Phân môn tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu,Chính tả, Kể chuyện...Qua tiết Tập làm văn học sinh có khả năng xây dựng mộtvăn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinhbốn kĩ năng cơ bản đó là: “Nghe, nói, đọc, viết” Tập làm văn là phân môn thựchành và rèn luyện tổng hợp bốn kỹ năng đó Phân môn tập làm văn là phân môn
có tính chất tích hợp của các phân môn khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu,Chính tả, Kể chuyện Qua tiết Tập làm văn học sinh có khả năng xây dựng mộtvăn bản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quantrọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức,trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp táctrong cuộc sống lao động
Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Chính vì vậy hướngdẫn học sinh nói đúng và viết đúng là điều hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề
đó phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân mônTập làm văn nói riêng, cụ thể tìm hiểu ở đây là chương trình Tập làm văn lớp 3.Vấn đề đặt ra: Người giáo viên làm sao để đạt hiệu quả như mong muốn
Qua thực tế học tập tôi thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó so với cácphân môn khác của môn Tiếng Việt Trong quá trình tham gia các hoạt động họctập với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói Nếu bắt buộc phải nói,các em thường đọc lại bài viết đã chuẩn bị trước Bài viết của các em câu rờirạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạo, bài văn ngắn ngủn, ghi dấu chấmcâu chưa đúng, sử dụng hình ảnh gợi tả chưa sinh động Do đó giờ dạy thườngkhông đạt hiệu quả cao Xuất phát từ thực tiễn nhưng vậy tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới”
Trang 22 Mục đích của đề tài:
- Tìm ra những khó khăn trong dạy Tập làm văn ở lớp 3 theo chương trình đổimới
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa và hình thức luyện tập (dạy
và học) trong giờ Tập làm văn ở lớp 3 như thế nào ?
- Đưa ra một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
3 Nhiệm vụ của đề tài:
- Tìm hiểu và điều tra thực trạng của việc dạy Tập làm văn
- Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những thực trạng đó
- Đề ra biện pháp để giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn
-Rút ra bài học kinh nghiệm và hướng áp dụng vào quá trình dạy và học
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phương pháp quan sát thông qua dự giờ
- Phương pháp kiểm tra đối chứng, tổng kết kinh nghiệm
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Các tiết dạy Tập làm văn lớp 3
Trang 36 Đối tượng nghiên cứu
Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng tạo lập văn bản,trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụngTiếng việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy, Tập làm văn được coi là phân môn
có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác Trên cơ sở nộidung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi tiếtdạy Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn Ngoài phương pháp củathầy, học sinh cần có vốn kiến thức, ngôn ngữ về đời sống thực tế Chính vì vậy,việc dạy tốt các phân môn khác không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn
là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết, cách hành văn cho học sinh
Vì vậy: dạy tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học sinh tích cực,sáng tạo, chủ động trong học tập; biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn
Trang 4bản, văn bản Nói cách khác, các phân môn trong môn Tiếng việt là phương tiện
để hỗ trợ cho việc dạy tập làm văn được tốt
B THỰC TRẠNG:
Năm học 2012- 2013, Tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3.2, trườngTiểu học An Bình B với 41 học sinh trong đó có 16 Nữ và 25Nam
1 Thuận lợi:
* Đối với giáo viên
- Giáo viên đã được tiếp cận với chương trình thay sách, đổi mới phương phápmột cách cơ bản
- Sự chỉ đạo sâu sát chuyên môn của nhà trường có vai trò tích cực, giúp giáoviên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn
- Qua các tiết dạy mẫu, các cuộc thi, hội giảng đã có nhiều giáo viên thành côngkhi dạy Tập làm văn
- Qua các phương tiện thông tin đại chúng: ti vi, đài, sách, báo giáo viên đượctiếp cận với phương pháp đổi mới dạy Tập làm văn thường xuyên hơn
* Đối với học sinh
- Học sinh lớp ba đang ở lứa tuổi rất ham học, dễ dạy và dễ uốn nắn
- Môn Tiếng việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dungphong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạyhọc hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em
- Các em đã được học chương trình thay sách từ lớp 1, đặc biệt là các em ở lớp
2 đã nắm vững kiến thức, kỹ năng của phân môn Tập làm văn như kỹ năng giao
Trang 5tiếp, kỹ năng tạo lập ngôn bản, kỹ năng kể chuyện miêu tả Đây là cơ sở giúpcác em học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp 3.
2 Khó khăn:
* Đối với học sinh
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên,mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao
- Kiến thức về cuộc sống thực tế của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng đến việctiếp thu bài học
- Vốn từ vựng của học sinh chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hành độclập Cụ thể là: Các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạotrong thực hành viết văn chưa cao, thể hiện ở cách bố cục bài văn, cách chấmcâu, sử dụng hình ảnh gợi tả chưa sinh động
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình Ví dụ:Phần lớn học sinh dùng luôn lời cô hướng dẫn để viết bài của mình
* Đối với giáo viên
Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáoviên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú cần phải có vốn sống thực tế, ngườigiáo viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy Biết gợi mở
óc tò mò, khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh, giúp cho các em nói viết thànhvăn bản, ngôn ngữ quả thật không dễ
Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi tiến hành khảo sát chất lượng mônTập làm văn lớp 3 vào tháng 9 tuần 3 (năm học 2012 - 2013) với đề bài như
sau: Hãy kể về gia đình em với người bạn mới quen
Trang 6Kết quả khảo sát như sau: Tổng số học sinh lớp 3.2: 41 em
Nội dung khảo sát Số học sinh Tỷ lệ %
1 Biết viết câu, dùng từ hợp lý 22/41 53.6%
2 Biết nói - viết thành câu 8/41 19.5%
3 Biết dùng từ ngữ, câu văn có hình
ảnh
4 Biết trình bày đoạn văn 17/41 41.4%
Bài viết học sinh đạt từ trung bình trở
lên
Qua khảo sát cho thấy học sinh chưa biết cách diễn đạt câu văn có hình ảnh, vốn
từ vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít, do vậy chất lượng bài viết của các
em chưa cao, ý văn nghèo nàn, câu văn lủng củng Kết quả này cũng thể hiệnphương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được tính tích cực của họcsinh trong giờ học
C NỘI DUNG:
I CHƯƠNG TRÌNH SGK VÀ CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP:
1 Chương trình sách giáo khoa:
- Kỳ1: 16tiết + 2 tiết ôn tập
Trang 7- Kỳ2: 15tiết + 2 tiết ôn tập
Chương trình tập làm văn lớp 3 trang bị cho học sinh một số kiến thức và kĩnăng phục vụ cho học tập và đời sống hàng ngày như: điền vào giấy tờ in sẵn,viết thư, viết đơn, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, ghi chép sổ tay
Tiếp tục rèn kĩ năng đọc, nghe, nói, viết thông qua kể chuyện và miêu tả như: kểmột việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranhhoặc bằng câu hỏi
Rèn kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe
2 Các hình thức luyện tập:
2.1 Bài tập nghe: Gồm các tiết
- Tuần 4: Nghe kể: Dại gì mà đổi
- Tuần 7: Nghe kể: Không nỡ nhìn
- Tuần 19: Nghe kể: Chàng trai làng Phù Ủng
- Tuần 21: Nghe kể: Nâng niu từng hạt giống
- Tuần 24: Nghe kể: Người bán quạt may mắn
- Tuần 34: Nghe kể: Vươn tới các vì sao
* Yêu cầu các bài tập nghe
- Học sinh hiểu nội dung câu chuyện, thuật lại được câu một cách mạnh dạn, tựtin
- Học sinh thấy cái hay cái đẹp, cái cần phê phán trong câu chuyện
Trang 8- Biết diễn đạt rõ ràng thành câu, dễ hiểu.
- Giọng kể phù hợp nội dung từng câu chuyện
2.2 Bài tập nói: Gồm các tiết
- Tuần 1: Nói về Đội
- Tuần 6: Kể lại buổi đầu em đi học
- Tuần 8: Kể về người hàng xóm
- Tuần 11: Nói về quê hương
- Tuần 12: Nói về cảnh đẹp đất nước
- Tuần 15: Giới thiệu về tổ em
- Tuần 16: Nói về thành thị nông thôn
- Tuần 20: Báo cáo hoạt động
- Tuần 21: Nói về tri thức
- Tuần 22: Nói về người lao động trí óc
- Tuần 25: Kể về lễ hội
- Tuần 26: Kể về ngày hội rằm Trung thu
- Tuần 28: Kể lại một trận thi đấu thể thao mà em đã được tham gia
- Tuần 32: Nói về bảo vệ môi trường
* Yêu cầu:
Trang 9- Học sinh nói đúng rõ ý, diễn đạt rõ ràng dễ hiểu.
- Học sinh nói theo nội dung, chủ đề cho trước
- Nói thành câu, biết cách dùng từ chân thực
- Nói thành đoạn văn
2.3 Bài tập viết: Gồm các tiết:
- Tuần 1: Điền vào giấy tờ in sẵn (Đội Thiếu niên tiền phong)
- Tuần 2: Viết đơn
- Tuần 3: Điền vào tờ giấy in sẵn
- Tuần 10: Tập viết thư và phong bì thư
- Tuần 12: Viết về cảnh đẹp đất nước
- Tuần 13: Viết thư
- Tuần 17: Viết về thành thị nông thôn
- Tuần 22: Viết về người lao động trí óc
- Tuần 29: Viết về một trận thi đấu thể thao
- Tuần 30: Viết thư
- Tuần 32: Viết về bảo vệ môi trường
* Yêu cầu các bài tập viết:
- Đủ số lượng câu
Trang 10- Trình bày thành đoạn văn
- Biết cách chấm câu, viết các câu theo mẫu đã học (Ai là gì, Ai làm gì?, Ai thếnào?)
- Biết cách dùng từ (biết cách sử dụng phép so sánh, nhân hoá)
II CÁC BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI:
Tùy theo nội dung, yêu cầu của mỗi đơn vị và từng đối tượng học sinh, giáoviên có thể áp dụng nhóm các biện pháp, hoặc một biện pháp chủ đạo kết hợpvới một số biện pháp bổ trợ khác Sau đây là một số biện pháp tôi đã tiến hành
để giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn
1 Luôn chú trọng “Tích hợp-lồng ghép" khi dạy phân môn tập làm văn lớp 3
Khi dạy tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp giữa các phân môntrong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tậpviết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn Tập làm văn Mốiquan hệ này thể hiện rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa: các bài học đượcbiên soạn theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh một chủ điểm ở tấtcác các phân môn
Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài tập đọc Luyện từ vàcâu Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho họcsinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề Cộngđồng Cụ thể khi dạy bài: Tập đọc -kể chuyện: Các em nhỏ và cụ già (tuần 8)giáo viên khai thác nội dung bài theo hệ thống câu hỏi sau:
* Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?
Trang 11(Các bạn gặp một cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu)
* Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?
(Các bạn băn khoăn và trao đổi với nhau Có bạn đoán: a) Hay ông cụ bị ốm, b) Hay cụ bị mấy cái gì đó Cuối cùng cả tốp đến tận nơi để hỏi thăm ông cụ).
* Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?
- Vì các bạn là những trẻ ngoan
- Vì các bạn là những người nhân hậu
- Vì các bạn muốn quan tâm, giúp đỡ ông cụ
* Ông cụ gặp chuyện gì buồn?
(Cụ bà bị ốm nặng đang nằm trong bệnh viện, khó mà qua khỏi.)
* Vì sao khi trò chuyện với các bạn nhỏ ông cụ thấy lòng nhẹ hơn?
- Ông cảm thấy nỗi buồn được chia sẻ
- Ông cảm thấy đỡ cô đơn vì có người trò chuyện
- Ông cảm thấy lòng ấm lại vì tình cảm của các bạn nhỏ dành cho mình.
Qua các câu trả lời của học sinh, giáo viên định hướng cho các em ý thức biếtquan tâm chia sẻ với những người trong cộng đồng, giúp cho các em khi viếtđoạn văn kể về những người thân hoặc người hàng xóm, đoạn văn toát lên đượcnội dung: Con người phải biết yêu thương nhau, sự quan tâm chia sẻ của nhữngngười xung quanh làm cho mỗi người dịu bớt những lo lắng, buồn phiền và cảmthấy cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 12Qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp cho học sinh bày tỏ được thái độ, tìnhcảm, ý kiến nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Songsong với quá trình đó, giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trảlời của bạn để học sinh rút ra được câu trả lời đúng, cách ứng xử hay.
Như vậy, qua tiết học này, học sinh được mở rộng vốn từ, rèn cho các em lốidiễn đạt mạch lạc, lôgíc, biết dùng câu văn có hình ảnh, cảm xúc Trên cơ sở đó,bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc, đồng thời hìnhthành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống; hình hành cho họcsinh kiến thức về mối quan hệ tương thân tương ái giữa mọi người trong cộngđồng; rèn cho học sinh thói quen quan tâm, chia sẻ giúp đỡ những người trongcộng đồng
Cùng với chủ đề này thì phân môn Luyện từ và câu ( tuần 8) cũng cung cấp chohọc sinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng qua hệ thống các bài tập Cụ thể
Bài 1: Sắp xếp các từ ngữ sau: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồngtâm, đồng hương ,vào ô trống trong bảng phân loại sau
- Giáo viên giúp các em hiểu nghĩa các từ trên và sắp xếp vào các nhóm từ:
Nhóm 1: Những người trong cộng
đồng
Nhóm 2: Thái độ hoạt động trong cộng đồng
Cộng đồng, đồng bào, đồng đội, đồng
hương
Cộng tác, đồng tâm
Trang 13Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ ở bàitập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trong cộngđồng thể hiện trong các thành ngữ đó:
Chung lưng đấu cật.
(Mọi người cùng chung sức chung lòng để thực hiện một công việc có nhiều khó khăn trở ngại)
Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.
(Phê phán thái độ thờ ơ, không quan tâm, tương trợ người khác lúc khó khăn)
Ăn ở như bát nước đầy.
(Ca ngợi con người ăn ở, cư xử với mọi người có tình có nghĩa, trước sau không thay đổi)
Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xử trongcộng đồng khi nói - viết tập làm văn, vận dụng giao tiếp và ứng xử trong cuộcsống
Ở phân môn Chính tả( tuần 8), các em cũng được luyện viết các bài trong chủ
đề Cộng đồng Ví dụ:Viết đoạn 4 trong bài: Các em nhỏ và cụ già
Cụ ngừng lại và nghẹn ngào nói tiếp:
- Ông đang rất buồn Bà lão nhà ông nằm bệnh viện mấy tháng nay rồi Bà ốm nặng lắm, khó mà qua khỏi Ông ngồi đây chờ xe buýt để đến bệnh viện Ông cảm ơn lòng tốt của các cháu Dẫu các cháu không giúp gì được nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
Trang 14Khi viết đoạn văn trên, học sinh được rèn viết chính tả, cách sử dụng các dấucâu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt nỗi lolắng, buồn phiền, tăng thêm cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trong cuộcsống Học sinh vận dụng cái hay, cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để thể hiệntình cảm, thái độ đánh giá trong từng bài văn cụ thể của chính các em.
Tương tự, ở phân môn Tập viết - Tuần 8, các em được làm quen với các thànhngữ, tục ngữ về chủ đề Cộng đồng như luyện viết câu ứng dụng
"Khôn ngoan đối đáp người ngoài
là người nhân hậu Em coi bác như người thân trong gia đình.
Như vậy, khi dạy tất cả các phân môn: Luyện từ và câu, Chính tả, Tập đọc đềunhằm mục đích giúp học sinh có kỹ năng hình thành văn bản, ngôn bản Do đó,tích hợp lồng ghép là phương pháp đặc trưng khi dạy phân môn Tập làm vănlớp 3
Trang 152 Dạy học theo quan điểm giao tiếp:
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là hình thành cho học sinh kỹ năng diễn đạtthông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp hàng ngàyvới thầy cô, cha mẹ, bạn bè và mọi người xung quanh
Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo cho học sinhnhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết như phươngpháp dạy học truyền thống Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào các hoạtđộng học tập, tích cực sáng tạo trong làm văn Việc hình thành và rèn luyện các
kỹ năng nghe –nói –đọc - viết cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn
đạt được hiệu quả tối ưu
Ví dụ: Giảng dạy dạng bài tập nghe và tập nói
Nghe và kể lại câu chuyện " Dại gì mà đổi " , (TLV- tuần 4)
Qua việc kể mẫu của giáo viên, quan sát tranh, gợi ý sách giáo khoa học sinh
kể nội dung câu chuyện như sau:
Có một cậu bé bốn tuổi rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu dọa sẽ đổi cậu để lấy một đứa trẻ ngoan về nuôi Cậu bé nói:
- Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu !
Trang 16Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (kể cho nhaunghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sự phêphán hóm hỉnh, hài hước và kể chuyện lại nội dung câu truyện với giọng kể, cửchỉ, điệu bộ gây cười ở người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyệnlên cao hơn.
Song song với việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh,việc rèn kỹ năngviết rất quan trọng : Giáo viên học sinh nắm kỹ thuật viết, luật viết câu văn,đoạn văn hoàn chỉnh, đúng về ngữ pháp, bố cục văn cảnh hoặc môi trường giaotiếp Mỗi bài văn của học sinh không đơn thuần là kể, tả ngắn về con người, sựvật, sự việc mà thông qua đó thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, thái độyêu - ghét, trân trọng hay phê phán của các em Thông qua bài viết của các emngười đọc hiểu được tâm tư tình cảm của các em về một vấn đề nào đó
Bổ trợ cho việc rèn kỹ năng nghe - nói trong tiết Tập làm văn, phần kể chuyệncủa tiết Tập đọc- kể chuyện cũng chú trọng đến rèn kỹ năng giao tiếp
Ví dụ: Dạy Tập đọc- kể chuyện (tiết 2) bài :Đất quý, đất yêu (tuần 11) Nhiệm
vụ của học sinh là: quan sát tranh, sắp xếp lại tranh theo trình tự nội dung câuchuyện Đất quý, đất yêu Sau đó dựa vào tranh kể lại câu chuyện đúng nộidung, ngắn gọn, từ ngữ súc tích, dễ hiểu, biết kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu bộ
để câu chuyện thêm hấp dẫn sinh động; giúp người nghe thấy được phong tụctập quán của người Ê-ti-ô-pi-a: “Họ coi đất đai là thứ thiêng liêng, cao quýnhất.”
Thông qua kể lại câu chuyện theo tranh, học sinh hình thành và rèn luyện khảnăng diễn đạt, phục vụ tốt cho bài tập nói của tiết Tập làm văn
Tóm lại, học sinh rèn luyện khả năng quan sát, nói - viết, rút ra những nét điểnhình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu, đáng tự hào