Cùng với khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăngvà đa dạng của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng, trong những năm đổi mới vừa qua, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những đ
Trang 1Formatted: Position: Horizontal: Center,
PHẦN MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang tập trung mang nặng
tính hiện vật sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 30 năm vừa qua đã làm
thay đổi căn bản mọi mặt của đời sống xã hội Cùng với tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt ở mức cao liên tục trong nhiều năm, thu nhập và mức sống của
người dân đã và đang được cải thiện đáng kể, nhu cầu sử dụng sữa và các sản
phẩm từ sữa tăng rõ rệt về số lượng, chất lượng và chủng loại
Theo các số liệu điều tra về thống kê, vào năm 2000 mức tiêu thụ sữa
bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ là 6 lít, năm 2002 đạt xấp xỉ 7 lít, năm
2004 đã là 8 lít, và năm 2006 ước tính đạt khoảng trên 9 lít Sự gia tăng của
mức cầu này vừa là điều kiện vừa là hệ quả phát triển của ngành công nghiệp
sữa Việt Nam hiện nay Cùng với khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăngvà đa dạng của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng, trong
những năm đổi mới vừa qua, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những
đóng góp nhất định về giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, mở
ra những hình thức liên kết kinh tế và sản xuất kinh doanh mới, đồng thời đã
có những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật – công nghệ Tuy nhiên những thách
thức đang đặt ra cho ngành công nghiệp sữa Việt Nam cũng khá phức tạp và
đang đòi hỏi những biện pháp giải quyết thích hợp có hiệu quả: làm thế nào
để đảm bảo gia tăng ổn định nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào, để huy
động tốt hơn các nguồn lực đầu tư, tiếp tục hạ thấp giá thành và nâng cao chất
lượng sản phẩm, và đặc biệt là để cạnh tranh được với các hãng sữa nước
ngoài đã có bề dày lịch sử hàng trăm năm khi Việt Nam phải thực hiện tự do
hoá thương mại và đầu tư theo các nguyên tắc chung của AFTA và WTO
Trang 2Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Xuất phát từ tình huống nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài” Ngành
công nghiệp sữa Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” Để thực hiện
luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành kinh tế chính trị và qua đó huy
vọng sẽ có những đóng góp nhất định với ngành này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến ngành công nghiệp sữa Việt Nam, trong những năm gần
đây ở nước ta đã có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí và khá nhiều
văn bản báo cáo mang tính chất nội bộ của ngành này, đơn cử như: Báo cáo
tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp ngành sữa từ năm
1996 đến năm 2002; Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty
Vinamilk – Công ty kiểm toán Việt Nam năm 2002, 2003, 2004; Báo cáo tình
hình thực hiện dự án của Công ty Nestle; Dự thảo đề cương chi tiết chiến lược
phát triển khoa học công nghệ ngành công nghiệp chế biến sữa đến năm 2020,
và lộ trình thực hiện đến năm 2005 (do bộ Công nghiệp xây dựng năm 2003);
Định hướng phát triển bò sữa đến năm 2010 của Nguyễn Đăng Vang Ngoài
ra, còn có một số văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước công bố như sau:
Quyết định của thủ tướng chính phủ về một số biện pháp và chính sách phát
triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (ban hành tháng 10
năm 2002); Quyết định của Bộ trưởng Bộ công nghiệp phê duyệt quy hoạch
phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020
Những tài liệu trên có giá trị tham khảo rất quan trọng đối với việc thực
hiện đề tài của luận văn Tuy nhiên có thể khẳng định cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về thực trạng của ngành công
nghiệp sữa Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
Trang 3Formatted: Position: Horizontal: Center,
Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng của ngành công
nghiệp sữa Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở
những năm gần đây; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị về các giải pháp
chính sách góp phần thúc đẩy ngành nầy phát triển vững chắc hơn trong giai
đoạn 2006-2010 và ở các năm tiếp theo
Gắn với mục đích trên, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết
những vấn đề chính dưới đây:
- Phân tích vai trò và đặc điểm của ngành công nghiệp sữa; làm rõ các
nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của nó; bước đầu tổng kết kinh
nghiệm của một số nước trong việc phát triển ngành công nghiệp sữa và rút ra
những khía cạnh có thể tham khảo cho Việt Nam
- Đánh giá khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp sữa
Việt Nam những năm gần đây, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân
- Luận chứng các căn cứ khoa học và thực tiễn gắn với định hướng và
giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong những năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đã được xác định, luận văn dựa
trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, từ đó sử dụng các phương pháp điều tra, thống kê và phân tích
các tài liệu, số liệu có liên quan, đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp đối
chiếu, so sánh, tổng hợp để rút ra các nhận định
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng của ngành Công nghiệp sữa
Việt Nam trong một số năm đổi mới kinh tế gần đây và góp phần thúc đẩy
ngành này phát triển trong giai đoạn 2006-2010 và đặt trong tầm nhìn đến
Trang 4Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích thực trạng của ngành Công nghiệp sữa Việt Nam hiện nay
dưới góc độ kinh tế chính trị
- Đưa gia một số giải pháp mới có thể áp dụng vào thực tế để góp phần
thúc đẩy ngành công nghiệp sữa Việt Nam tiếp tục phát triển có hiệu
quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về ngành công nghiệp sữa
Chương 2: Ngành công nghiệp sữa Việt Nam: Lịch sử phát triển và
thực trạng
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa
Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
Trang 5Formatted: Position: Horizontal: Center,
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
Trong chương đầu của luận văn chúng tôi tập trung vào một số vấn đề
có ý nghĩa như những căn cứ chung cho việc giải quyết những vấn đề thực
tiễn ở các chương sau của luận văn
1.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
1.1.1 Vai trò cơ bản của ngành công nghiệp sữa
Chức năng chủ yếu của ngành công nghiệp sữa là sản xuất, cung ứng
sữa và các sản phẩm đa dạng chế biến từ sữa phù hợp với kinh tế thị trường,
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Riêng ở Việt Nam
theo số thống kê, năm 2000 mức tiêu dùng sữa bình quân trên một đầu người
của người đạt khoảng 6 lít; năm 2002 là 6,7 lít; năm 2005 là 8 lít và dự báo
đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 12 lít
Ngành công nghiệp sữa góp phần thúc đẩy sự liên kết nông nghiệp -
công nghiệp - dịch vụ Thực tế cho thấy, sự phát triển của ngành công nghiệp
sữa đã kéo theo sự phát triển của các ngành nông nghiệp và dịch vụ, thể hiện
khá rõ ở trạng thái tương đối sôi động sôi động của ngành chăn nuôi bò sữa
và của mạng lưới phân phối các sản phẩm về sữa ở Việt Nam trong vòng 10
năm trở lại đây
Mặt khác, ngành công nghiệp sữa còn góp phần giải quyết việc làm cho
xã hội (cả ở ba khâu: sản xuất và cung ứng nguyên liệu đầu vào; chế biến sản
phẩm và trong hệ thống mạng lưới tiêu thụ các loại thành phẩm) Chỉ riêng ở
khâu sản xuất, cung ứng nguyên liệu đầu vào là sữa tươi, chương trình phát
triển đàn bò sữa đã thu hút đáng kể lực lượng lao động nông thông, giải quyết
một khối lượng việc làm đáng kể cho nông dân Ngành công nghiệp sữa đã và
sẽ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập
cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam Bên
cạnh đó, lực lượng bác sĩ thú y chuyên sâu chăm sóc, hỗ trợ cho chăn nuôi bò
Trang 6Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
trồng cỏ, sản xuất thức ăn, phối giống sẽ thu hút hàng ngàn lao động góp
phần tạo bước chuyển quan trọng cho nông thôn Việt Nam trên con đường
hiện đại hoá, công nghiệp hoá.Với khâu chế biến, là ngành chế biến thực
phẩm có trang thiết bị hiện đại nên lực lượng lao đông ở ngành này được đào
tạo và có tay nghề cao, thu hút rất nhiều công nhân kỹ thuật và cán bộ kỹ
thuật Khâu tiêu thụ sản phẩm cũng cần một lực lượng lớn lao động để cung
ứng sản phẩm sữa trên khắp thị trường 84 triệu dân Việt Nam, để sản phẩm
sữa cải thiện cuộc sống của người dân
Ngành công nghiệp sữa có vai trò nhất định đối với sự phát triển của
nền công nghiệp Việt Nam, và trong một số năm gần đây đã đạt tốc độ tăng
cao hơn tốc độ tăng bình quân của toàn ngành công nghiệp Tính theo giá trị
sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 1996 – 2000 đạt tốc độ tăng trưởng là
20%/ năm trong khi toàn ngành công nghiệp là 13,57%/ năm trong cùng thời
kỳ 1996-2000 (Nguồn: Bộ Công nghiệp)
Ngành công nghiệp sữa cũng là ngành đóng góp nhiều cho ngân sách
nhà nước, tiêu biểu là Vinamilk:
Bảng 1.1 : Kết quả sản xuất kinh doanh của Vinamilk ( 2003 - 2005 )
2004/2003 2005/2004
Tổng giá trị tài sản 2.631.571 2.554.708 3.897.936 96 152
Doanh thu thuần 3.809.414 3.775.183 5.638.784 99 149
Lợi nhuận từ hoạt động
Lợi nhuận trước thuế 822.147 461.549 602.600 56 130
Lợi nhuận sau thuế 512.466 461.549 517.671 90 112
Trang 7Formatted: Position: Horizontal: Center,
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 4)(Ngu ồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam)
Thị trường sữa Việt Nam hiện nay rất đa dạng về cả chủng loại lẫn chất
lượng.Với dân số 84 triệu người và mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm chế
biến từ sữa còn có xu hướng tăng mạnh Việt Nam là một thị trường khá hấp
dẫn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tham gia vào cạnh tranh,ngành
công nghiệp sữa Việt Nam đã đang và sẽ góp phần làm cho hoạt động của thị
trường ngày càng sôi động
1.1.2 Một số đặc điểm chính của ngành công nghiệp sữa
1.1.2.1 Đặc điểm của nguyên liệu đầu vào
Ngành sữa Việt Nam hiện nay mới chỉ tự túc được khoảng 13% nguyên
liệu phục vụ nhu cầu chế biến và tiêu dùng trong nước Số còn lại được nhập
khẩu dưới dạng bột sữa nguyên liệu, sữa bột các loại, sữa đặc có đường, sữa
tươi tiệt trùng, phomat, bơ, kem từ New Zealand, Hà Lan, Pháp, Đan
Mạch, và phần lớn nhập khẩu qua cảng thành phố Hồ Chí Minh
Trong cơ chế thị trường hiện nay , việc nhập khẩu các sản phẩm sữa
nhìn chung không quá khó khăn khó khăn.Tuy nhiên, do chưa chủ động được
nguồn nguyên liệu đầu vào và giá sữa nguyên liệu trên thị trường quốc tế lại
luôn trong tình trạng biến động, hoạt động sản xuất kinh doanh của của ngành
công nghiệp sữa nói chung và của Vinamilk nói riêng đã vấp phải không ít trở
ngại
Ngoài sữa bột nguyên liệu, nhiều loại phụ liệu và vật tư cho sản xuất
vẫn phải nhập như dầu bơ, các loại bao bì
Theo số liệu của Vinamilk , trong cơ cấu giá thành sản phẩm sữa bột
hơn 68% là chi phí nguyên liệu, vật tư nhập khẩu Trong đó khoảng 42% giá
thành là chi phí nhập sữa bột gầy Trong cơ cấu giá thành sữa tươi hoàn
nguyên , chi phí ngoại tệ cũng chiếm khoảng gần 76% Đăc biệt, chi phí bao
bì của sản phẩm sữa tươi chiếm tới 62,5% chi phí chế biến của Vinamilk Đối
Trang 8Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
với các liên doanh nước ngoài , những tỷ lệ này còn cao hơn Mục tiêu nội địa
hóa bao bì cũng có thể sẽ là một biện pháp làm giảm giá thành sản phẩm của
ngành sữa
Đến tháng 10/2002, Việt Nam có 54.345 con bò sữa, tăng gấp hơn 6,7
lần so với năm 1986 (7.975 con), và tốc độ tăng đàn bò sữa so với năm 2001
là 31,29% Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trưởng của đàn bò sữa đạt
11,7%/năm Trên 93% đàn bò sữa được nuôi trong hộ gia đình, quy mô từ 3
đến 10 con Có một số hộ nuôi trên 30 con Hầu hết các nông trường thuộc sở
hữu nhà nước chuyên chăn nuôi bò sữa đã thực hiện hình thức khoán cho các
hộ thông qua hợp đồng kinh tế-kỹ thuật, nông trường chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ
thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm sữa tươi để chế biến
Năng suất sữa hiện nay của giống bò sữa lai đã có ở Việt Nam đạt bình
quân 3.000-3.400 lít/chu kỳ Cá biệt có con đạt 6.000 lít/chu kỳ Tuy nhiên
năng suất này thấp hơn rất nhiều so với các nước có truyền thống chăn nuôi
bò sữa Phân theo năng suất sữa bò, trên thế giới thường chia làm ba nhóm:
Nhóm có năng suất cao, nhóm trung bình và nhóm kém Nhóm có năng suất
cao là các nước Mỹ, Nhật, Canada, Nauy, Thuỵ sĩ và một số nước EU, nhóm
trung bình là Úc, Hungary, Czech ; Việt Nam gần như đứng ở tốp cuối của
nhóm có năng suất kém
1.1.2.2 Đặc điểm về quy trình sản xuất, công nghệ chế biến và đặc tính của
sản phẩm
Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, hầu hết các cơ sở
sản xuất lớn của ngành sữa Việt Nam đều nỗ lực để có được những trang thiết
bị công nghệ tiên tiến của thế giới ở Công ty Sữa Việt Nam, phần lớn các nhà
máy thành viên đều được trang bị các dây chuyền sản xuất thông qua liên kết
với các công ty nổi tiếng của EU và Mỹ (như Tetrapak, APV), chỉ duy nhất
một dây chuyền vỏ lon 99 của Nhà máy Dielac là dùng thiết bị của Việt Nam
Trang 9Formatted: Position: Horizontal: Center,
(mới được đưa vào sử dụng trong năm 2002) Hầu như tất cả các thiết bị của
Vinamilk đều mới được sử dụng, một số được trang bị từ năm 1989, số còn
lại được trang bị từ năm 1996 trở lại đây và thuộc thế hệ thiết bị mới của thế
giới (ngoại trừ lò hơi 3,4 tấn/h của Nhà máy Dielac đã sử dụng từ năm 1973)
Các công ty liên doanh với nước ngoài cũng được đầu tư trang thiết bị hiện
đại
Như vậy, ngành sữa Việt Nam là một trong số ít ngành công nghiệp ở
nước ta có trang thiết bị và công nghệ đạt trình độ tiến tiến trên thế giới Với
công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại, các sản phẩm đảm bảo chất lượng đạt
tiêu chuẩn quốc tế Sản phẩm của Công ty Sữa Việt Nam được các cơ quan
chuyên trách trong và ngoài nước xác nhận về chất lượng( Vinacontrol, Viện
Kiểm tra Đo lường chất lượng của áo )
Tuy nhiên về tổng thể, Việt Nam chưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn
hoàn chỉnh cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu xuất nhập khẩu đến sữa
thành phẩm Việc quản lý của Nhà nước về mặt tiêu chuẩn chưa chặt chẽ và
còn tuỳ thuộc vào cách làm của từng công ty
Nhìn chung, các đơn vị sản xuất lớn trong ngành đều trang bị các máy
phân tích đo lường tiên tiến và hiện đại, nên việc quản lý chất lượng sản phẩm
khi sản xuất và cả trong quá trình tiêu thụ, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu
Các đại lý tiêu thụ , các quầy giới thiệu sản phẩm của Vinamilk, của Công ty
giống bò sữa Mộc Châu không được phép bán các sản phẩm sữa đã mãn hạn
sử dụng và những sản phẩm hết hạn sử dụng này đều được thu hồi về nơi sản
xuất
1.1.2.3 Đặc tính của thị trường
Thị trường sữa ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng về chủng loại sản
phẩm và chất lượng hàng hóa Với dân số 84 triệu người và mức tiêu thụ sữa
trên đầu người còn khá thấp, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ khá hấp dẫn
Trang 10Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Chia sẻ, cạnh tranh và chiếm lĩnh
thị trường tiêu thụ sữa Việt Nam đang là mối quan tâm hàng đầu của các công
ty chế biến sữa nước ngoài Ngoài ra, dựa vào những ưu thế của Việt nam
cùng với sự cạnh tranh trên thị trường thì việc đẩy mạnh xuất khẩu các sản
phẩm sữa cũng là ưu tiên số một của các công ty chế biến và kinh doanh các
sản phẩm sữa tại Việt Nam ( đặc biệt là Vinamilk)
* Thị trường tiêu thụ nội địa:
Nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ phát triển khá cao trong hơn 10 năm
qua Do vậy chất lượng cuộc sống người dân được cải thiện đáng kể, và
việc tiêu dùng các sản phẩm sữa đã trở thành nhu cầu thường xuyên của
nhiều bộ phận dân chúng Những chương trình xã hội của Nhà nước như
Chương trình dinh dưỡng học đường, Chương trình chống suy dinh
dưỡng cũng tạo điều kiện tốt cho việc tăng mức tiêu thụ sữa trên thị
trường nội địa Riêng Công ty Vinamilk cũng đã chủ động và tích cực
quảng bá sản phẩm của mình qua các chương trình tài trợ, chương trình
tiếp thị và phát triển mạng lưới nhà phân phối trên toàn quốc Doanh thu
của Vinamilk năm 2003 đạt 3.809 tỷ đồng, năm 2004 đạt 3.775 tỷ đồng, năm
2005 đạt 5.659 tỷ đồng và đến năm 2006 đã lên tới 6.746 tỷ đồng Với định
hướng phục vụ số đông người tiêu dùng trong nước, nhằm nâng cao thể trạng
và phù hợp với mức thu nhập của người dân, giá sản phẩm của Vinamilk
thường được xây dựng thấp hơn giá của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
và vẫn đảm bảo cho người chăn nuôi bò có mức lãi nhất định
Mặc dù sản phẩm do ngành sữa cung cấp cho thị trường trong nước
tăng đều hàng năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần mức tiêu thụ
trong những năm qua Dự kiến đến năm 2010 mức tiêu thụ tính theo đầu
người sẽ đạt 10 - 12kg/ người/năm - tăng bình quân hàng năm khoảng 0,5 lít
sữa cho mỗi người dân (khoảng trên dưới 40 triệu lít sữa qui đổi mỗi năm)
Trang 11Formatted: Position: Horizontal: Center,
Điều đó chứng tỏ thị trường nội địa còn rất rộng mở và sẽ là thị trường chiến
lược đối với ngành sản xuất sữa Việt Nam Sản phẩm sữa tươi tiệt trùng
(UHT) của Vinamilk đang chiếm giữ thị phần lớn ( theo đánh giá của Viện
Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, sản phẩm của Vinamilk chiếm lĩnh
khoảng 70 - 75% thị phần trong nước, cụ thể như sau: sữa đặc có đường 70 -
75%, nhóm sữa bột khoảng 50 - 60%, sữa tươi 95 - 98%)
* Thị trường xuất khẩu
Hiện nay ở Việt Nam chỉ có duy nhất Vinamilk là doanh nghiệp có sữa
và các sản phẩm từ sữa xuất khẩu được sang một số nước Về giá trị tổng sản
lượng xuất khẩu năm 2003 đạt 785 tỷ đồng, năm 2004: 372 tỷ đồng, năm
2005: 394 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đạt trên 67 triệu USD,
năm 2004 đạt trên 34 triệu USD và năm 2005 đạt trên 89 triệu USD
Thị trường xuất khẩu của Vinamilk trong thời gian qua chủ yếu là là
các nước Trung Đông ngoài ra còn sang Trung Quốc, Mỹ, Đức, úc Xét về
mặt chất lượng, giá thành, sản phẩm sữa Việt Nam có tiềm năng gia xuất
khẩu, nhất là đối với thị trường ASEAN và Trung Quốc
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH CÔNG
NGHIỆP SỮA
1.2.1 Nhu cầu tiêu dùng và sự tăng trưởng mức cầu tiêu dùng sữa và các
sản phẩm chế biến từ sữa
Nhu cầu về sản phẩm sữa của xã hội rất đa rạng Gắn với nhu cầu sữa
cho tiêu dùng trong nước và nhu cầu xuất khẩu
Nhìn tổng quát theo góc độ kinh tế, có thể gộp thành hai nhu cầu cơ
bản:
Một là, nhu cầu tự nhiên mà thực chất là nhu cầu về sản phẩm sữa của
dân cư tính theo số lượng dân số Đối với tất cả các các nước trên thế giới
hiện nay việc nâng cao thể chất của thế hệ trẻ là cực kỳ quan trọng, và đây là
Trang 12Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
một trong những tiền đề để hình thành nên tổng cầu về các sản phẩm sữa theo
mức độ quan tâm của chính phủ và các chiến lược phát triển quốc gia Yếu tố
trên là phương diện mà các nhà chính sách cần tính tới khi thiết lập giải pháp
để cân bằng cung cầu trong phát triển ngành sữa
Hai là, nhu cầu kinh tế, được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán,
hay là cầu sản phẩm sữa mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở
các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định Xét về phương diện
kinh tế của các nhà kinh doanh thì đây là điều rất đáng chú ý
Phần lớn người tiêu dùng nước ta có thu nhập thấp, sức mua hạn chế,
nhất là khu vực nông thôn, đặc biệt vùng trung du và miền núi cao (chiếm
76% dân số) Chiếm tỷ trọng cao vềsức mua trên thị trường là dân cư thành
thị ( 24% dân số) Đặc Đặc điểm này thể hiện rất rõ nét qua một số số liệu
thống kê dưới đây về tiêu thụ sản phẩm Vianamilk tại một số tỉnh phía Bắc
năm 2005 như sau:
Biểu đồ 1.1: Thu nhập của người lao động Việt Nam (tính bình quân cho
giai đoạn 2000 - 2005)
Formatted: 1, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 13Formatted: Position: Horizontal: Center,
300 USD -499 USD
150 USD - 299 USD ThÊp h¬n 150 USD
Thµnh Thi N«ng Th«n
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 20 trang 120) Nguồn : Niên giám thống kê
h ng năm thời kỳ 2000 – 2005
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Left
Trang 14Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Bảng 1.2 : Mức chi tiêu năm 2005 cho sản phẩm Vinamilk tại một số
Bình quân (Ngìn.đ/người)
Đ Bắc B.Tr.Bộ
Đ Bắc ĐBSH
T Bắc
Đ Bắc
T Bắc
Đ Bắc ĐBSH
T Bắc
2,67 1,00 0,88 1,67 2,86 0,67 3,47 0,66 1,79 0,76 0,61 0,59 0,60 1,89 0,88
177,0 19,7 15,3 27,6 30,3 5,5 21,4 3,6 8,9 3,5 2,6 2,1 1,9 4,8 1,5
76.900 19.700 17.386 16.527 10.820 8.200 6.167 5.455 4.972 4.605 4.262 3.559 3.167 2.540 1.705
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
(Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam)
Sự chênh lệch về mức độ tiêu thụ sữa còn thể hiện rất rõ nét giữa thành
thị, nông thôn và miền núi Chẳng hạn, riêng tại thủ đô Hà Nội, doanh thu của
Vinamilk đạt xấp xỉ tổng doanh thu ở các tỉnh đồng bằng như Hưng Yên, Hải
Formatted: Font: 14 pt, Bold, Dutch
Formatted: 2, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 15Formatted: Position: Horizontal: Center,
Dương, Thái Bình, Nam Định, và gấp 3 lần tổng doanh thu từ các tỉnh vùng
núi cao như Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng
Về mặt địa lý, thị trường sữa Việt Nam được phân chia thành 3 vùng
Bắc, Trung, Nam với sự khác nhau về khí hậu, điều kiện sống, phong cách
sống, thu nhập và thói quen tiêu dùng Trong 3 vùng, miền Nam là nơi có
mức độ tiêu thụ sữa cao nhất, tiếp theo là miền Bắc rồi đến miền Trung Sự
khác nhau về thói quen hay thị hiếu còn thể hiện ở sản lượng tiêu thụ của sản
phẩm Ví dụ: người dân miền Nam ưa dùng sữa tươi không đường, còn người
miền Bắc lại thích dùng sữa tươi có đường
Biểu đồ 1.2 : So sánh doanh thu của Vinamilk từ thị trường miền Bắc,
miền trung, miền nam Doanh thu nội địa
Miền Trung 5%
Miền
Nam
70%
Miền Bắc 25%
Sữa đặc có đường
Miền Trung 5%
Miền Nam 72%
Miền Bắc 23%
Sữa bột
Miền Bắc 14%
Miền
Miền Trung 7%
Sữa tươi
Miền Bắc 28%
Miền Trung Miền
Formatted: 1, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 16Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
(Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam)
Để thấy rõ hơn sự chênh lệch về mức tiêu dùng giữa các vùng miền,
chúng tôi xin minh hoạ bằng đồ thị dưới đây
Biểu đồ 1.3: Mức tiêu thụ sữa bình quân năm 2005
(tính theo lít/đầu người)
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn
Kết quả phân tích các số liệu đã được trích dẫn ở trên cho thấy, 1
người dân ở phía Nam có mức tiêu thụ sữa gấp 1,67 lần người dân ở miền
Trung, gấp 2,4 lần người dân ở miền Bắc và gấp 4,7 lần người dân ở khu vực
Tây Nam Bộ Tuy nhiên, khi thu nhập quốc dân tăng lên, chi tiêu cho tiêu
dùng hàng ngày, nhất là đối với vấn đề dinh dưỡng, cũng được người tiêu
dùng chú trọng dần Thói quen dùng sữa đã tăng cao đặc biệt là ở đối tượng
trẻ em Quan tâm đến chất lượng cuộc sống của mình, các đối tượng tiêu dùng
khác đã có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm sữa có bổ sung thêm các thành
phần dinh dưỡng cần thiết, như sữa có bổ sung canxi cho người cao tuổi nhất
là phụ nữ, sữa không béo nhằm ngăn ngừa tăng cholesterol trong máu, sữa bổ
sung DHA , Taurin, oligo fructose cho phụ nữ có thai hay cho trẻ sơ sinh
Trang 17Formatted: Position: Horizontal: Center,
Tâm lí chuộng hàng ngoại hoặc muốn „„tỏ ra sành điệu‟‟ còn rõ nét trong
người tiêu dùng Việt Nam Mặt khác, phần lớn người tiêu dùng Việt Nam
hiện nay còn có đặc điểm rất nhạy cảm với quảng cáo Do đó, trái ngược với
việc đa số người có thu nhập thấp muốn mua hàng hoá với giá bán thấp thì
một số đối tượng sẵn sàng chịu chi phí cao cho những sản phẩm nhập ngoại
hay mang thương hiệu ngoại, đắt tiền, đặc biệt là sữa bột
Tuy không có những lợi thế như ngành sản xuất rượu, bia, thuốc lá
nhưng ở thị trường Việt Nam hiện tại, ngành sữa có thể hy vọng vào sự tăng
trưởng mạnh của nhóm sữa tươi, trong đó các sản phẩm sữa tươi thanh trùng
Tỷ lệ tăng trưởng của nhóm sữa tươi là 8-10% /năm do thị hiếu tiêu dùng đang
dịch chuyển từ việc sử dụng sữa đặc có đường hay sữa bột sang việc dùng sữa
tươi
Như vậy, ta có thể thấy nhu cầu về sản phẩm sữa và sự tăng trưởng
mức cầu tiêu dùng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các nhân tố sau:
- Trước hết, là giá cả sản phẩm trên thị trường, chủng loại và chất
lượng sản phẩm sữa
- Mức thu nhập của người tiêu dùng: sức mua hay nhu cầu có khả năng
thanh toán của người tiêu dùng là yếu tố quyết định qui mô và dung lượng thị
trường và ở mức độ nhất định, đóng vai trò điều tiết sản xuất
- Các yếu tố thuộc về khẩu vị và sở thích của người tiêu dùng đối với
từng sản phẩm sữa
- Các yếu tố về văn hoá, thói quen truyền thống sử dụng sữa của người
dân Yếu tố này có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực thị trường đặc biệt là
giữa các vùng, miền ở nước ta
1.2.2 Khả năng sản xuất và cung ứng các nguyên liệu đầu vào
Đây là nhân tố lớn thứ hai, có ảnh hưởng trực tiếp đến ngành sữa, Việc
cung ứng các nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp sữa thường do hai
Trang 18Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nguồn chủ yếu: hoặc do sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài Tuỳ
theo điều kiện của từng nước, tỷ trọng của nhuyên liệu nội địa và nguyên liệu
nhập khẩu thường không giống nhau Khả năng cung thực tế của sản lượng
sữa phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:
- Môi trường tự nhiên mà trước hết là khí hậu thuận lợi thường giúp
ngành chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh Thông thường những quốc gia thuộc
miền khí hậu ôn đới thì đều có ngành công nghiệp sản xuất sữa phát triển
Ngày nay, công nghiệp chế biến và sản xuất sữa của thế giới phụ thuộc rất
nhiều vào các nước đó, điển hình là Hà Lan, New Zealand, Mỹ,
Australia nhìn chung thị trường sữa nguyên liệu đều bị các nước trên chi
phối Khi các công ty sản xuất và kinh doanh sữa không chủ động được nguồn
nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng lớn đến doanh thu dù sản phẩm sản xuất ra để
xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước ở Việt Nam ngành chăn nuôi bò sữa mới
bắt đầu chuyển qua cơ chế thị trường Trong thời gian qua, sản lượng sữa bò
của Việt Nam luôn tăng dần do công nghiệp chế biến sữa và tiêu thụ sữa đã
từng bước phát triển , đây cũng chính là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng
2000 (%) Sản lượng sữa tươi 24.600 27.800 31.200 32.800 42.302 52.172 16,2
Sản lượng sữa thu
mua của Vinamilk 16.700 21.700 27.509 30.000 39.000 50.848 24,9
Tỷ lệ thu mua của
Vinamilk(%) 67,89 78,06 88,17 91,46 92,19 97,46
Nguồn : Báo cáo tổng kết của Bộ Công nghiệp (1995 - 2000)
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Formatted Table
Trang 19Formatted: Position: Horizontal: Center,
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 3)
Năm 1990 sản lượng sữa tươi ở nước ta đạt 17.000 tấn, đến năm 2001 đã tăng
lên đáng kể đạt gần 70.000 tấn Năm 2004 sản lượng sữa thu mua của
Vinamilk là 112.680 tấn
Trong hơn 10 năm từ 1990 đến 2001 sản lượng sữa bò đã tăng lên 4 lần
Tuy nhiên cho đến nay lượng sữa nguyên liệu của Việt Nam mới chỉ đáp
ứng tối đa trên 13% nhu cầu tiêu thụ sữa
Công ty sữa Việt Nam, Công ty Dutch Lady (liên doanh với Hà Lan )
và Công ty cổ phần sữa Việt Nam là những đơn vị chủ lực về thu mua sữa của
các hộ chăn nuôi bò sữa Sản lượng thu mua của các công ty này tăng lên liên
tục và chiếm giữ tỷ lệ ngày càng cao so với sản lượng sữa tươi của cả nước
Việc thu mua sữa tươi được thực hiện qua các trạm thu mua sữa Các
trạm này hầu hết của tư nhân đứng ra tổ chức gom mua sữa tươi của các hộ
trong vùng, làm lạnh bảo quản rồi vận chuyển đến bán cho các nhà máy chế
biến sữa Các trạm trung chuyển này ban đầu được hình thành tự phát, sau đó
được sự hỗ trợ và hướng dẫn của các nhà máy chế biến sữa Các công ty chế
biến sữa đã cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sữa tươi trước
khi thu mua Riêng ở T.P Hồ Chí Minh có hơn 20 trạm thu mua sữa tươi Và
ở thành phố này hiện có 43 bồn lạnh, mỗi bồn chứa được 2,4 tấn sữa tươi,
đảm bảo mỗi ngày làm lạnh khoảng 100 tấn sữa tươi Do có các trạm trung
chuyển này mà các hộ nuôi bò sữa dù với quy mô nhỏ cũng bán được sữa cho
nhà máy chế biến Giá mua sữa tươi tại nhà máy là 3.550 đ/kg, tại các trạm
trung chuyển là 3.200đ/kg và nhìn chung giữ được ổn định từ năm 1995 đến
nay
Ở Mộc Châu, giá thu mua tại nhà máy là 2.300đ/kg do các hộ tự bảo
quản và vận chuyển về nhà máy chế biến của Trung tâm giống bò sữa Mộc
Châu Tương tự, ở Ba Vì các hộ nông dân bán trực tiếp cho Công ty sữa
Nestle với giá 2.000 đ/kg
Trang 20Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Vùng ngoại thành Hà Nội, sữa tươi được bán cho Nhà máy chế biến
sữa Phú Thuỵ với giá 3.100 đ/kg tại điểm thu gom , 3.300đ/kg tại Nhà máy
Tuy nhiên, việc thu mua vận chuyển bảo quản sữa tươi tại các vùng
chăn nuôi bò sữa các tỉnh phía Bắc còn một số khó khăn cần khắc phục: Giá
thu mua còn thấp, hệ thống thu mua - bảo quản - vận chuyển sữa thông qua
các trạm trung chuyển mới được hình thành, hoạt động chưa tốt, đã ảnh
hưởng lớn đến tâm lý của các hộ chăn nuôi bò sữa
1.2.3 Khả năng sử dụng vốn và các nguồn lực phát triển
Ngoài các công ty liên doanh với nước ngoài như Dutch Lady,
Vinamilk đã kết hợp với một số tập đoàn thực phẩm hàng đầu thế giới để hợp
tác đầu tư tại Việt nam với mục tiêu thu hút nguồn vốn và chất xám cho
Vinamilk nói riêng và ngành công nghiệp sữa Việt nam nói chung, đồng thời
thúc đẩy việc mở rộng thị trường của Vinamilk cả ở trong nước cũng như
quốc tế
Tháng 3/2005, Vinamilk đã hợp tác liên doanh với Tập đoàn Campina,
một tập đoàn sữa lớn nhất châu Âu và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất,
quảng bá các sản phẩm cao cấp trên thế giới Liên doanh này có tổng số vốn
là 4 triệu USD, sản xuất các sản phẩm sữa và bột sữa dinh dưỡng cao cấp với
những thương hiệu Campina mới nhằm cạnh tranh với các sản phẩm cao cấp
của các tập đoàn đa quốc gia đang có mặt tại thị trường Việt Nam
Quy mô và năng lực sản xuất của ngành công nghiệp sữa Việt Nam,
trong chừng mực nhất định, được phản ánh qua các số liệu dưới đây :
Bảng 1.4 : Các đơn vị chủ lực trong ngành sữa Việt Nam hiện nay
TT Tên doanh nghiệp Loại hình
D/nghiệp
Năm s/xuất
Năng lực
SX, T/n(qui sữa tươi)
1 Công ty Sữa Việt Nam
Trang 21Formatted: Position: Horizontal: Center,
-Nhà máy Sữa Trường Thọ
-Nhà máy Sữa Dielac
-Nhà máy Sữa Hà Nội
-Nhà máy Sữa Cần Thơ
2 Liên doanh Sữa Bình Định
5 Cty TNHH Nestle Việt Nam 100% FDI 1998 5.000
6 Cty Giống bò sữa Mộc Châu QD TW 10.000
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 3)
Ngoài ra, còn có Công ty F&N trong Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore
tham gia chế biến sữa tươi tiệt trùng với công suất 2,8 triệu lít/năm, Công ty
Unilever –Hà Lan đóng tại Củ Chi ( Thành phố Hồ Chí Minh ) chế biến 9 triệt
lít kem /năm
Năm 2003, Nhà máy Sữa Nghệ An ( liên doanh giữa Nghệ An và
Vinamilk ) đã hoàn tất xây dựng và được đưa vào sản xuất
Một số liên doanh với nước ngoài đã được cấp giấy phép xây dựng hoạt
động nhưng chưa được triển khai hoặc đã giải thể, trong đó có Liên doanh sản
xuất pho mát Mộc Châu ở Sơn La
Bên cạnh các cơ sở sản xuất, chế biến sữa quy mô lớn còn có một số cơ
sở nhỏ và hộ tư nhân chế biến thủ công tiêu thụ tại chỗ và trong các cửa hàng
giải khát với tổng sản lượng khoảng gần 10% lượng sữa tươi nguyên liệu
Phần lớn các cơ sở sản xuất và chế biến sữa tập trung tại các trung tâm
đô thị và công nghiệp lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; một số cơ sở
Formatted: Centered
Formatted: Centered
Formatted: Centered
Formatted: Centered Formatted: Centered
Trang 22Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
vừa và nhỏ hoạt động trên các vùng nguyên liệu có điều kiện chăn nuôi và
phát triển đàn bò sữa như ở Mộc Châu, Ba Vì, Lâm Đồng
Trong các cơ sở sản xuất trên, năng lực sản xuất của Vinamilk chiếm
tới 80% tổng năng lực sản xuất của toàn ngành Tiếp đến là Công ty Dutch
Lady Việt Nam và Nestle Việt Nam, là những cơ sở có thiết bị công nghệ tiên
tiến, thương hiệu có uy tín trên thị trường Việt Nam và có nhiều khả năng
phát triển trong tương lai
Bảng 1.5: Năng lực sản xuất hàng năm phân theo ngành hàng
Sản phẩm Đơn vị Vinamilk Dutch
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đánh giá mức huy động công suất theo nhóm sản phẩm:
Bảng 1.6 : mức huy động công suất thiết bị của Vinamilk
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Công ty cổ phần sữa Vinamilk
Từ các số liệu trên đây, có thể rút ra một số nhận xét:
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 23Formatted: Position: Horizontal: Center,
- Năng lực sản xuất sản phẩm sữa đặc còn khá lớn Nếu không có gì đột
biến về thị trường ( nội địa và xuất khẩu ) thì trong vài năm tới chưa cần đầu
tư mới dây chuyền sản xuất sữa đặc.Thị trường tiêu thụ chính của sữa đặc là
khu vực nông thôn và miền núi, với số dân ở khu vực này hiện có khoảng gần
60 triệu người trong năm 2000
- Hệ số sử dụng công suất thiết bị sản xuất sữa tươi tiệt trùng và sữa
chua đạt khá cao Những năm gần đây nhóm sản phẩm này có mức tăng
trưởng cao ( trên 20% /năm ) và nhu cầu tiêu thụ sữa tươi, sữa chua đang có
chiều hướng tăng nhanh ở khu vực thành thị và các trung tâm công nghiệp Vì
vậy cần có biện pháp đầu tư thích hợp để tăng năng lực sản xuất nhóm sản
phẩm này trong vài năm tới
-Sữa bột các loại: Sản lượng sữa bột các loại của Vinamilk đạt tốc độ
tăng trưởng 8% từ năm 2001 và đã đạt công suất thiết bị, những năm gần
đây tốc độ tăng trưởng còn cao hơn
1.2.4 Khả năng thích ứng với thị trường
Sở dĩ ngành sản xuất sữa Việt Nam ngày càng phát triển vì những
doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất sữa đều nắm bắt được điểm mấu chốt
trong cơ chế thị trường là hiểu sâu sắc các yếu tố văn hóa, xã hội và tính cách,
tâm lý người tiêu dùng theo từng khu vực địa lý nhất định Các doanh nghiệp
này đều biết rằng phải có chiến lược phát triển kênh phân phối hợp lý Đối với
sản phẩm sữa, các doanh nghiệp thâm nhập thị trường bằng cách xây dựng hệ
thống phân phối chuyên nghiệp, tạo ra nhiều kênh phân phối như kênh truyền
thống, kênh hiện đại và kênh khách hàng đặc biệt để làm sao đưa sản phẩm
đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất Khi đưa các sản phẩm qua các
kênh này, các doanh nghiệp kinh doanh sữa sẽ phải lựa chọn các trung gian
phù hợp với tiêu chí mà mình đưa ra Để vận hành hệ thống kênh phân phối,
các doanh nghiệp kinh doanh sữa phải đào tạo một đội ngũ quản lý chuyên
Trang 24Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nghiệp có khả năng đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên dưới quyền trở
nên chuyên nghiệp
Bằng việc xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp, các doanh
nghiệp kinh doanh sữa nhanh chóng đưa được nhãn hiệu của họ ra thị trường,
nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với người tiêu dùng và có được lợi thế khi
nghiên cứu về người tiêu dùng
Các sản phẩm sữa rất phong phú về giá cả Các doanh nghiệp kinh
doanh sữa có hệ thống giá riêng biệt, phù hợp tính kinh doanh của từng kênh
phân phối nhằm đáp ứng mua hàng của người tiêu Các trung gian tiêu thụ sản
phẩm sữa đều bán hàng theo chính sách giá nhất định của doanh nghiệp và
thu lợi nhuận từ hoa hồng sản phẩm Mỗi doanh nghiệp kinh doanh sữa có lợi
thế cạnh tranh khác biệt so với những sản phẩm cùng loại đó chính là lợi thế
tuyệt đối trong việc đáp ứng đa số các nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi nơi,
mọi giới và mọi tầng lớp
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ của ngành đã đầu tư hiện đại
hoá đạt mức tiên tiến trung bình của thế giới Các sản phẩm sữa cũng đã phát
triển đa dạng về chủng loại với chất lượng cao và mẫu mã đẹp, phù hợp với
nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường Sản phẩm sữa của Việt Nam bước
đầu đã xâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực
Cùng chung bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay go khốc liệt như mọi
ngành sản xuất kinh doanh khác trên thị trường Việt Nam, ngành sản xuất và
kinh doanh các sản phẩm sữa cũng đang có nhiều bước đổi thay rõ nét
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
Trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển nong
nghiệp, nông thôn nói riêng,nhiều nước trên thế giới đã kếm chú trọngđến
việc gắn kết phát triển phân bổ sữa với các cơ sở sane xuất, chế biến các sản
Trang 25Formatted: Position: Horizontal: Center,
phẩm về sữa Tuỳ theo điều kiện cụ thể, mỗi nước lại có những chiến lược và
chính sách khác nhau để thúc đẩy kinh tế phát triển Nhưng một yếu tố chung
cho phát triển là phải tạo được đầu ra cho sản phẩm trong nước Đối với
ngành công nghiệp chế biến sữa cũng vậy yếu tố tiêu thụ sản phẩm có tính
chất then chốt cho ngành chăn nuôi cũng như công nghiệp chế biến các sản
phẩm từ sữa Thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm sữa là một kênh tiêu thụ rất
lớn cho ngành công nghiệp chế biến sữa Các quốc gia đều có những chính
sách cụ thể thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực chăn nuôi, trồng cỏ và áp
dụng khoa học công nghệ trong từng công đoạn của sản xuất
Trong khuôn khổ của luận văn tác giả xin trình bày một số kinh
nghiệm trong việc phát triển ngành công nghiệp sữa của một số nước có điều
kiện tương tự Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Trung Quốc là một nước đang phát triển, có nhiều nét tương đồng với
Việt Nam Với điều kiện khí hậu, địa lý thuận lợi ở nhiều vùng, và là một
quốc gia đông dân nhất thế giới, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến
việc phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm sữa Qui hoạch
phát triển các vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp sữa rất rõ ràng, những
vùng địa phương có khí hậu ôn đới đều được ưu tiên phát triển ngành công
nghiệp chăn nuôi bò sữa Từ đó, về cơ bản Trung Quốc đã ttựgiải quyết được
phần lớn nguồn nguyên liệu để sản xuất sữa, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc có chính sách hỗ trợ xuất
khẩu rất mạnh nên giá các sản phẩm sữa của Trung Quốc thường rẻ hơn các
nước khác Chiến lược của Trung Quốc là chiếm lĩnh thị trường trước thu lợi
nhuận sau
Hiện nay Chính phủ Trung Quốc coi phát triển ngành sữa là một trong
những mục tiêu quan trọng là nhiệm vụ chiến lược trong chính sách “Tam
Trang 26Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nông ‟‟ nhằm tái cơ cấu nông nghiệp, và cải thiện sức khỏe của người dân và
thúc đẩy xu hướng tiêu dùng trong nước
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn rất thành công trong việc sử dụng Hoa
Kiều để làm cầu nối nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm sữa, đặc
biệt là thị trường Mỹ và các thị trường có đông dân Hoa kiều cư trú Để xây
dựng được kênh phân phối tốt ở nước ngoài, Trung Quốc đã tận dụng được trí
tuệ, kinh nghiệm kinh doanh và hệ thống phân phối hàng hoá của các doanh
nhân Hoa kiều Từ đó từng bước thâm nhập thị trường và xây dựng thương
hiệu tại thị trường đó Ngoài ra Trung quốc còn đầu tư xây dựng các trung
tâm thương mại “China Town" của người Hoa ở nhiều nơi trên thế giới nhằm
quảng bá thương hiệu các sản phẩm của Trung Quốc
Một kinh nghiệm khác cũng đáng chú ý của Trung Quốc: các doanh
nhân trong hiệp hội “sữa” rất đoàn kết với nhau trong tiếp cận và chiếm lĩnh
thị trường Các hiệp hội hoạt động đều được sự trợ giúp rất tích cực từ phía
Chính phủ trong quảng bá thương hiệu cho hàng hóa cũng như thu thập,
phân tích thông tin về sản phẩm trên thị trường, thúc đẩy sự phát triển của
ngành công nghiệp sữa
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan.
Thái Lan là nước cũng rất thành công trong trong việc phát triển sản
xuất và xuất khẩu các sản phẩm sữa Khác với Trung Quốc, Thái Lan không
được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu để phát triển các vùng nguyên liệu cho
ngành công nghiệp chế biến sữa nhưng ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm phát triển khá sôi động từ nhiều năm nay
Do đi vào kinh tế thị truờng theo mô hình của các nước phương tây đã
khá lâu Thái Lan đã thu hút đượ các công ty chế biến và kinh doanh sữa nổi
tiếng trên thế giới như Pamarat, Duch Lady, Hoogwegt …Công nghệ cùng kỹ
Trang 27Formatted: Position: Horizontal: Center,
năng quản lý hiện đại đã giúp các sản phẩm sản xuất tại Thái Lan có tính cạnh
tranh rất cao trên thị trường
Thái Lan đã sớm xây dựng một chiến lược cấp quốc gia để phát triển và
quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm của mình Chiến lược này dựa trên cơ
sở một hình ảnh Thái Lan trên thị trường toàn cầu như một đất nước với
những nét văn hóa đặc trưng Đặc biệt, khoảng hơn 10 năm trở lại gần đây,
Thái Lan chú trọng tăng cường sử dụng thương mại điện tử rộng rãi như một
công cụ hữu hiệu để phát triển kinh tế nói chung và ngành công nghiệp sữa
nói riêng
Thái Lan là một nước có ngành công nghiệp du lịch rất phát triển, do
vậy Chính phủ Thái Lan đã sử dụng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu bằng hình
thức xuất khẩu tại chỗ thông qua khách du lịch để quảng bá thương hiệu cho
các sản phẩm sữa cũng như cho các công ty chế biến sữa Cùng với ngành
công nghiệp du lịch, thì hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm chế
biến của Thái Lan cũng rất có uy tín trên thị trường quốc tế Chính phủ nước
này luôn cùng với doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động tìm thị trường
đầu ra cho các sản phẩm sữa
Quan hệ giữa Mỹ và Thái Lan có tính chiến lược nên việc tiêu thụ các
sản phẩm sữa của Thái Lan tại thị trường Mỹ rất được sự ưu ái của chính phủ
hai bên và đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến cho hoạt động
xuất khẩu các sản phẩm sữa của Thái Lan phát triển ngày càng mạnh Mỹ là
một thị trường tiêu dùng lớn nhất trên thế giới và Thái Lan luôn coi thị trường
Mỹ là trọng tâm để xuất khẩu hàng hóa nói chung và các sản phẩm sữa nói
riêng Thực tế nhiều năm qua cho thấy, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
sữa của Thái Lan bị chi phối rất nhiều bởi thị trường này
Trang 28Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
1.3.3 Kinh nghiệm của New Zealand.
New Zealand là một nước được thiên nhiên cực kỳ ưu đãi về điều kiện
khí hậu và địa lý nên ngành công nghiệp chế biến sữa rất phát triển New
Zealand là nước xuất khẩu các sản phẩm sữa lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ
Các sản phẩm sữa xuất khẩu của New Zealand rất đa dạng, và có mặt ở hầu
hết các nước trên thế giới
Trọng điểm trong chiến lược xuất khẩu mặt hàng sữa của New Zealand
rất rõ ràng - đó là xuất khẩu sữa nguyên liệu (bột sữa gầy - Skim Milk
Powder) và nhượng quyền thương mại trong buôn bán quốc tế New Zealand
là một trong những nước xuất khẩu sữa nguyên liệu lớn nhất thế giới Từ
những lợi thế trên, các công ty kinh doanh sản phẩm sữa xuất khẩu của họ
được hưởng những thuận lợi rất lớn trong việc thâm nhập thị trường tiêu thụ
toàn cầu
Công nghệ chế biến sữa trên thế giới có thể giống nhau, do quá trình
đầu tư và chuyển giao công nghệ Tuy vậy vvè nguyên liệu để sản xuất sữa thì
nhiều nước không có đủ khả năng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này (Việt
nam là một ví dụ) Năm bắt nhạy bén tình hình này, và bán sát lợi thế riêng
của mình, từ lâu New Zealand đã rất chú trọng đầu tư cho ngành công nghiệp
chăn nuôi bò sữa và xuất khẩu nguyên liệu sang nhiều nước trên thế giới
Để đa dạng hoá các loại hình xuất khẩu, New Zealand sử dụng phương
thức nhượng quyền kinh doanh Các nhà phân phối độc quyền của các công ty
sữa New Zealand ở nước ngoài chỉ phải đặt hàng số lượng cần tiêu thụ là sẽ
có sản phẩm với thương hiệu của New Zealand, nhưng các yếu tố khác trên
bao bì đều bằng ngôn ngữ của nước nhập khẩu, giúp cho sản phẩm phù hợp
với thị trường tiêu thụ hơn
Trang 29Formatted: Position: Horizontal: Center,
1.3.4 Một số bài học cho Việt Nam
Từ việc khảo cứu khái lược kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp
sữa của một số nước trên đây có thể rút ra một khía cạnh có giá trị tham khảo
bổ ích đối với Việt Nam trong việc đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp
sữa
Chiến lược cấp quốc gia cho các sản phẩm thực phẩm chế biến (trong
đó có các sản phẩm từ sữa) giúp các nước nông nghiệp như Việt Nam xây
dựng hình ảnh quốc gia trên thị trường thế giới bằng bản sắc dân tộc độc đáo
trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại như hiện nay Phát triển
công nghiệp sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển ngành công nghiệp chăn
nưôi bò sữa nhằm tăng dần tỷ lệ nguyên liệu trong nước, giảm dần tỷ lệ sữa
bột nguyên liệu nhập khẩu Để thực hiện yêu cầu trên cần đa dạng hóa các
thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành chế biến và chăn nuôi Theo
hướng này, các cơ sở chế biến sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển đàn
bò sữa trong nước và phải có chương trình đầu tư cụ thể đối với ngành chăn
nuôi Bên cạnh sự đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước cần có kế hoạch để
phát triển đàn bò sữa một cách lâu dài và ổn định ở Việt Nam, đảm bảo sự
phát triển đồng bộ và hợp lý giữa các vùng, các địa phương.Từ chỗ ổn định về
khâu nguyên liệu sản xuất sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng khả năng
cạnh tranh của các sản phẩm sữa trên thị trường nội địa và thế giới
Sản phẩm sữa là sản phẩm có liên quan đến sức khỏe, chế độ dinh
dưỡng, an toàn thực phẩm của con người, nên cần phải có các qui định thống
nhất về qui trình kỹ thuật, an toàn thực phẩm trong sản xuất phù hợp với các
yêu cầu quốc tế đối với các sản phẩm thực phẩm chế biến Trong hội nhập
kinh tế ngày nay thì chất lượng sản phẩm là yếu tố then chốt hàng đầu để sản
phẩm được chấp nhận trên thị trường
Trang 30Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Như vậy, từ những nội dung đã được nghiên cứu và trình bày trong
chương 1 của luận văn, có thể rút ra một số kết luận bước đầu dưới đây:
Một là, để đáp ướng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội,
ngành công nghiệp sữa tất yếu sẽ phát triển, trở thành một bộ phận cơ hữu
trong cơ cấu chung của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước và ở Việt Nam
Với chức năng sản xuất, cung ứng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa,
ngành này có vai trò quan trọng không thể phủ nhận Nó là một “ cầu nối ”
tạo ra sự liên kết theo xu hứonghueoéng hiện đại giữa ngành chăn nuôi, trồng
trọt ( cỏ ) và ngành công nghiệp chế biến chế biến; giữa sản xuất và dịch vụ
Mặt khác, ngành công nghiệp sữa còn giải quyết việc làm cho xã hội, tăng
nguồn thu ngân sách và ngoại tệ
Hai là, để có định hướng đảm bảo tính khoa học cho sự phát triển của
ngành công nghiệp sữa, ngay từ đầu cần chú trọng những đặc điểm của nó,
về những điều kiện kinh tế, về đặc tính của thị trường; về thiết bị và về xu thế
phát triển của áp lực cạnh tranh ở cả thị trường nội địa và thị trường thế giới
Ba là, Trong việc quy hoạch và thuc đẩy ngành công nghiệp sữa phát
triển, cần đặc biệt quan tâm đến nhu cầu tiêu dùng cũng như sự tăng trưởng,
biến đổi của nhumcs cầu tiêu dùng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa;
đồng thời phải tính toán kỹ khả năng sản xuất và cung ứng các nguyên liệu
đầu vào, khả năng sử dụng vốn và các nguồn lực phát triển thông qua các hình
thức liên kết kinh tế đa dạng ở trong nước và các đối tác nước ngoài, mặt
khaccs cũng phải đặc biệt quan tâm đến khả năng thích ứng với thị trường của
từng loại sản phẩm
Trang 31Formatted: Position: Horizontal: Center,
CHƯƠNG 2 NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
VÀ THỰC TRẠNG
Chương 2 được coi là trọng tâm của luận văn Trong chương này, tác
giả tập trung vào một số nội dung nhằm góp phần làm rõ bước chuyển của
ngành công nghiệp sữa Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường; thực trạng của nó hiện nay và các vấn đề đang đặt ra
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG
NGHIỆP SỮA VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát về tình hình sản xuất và tiêu dùng sữa ở Việt Nam thời
kỳ trước năm 1986.
Ngành công nghiệp chê biến sữa Việt Nam được hình thành từ những
năm 60 của thế kỷ 20, nhưng ở giai đoạn đầu quy mô còn rất nhỏ cả về số
lượng các cơ sở sản xuất cũng như sản lượng và chủng loại sản phẩm
Ở miền Bắc, trước năm 1986, chỉ có duy nhất một cơ sở chế biến sữa
thuộc sở hữu của Nhà nước đó là Công ty sữa Thảo Nguyên (Mộc Châu), hoạt
động theo cơ chế kế hoạch hoá, bao cấp và chuyên sản xuất bánh sữa bằng
nguyên liệu sữa bò Đây là sản phẩm được thực hiện trên cở sở công nghệ và
thiết bị đơn giản, cách xa vùng tiêu thụ
Ở miền Nam, sau khi đất nước được thống nhất vào năm 1976 Công ty
Sữa cà phê miền Nam được thành lập, bao gồm 4 nhà máy quốc doanh thuộc
Trang 32Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
ngành chế biến thực phẩm: Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường
Thọ, Nhà máy sữa Dielac và Nhà máy cà phê Biên Hoà Sản phẩm chế biến
chủ yếu là sữa bột, sữa đặc có đường
Đến năm 1982, Công ty sữa cà phê miền Nam được chuyển giao về Bộ
Công nghiệp thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê -
Bánh kẹo 1 (XNLH), có thêm 2 nhà máy trực thuộc là Nhà máy bánh kẹo
Lubico và Nhà máy bột dinh dưỡng Bích Chi (Đồng Tháp)
Nhìn tổng thể, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, cho đến
cuối năm 1986, ngành công nghiệp sữa Việt Nam vẫn ở tình trạng rất kém
phát triển Tình trạng này biểu hiện ở quy mô sản xuất nhỏ bé; thiết bị và
công nghệ cũ kỹ, lạc hậu; nguồn nguyên liệu vừa ít, phân tán, vừa đơn điệu;
chủng loại sản phẩm lại càng đơn điệu Nguyên nhân gốc rễ của tình trạng
này là do ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong thời trước 1986 bị chi phối
bởi cơ chế kinh tế chỉ huy
2.1.2 Những bước ngoặt lớn đánh dấu sự phát triển của ngành công
nghiệp sữa Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là trong
bối cảnh diễn ra sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành công nghiệp sữa Việt
Nam đã có những tiến bộ rất rõ nét Sự ra đời của Công ty Vinamilk năm
1992 thực sự là bước ngoặt đầu tiên lớn nhất của ngành công nghiệp sữa Việt
nam Với xuất phát điểm là 3 nhà máy sữa: Trường Thọ, Thống Nhất và
Dielac, đến nay Vinamilk đã có 8 nhà máy và đang nắm giữ vai trò chính của
công nghiệp chế biến sữa Việt Nam (chiếm giữ 60 % đến 70% thị phần nội
địa) Đến năm 1994 có thêm Công ty Foremost (nay là Dutch Lady), hoạt
động theo phương thức liên doanh giữa Công ty xuất nhập khẩu Sông Bé với
Công ty Friensland Vietnam Holding B.V (được cấp giấy phép hoạt động từ
Trang 33Formatted: Position: Horizontal: Center,
tháng 4/1994); và đến tháng 3 năm 1995 Công ty Nestle Việt Nam - doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài về ngành công nghiệp sữa ra đời tại Việt Nam
Tháng 12/2003, Công ty sữa Việt Nam chuyển sang hình thức công ty cổ
phần và được đổi tên là công ty cổ phần Sữa Việt Nam
Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) được thành lập trên cơ sở
Quyết định số 155/2003QĐ-BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp về
việc chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành Công ty cổ
phần Sữa Việt Nam
Nếu sự ra đời của Công ty Sữa Việt Nam năm 1992 là bước ngoặt lớn
đầu tiên của ngành công nghiệp sữa Việt Nam, thì việc chuyển sang hình thức
cổ phần cổ phần của Vinamilk chính là bước ngoặt lớn thứ hai của ngành
công nghiệp sữa Việt Nam
Hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế kinh tế thị trường, sản
phẩm của ngành công nghiệp Sữa Việt Nam ngày càng được đa dạng hoá
Nếu ở thời kỳ trước 1986, chỉ có một tỷ lệ không lớn người tiêu dùng được
“phân phối” gần như một loại sản phẩm duy nhất là bánh sữa, thì từ năm 1992
cho đến nay, hàng chục triệu người trên rừng ở cả nông thôn và các đô thị
Việt Nam hoàn toàn có thể dễ dàng tìm mua các sản phẩm rất phong phú
được chế biến từ sữa Chỉ riêng Công ty Sữa Việt Nam hiện đã có tới trên 200
mặt hàng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa gồm : sữa đặc, sữa bột cho trẻ
em và ngươi lớn, bột dinh dưỡng, sữa chua, sữa tươi, sữa đậu lành, kem,
phomát, nước ép trái cây, bánh quy , đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng
nhiều của người dân, phục vụ hiệu quả Chương trình dinh dưỡng học đường,
Chương trình chống suy dinh dưỡng Không những thế sản phẩm sữa Việt
Nam còn được xuất khẩu sang thị trường nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Châu
Á, các nước Trung Đông
Trang 34Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam ngày càng có vị trí quan
trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, là
nhân tố không thể thiếu nhằm phục vụ đời sống, tiêu dùng của nhân dân, nâng
cao khả năng dinh dưỡng và thể lực của nhân dân - một yêu cầu đặc biệt cần
thiết đối với công cuộc phát triển đất nước ở thời kỳ mới
Xây dựng, phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa mạnh, hiện đại,
hiệu quả, có tính cạnh tranh cao, sử dụng tối đa tiềm năng nội lực, tạo điều
kiện phát triển mạnh đàn bò sữa, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường nội
địa, từng bước mở rộng xuất khẩu đó là hướng đi có tính chiến lược của
ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam từ nay đến năm 2010 Hướng đi
này càng có ý nghĩa hơn khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
đã phát triển theo cả bề rộng và chiều sâu và nhất là khi Việt Nam đã chính
thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kể từ đầu năm 2007
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CỦA
NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1 Nguồn nguyên liệu trong nước và sản lượng sữa
Để thích ứng với nhu cầu ngày càng đa dạng và tinh tế của người tiêu
dùng và để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm với những đòi hỏi
ngày càng khắt khe của thị trường, từ sau năm 1986 đến nay, ngành công
nghiệp sữa Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể về nguồn nguyên liệu đầu
vào
Hiện nay, nguyên liệu dùng cho công nghiệp chế biến sữa và các sản
phẩm từ sữa ở Việt Nam bao gồm đường, dầu, thực vật, sữa bò, sữa trâu, sữa
dê, sữa cừu, …trong đó sữa bò là loại nguyên liệu chủ yếu nhất
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, sản lượng sữa bò của
Việt Nam luôn tăng dần, do công nghiệp chế biến sữa và tiêu thụ sữa đã từng
Trang 35Formatted: Position: Horizontal: Center,
bước phát triển và đây cũng là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng đàn bò
sữa cả nước
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 36Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Bảng 2.1: Sản lượng sữa bò giai đoạn 1997-2002
Đơn vị : tấn
Năm
Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000 2001 2002
T/độ tăng trưởng 1997-
2002 (%)
Sản lượng sữa tươi 24.600 27.800 31.200 32.800 42.302 52.172 16,2
Sản lượng sữa thu
mua của Vinamilk 16.700 21.700 27.509 30.000 39.000 50.848 24,9
Tỷ lệ thu mua của
Vinamilk 67,89 78,06 88,17 91,46 92,19 97,46
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 20)Nguồn : Báo cáo tổng kết của Bộ Công
nghiệp
Năm 1990 sản lượng sữa tươi đạt: 17.000 tấn; đến năm 2001 đã tăng
lên rõ rệt, đạt gần 70.000 tấn trong đó sản lượng sữa thu mua của Vinamilk là
63.168 tấn
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2001, sản lượng sữa bò đã tăng
lên đáng kể: năm 2001 gấp hơn 4 lần so với năm 1990 Tuy nhiên, lượng sữa
nguyên liệu của Việt Nam hiện nay mới chỉ đáp ứng tối đa khoảng dưới 15%
nhu cầu của các nhà máy chế biến sữa
Công ty Sữa Việt Nam và Công ty Duch Lady (liên doanh với Hà Lan )
là 02 đơn vị chính đứng ra thu mua sữa bò tuơi của các hộ chăn nuôi bò sữa;
trong đó Công ty sữa Việt Nam là đơn vị chủ lực, sản lượng thu mua của
Công ty tăng lên liên tục và chiếm giữ tỷ lệ ngày càng cao so với sản lượng
sữa tươi của cả nước
Thực trạng chăn nuôi bò sữa :
Theo số liệu của Viện Chăn nuôi, số lượng bò sữa ở Việt Nam năm
2001 là 41.241 con; và tính đến tháng 10 năm 2002 là 54.345 con, gấp hơn
6,7 lần so với năm 1986 (7.975 con ) Nếu chỉ so năm 2001 với năm 2002, tốc
Formatted Table
Trang 37Formatted: Position: Horizontal: Center,
độ tăng đàn bò sữa tăng tới 31,29 %/ (trong khi cả giai đoạn 1996-2000, tốc
độ tăng trưởng bình quân của đàn bò sữa đạt 11,7%/năm)
Bảng 2.2.: Diễn biến về số lượng đàn bò sữa giai đoạn 1994 - 2002
Để thấy rõ hơn thực trạng chăn nuôi bò sữa ở nước ta, cần tìm hiểu thêm về
cơ cấu phân bổ giữa các miền và các vùng lãnh thổ
Bảng 2.3: Tình hình phân bổ đàn bò sữa Đơn vị
1/10/2001 11/2002 Tỷ lệ tăng
so với 2001(%)
Ngu ồ n: B ộ N ô ng nghi ệ p v à Ph á t tri ể n n ô ng th ô n
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Formatted: 2, Left, Line spacing: single Formatted Table
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 38Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Điều đáng chú ý là có tới trên 93% đàn bò sữa được nuôi trong hộ gia
đình, quy mô từ 3 đến 10 con Có một số hộ nuôi trên 30 con Các nông
trường quốc doanh đã khoán về cho các hộ thông qua hợp đồng kinh tế -kỹ
thuật, và chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm
sữa tươi để chế biến (nông trường Mộc Châu –Sơn La, nông trường Đức
Trọng – Lâm Đồng )
Tại Củ Chi ( TP Hồ Chí Minh) và Đức Hoà (Long An) đã hình thành
một số hợp tác xã (HTX) dịch vụ chăn nuôi bò sữa Các HTX này có từ
50-100 hộ xã viên chăn nuôi bò sữa, bình quân mỗi hộ nuôi 10 con HTX hỗ trợ
người chăn nuôi về tiêu thụ sản phẩm, bảo lãnh vay vốn, hợp đồng các nơi có
đất để trồng cỏ, tổ chức sản xuất thức ăn, làm đầu mối chuyển giao khoa học
kỹ thuật… Đến nay đã có hàng trục HTX chăn nuôi bò sữa ở Long An, TP
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương
Giống bò sữa chủ yếu là bò lai Holstein Fresian với mức độ lai F1
(50% HF ), F2 (75% HF) và F3 (87,5% HF )
Năng suất sữa hiện nay của giống bò sữa lai đạt bình quân 3.000-3.400
lít/ chu kỳ, cá biệt có con đạt 6.000 lít/ chu kỳ
Theo thống kê, có khoảng 10% đàn bò sữa là bò HF thuần chủng được
nuôi chủ yếu ở vùng cao nguyên Mộc Châu (Sơn La ), Lâm Đồng, một số ít
được nuôi tại khu vực xí nghiệp bò sữa An Phước (Đồng Nai) Năng suất sữa
trung bình đạt 3.600 lít/ chu kỳ đến 4.300 lít/ chu kỳ (Nguồn: “Định hướng
phát triển bò sữa đến năm 2010”, Vương Ngọc Long)
Thức ăn cho bò sữa :
- Thức ăn tươi xanh : được cung cấp từ 2 nguồn chính là cỏ trồng và cỏ
tự nhiên Do diện tích trồng trọt ít (ở Việt Nam không có những đồng cỏ, thảo
nguyên chăn nuôi như ở các nước châu Âu, Mông Cổ…) nên chỉ có gần 10%
số hộ chăn nuôi trồng cỏ Diện tích trồng cỏ mỗi hộ từ vài trăm đến 1.000 m2
Trang 39Formatted: Position: Horizontal: Center,
Phổ biến là trồng cỏ voi, cỏ xả, năng suất 150-200 tấn/ha; cỏ Ghinê năng suất
80-100 tấn/ha
Do mùa khô kéo dài nên ở TP Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận, các
hộ chăn nuôi bò có trồng cỏ hoặc không trồng cỏ đều không đáp ứng đủ thức
ăn tươi xanh cho đàn bò Các hộ nuôi bò phải mua thêm cỏ tự nhiên là những
loại cỏ hoà thảo như cỏ chỉ ta, cỏ mật, cỏ lồng vực cạn, cỏ gấu… để giải quyết
nguồn thức ăn thiếu hụt Nếu trồng cỏ, giá thành từ 150-200 đồng /kg, còn
mua cỏ tự nhiên với giá thành 200-300 đồng/kg
Hầu hết các hộ chăn nuôi phải cho bò sữa ăn rơm, ngọn mía, bã đậu
phụ, khoai, sắn, dây đậu phộng… thay thế một phần thức ăn tươi xanh bị
thiếu
- Thức ăn dinh dưỡng được các hộ chăn nuôi bò sữa sử dụng chủ yếu là
cám tổng hợp được đóng bao riêng cho bò sữa, giá từ 2.100 đ-2.300 đ/kg( chế
biến từ các nhà máy An Phú, Tân Sanh, Thống Nhất, Con cò, …) một số ít hộ
dùng cám gạo, gạo và ngô nấu chín
Thức ăn cho các loại bò, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Khoa
học nông nghiệp Miền Nam, được phản ánh ở bảng dưới đây:
Bảng 2.4: Các loại thức ăn hàng ngày cho bò sữa ở Việt Nam
Đơn vị: kg
STT
Loại Bò Bò đang vắt sữa Bò cạn sữa Bò tơ, lõn
Loại thức ăn Mùa
mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Trang 40Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2.2.2 Nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Ngành sữa Việt Nam hiện nay mới chỉ tự túc được khoảng dưới 15%
nguyên liệu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước Số còn lại được nhập từ
thị trường nước ngoài (chiếm trên 80% nhu cầu sử dụng) dưới các dạng chính
sau: Bột sữa nguyên liệu, sữa bột các loại, sữa đặc có đường, sữa tươi tiệt
trùng, phomát, bơ, kem…
Tổng giá trị nhập khẩu các loại sữa qua cảng TP Hồ Chí Minh được
thống kê như sau :
Bảng 2.5: Tổng giá trị nhập khẩu các loại sữa
Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 4)
Từ những nội dung đã phản ánh trên đây, có thể nhận định: Nâng dần khả
năng tự túc nguyên liệu, thay thế nhập khẩu là hướng phát triển quan trọng
Formatted: 2, Left, Line spacing: single