề nghiệp Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định Nắm vững lý thuyết rồi mới luyện tập và luyện tập theo nhiều dạng khác nhau nhằm rèn luyện năng lực vận dụng tri thức vào điều kiện lao động nghề nghiệp cụ thể
1.4.3.4 Giáo viên dạy nghề phổ thông:
Đối với việc dạy-học nghề phổ thông thì đội ngũ giáo viên phải vừa giỏi lý thuyết, vừa giỏi tay nghề Trên thực tế thì ít nơi được như vậy vì trong đội ngũ giáo viên có cả những công nhân với tay nghề cao nhưng hạn chế về năng lực sư phạm, ngược lại có nhiều giáo viên được đào tạo bài bản về mặt
sư phạm nhưng lại yếu về tay nghề thực hành và có cả những giáo viên dạy theo “hợp đồng” Như vậy, đội ngũ giáo viên đa dạng hơn so với trường phổ thông và “môi trường tâm lý” không thuần nhất đối với người cán bộ quản lý
1.4.3.5 Học sinh học nghề phổ thông:
Học sinh ở các Trung tâm KTTH - HN thì chủ yếu là học sinh đến từ các trường phổ thông (THCS, THPT) Song ta không nên nhìn các em vẫn y nguyên như khi các em học ở trường phổ thông, vì các em đến Trung tâm là
để học nghề phổ thông nên tâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việc học nghề phổ thông có khác so với việc học văn hóa Người cán bộ quản lý muốn làm tốt công tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu học sinh một cách đầy đủ, cặn kẽ về nguyện vọng, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý
Trang 351.4.3.6 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học nghề phổ thông
Đó là những điều kiện vật chất - kỹ thuật không thể thiếu được đối với Trung tâm KTTH - HN dạy-học nghề phổ thông Các điều kiện vật chất, kỹ thuật này bao gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy-học cần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đến phương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng cháy chữa cháy, các dụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử lý những tai nạn không may xảy
ra trong quá trình thực hành, lao động sản xuất
Do đặc điểm khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp dạy-học nghề phổ thông với dạy-học các môn văn hóa phổ thông nên các điều kiện vật chất - kỹ thuật của các Trung tâm KTTH - HN đòi hỏi một sự đầu tư lớn hơn nhiều so với trường phổ thông, đặc biệt là về các thiết bị dạy-học
1.4.3.7 Tổ chức hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Cùng với phương pháp thì hình thức tổ chức sự kết hợp các hoạt động của giáo viên và học sinh cần phải linh hoạt, sinh động cho phù hợp với nội dung và điều kiện của Trung tâm KTTH - HN Thường có các hình thức sau đây: lên lớp, thực hành nghề và thực hành sản xuất Thực hành sản xuất khác thực hành nghề ở chỗ sản phẩm làm ra có thể trở thành hàng hóa, còn thực hành nghề nhằm mục đích chính là rèn luyện kỹ năng nghề Thực hành sản xuất chưa hẳn đã giúp hoạt động rèn luyện đầy đủ mọi kỹ năng song nó lại có nhiều ý nghĩa quan trọng: gây hứng thú cho việc dạy và học nhiều hơn, tiết kiệm hơn, tạo thu nhập cho Trung tâm KTTH - HN
Tất cả 6 nhóm nhân tố của hệ thống hoạt động dạy-học nghề phổ thông
sẽ quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau xoay quanh hoạt động trung tâm là dạy và học của giáo viên và học sinh
Hoạt động dạy-học trong các Trung tâm KTTH - HN là quá trình thống nhất về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy-học
Từ những điều phân tích trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận:
- Trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông nói chung đều áp dụng những phương pháp như trong dạy văn hóa phổ thông (trần thuật, đàm thoại, luyện tập ), nhưng chức năng và hình thức kết hợp giữa chúng thì phải phù hợp với đặc trưng cơ bản của dạy-học nghề phổ thông
Trang 36- Đặc điểm cấu trúc nội dung dạy-học nghề phổ thông có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến việc lựa chọn các phương pháp dạy-học và đến việc kết hợp giữa chúng so với việc ảnh hưởng của đặc điểm nội dung trong dạy các môn văn hóa khác cho học sinh phổ thông
Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong Trung tâm KTTH - HN là mối tương quan nằm trong thể thống nhất hữu cơ giữa dạy học lý thuyết và thực hành nghề phổ thông Song song với dạy lý thuyết, phần lớn (2/3) thời gian để học sinh thực hành nghề phổ thông Do vậy, đòi hỏi giáo viên phải truyền đạt cho học sinh những tri thức có tính chất ứng dụng, mặt khác khi dạy thực hành nghề phổ thông cũng có ảnh hưởng trở lại với việc tiếp thu những tri thức trong các giờ học lý thuyết Khi truyền đạt tri thức, giáo viên cần phải chú ý tới kinh nghiệm thực hành nghề phổ thông của học sinh, tới mối liên hệ giữa tri thức đã học với thực tiễn trong mỗi thời điểm học nghề phổ thông Ở đây cần chú ý đến mối liên hệ giữa mục đích - nội dung - phương pháp trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông, ta không chỉ xem xét việc dạy là việc truyền thụ kiến thức hiểu biết và năng lực mà còn phải xem xét hoạt động tích cực, tự giác của học sinh học nghề phổ thông trong quan hệ qua lại giữa sự chỉ đạo và sự tự lực, giáo viên phải thường xuyên suy nghĩ xem bằng biện pháp nào và bằng những phương tiện, phương pháp nào để kích thích học sinh học nghề phổ thông hoạt động tự lực, tổ chức quá trình lao động một cách độc lập, sáng tạo [36]
1.5 Quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.5.1 Các đặc trưng hoạt động dạy-học NPT và quản lý hoạt động dạy-học NPT
Tất cả các nhân tố cấu trúc của hệ thống hoạt động dạy-học NPT tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau Mặt khác, toàn bộ hệ thống hoạt động dạy-học NPT lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất với các môi trường của nó: môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học công nghệ
Ở đây có điều đáng chú ý là môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ một mặt đòi hỏi phải hoàn thiện hoạt động dạy-học NPT, đòi hỏi hoạt động dạy-học NPT phải phục vụ đắc lực cho chúng, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc hoàn thiện hoạt động dạy-học NPT Do đó, hoạt động dạy-học NPT phải và có thể phát huy tác dụng đối với môi trường của nó, kết
Trang 37hợp hữu cơ hoạt động dạy-học với hoạt động kinh tế - xã hội, phục vụ khoa học - công nghệ theo khả năng cao nhất của mình và điều cơ bản là nó góp phần đào tạo cho cuộc sống những con người lao động nghề nghiệp
Ở phần trên chúng ta đã phân tích đặc điểm của mỗi nhân tố trong hệ thống hoạt động dạy-học nghề phổ thông, bây giờ chúng ta xem xét các mối quan hệ và tương tác giữa các nhân tố đó và vai trò của quản lý Đối với việc quản lý hoạt động này một khi các nhân tố mục đích, nội dung và phần nào các hình thức tổ chức đã được xác định từ các cơ quan cấp trên và trong một điều kiện vật chất, kỹ thuật đã định hình thì việc thực hiện mục tiêu quản lý (trong đó số lượng và chất lượng dạy học nghề phổ thông) sẽ phụ thuộc chủ yếu vào các hoạt động của giáo viên, học sinh
Sơ đồ 1.2: Các đặc trưng hoạt động dạy-học nghề phổ thông và quản
lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
-
Ở bên trong Trung tâm KTTH - HN diễn ra sự biến đổi những “nhân tố đầu vào” thành những “nhân tố đầu ra”
Những nhân tố đầu vào:
- Các học sinh phổ thông vào học nghề (lớp 8,9 - THCS và lớp 11 - THPT)
- Các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)
Môi trường KT - XH, môi trường KH - CN
Nhân tố
đầu vào
Hệ thống hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Trang 38- Thông tin
Những nhân tố đầu ra:
- Các học sinh phổ thông tốt nghiệp (THCS - lớp 9, THPT - lớp 12)
- Các sản phẩm do Trung tâm KTTH - HN tạo ra (các sản phẩm do tổ chức hoạt động dạy học nghề phổ thông mà có)
Ta nhận thấy vai trò của các tác động quản lý vào “hoạt động dạy-học nghề phổ thông” là một quá trình nhân tạo, một quá trình xã hội Các tác động quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện một mục đích đã định Nếu ta sắp xếp các tác động quản lý này thành từng nhóm, mỗi nhóm tương ứng với một giai đoạn nào đó trong quá trình quản lý
và tương ứng với một nội dung công việc xác định thì chúng ta đã hình thành các chức năng quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.5.2 Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Quản lý phải phù hợp với đối tượng quản lý Vậy các đặc điểm của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông sẽ nảy sinh từ đặc điểm hệ thống hoạt động dạy-học nghề phổ thông ta vừa phân tích ở trên
Ngoài ra, trong quản lý người ta còn nhấn mạnh một vấn đề chung hơn
đó là việc tạo một môi trường bên trong thuận lợi Các nhà quản lý ở mọi cấp
độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định Các nhà quản lý cũng không thể quên rằng: họ còn phải hoạt động cả ở môi trường bên ngoài Đối với những quan hệ qua lại với môi trường bên ngoài, các nhà quản lý phải có được sự am hiểu và nhạy bén với nhiều yếu tố của môi trường này như các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật - công nghệ, xã hội, chính trị và đạo lý ảnh hưởng tới các lĩnh vực hoạt động của họ
Một nét đặc thù của hoạt động dạy-học nghề phổ thông là nhân tố học sinh chỉ là “mượn” của các trường phổ thông, do vậy việc quan hệ với các trường giữ một vai trò quan trọng trong công tác tuyển sinh đầu vào Số lượng học sinh đến học tại trung tâm nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào mối quan
hệ này Vì vậy, sự phối kết hợp giữa trung tâm KTTH-HN với các trường phổ thông cũng là một đặc điểm quan trọng trong quản lý hoạt động dạy-học nghề
Trang 39phổ thông, quyết định kết quả về mặt số lượng cũng như chất lượng của hoạt động này
Một đặc điểm nữa cũng hết sức quan trọng trong quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông là sự phối kết hợp giữa trung tâm KTTH-HN với nhu cầu học nghề của cộng đồng địa phương Đặc điểm này quyết định sự phong phú của các loại hình nghề tại trung tâm, đòi hỏi sự quản lý phải đa dạng hơn
1.5.3 Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy-học nghề phổ thông là yêu cầu bức thiết và cũng là điều kiện vô cùng quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của trung tâm KTTH-HN trong giai đoạn hiện nay Để nâng cao chất lượng dạy-học nghề phổ thông, việc quản lý hoạt động này phải thực hiện được các yêu cầu - nhiệm vụ sau:
* Tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống việc tìm hiểu, thăm dò nguyện vọng, nhu cầu của các đối tượng người học, tư vấn cho học sinh hình thành ý thức về nghề nghiệp trong tương lai, sắp xếp, bố trí các lớp học nghề một cách khoa học, hợp lý, đáp ứng một cách tương đối nhu cầu học tập trên cơ sở phù hợp các đặc điểm tâm sinh lý người học và điều kiện về năng lực con người cũng như cơ sở vật chất của đơn vị
* Chương trình nghề phổ thông giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi
so với giai đoạn trước cả về nội dung và thời lượng thực hiện chương trình
Vì vậy, trước hết phải tổ chức cho giáo viên tìm hiểu, nắm vững mục đích, nội dung chương trình nghề phổ thông mới, đặc biệt là các môn nghề trực tiếp giảng dạy Trên cơ sở đó, xây dựng quy trình quản lý hoạt động dạy-học NPT một cách khoa học, hợp lý cho từng nghề cụ thể mà trung tâm có khả năng thực hiện trong giai đoạn hiện nay Từ quy trình này, người giáo viên có căn
cứ, cơ sở để xây dựng các kế hoạch thực hiện cho từng bài học cụ thể, đảm bảo cho việc thực hiện chương trình đạt được các mục tiêu dạy-học đã được đặt ra
* Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy-học NPT của giáo viên, kích thích giáo viên có động lực cải tiến phương pháp rèn tay nghề cho học sinh theo quy trình sao cho đạt được mục tiêu dạy-học đã được đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Trang 40* Quan tâm chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá kết quả dạy-học nghề phổ thông, đáp ứng yêu cầu mục tiêu của chương trình giáo dục nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
* Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy-học đáp ứng các điều kiện tốt nhất cho hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Tiểu kết chương 1
Chương 1 xây dựng một số cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung tâm KTTH-HN Nội dung của chương đã đề cập đến những khái niệm, quan điểm cơ bản liên quan đến hoạt động dạy-học, quản lý, quản lý hoạt động dạy-học, trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp; dạy-học nghề phổ thông, quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Việc nghiên cứu lý luận đầy đủ và hệ thống đã giúp cho tác giả có cơ
sở khoa học để nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy-học nghề phổ thông cũng như thực trạng quản lý hoạt động này tại Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng, qua đó thấy được những thành công cũng như bất cập Trên cơ sở đó xác định được nguyên nhân của những thành tích, ưu điểm cần phát huy, cũng như thấy được nguyên nhân của những bất cập, yếu kém cần khắc phục
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý phát huy các ưu điểm, khắc phục các nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông tại Trung tâm trong giai đoạn hiện nay, góp phần phát triển giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương
và cả nước