Vì vậy bằng những phương pháp dạy học tích cực, dưới sựhướng dẫn của giáo viên tạo cho học sinh hứng thú học tập, tự phát hiện kiếnthức và áp dụng kiến thức vào cuộc sống.Lựa chọn và sử
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của thế giới, nước ta cũng đang trên đà phát triển và hộinhập cùng với nước bạn Và muốn đất nước phát triển, thoát khỏi tình trạngnghèo đói – yếu kém thì đòi hỏi nước ta phải có một nguồn nhân lực dồi dào để
có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập của đất nước, đưa đất nước đi lên “sánhvai với các cường quốc năm châu trên thế giới” như lời của Vị Cha già của dântộc ta đã dặn dò các thế hệ học sinh Vậy để có nguồn nhân lực dồi dào như vậythì nền giáo dục phải gánh vác một vai trò vô cùng quan trọng và những nhàgiáo dục phải là những người chở đò buồm lái đưa những chuyến đò tri thức cậpbến bờ vinh quang Hiện nayđể hội nhập với các nước trong khu vực và trên thếgiới đòi hỏi Bộ giáo dục và đào tạo triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ vềgiáo dục theo 4 trụ cột giáo dục đó là: Học để biết – Học để làm – Học để cùngchung sống – Học để tự khẳng định mình”
Để đạt được những mục tiêu giáo dục theo 4 trụ cột trên Bộ giáo dục đã đổi mớichương trình sách giáo khoa tiểu học Theo quy luật của sự phát triển, muốnphát triển thì phải dựa trên cái cũ Chương trình tiểu học cũng đã dựa trên quyluật đó nhằm kế thừa và phát huy những thành tựu của chương trình cũ và khắcphục những hạn chế mà chương trình cũ còn tồn tại Cùng với sự đổi mới vềsách giáo khoa là sự đổi mới về phương pháp dạy của thầy và cách học của trò.Không chỉ có những môn học chính như Toán, Tiếng việt mà còn có môn Tựnhiên và Xã hội cũng có vai trò vô cùng quan trọng Môn Tự nhiên và Xã hộitrang bị cho các em những kiến thức cơ bản ban đầu về các sự vật hiện tượngtrong tự nhiên – xã hội và các mối quan hệ của con người xảy ra xung quanhcác em Không những thế môn Tự nhiên xã hội còn góp phần bồi dưỡng nhâncác một cách toàn diện về các mặt “ Đức – Trí – Thể - Mĩ”
Trang 2Các em học sinh lớp 1 nhận thức còn thiên về tri giác trực tiếp đối tượng mangtính tổng thể, khả năng phân tích chưa cao, khó nhận ra mối liên hệ giữa các sựvật, hiện tượng Vì vậy bằng những phương pháp dạy học tích cực, dưới sựhướng dẫn của giáo viên tạo cho học sinh hứng thú học tập, tự phát hiện kiếnthức và áp dụng kiến thức vào cuộc sống.
Lựa chọn và sử dụng các phương pháp hợp lí trong giảng dạy Tự nhiên và Xãhội trước hết là tạo hứng thú cho học sinh sau là phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh và nâng cao chất lượng dạy học
số bệnh tật thông thường, biết một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
và xã hội Đồng thời bước đầu hình thành và phát triển ở các em kĩ năng: tựchăm sóc sức khỏe bản thân, vui chơi an toàn, biết các thành viên trong giađình, lớp học, tập quan sát một số cây, con vật và sự thay đổi thời tiết
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu việc học tập môn Tự nhiên và Xã hội, cụ thể thông qua việc tìmhiểu tìm hiểu sách giáo khoa TN&XH, sách giáo viên TN&XH, sách bài tậpTN&XH
- Nghiên cứu cụ thể thông qua các chủ đề:
Trang 3+ Chủ đề: Con người và sức khỏe
+ Chủ đề: Xã hội
+ Chủ đề: Tự nhiên
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu liên quan đến môn Tự nhiên và xã hội, cụ thể thông qua việctìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên TN&XH lớp 1
- Tìm hiểu thông tin thực tế
- Thảo luận với các thành viên trong tổ tìm ra hướng giải quyết cho bài tập cònđang vướng mắc
- Dự giờ đánh giá nhận xét – tiếp thu những ý kiến đóng góp
- Dạy thực nghiệm
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh lớp 1 trường Tiểu học An Bình B
- Phạm vi: Nghiên cứu sự hứng thú học tập môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
PHẦN NỘI DUNG
A CƠ SỞ KHOA HỌC
Trang 41 Cơ sở lý luận
Theo Lê Nin: Con đường biện chứng của nhận thức chân lý là đi từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó làcon đường biện chứng của nhận thức chân lý, sự nhận thức hiện thực kháchquan
Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức Đó
là giai đoạn mà con người trong hoạt động thực tiễn sử dụng các giác quan đểtiến hành phản ánh sự vật – hiện tượng khách quan mang tính cụ thể sinh động,
là bước khởi đầu và cũng là bàn đạp tạo đà cho nhận thức lý tính
Có thể nói rằng quá trình dạy học là con đường chủ yếu hình thành định hướnggiá trị phẩm chất đạo đức nhân cách học sinh Môn Tự nhiên và Xã hội tạo chohọc sinh có những hiểu biết về tự nhiên, hiểu biết về cuộc sống diễn ra xungquanh mình, về quan hệ giữa người với người, về các hoạt động của con người.Như vậy, sử dụng hợp lí các phương pháp trong dạy học Tự nhiên và Xã hộilớp 1 tức là chúng ta đã tạo nền móng khởi đầu cho sự phát triển nhận thức tưduy cho các em
1 2 Cơ sở tâm lý học
Sự phát triển của trẻ bây giờ, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học diễn ra một cách kìdiệu khiến mọi người xung quanh phải sửng sốt và vui mừng Tốc độ, mức độtính chất của lứa tuổi học sinh Tiểu học diễn ra rất nhanh và có sự thay đổi rõ rệtgiữa các lứa tuổi Nếu mới khi chào đời các em như một “sinh vật non” chưacảm nhận được những lời nói nựng của mẹ, nhưng chỉ vài tháng sau thì các em
có thể nhoẻn miệng cười với những cử chỉ yêu thương của người thân Và đếnkhi vào lớp 1, một bước ngoặt vô cùng quan trọng đối với các em Đó là sựchuyển qua một lối sống mới, với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua
Trang 5một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ với người lớn và bạn bècùng tuổi.
Khi ở trường mầm non đối với các em hoạt động vui chơi đóng vai trò là chủđạo nhưng khi vào lớp 1 các em phải chuyển hoạt động vui chơi thành hoạtđộng học tập đóng vai trò làm chủ đạo Bởi vậy Giáo sư, tiến sĩ Hồ Ngọc Đại có
lí khi cho rằng, 6 tuổi là một bước ngoặt hạnh phúc Sau 6 tuổi các em sẽ đượcđến với thầy, với bạn, đến với nền văn minh nhà trường hiện đại để có thêmnhững gì chưa có, chưa được tiếp cận trong thời gian 6 năm vừa qua trong cuộcsống hàng ngày ở nhà và trường mầm non
Học sinh Tiểu học “dễ nhớ – dễ quên” mức độ tập trung chú ý vào một vấn đềnào đó chưa cao Vì vậy, người giáo viên – những người chở đò phải có cácphương pháp tạo hứng thú học tập cho các em, làm cho giờ học sôi nổi, sinhđộng và các em phải thường xuyên được thực hành, luyện tập
Trong quá trình phát triển của trẻ em trong xã hội hiện đại, các nhà tâm lí họccoi thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là bước ngoặt quan trọng Tâm lý trẻ lúc nàychưa được ổn định, giàu tình cảm, dễ xúc động, bản tính các em lúc này là thíchkhám phá Các em thích tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng xung quanh, tuynhiên các em lúc này bản tính cũng rất nhanh chán Do vậy, trong khi giảng dạyngười giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học phù hợp, sử dụng đồdùng dạy học có giá trị cao, cho các em tham gia các buổi sinh hoạt ngoài trời,tạo điều kiện cho các em khắc sâu được kiến thức, giúp các em phát triển mộtcác toàn diện
3 Vai trò của môn TNXH đối với học sinh Tiểu học
3.1 Đánh giá chung
Trang 6Tự nhiên và Xã hội là môn học cung cấp và trang bị cho học sinh những kiếnthức cơ bản về tự nhiên, xã hội trong cuộc sống hằng ngày đang diễn ra xungquanh các em Giúp các em có một cách nhìn khoa học, phương pháp tiếp cậnkhoa học phù hợp trình độ các em về cuộc sống xung quanh, tránh cho học sinhnhững hiểu biết lan man, đại khái, hình thức tồn tại bên ngoài sự vật hiện tượng.
Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe, conngười, về sự vật – hiện tượng đơn giản trong tự nhiên, xã hội, bộ môn Tự nhiên
và Xã hội còn bước đầu hình thành cho các em các kỹ năng như:
- Tự chăm sóc cho bản thân, ứng xử và đưa ra các quyết định hợp lý trong đờisống để phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn
- Quan sát, nhận xét, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình (bằng lờinói hoặc hình vẽ) về các sự vật – hiện tượng đơn giản trong tự nhiên, xã hội
- Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ, hành vi như: có ý thức thựchiện các quy tắc giữ gìn vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng,yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương, đất nước
3.2 Vai trò TN-XH lớp 1.
Môn Tự nhiên và Xã hội cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu và cơbản về con người, môi trường xung quanh Qua đó, giúp các em phát triển nănglực quan sát, tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học và khả năng áp dụng nhữngkiến thức đã học vào thực tiễn, giúp các em hình thành nhân cách một cáchhoàn diện Cụ thể:
Giúp các em lĩnh hội được những kiến thức ban đầu, thiết thực về:
- Con người và sức khỏe: Các em nhận biêt được các bộ phận bên ngoài của cơ
thể và các giác quan (các bộ phận chính, vai trò nhận biết thế giới xung quanh
Trang 7của các giác quan, vệ sinh cơ thể và các giác giác quan, vệ sinh răng miệng).Biết phải giữ vệ sinh cá nhân, ăn đủ no, uống đủ nước, vui chơi, nghỉ ngơi hợp
+ Lớp học: Biết các thành viên trong lớp học, các đồ dùng trong lớp học, giữgìn lớp học gọn gàng, sạch sẽ
+ Thôn, xóm, xã, phường, nơi đang sinh sống: Nhận biết được các cảnh quannơi mình đang sinh sống, biết chấp hành đúng luật An toàn giao thông
- Tự nhiên: Học sinh có cơ hội hòa mình khám phá thiên nhiên, biết cấu tạo và
môi trường sống của 1 số loài cây, của 1 số con vật phổ biến ( tên gọi, đặc điểm
và ích lợi hoặc tác hại đối với con người,…) và một số hiện tượng tự nhiên(mưa, nắng, gió, rét,…)
B THỰC TRẠNG
Trang 8Sau đây là kết quả khảo sát của học sinh lớp 1 của trường TH An Bình B trướckhi sử dụng các phương pháp dạy học tạo hứng thú học tập và ứng dụng côngnghệ thông tin vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội:
Biểu hiện của HS Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Song trong thực tế, người giáo viên chưa coi trọng môn học này Đặc biệt là ítđầu tư cho tiết dạy Tình trạng dạy “chay” còn phổ biến Học sinh tư duy cụ thểcòn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống làm cho học sinh dễ mệt
Trang 9mỏi, chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học Giờ học diễn ra nặng nề,không duy trì được khả năng chú ý của các em.
Một số giáo viên không thấy được rằng dạy học theo hướng tích cực tức là tăngcường hoạt động học tập của cá nhân, kích thích động cơ bên trong của ngườihọc làm cho người học tích cực, chủ động, tự tin phát triển khả năng suy lí, ócphê phán tìm ra kiến thức mới Do vậy học sinh rơi vào thế thụ động nhận thức Các em thông minh, nhanh nhạy, có óc tưởng tượng phong phú đó là tiền đềcho việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung và bộ môn Tựnhiên và Xã hội nói riêng
Muốn có giờ học hiệu quả thì người giáo viên phải thay đổi các hình thức dạyhọc, lựa chọn kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại đểnâng cao chất lượng giờ dạy Có như vậy học sinh mới hứng thú học tập và giờhọc mới đạt hiệu quả cao
C NỘI DUNG
1 Các phương pháp tạo hứng thú học tập môn Tự nhiên xã hội lớp 1
Do nội dung môn Tự nhiên và Xã hội phong phú và đa dạng nên đòi hỏi khi dạymôn này người giáo viên phải biết phối hợp nhiều phương pháp một cách linhhoạt để tạo hứng thú học tập cho các em
Đối với bản thân tôi, tôi cho rằng không có một phương pháp nào là vạnnăng, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Do vậy, trongquá trình dạy học người giáo viên cần vận dụng chúng một cách linh hoạt đảmbảo cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo hứng thú học tập chocác em
* Một số phương pháp dạy học TN&XH:
Trang 10- Phương pháp khen thưởng
Tuy nhiên với đặc trưng của môn học GV cần chú trọng hướng dẫn học sinhbiết cách quan sát, nêu ý kiến, tìm hiểu, phát hiện ra những kiến thức mới về tựnhiên và xã hội phù hợp với lứa tuổi các em Đối tượng quan sát là tranh ảnh, sơ
đồ, mẫu vật, là khung cảnh gia đình, lớp học, cơ sở ở địa phương, là cây cối,con vật và một số hiện tượng thời tiết cần thiết diễn ra hằng ngày
2 Một số phương pháp dạy học đặc trưng môn TN&XH
Trang 11- Đàm thoại giải thích – minh họa: nhằm làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáoviên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ Hình thức này rất có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của phương tiệnnghe nhìn
- Đàm thoại tìm tòi: giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để dẫndắt học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiệntượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết
Trong quá trình dạy học, giáo viên có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên, sửdụng hình thức đàm thoại tìm tòi sẽ tạo được sự hứng thú ở các em hơn
b) Tác dụng:
- Phương pháp đàm thoại được vận dụng tốt sẽ có tác dụng kích thích tính tíchcực, hứng thú, độc lập sáng tạo của HS trong học tập Bồi dưỡng cho học sinhnăng lực diễn đạt bằng lời nói và làm không khí lớp học sôi nổi
- Phương pháp đàm thoại không chỉ có tác dụng giúp học sinh tìm ra kiến thức
mà còn có tác dụng đánh giá kết quả học tập của học sinh Nhờ đó giáo viênthường xuyên thu được những tín hiệu ngược từ phía học sinh để điều chỉnhhoạt động dạy và học
c) Cách tiến hành
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động của học sinh theo 3 phương án sau:
- Phương án 1: Giáo viên đặt những câu hỏi nhỏ, riêng lẻ rồi chỉ định từng họcsinh trả lời Tổ hợp các câu trả lời là nguồn tri thức mới
- Phương án 2: Giáo viên nêu trước một câu hỏi tương đối lớn, kèm theo nhữnggợi ý liên quan đến câu hỏi HS giúp nhau trả lời từng bộ phận của câu hỏi lớn
Trang 12- Phương án 3: Giáo viên nêu một câu hỏi chính kèm theo gợi ý, nhằm tổ chứccho học sinh thảo luận hoặc đặt những câu hỏi phụ để học sinh giúp nhau tìmlời giải đáp Câu hỏi chính giáo viên đưa ra thường kích thích tranh luận Trướcnhững vấn đề như vậy, ý kiến học sinh thường khác nhau Giáo viên đưa ranhững câu hỏi phụ để học sinh tự rút ra kết luận Thông tin mới là nội dungtranh luận, câu hỏi chính và lời giải đáp tổng kết.
Trong cả 3 phương án trên, giáo viên chỉ là người đưa ra vấn đề, gợi ý, trọng tài,còn học sinh phải tìm ra câu trả lời Học sinh tự tìm ra kiến thức, điều này tạo sựhứng thú, say mê khám phá, học tập
- Ví dụ: Bài 22: Cây rau ( TN&XH lớp 1, trang 46 )
Để trả lời câu hỏi: “Hãy cho biết tên các bộ phận của cây rau có thể dùng để làmthức ăn?”
Học sinh có thể có nhiều câu trả lời không giống nhau nhưng dựa vào nhữngcâu hỏi phụ:
- Hãy cho biết các bộ phận của cây rau?
- Cây rau em mang đến lớp bộ phận nào ăn được?
- Em thích ăn loại rau nào?…
Học sinh tìm được câu trả lời: tùy vào các loại rau khác nhau mà ứng với phầncủa cây được dùng làm thức ăn ( thân, củ, hoa, lá, quả…)
2.2 Phương pháp quan sát
a) Khái niệm:
Trang 13Phương pháp quan sát là hình thức dạy học GV hướng dẫn học sinh cách sửdụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các đối tượng trong TN-
XH mà không có sự can thiệp vào quá trình diễn biến của các sự vật, hiện tượngđó
b) Tác dụng của phương pháp quan sát
- Phương pháp quan sát được sử dụng phổ biến trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội
- Quá trình quan sát giúp học sinh nhận biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của
cơ thể người, cây cối, một số con vật và các hiện tượng đang diễn ra trong môitrường tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày
- Sử dụng phương pháp quan sát tạo được hứng thú học tập cho học sinh, phùhợp quá trình nhận thức học sinh tiểu học, các em được trực tiếp quan sát tranhảnh, vật thật
- Dạy học sử dụng phương pháp quan sát giúp bài dạy thêm phần phong phúkèm theo ví dụ minh họa làm cho bài giảng sinh động, cụ thể, hấp dẫn ngườinghe
- Phương pháp quan sát dễ kết hợp các phương pháp khác như phương phápphân tích giảng giải, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm thoại,…làm cho các em học sinh không bị nhàm chán
c) Tiến trình tổ chức quan sát
- Bước 1: Xác định mục đích quan sát
Trong một bài học, không phải mọi kiến thức cần lĩnh hội đều được rút ra từquan sát Vì vậy, giáo viên cần xác định rõ việc tổ chức cho học sinh quan sátnhằm đạt mục tiêu, kiến thức, kỹ năng nào?
Trang 14- Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát
+ Khi đã xác định được đối tượng quan sát, tuy theo từng nội dung học tập màgiáo viên lựa chọn đối tượng quan sát phù hợp trình độ học sinh và điều kiệncủa địa phương
+ Đối tượng quan sát có thể là các sự vật hiện tượng, các mối quan hệ đang diễn
ra trong môi trường tự nhiên – xã hội hoặc các tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, sơđồ…
+ Diễn tả các sự vật hiện tượng đó Khi lựa chọn đối tượng quan sát giáo viênnên ưu tiên lựa chọn các vật thật để giúp học sinh hình thành biểu tượng sinhđộng
+ Đối tượng quan sát: Tranh ảnh chụp hoặc vẽ các cảnh trên đường đi học cóthể gây nguy hiểm hoặc cách tham gia giao thông an toàn được phóng to
+ Đối tượng của môn TN&XH rất đa dạng, phong phú và gần gũi với học sinh
Vì vậy, bên cạnh tranh ảnh, mẫu vật, mô hình, … Giáo viên cần sử dụng khungcảnh thiên nhiên xung quanh gia đình, trường học và các hoạt động sống ở địaphương để tạo cơ hội cho các em được quan sát trực tiếp
+ Tổ chức cho học sinh quan sát cuộc sống ở địa phương vào buổi sáng hoặcbuổi chiều
- Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát
+ Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo các nhân, theo nhóm hoặc
cả lớp, điều này phụ thuộc vào số đồ dùng chuẩn bị được và khả năng quản lýcủa giáo viên cũng như khả năng tự quản, hợp tác nhóm của học sinh
+ Tuỳ theo mục đích và đối tượng quan sát, giáo viên hướng dẫn cho các em sửdụng các giác quan để phán đoán, cảm nhận sự vật hiện tượng (mắt nhìn, tai
Trang 15nghe, tay sờ, mũi ngửi, … ) thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Hệ thống câuhỏi, bài tập đuợc xây dựng dựa trên mục đích quan sát và trình độ hiểu biết củahọc sinh nhằm hướng học sinh đến đối tượng quan sát:
Điều khiển tri giác và hướng dẫn tư duy học sinh theo hướng quan sát cần thiết
Giúp học sinh phân tích, tổng hợp, khái quát những điều đã quan sát, liên hệ vớicác đối tượng mà các em đã nhìn thấy rồi rút ra kết luận khách quan, khoa học
- Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả về đối tượng được quan sát
+ Sau khi quan sát, thu thập thông tin, học sinh xử lý các thông tin thông quahoạt động ( phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, nhận xét, …) để rút ra kếtluận khoa học về các đối tượng
+ Hình thức báo cáo có thể bằng lời, phiếu học tập, hay phương tiện dạy học.Giáo viên tổ chức cho học sinh hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng và bổ sungcác kiến thức cần thiết
+ Ví dụ: Bài 22: Cây rau ( TN&XH lớp 1, Trang 46 )
Sau khi quan sát cây rau trong vườn trường học sinh sẽ có các thông tin: Cácloại cây rau và nơi sống của chúng Phân biệt và nói được tên các bộ phận chínhcủa cây rau
Qua phân tích, so sánh học sinh rút ra kết luận:
Có rất nhiều loại rau khác nhau như: rau ăn lá( bắp cải, xà lách, …), rau ăn củ(củ cải, cà rốt, …), rau ăn hoa( thiên lí, …), và rất nhiểu các loại rau khác… Cácloại rau này có thể khác nhau về hình dạng, kích thước nhưng chúng đều có rễ,thân và lá
d) Hạn chế
Trang 16- Đồ dùng dạy học còn hạn chế, sơ sài, tốn nhiều thời gian.
- Khó phân bố thời gian hợp lí, dễ bị cháy giáo án
- Sử dụng phương pháp quan sát đòi hỏi cao sự kết hợp linh hoạt với cácphương pháp và GV phải bao quát tốt lớp học
2.3 Phương pháp thực hành
a) Khái niệm:
Trang 17Phương pháp thực hành là PPDH do giáo viên tổ chức cho học sinh trực tiếpthao tác trên đối tượng, nhằm giúp học sinh hiểu rõ và vận dụng lí thuyết vàothực hành, luyện tập, hình thành kĩ năng.
b) Cách tiến hành:
Khi sử dụng phương pháp thực hành có thể tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Giúp học sinh hiểu vì sao thực hiện kĩ năng đó và một số thông tinquan trọng khác
- Bước 2: Giáo viên hướng dẫn để học sinh biết trình tự các bước và cách thựchiện thao tác Cách tốt nhất là học sinh được xem trình diễn hoặc nghiên cứutình huống Trong trường hợp phải làm mẫu giáo viên làm với tốc độ vừa phải
để học sinh dễ theo dõi Cách tốt nhất là giáo viên vừa làm vừa kết hợp giảithích cách thao tác
- Bước 3: Tổ chức cho học sinh thực hành
+ Có thể thực hành cá nhân hoặc nhóm Tuy nhiên giáo viên cần tạo điều kiện
để học sinh thực hành cá nhân
+ Giáo viên chú ý quan sát để nhanh chóng phát hiện khó khăn sai sót và những
em cần được chỉ bảo thêm
- Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả thực hành trước lớp
Ví dụ: Bài 7: Thực hành: đánh răng và rửa mặt (TN&XH lớp 1,Trang 16)
Giáo viên dùng mô hình răng hướng dẫn để học sinh biết trình tự các bước chảirăng và cách thực hiện các thao tác, vừa làm vừa nói các bước:
+ Chuẩn bị cốc và nước sạch
Trang 18+ Lấy kem đánh răng vào bàn chải.
+ Chải răng theo hướng đưa bàn chải từ trên xuống, từ dưới lên
+ Lần lượt chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai của răng
+ Súc miệng kĩ rồi nhổ ra, vài lần
+ Rửa sạch và cất bàn chải vào đúng chỗ sau khi đánh răng (cắm ngược bànchải)
Sau đó tổ chức cho học sinh thực hành chải răng tại lớp Giáo viên chia lớpthành các nhóm nhỏ Các em thực hành trong nhóm của mình, sau đó đại diệncác nhóm trình bày cho cả lớp Qua bài học, học sinh sẽ biết đánh răng đúngcách và áp dụng vào vệ sinh hằng ngày
2.4 Phương pháp thảo luận
a) Khái niệm:
- Phương pháp thảo luận là cách tổ chức đối thoại giữa học sinh và giáo viên,giữa học sinh và học sinh nhằm huy động trí tuệ của tập thề để giải quyết mộtvấn đề do môn học đặt ra, hoặc một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi, đề tìmhiểu và đưa ra những giải pháp, kiến nghị, quan niệm mới
- Trong quá trình dạy học thường sử dụng cả hai hình thức thảo luận sau:
+ Thảo luận theo nhóm: học sinh làm việc từng nhóm khoảng từ 2 đến 6 người.Các nhóm có thể thảo luận một vấn đề giống hay những vấn đề khác nhau Khithảo luận nhóm tất cả mọi người cần tham gia Cuối cùng đại diện nhóm trìnhbày kết quả Giáo viên là người tổng kết rút ra kết luận