Đặc điểm cơ bản của NSNN Theo quy định của Luật Ngân sách 2002: NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN VĂN DANH
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của Luận văn 5
7 Kết cấu Luận văn 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH V ỰC GIAO THÔNG VẬN TẢI 7
1.1 Ngân sách Nhà nước 7
1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước (NSNN) 7
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của NSNN 8
1.1.3 Bản chất và chức năng của NSNN 9
1.1.4.Vai trò của NSNN 11
1.1.5 Hệ thống NSNN 14
1.2 Quản lý NSNN 16
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc quản lý NSNN 16
1.2.2 Nội dung của quản lý NSNN 17
1.2.2.1 Quản lý thu NSNN 17
1.2.2.2 Quản lý chi NSNN 21
1.2.3 Phân cấp quản lý NSNN 25
1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý NSNN 28
1.3 Quản lý ngân sách trong lĩnh vực Giao thông Vận tải 29
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2010 -2012 35
2.1 Đặc điểm của Sở Giao thông Vận tải tỉnh Phú Thọ (GTVT) 35
Trang 32.1.1 Chức năng, nhiê ̣m vụ và cơ cấu tổ chức của Sở GGTVT tỉnh Phú
Thọ 35
2.1.1.1 Chức năng 35
2.1.1.2 Nhiê ̣m vụ 35
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức 36
2.1.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ, những thuận lợi và khó khăn của Sở GTVT tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2010 - 2012 38
2.2 Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 44
2.2.1 Cơ quan quản lý NSNN cấp cho Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 44
2.2.2 Quy mô NSNN cho GTVT 45
2.2.3 Quản lý NSNN 45
2.2.3.1.Quản lý hoạt động thu 45
2.2.3.2.Quản lý hoạt động chi 46
2.2.4 Quy trình thực hiện quản lý NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 48
2.2.4.1 Công tác lập dự toán NSNN 48
2.2.4.2 Công tác chấp hành dự toán NSNN 51
2.2.4.3 Công tác quyết toán NSNN 52
2.2.5 Công tác công khai, thanh tra, kiểm tra Quản lý NSNN của Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 52
2.2.5.1 Hoạt động công khai tài chính, NSNN 52
2.2.5.2 Công tác thanh tra, kiểm tra NSNN 54
2.2.6 Đánh giá những kết quả đạt được 55
2.2.7 Những hạn chế và nguyên nhân 57
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH PHÚ THỌ 61
3.1 Mục tiêu, phương hướng hoàn thiện quản lý NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 61
3.1.1 Mục tiêu 61
Trang 43.1.2 Phương hướng 61
3.1.3 Những yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện quản lý NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 62
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 64
3.2.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức 64
3.2.2 Đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ thông tin 67
3.2.3 Phân đi ̣nh trách nhiê ̣m và quyền hạn của từng cán bộ, cơ quan trong chu trình quản lý ngân sách nhà nước tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 68
3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 70
3.2.5 Các giải pháp ki ểm soát chi và sử dụng NSNN hợp lý t ại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ 73
3.2.5.1 Đổi mới việc lập và phân bổ dự toán chi ngân sách 73
3.2.5.2 Hướng tới lập dự toán ngân sách trung hạn , quản lý ngân sách theo đầu ra 76
3.2.5.3 Cải tiến hình thức thanh toán các khoản chi 82
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 2.1 Quy mô NSNN đầu tư cho GTVT giai đoạn 2010 -
2 2.2 NSNN đầu tư cho lĩnh vực bảo trì đường (GTVT) bộ
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
2 2.1 Cơ cấu tổ chức Sở GTVT tải tỉnh Phú Thọ 37
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i , Nhà nước luôn nắm giữ các chức năng quan trọng như quản lý hành chính , kinh tế, và các nhiệm vụ chính trị cũng như x ã
hô ̣i của quốc gia Để thực hiê ̣n được các chức năng nhiê ̣m vu ̣ trên Nhà nước cần xây dựng và nắm giữ mô ̣t hê ̣ thống ngân sách vững ma ̣nh , hợp lý và hiê ̣u quả Ngân sách nhà nước (NSNN) chính là một trong những hạt nhân quan trọng ảnh hưởng tới nền kinh tế vĩ mô , điều tiết thi ̣ trường, cân bằng tầng lớp xã hội… Do đó, viê ̣c quản lý ngân sách có trách nhiê ̣m và hiê ̣u quả nhằm đảm bảo xã hội phát triển ổn định và bền vững là một trong những vấ n đề luôn được đặt lên hàng đầu
Đặc biệt , từ khi Luâ ̣t NSNN được Quốc hô ̣i khóa XI kỳ ho ̣p thứ hai thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004, tốc đô ̣ thu NSNN hàng năm tăng khá , NSNN tăng 4.87 lần so với năm 2003 Cơ cấu chi NSNN đã đảm bảo bố trí ưu tiên cho chi đầu tư phát triển Bên ca ̣nh đó, Luâ ̣t đang hoàn thiê ̣n sự chủ đô ̣ng trong quản lý điều hành ngân sách giữa các cấp trung ương và các cấp đi ̣a phương để đa ̣ t được hiểu quả cao nhất
Những năm qua, tỉnh Phú Thọ nói chung và Sở Giao thông Vận tải tỉnh Phú Thọ (GTVT) nói riêng đã đạt được những chuyển biến tích cực và từng bước hoàn thiê ̣n hê ̣ thống quản lý thu chi ngân sách
Tuy nhiên, viê ̣c quản lý NSNN còn nhiều bất câ ̣p về công tác lâ ̣p dự toán, phân bổ ngân sách, thực hiện giải ngân và quyết toán ngân sách Trong đó có những địa phương, mô ̣t số lĩnh vực sử du ̣ng ngân sách chưa đúng mu ̣c đích gây thất thoát lãng phí Đặc biệt trong lúc nền kinh tế đang trải qua những giai đoạn khó khăn tích tụ từ năm 2008 để lại, áp lực thu và gánh nặng chi NSNN ngày càng cao, dẫn đến ngân sách đi ̣a phương cũng không tránh khỏi những hoa ̣t đô ̣ng chưa hiê ̣u quả Chính vì vậy, viê ̣c tăng cường quản lý NSNN là mô ̣t vấn đề hết
Trang 9sức cấp thiết Xuất phát từ lý do này tôi lựa cho ̣n đề tài “Quản lý Ngân sách
Nhà nước ta ̣i Sở Giao thông Vâ ̣n tải tỉnh Phú Tho ̣” làm đề tài nghiê n cứu
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế theo định hướng thực hành
Luâ ̣n văn được nghiên cứu để tìm ra hướng giải quyết cho câu hỏi : Hoạt động qu ản lý thu , chi NSNN của Sở GTVT tỉnh Phú Tho ̣ 2010 - 2012 như thế nào? Có những vấn đề nào cần nghiên cứu giải quyết? Cần có những giải pháp tối ưu nào để hoàn hiê ̣n công tác quản lý NSNN ta ̣i cơ quan này là có tính khả thi cao nhất?
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình trong nước và quốc tế nghiên cứ u về quản lý NSNN từ Trung ương tới các cấp đi ̣a phương Sau đây là mô ̣t số tác giả và những nghiên cứu tiêu biểu:
- Phạm Văn Thịnh (2011) Hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện
Phù Cát Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ, Đa ̣i ho ̣c Đà Nẵng
Trong nghiên cứu này tác giả tâ ̣p trung nghiên cứu sâu thực tra ̣ng pháp luâ ̣t về phân cấp quản lý NSNN và phân tích phương pháp quản lý hiê ̣u quả cho cấp huyê ̣n Thêm vào đó tác giả đưa ra những kiến nghi ̣ đối với cấp tỉnh Tuy nhiên luâ ̣n văn ha ̣n chế trong viê ̣c đưa ra các biê ̣n pháp để cải thiê ̣n mô
hình quản lý hiện hành của huyện nói riêng
- Nguyễn Thái Hà (2007), Quản lý chi NSNN Việt Nam trong hội nhập
kinh tế toàn cầu; Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn này nói về quản lý chi NSNN trong hội nhập kinh tế toàn cầu nhưng chưa nêu được một cách cụ thể về kết quả đạt được khi đất nước chúng ta hội nhập toàn cầu, ví dụ cụ thể một tỉnh nào đó
- Huỳnh Thị Cẩm Liêm (2011), Hoàn thiện công tác quản lý NSNN
huyện Đức Phổ; Luận văn Thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Trên cơ sở những vấn
đề lý luận và thực tiễn, người viết luận văn này đã đưa ra một số kết luận có tính thuyết phục Đồng thời đề xuất được một số giải pháp khoa học, hợp lý
Trang 10nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại một đơn vị cụ thể là huyện Đức Phổ Từ đó giúp các nhà quản lý hoạch định được chính sách phù hợp thực tế
trong việc quản lý NSNN tại huyện Đức Phổ
- Lương Ngọc Tuyền (2005), Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên của NSNN qua KBNN; Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh Với luận văn này, Nguyễn Ngọc Tuyền đã nhấn mạnh về công tác kiểm soát chi NSNN qua kho bạc đối với chi thường xuyên nhưng không nói đến việc kiểm soát chi những khoản chi lớn qua kho bạc như: chi xây dựng cơ bản, sắm trang thiệt bị, xe
- Nguyễn Thi ̣ Hải Hà ( 2013) Nhận diê ̣n một số bất cập trong phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước Tạp chí tài chính số 5 -2013 Bài báo phân tích
và nhấn mạnh rất rõ và o quan điểm trao quyền cho các cấp đi ̣a phương phân cấp thu, chi và xây dựng hê ̣ thống đi ̣nh mức phân bổ ngân sách sao cho phù hợp với đă ̣c thù của đơn vi ̣ các cấp Bài viết hỗ trợ người đọc hiểu sâu và nhìn nhâ ̣n ra tính khả t hi trong những điều luâ ̣t của luâ ̣t NSNN được thông qua
năm 2002, đă ̣c biê ̣t trong viê ̣c phân cấp quản lý nhưng chưa giải quyết được
vấn đề bài nghiên cứu này đưa ra
Có thể nói đề tài NSNN là không xa lạ nhưng để đi sâu vào việc q uản lý và sử dụng của một cơ quan , đơn vị hoặc một địa phương cu ̣ thể thì số lượng còn rất ha ̣n chế Hơn nữa, với đă ̣c thù riêng của tỉnh Phú Tho ̣ cũng như Sở GTVT đang hoa ̣t đô ̣ng quản lý và sử du ̣ng ngân sách cũng có rất nhiều đặc điểm riêng Dựa trên những thông số thực tiễn qua các báo cáo quyết toán , báo cáo tài chính của Sở cũng như các văn b ản pháp luật: Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hô ̣i đồng nhân dân tỉnh và các quyết định, quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Luâ ̣n văn sẽ đưa ra những đánh giá khách quan về tình tra ̣ng quản lý
và sử dụng NSNN tại Sở và những kiến nghị giải pháp để đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời, có thể khẳng định đây là đề tài không có đối tượng và phạm
vi nghiên cứu trùng lắp với các đề tài trước đó
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát hóa cơ sở lý luận về về NSNN, về quản lý NSNN trong lĩnh vực GTVT
- Phân tích và đánh giá thực tra ̣ng quản lý và sử du ̣ng ngân sách đi ̣a phương ta ̣i Sở GTVT tỉnh Phú Tho ̣ từ năm 2010 đến nay
- Đưa ra đi ̣nh hướng và đề xuất mô ̣t số giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n công tác quản lý NSNN của Sở GTVT tỉnh Phú Thọ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động quản lý NSNN tại Sở GTVT tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Quản lý NSNN của Sở GTVT tỉnh Phú Thọ Luận văn
đi sâu vào nghiên cứu việc sử dụng ngân sách cho các công tác đầu tư bảo trì đường bộ
- Phạm vi thời gian: Giai đoa ̣n 2010 - 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Luâ ̣n văn được thực hiê ̣n trên cơ sở và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm duy vật lịch sử được vận dụng để nhìn nhận, đánh giá hoạt động quản lý NSNN ta ̣i Sở GTVT tỉnh Phú Thọ Với cơ sở và phương pháp luâ ̣n này cho phép viê ̣c nghiên cứu đối tượng của luâ ̣n văn được đă ̣t trong mối liên hê ̣ tác đô ̣ng qua la ̣ i lẫn nhau ,
Trang 12thường xuyên vâ ̣n đô ̣ng , phát triển không ngừng phát triển từ thấp tới cao , từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
Bên ca ̣nh đó, Luâ ̣n văn còn sử du ̣ng kết hợp phương pháp tổng hợp , so sánh, phân tích, thống kê, phương pháp logic biê ̣n chứng và sử du ̣ng các bảng biểu để làm tăng thêm tính trực quan và sức thuyết phu ̣c của Luâ ̣n văn
Thêm vào đó là phương pháp thu thâ ̣p khảo sát thông tin thực tế trực tiếp từ các đơn vi ̣ nhằm tìm ra tình t rạng, những ha ̣n chế và giải pháp hợp lý cho vấn đề nghiên cứu
Số liê ̣u sử du ̣ng được thu thâ ̣p từ các số liê ̣u thống kê, báo cáo tài chính các năm của Sở GTVT tỉnh Phú Thọ; các Nghi ̣ quyết, quyết định của tỉnh và các số liê ̣u từ những tài liê ̣u tham khảo
6 Những đóng góp của Luận văn
- Tạo điều kiện chủ động cho mỗi đơn vị trực thuộc Sở trong việc sử dụng nguồn NSNN nhằm phục vụ thiết thực hoạt động thực thi nhiệm vụ được Đồng thời phát huy có hiệu quả nguồn kết dư của đơn vị (nếu có) để tăng thêm nguồn thu cho ngân sách của Sở
- Các đơn vị sử dụng ngân sách của Sở phải quán triệt tinh thần triệt để tiết kiệm trong chi tiêu, sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao Việc quản lý NSNN phải dựa trên nguyên tắc tập trung thống nhất đi đôi với phân cấp, thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước,
- Các đơn vị sử dụng NSNN của Sở cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát của cấp trên và đồng cấp, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật tài chính - kinh tế theo đúng quy định của pháp luật
- Thực hiện tốt việc khen thương, kỷ luật về công tác tài chính công, quan lý NSNN tại cơ quan Sở và các đơn vị trực thuộc
Trang 137 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n, mục lục và tài liệu tham khảo, Luận này văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về quản lý NSNN trong lĩnh vực GTVT
Chương 2: Thực trạng quản lý NSNN ta ̣i Sở GTVT tỉnh Phú Thọ trong
giai đoạn 2010 - 2012
Chương 3: Mô ̣t số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN ta ̣i
Sở GTVT tỉnh Phú Thọ
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1 Ngân sách Nhà nước
1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước (NSNN)
Thuật ngữ “ngân sách” được bắt nguồn từ thuật ngữ “budget” một từ tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau Khi giai cấp Tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó xuất hiện khái niệm “Ngân sách Nhà nước”
Cho đến nay, thuật ngữ “Ngân sách Nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song, quan niệm về ngân sách nhà nước thì lại chưa thống nhất Người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu:
Các nhà kinh tế Nga cho rằng: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của đất nước
Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước nước trong một năm
Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ, được thiết lập hàng năm
Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng quy định:
Trang 15“Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”
Trong một chừng mực nào đó, các định nghĩa trên có những sự khác biệt nhất định Nhưng về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của NSNN
Theo quy định của Luật Ngân sách 2002: NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Về hình thức biểu hiện bên ngoài: NSNN là một bảng kê các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước được dự kiến và được phép thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
Về cơ cấu: NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước Về mặt pháp lý: NSNN được cơ quan có thẩm quyền quyết định Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định NSNN về tổng mức
và cơ cấu phân bổ Theo đó, mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành
Về thời gian: Ngân sách được thực hiện trong 1 năm (còn gọi là năm tài khóa)
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:
- Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước do pháp luật quy định;
Trang 16- Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp lý
do Nhà nước quy định;
- Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN là từ giá trị thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến nhất
1.1.3 Bản chất và chức năng của NSNN
Như trên đã trình bày, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội Cho nên có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của NSNN là động viên hợp lý các nguồn thu (đặc biệt là thuế, phí, lệ phí) Đồng thời tổ chức và quản lý chi tiêu NSNN, thực cân đối thu - chi Tóm lại, NSNN có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, chức năng phân phối NSNN
Bộ máy Nhà nước muốn thực hiện được sự hoạt động của mình một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ
sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao Vì vậy, Nhà nước trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế
Trang 17Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên
Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếu khách quan
Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản chất của NSNN, đó là
hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nước Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước
Hai là, chức năng giám đốc quá trình huy động các nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu
Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp để làm tốt thu - chi Nhà nước định ra cơ cấu thu - chi hợp lý; theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu - chi
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản - chức năng phân phối và chức năng giám đốc NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN
Trang 18Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vị trí và tầm quan trọng của nó Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng đó và tổ chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN
1.1.4.Vai trò của NSNN
Vai trò của NSNN ở mọi thời đại và trong mọi mô hinh kinh tế là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế - xã hội và đó được xem la vai trò quan trọng bậc nhất của NSNN Vai trò này, về mặt chi tiết chung ta co thể đề cập đến ở những nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau, song trên góc độ tổng quát vai trò của NSNN qua 3 khía cạnh sau:
Thứ nhất, NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu với
2 hình thức sở hữu (quốc doanh và tập thể) đã dẫn đến sự phát triển yếu ớt của các quan hệ thị trường Không những thế, cơ chế kinh tế chỉ huy với việc nhà nước quyết định giá cả của các hàng hóa dịch vụ…cũng đã làm cho các quan hệ thị trường kém phát triển Trong cơ chế đó, sự vận động của giá cả, chi phí tách khỏi quan hệ cung - cầu của thị trường, sự biến động của chung được che giấu bởi sự bao cấp của NSNN Trong điều kiện đó, vai trò của NSNN đối với kinh tế - xã hội ngày càng trở nên lu mờ và tẻ nhạt
Trong nền kinh tế thị trường với đặc điểm nổi bật là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm đạt lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường
là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của cac doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương nay sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế dẫn đến nền kinh tế phát triển không cân đối
Do đó, để ổn định giá cả, Chính phủ có thể chủ động tác động vào cung hoặc
Trang 19cầu hàng hóa trên thị trường Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của NSNN bằng nguồn cấp phát của chi tiêu NSNN hằng năm, các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và tài chính được hình thành
Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên quá cao hoặc xuống qúa thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hóa và dự trữ tiền tệ nhà nước có thể điều hòa quan hệ cung - cầu hàng hóa vật tư để bình ổn giá trên thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và ổn định sản xuất Đồng thời,
trong quá trình điều tiết thị trường NSNN còn tác động đến thị trường tiền tệ
và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán
trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát Nhà nước cũng có
thể sử dụng ngân sách nhằm khống chế và đẩy lùi nạn lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện các chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác
có thể giảm thuế với đầu tư, kích thích sản xuất phát triển kinh tế
Thứ hai, NSNN góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vai trò của NSNN trong việc điều chỉnh các hoạt động trở nên hết sức thụ động NSNN dường như chỉ là một cái túi đựng số thu để rồi thực hiện việc bao cấp tràn lan cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cấp vốn cố định, vốn lưu động, cấp bù lỗ,
bù giá, bù lương….Trong điều kiện đó, hiệu quả của các khoản thu, chi NSNN không được coi trọng và dĩ nhiên tác động của NSNN đến các hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh các hoạt động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế là hết sức mờ nhạt
Trang 20Chuyển sang cơ chế thị trường Nhà nước định hướng việc hình thành
cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền, điều đó được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chính sách chi tiêu của NSNN vừa kích thích vừa gây sức ép với các doanh nghiệp nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, NSNN góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đã hạn chế đáng kể vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Trong thời kỳ này, mọi sự ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước đều được dành cho việc cấp về nhà ở, cung cấp lương thực… Chế
độ bao cấp thực phẩm, hàng tiêu dùng với giá thấp đã gây ra tâm lý tìm chỗ đứng trong biên chế nhà nước, tâm lý trông chờ, ỷ nại vào Nhà nước Điều đó một mặt làm giảm hiệu quả công tác, hiệu quả tiền vốn, mặt khác vừa tác động ngược chiều với việc đảm bảo công bằng xã hội Bên cạnh đó việc bao cấp tràn lan cho các hoạt động có tính chất xã hội song lại thiếu tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ và hiệu quả, dẫn đến việc hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu về mặt xã hội
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoat động xã hội, y tế, văn hóa có ý nghĩa quyết định Việc thực hiện nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng những dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, những nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ NSNN Như vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chung toàn xã hội, NSNN có vai trò quan trọng hàng đầu
Các vai trò trên của NSNN cho thấy tính chất quan trọng của NNSNN, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ
Trang 21nền kinh tế Và vấn đề đặt ra ở đây là việc tổ chức quy mô, cơ cấu và quản lý
NSNN như thế nào để phát huy được hết vai trò của nó
1.1.5 Hệ thống NSNN
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách, giữa chúng có mối quan
hệ hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế - chính trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của Nhà nước
Các nước có nền kinh tế thị trường, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính Có hai mô hình tổ chức hệ thống hành chính đó là: Mô hình nhà nước liên bang; Mô hình nhà nước thống nhất hay phi liên bang Xuất phát từ đó cũng tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống NSNN Ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế nhà nước liên bang như:
Mỹ, Đức, Canada, Thụy Sĩ, Malaysia, hệ thống NSNN được tổ chức theo 3
cấp: Ngân sách liên bang; Ngân sách bang; Ngân sách địa phương
Hệ thống NSNN ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế nhà nước thống nhất hay phi liên bang như: Anh, Pháp, Ý, Nhật, bao gồm 2 cấp Ngân sách: Ngân sách trung ương; Ngân sách địa phương
Tại nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức
bộ máy nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo Hiến pháp Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Việc hình thành
hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước
và chính sự ra đời của hệ thống chính quyền nhà nước nhiều cấp đó
Hệ thống NSNN Viê ̣t Nam bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách Trung ương tập trung những nguồn thu quan trọng nhất và đảm nhiệm những nhiệm vụ chi chủ yếu Việc phân phối, quản lý Ngân sách được tiến hành thông qua việc quy định phạm vi nhiệm vụ và
Trang 22trách nhiệm cụ thể của chính quyền Nhà nước, Trung ương và các cấp đi ̣a phương, đồng thời thông qua việc phân định các nguồn thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách đi ̣a phương đ ể đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ được giao Cụ thể:
+ Ngân sách Trung ương:
Ngân sách Trung ương được hợp thành từ các kế hoạch tài chính, các ngành kinh tế quốc dân và các dự toán kinh phí của Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ Nó phản ánh sự lãnh đạo tập trung kinh tế theo ngành Trong hệ thống NSNN, ngân sách Trung ương là khâu trung tâm và giữ vai trò chủ đạo Ngân sách Trung ương có vai trò:
- Tác động có tính tổ chức và xác định phương hướng hoạt động đối
với các cấp trong toàn bộ hệ thống Ngân sách
- Ngân sách Trung ương tập trung phần lớn các nguồn thu và bảo đảm nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước có
tính chất toàn quốc
- Thường xuyên điều hòa vốn cho các cấp ngân sách địa phương nhằm tạo điều kiện cho các cấp ngân sách hoàn thành các m ục tiêu kinh tế - xã hội
thống nhất của cả nước
+ Ngân sách địa phương:
Ngân sách địa phương được hợp thành bởi các kế hoạch tài chính và dự toán kinh phí của các ngành, các cơ quan trực thuộc các cấp chính quyền địa phương Ngân sách địa phương là công cụ tài chính của các cấp chính quyền tương ứng và phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các
cấp chính quyền đã được phân cấp quản lý Ngân sách địa phương có vai trò:
- Bảo đảm các nguồn vốn để thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế, quản
lý nhà nước và các hoạt động văn hóa - xã hội trong địa phương
- Đảm bảo huy động, quản lý một phần vốn của ngân sách Trung ương phát sinh trên địa bàn, địa phương
Trang 23- Điều hòa vốn về ngân sách Trung ương trong nh ững trường hợp cần thiết để cân đối hệ thống ngân sách.
1.2 Quản lý NSNN
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc quản lý NSNN
Quản lý NSNN là quá trình tác động của chủ thể quản lý NSNN thông qua viê ̣c sử du ̣ng có chủ đi ̣nh các phương pháp quản lý và các công cu ̣ quản lý để tác
đô ̣ng và điều khiển hoa ̣t đô ̣ng của NSNN nhằm đa ̣t được mu ̣c tiêu đã đi ̣nh
Để quản lý hiê ̣u quả hê ̣ thống NSNN thì cần tuân thủ mô ̣t số nguyên tắc
cơ bản như sau:
Thứ nhất, là nguyên tắc thống nhất: Nhà nước chỉ có một ngân sách tập
hợp tất cả các khoản thu và các khoản chi Sự thống nhất của ngân sách còn thể hiện trong sự thống nhất về hệ thống ngân sách, về các báo biểu, mẫu biểu tài chính Nguyên tắc thống nhất đảm bảo cho yêu cầu kiểm tra từ phía Quốc
hội đối với hoạt động tài chính của Chính phủ
Thứ hai, là nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của NSNN: Nguyên tắc
này được đưa ra nhằm chống lại tình trạng để ngoài ngân sách các khoản thu hoặc chi thuộc NSNN, dẫn đến tình trạng lãng phí trong quá trình chi tiêu của
Chính phủ
Thứ ba, là nguyên tắc trung thực: Tính trung thực đòi hỏi phải thể hiện
chính xác trong ngân sách các nghiệp vụ tài chính của Chính phủ; tính chất của mỗi khoản thu, chi; sự phù hợp giữa dự toán đã phê chuẩn và thực tế chấp
hành Nghiêm trị mọi hành vi man trá trong hạch toán thu - chi NSNN
Thứ tư, là nguyên tắc công khai: Chính phủ phải công bố công khai trên
báo chí và các phương tiện thông tin khác về NSNN, bao gồm: nội dung khối
lượng các khoản thu, chi chủ yếu
Tuy nhiên, trên thực tế, ở mỗi nước và trong từng giai đoạn, vì lợi ích giai cấp và vì các lý do khác, nhiều khi những nguyên tắc cơ bản cũng bị vi phạm hoặc chỉ được chấp nhận một cách hình thức Đó cũng là nguyên nhân
Trang 24diễn ra các cuộc đấu tranh gay gắt giữa Quốc hội và Chính phủ, giữa nhân dân
và Nhà nước
Thứ năm , Nguyên tắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công
quyền, sử dụng các nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra Đây
là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách, bao gồm:
- Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách; chịu trách
nhiệm về các quyết định về ngân sách của mình
- Trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực
hiện NSNN theo chất lượng công việc đạt được
Ở Việt Nam, NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Quốc Hội quyết định dự toán NSNN, phân
bố NSNN; phê chuẩn quyết toán NSNN
1.2.2 Nội dung của quản lý NSNN
1.2.2.1 Quản lý thu NSNN
Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.Theo Luật NSNN năm 2002, thu NSNN bao gồm những khoản thu từ thuế; phí; lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Trong cơ cấu thu NSNN ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN bởi nó được trích xuất từ những giá trị do nên kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực của Nhà nước
Trang 25* Thu NSNN có những đặc điểm sau:
- Phần lớn các khoản thu được tạo nên từ nền tảng nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế Thu NDNN còn bao gồm các khoản thu dựa trên cơ sở trao đổi như phí, lệ phí; các khoản thu do thỏa thuận như vay mượn; các khoản thu
do người dân tự nguyện đóng góp
- Các khoản thu không mang tính bồi hoàn trực tiếp Các tổ chức cá nhân nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là phải mua một hàng hóa hay dịch vụ nào đó của Nhà nước Nhà nước dùng nguồn thu này để tạo ra hàng hóa, dịch vụ công để cung cấp cho người dân Như vậy, các khoản thu ngân sách được chuyển trở lại cho người dân một cách gián tiếp và công cộng
- Thu NSNN luôn gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Nguồn thu ngân sách được dùng để thực hiện chi tiêu công chứ không phải tìm kiếm lợi nhuận
* Phân loại thu ngân sách
Thu ngân sách được phân loại theo các tiêu thức cơ bản sau:
+ Căn cứ theo tính chất: Thu NSNN được phân thành 2 nhóm là thu thuế và không phải thuế:
- Các khoản thu thuế bao gồm các sắc thuế mà nhà nước ban hành dưới hình thức luật, là những khoản thu mang tính bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp và được xây dựng trên nghĩa vụ công dân Thuế chiếm tỷ lệ đa số trong tổng thu của NSNN
- Các khoản thu không phải thuế như phí, lệ phí, quyên góp, vay mượn, cho thuê tài sản công Đây là những khoản thu mang tính đối giá và được xây dựng trên cơ sở sự thỏa thuận giữa nhà nước và công dân
+ Căn cứ theo phạm vi và lãnh thổ: Thu NSNN được phân thành thu trong nước và thu ngoài nước
Trang 26- Thu trong nước bao gồm thu từ thuế, phí, lệ phí, cho thuê tài sản công, khai thác tài nguyên Thu trong nước là nguồn thu nội lực cơ bản giúp cho Nhà nước xây dựng một NSNN chủ động
- Thu ngoài nước như từ đầu tư nước ngoài, viện trợ nước ngoài, vay nợ nước ngoài Đây là những nguồn lực có thể giúp đất nước nhanh chóng tích tụ và tập trung vốn đầu tư vào những công trình trọng điểm
+ Căn cứ theo nội dung: Thu NSNN gồm những khoản thu mang nội dung kinh tế và những khoản thu không mang nội dung kinh tế
- Thu mang nội dung kinh tế gồm phí, lệ phí, vay nợ, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên
- Thu không mang nội dung kinh tế gồm thuế, các khoản quyên góp, viện trợ nước ngoài và thu khác
* Nhân tố ảnh hưởng tới thu NSNN
- Trình độ phát triển kinh tế: Thu NSNN được hình thành từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra, do vậy nền kinh tế phát triển và bền vững là cách thúc đẩy tăng thu cho NSNN
- Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế: Nền kinh tế phát triển, các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh có lợi nhuận cao thì sẽ làm tăng thu cho NSNN thông qua các sắc thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
- Thu nhập bình quân đầu người: Nếu thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ làm gia tăng các khoản tiêu dùng trong sinh hoạt và như thế sẽ có điều kiện để tăng thu NSNN qua các sắc thuế như giá trị gia tăng, thuế tài sản, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Trình độ hiện đại hóa trong thanh toán và hạch toán sẽ làm cho thu NSNN tăng thêm do mọi khoản thu và chi phí của các tổ chức và cá nhân đều được ghi chép và phản ánh minh bạch hơn nên quá trình Nhà nước động viên một phần thu nhập của công chúng là chính xác và công bằng hơn
Trang 27- Trình độ nhận thức của công chúng: Trình độ của công chúng càng cao thì họ càng nhận ra vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của mình trong tiến trình phát triển nền kinh tế Khi đó, công dân sẽ nhận ra rằng việc đóng góp thuế cho Nhà nước là nghĩa vụ hiển nhiên của người dân để cùng chia sẻ những chi phí công cộng
- Năng lực pháp lý của bộ máy Nhà nước đạt trình độ cao giúp Nhà nước đặt ra và quản lý hữu hiệu các khoản thu phù hợp với thể chế và khả năng đóng góp của doanh nghiệp và dân chúng Đồng thời hạn chế thất thu đến mức tối thiểu Qua đó, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong quá trình động viên và sử dụng một phần của cải của xã hội
- Hiệu quả hoạt động của Nhà nước: Nhà nước hoạt động có hiệu quả khi sử dụng nguồn lực một cách thích hợp để cung cấp những hàng hóa dịch vụ công được xã hội chấp thuận Nhà nước hoạt động càng hiệu quả thì khả năng thu ngân sách từ các khu vực kinh tế và người dân càng cao Và chính
do có nguồn thu lớn thì sẽ gia tăng tiềm lực tài chính để phát triển những nguồn lực của Nhà nước
- Quan hệ đối ngoại của Nhà nước: Đây là nhân tố làm tăng các khoản viện trợ và cho vay ưu đãi của Chính phủ, tổ chức nước ngoài nếu như Nhà nước có quan hệ đối ngoại tốt
- Tổ chức bộ máy thu ngân sách: Thu NSNN sẽ đạt hiệu quả, thu đúng, thu đủ nếu tổ chức bộ máy thu nộp hoạt động tốt Điều đó cho thấy cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ làm trong bộ máy này là rất quan trọng
- Các chế tài xử lý hành chính về thu NSNN: Nếu Nhà nước đưa ra các chế tài thưởng, phạt nghiêm minh trong công tác quản lý nguồn thu NSNN sẽ tăng hiệu quả và lực trong việc buộc các cá nhân, tổ chức thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước
Trang 281.2.2.2 Quản lý chi NSNN
Quản lý chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Nói cách khác, chi NSNN chính là việc cung cấp nguồn lực tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước
* Chi NSNN có những đặc điểm:
Luôn gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhận Mức độ và phạm vi chi NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN thể hiện ở tầm vĩ mô mang tính chất toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng
Chi NSNN là những khoản chi mang tính cấp phát, không mang tính hoàn trả trực tiếp
* Phân loại chi ngân sách
Chi NSNN bao gồm những khoản chi như sau:
+ Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn;
Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các
tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
Chi bổ sung dự trữ Nhà nước;
Chi đầu tư phát triển thuộc các Chương trình mục tiêu Quốc gia, dự
án Nhà nước;
Chi các khoản đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
Trang 29+ Chi thường xuyên:
Chi các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ và các
sự nghiệp xã hội khác;
Chi các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
Chi các hoạt động của cơ quan Nhà nước;
Chi các hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
Chi hoạt động của Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;
Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự
án Nhà nước;
Chi hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội;
Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
Chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp;
Các khoản chi thường xuyên theo quy định của pháp luật
+ Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay
+ Chi viện trợ của ngân sách Trung ương cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài
+ Chi cho vay của ngân sách Trung ương
+ Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
+ Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
+ Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau
Trang 30* Vai trò của chi NSNN
+ Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước Nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước được NSNN đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Đó là các nguồn lực để trả lương cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan của Nhà nước; để xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo hoạt động cho bộ máy này
+ Thu hút vốn đầu tư Việc thu hút vốn đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện thông qua các khoản chi cho vay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Việc Nhà nước tạo ra hàng hóa công tạo điều kiện nâng cao chất lượng sống của dân chúng và góp phần điều chỉnh nền kinh tế theo những mong muốn của Nhà nước
+ Điều chỉnh chu kỳ kinh tế Chi NSNN hình thành nên một thị trường đặc biệt Chính phủ tiêu thụ một khối lượng hàng hóa khổng lồ đã làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng một cách đáng kể Tổng cầu tăng làm cho khả năng thu hút vốn và kích thích sản xuất phát triển Như vậy, thị trường của Chính phủ trở thành công cụ kinh tế quan trọng của Chính phủ nằm tích cực tái tạo lại cân bằng của thị trường hàng hóa khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các mối quan hệ cung cầu thông qua tăng hay giảm mức độ chi tiêu công ở trị trường này
+ Tái phân phối thu nhập xã hội Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi tiêu công để tái phân phối lại thu nhập xã hội Với công cụ thuế mang tính chất động viên nguồn thu cho Nhà nước thì công cụ chi tiêu công mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu nhập thấp qua các chương trình phúc lợi xã hội
* Nguyên tắc quản lý chi NSNN
+ Nguyên tắc trong dự toán: Các khoản chi NSNN phải trong dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tuân thủ theo chế độ, định mức quy định
Trang 31+ Nguyên tắc phân bổ hiệu quả: Kế hoạch chi NSNN phải phù hợp với những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm phân bổ có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước
+ Nguyên tắc sử dụng có hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi có sự đánh giá việc sử dụng các khoản chi NSNN xem tính hiệu quả đạt được đến đâu Cần có cơ chế kiểm tra giám sát đối với các khoản chi NSNN để đảm bảo tính hiệu quả của các khoản chi này
* Yêu cầu đối với quản lý chi NSNN
+ Nhà nước phân định và bố trí các khoản chi ngân sách tương ứng với những nguồn thu thích hợp Chi thường xuyên từ NSNN chỉ được sử dụng trong phạm vi từ nguồn thu trong nước và các khoản viện trợ nước ngoài; Chi trả nợ gốc nước ngoài trong phạm vi tỷ lệ quy định trong tổng chi NSNN; Chi đầu tư phát triển được xác định tỷ lệ thích hợp trong tổng chi NSNN để đảm bảo tăng trưởng trong nền kinh tế
+ Chi NSNN phải thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế Thông qua các khoản chi NSNN, nguồn vốn được phân phối để hình thành cơ cấu ngành, tập trung đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, đổi mới công nghệ, kết cấu hạ tầng, đào tạo, và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Trong quản lý chi NSNN cần phải xem xét nhu cầu, khả năng cân đối vốn trong nền kinh tế nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng bền vững
+ Trong cơ chế chi NSNN cần phải tinh giảm đội ngũ cán bộ, công chức, sắp xếp lại bộ máy hoạt động theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả, tránh việc để bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, chi nhiều mà không hiệu quả
+ Cần quán triệt nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong mọi khoản chi NSNN + Quản lý chi NSNN theo đúng pháp luật, chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn quy định của Nhà nước
Trang 321.2.3 Phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là quá trình Nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý NSNN
Phân cấp quản lý ngân sách giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của NSNN trong 3 nội dung sau: quan hệ về mặt chế
độ chính sách; quan hệ vật chất về nguồn thu và nhiệm vụ chi; quan hệ về mặt quản lý chu trình ngân sách
Theo Luật NSNN 2002, điều 4: “NSNN bao gồm ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND” Như vậy, hệ thống NSNN bao gồm:
- Ngân sách Trung ương
- Ngân sách tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương)
- Ngân sách huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
- Ngân sách xã (phường)
Việc tổ chức NSNN thành nhiều cấp là một tất yếu khách quan, nó phụ thuộc vào cơ chế phân cấp quản lý hành chính
- Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ và cần được đảm bảo bằng nguồn tài chính nhất định
- Mặt khác, mỗi cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương ở từng vùng, từng khu vực có những yêu cầu, mục tiêu đặc thù riêng phụ thuộc vào hoàn cảnh, tình trạng kinh tế, chính trị, xã hội của khu vực đó Do đó, sẽ
là không hiệu quả nếu đánh đồng các nội dung NSNN cho từng cấp và cho từng khu vực
Trang 33Phân cấp quản lý ngân sách là cách tốt nhất để gắn các hoạt động NSNN với những hoạt động kinh tế xã hội cụ thể, theo đặc điểm của từng cấp
và theo đặc điểm của từng khu vực
* Nội dung phân cấp quản lý NSNN
+ Quan hệ giữa các cấp chính quyền về chế độ chính sách Về cơ bản,
Nhà nước vẫn giữ vai trò quyết định các loại như thuế, phí, lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước Bên cạnh đó, HĐND cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương
+ Quan hệ giữa các cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi Trong Luật ngân
sách quy định cụ thể về nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung ương
và ngân sách địa phương được ổn định từ 3 đến 5 năm Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100%; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % cũng như nhiệm vụ chi của từng cấp trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc phân cấp Ngân sách Trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không
Trang 34gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa phương như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chia như: thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán ngành
Ngân sách Trung ương chi cho các hoạt động có tính chất đảm bảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phương như: thuế nhà, thuế đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Chi ngân sách địa phương chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh do địa phương trực tiếp quản lý
Đảm bảo nguồn lực cho chính quyền cơ sở cũng được luật hết sức quan tâm Luật NSNN quy định các nguồn thu về nhà đất phải phân cấp không dưới 70% cho ngân sách xã, đối với lệ phí trước bạ thì cần phải phân cấp không dưới 50% cho ngân sách các thị xã, thành phố thuộc tỉnh
+ Quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình NSNN Mặc dù, ngân sách
Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng ngân sách lồng ghép giữa các cấp chính quyền trong chu trình ngân sách, nhưng quyền hạn, trách nhiệm HĐND các cấp trong việc quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách được tăng lên đáng kể
Tóm lại , Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước
Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ cho các địa phương chưa cân đối được thu,chi
- Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên cơ sở quản lý ngân sách Trung ương
- Ngân sách Trung ương chi phối và quản lý các khoản thi, chi lớn trong nền kinh tế và xã hội
Trang 35Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu, bảo đảm chủ động trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tăng cường năng lực cho ngân sách cấp
cơ sở
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì do ngân sách cấp đó đảm bảo Nếu cơ quan cấp trên uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới thực hiện nhiệm vụ của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên xuống cơ quan cấp dưới
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chưa giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới, để đảm bảo thực hiện công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương Tỷ lệ % được ổn định từ 3- 5 năm Thời gian này được gọi là thời kỳ ổn định ngân sách
1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý NSNN
+ Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội
NSNN luôn chi ̣u sự tác đô ̣ng của các yếu tố kinh tế - xã hội và cơ chế chính sách quản lý tương ứng, cụ thể:
- Về mặt kinh tế : Như đã biết , kinh tế quyết đi ̣nh các nguồn lực tài
chính và ngược lại các nguồn lực tài chính cũng có tác động mạnh mẽ tới quá trình đầu tư phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện
đa ̣i hóa nền kinh tế Kinh tế ổn đi ̣nh, tăng trưởng và phát triển bền vũng sẽ là
cơ sở vững chắc của nền tài chính mà NSNN giữ vai trò trung tâm phân phối các nguồn lực tài chính quốc gia Kinh tế càng ổn đi ̣nh và phát triển thì nền tài chính càng ổn định thể hiện được vai trò của NSNN với việc thực hiện các chính sách tài khóa và phân bố các nguồn lực tài chính hợp lý Hai yếu tố này luôn quan hê ̣ hữu cơ với nhau
- Về mặt xã hội: Sự ổn đi ̣nh về chính tri ̣ - xã hội sẽ là cơ sở để ổn định
mọi hoạt động và cũng là cơ sở để động viên mọi nguồn lực cho sự phát triển của đất nước , mă ̣t khác xã hô ̣i ổn đi ̣nh cũng là điều kiê ̣n để thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển đất nước thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và tài chính cho đất nước
Trang 36+ Chính sách và thể chế kinh tế, chính sách kinh tế - xã hội và thể chế
kinh tế phù hợp với xu thế phát triển có ý nghĩa quyế t đi ̣nh đến viê ̣c khai thông các nguồn lực và tiềm năng quốc gia cũng như các nguồn lực bên
ngoài Ở Việt Nam, trong thời gian qua với chính sách và thể chế kinh tế - xã
hô ̣i phù hợp là phát triển kinh tế nhiều thành phần , mở của nền kinh tế đất nước đi đối với viê ̣c hoàn thiê ̣n thể chế kinh tế - xã hội đã từ một quốc gia nghèo nhất sang một quốc gia có thu nhập trung bình Theo đó, nguồn lực tài chính quốc gia cũng gia tăng
+ Cơ chế quản lý NSNN, đổi mới cơ chế quản lý hê ̣ thống NSNN , mà
trọng tâm hoàn thiện quản lý phân cấp ngân sách, phân đi ̣nh thu - chi giữa các cấp ngân sách, mở rô ̣ng quyền chi phối quỹ dự trữ tài chính và quỹ dự phòng , nâng cao quyền tự quyết của ngân sách cấp dưới trong hê ̣ thống NSNN sẽ ta ̣o
ra những tích cực trong quản lý ngân sách quốc gia
+ Chính sách khuyến khích khai thác các nguồn lực tài chính , hê ̣
thống các chính sách trích thưởng thu vượt kế hoa ̣ ch vào ngân sách các cấp (ngân sách địa phương ), quyền chi phối kết dư ngân sách cuối năm và sử dụng quỹ dự trữ tài chính , quỹ dự phòng đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền đi ̣a phương phát huy tính chủ đô ̣ng sáng tạo trong khai thác các ngu ồn thu hiê ̣n hữu và các nguồn thu tiềm năng ở đi ̣a phương Đây là
đô ̣ng lực rất quan tro ̣ng cho viê ̣c mở rô ̣ng, tăng thu cho ngân sách và đảm bảo cân đối bền vững của hê ̣ thống ngân sách quốc gia
1.3 Quản lý ngân sách trong lĩnh vực Giao thông Vận tải
Giao thông Vận tải (GTVT) là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vì nó không trực tiếp sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá Đối tượng của vận tải chính là con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt, mất mát và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và rẻ tiền Trong vận tải đơn vị đo
Trang 37lường là tấn/km, hành khách/km Sản phẩm GTVT không thể dự trữ và tích luỹ được Vận tải chỉ có thể tích luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải Mặt khác sản phẩm này cùng được “sản xuất” ra và cùng được “ tiêu thụ”
Giao thông Vận tải là một ngành sinh sau đẻ muộn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội Theo lý thuyết phát triển cất cánh Rostow “giao thông là điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh phát triển” Bởi vì, giao thông có vai trò liên kết sự phát triển kinh tế với quá trình tiến lên của xã hội Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất GTVT trong thế kỷ 21 phát triển hết sức nhanh chóng góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững trắc GTVT thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và là cầu nối giúp các ngành kinh tế phát triển và ngược lại Ngày nay, vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và đời sống của toàn xã hội Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được
sự gặp gỡ của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, từ đó tạo ra phản ứng lan truyền giúp các ngành kinh tế cùng phát triển Ngược lại, chính sự phát triển của các ngành kinh tế lại tạo đà thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển Một hệ thống giao thông thuận tiện, đảm bảo sự đi lại, vận chuyển nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ sẽ đảm đương vai trò mạch máu lưu thông làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ được liên tục và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở mọi khu vực kinh tế Một vai trò quan trọng của ngành GTVT là phục vụ nhu cầu lưu thông, đi lại của toàn xã hội, là cầu nối giữa các vùng miền và là phương tiện giúp Việt Nam giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, với hệ thống các loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không thì việc đi lại giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, các vùng trong nước và với các quốc gia trên thế giới trở nên hết
Trang 38sức thuận tiện Đây cũng chính là một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư xem xét khi quyết định đầu tư vào một thị trường nào đó
Chính vì vậy, đầu tư xây dựng mới và đầu tư cho công tác bảo trì hạ tầng GTVT là cần nguồn vốn rất lớn và được đầu tư từ nguồn NSNN là chủ yếu Hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng GTVT có nhiều đặc điểm chung như bất kỳ hoạt động đầu tư nào khác, song bên cạnh đó còn có những đặc điểm riêng biệt, chuyên sâu chỉ có trong loại hình đầu tư này Đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông cần khối lượng vốn lớn, chủ yếu là từ NSNN (vốn ngân sách thường chiếm từ 60 - 70% tổng vốn đầu tư) Do các công trình hạ tầng GTVT thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian xây dựng lâu, hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu
tư cá nhân Bên cạnh đó các công trình giao thông phục vụ cho nhu cầu đi lại của toàn xã hội, được mọi thành phần kinh tế tham gia khai thác một cách triệt để, khi hư hỏng lại ít ai quan tâm đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng để duy trì tuổi thọ cho chúng Vì vậy, Nhà nước hàng năm đều trích ngân sách để đầu tư xây dựng mới, sửa chữa khắc phục những công trình hư hỏng góp phần cải tạo bộ mặt giao thông đất nước Đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông mang tính xã hội hoá cao, khó thu hồi vốn nhưng đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế - xã hội Tuy hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông không đem lại lợi ích trực tiếp cho chủ đầu nhưng lợi ích mà nền kinh tế - xã hội được hưởng thì không thể cân đong đo đếm được Có thể coi hoạt động đầu tư này là đầu tư cho phúc lợi xã hội, phục vụ nhu cầu của toàn thể cộng đồng
Sản phẩm đầu tư xây dựng các công trình giao thông là một loại hàng hoá công cộng, yêu cầu giá trị sử dụng bền lâu nhưng lại do nhiều thành phần tham gia khai thác sử dụng Vì vậy, Nhà nước cần tăng cường quản lý chặt chẽ các giai đoạn hình thành sản phẩm, lựa chọn đúng công nghệ thích hợp, hiện đại để cho ra các công trình đạt tiêu chuẩn và chất lượng quốc tế, đảm bảo an toàn cho mọi hoạt động của nền kinh tế Đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông
Trang 39có tính rủi ro rất cao do chịu nhiều tác động ngẫu nhiên trong thời gian dài, có
sự mâu thuẫn giữa công nghệ mới và vốn đầu tư, giữa công nghệ đắt tiền và khối lượng xây dựng không đảm bảo Do đó, trong quản lý cần loại trừ đến mức tối đa các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư, nhà thầu khoán và
tư vấn Đầu tư xây dựng các công trình giao thông thường liên quan đến nhiều vùng lãnh thổ Các nhà quản lý cần tính đến khả năng này để tăng cường việc đồng bộ hoá trong khai thác tối đa các tiềm năng của vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế để phát triển giao thông, nhằm giảm hao phí lao động xã hội Xây dựng các công trình giao thông là một ngành cần thường xuyên tiếp nhận những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật, của công nghệ sản xuất hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Ví dụ như ngành đường sắt Việt Nam đang nghiên cứu để xây dựng tuyến đường sắt không khe nối giúp cho tàu chạy êm thuận, tạo cảm giác dễ chịu cho hành khách và môi trường; tránh được những và đập làm hao mòn hư hại đầu máy toa xe và hạn chế hiện tượng gục mối ray làm ảnh hưởng đến an toàn vận chuyển đường sắt Trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông luôn đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại, vì có thể một công trình không đảm bảo chất lượng sẽ gây ra thiệt hại về tính mạng và tải sản của rất nhiều người Xây dựng các công trình giao thông là một ngành có chu kỳ sản xuất dài, tiêu hao tài nguyên, vật lực, trí lực, khối lượng công việc lớn và thường thiếu vốn Do đó, việc xác định tiến độ đầu
tư cần có căn cứ khoa học, xây dựng tập trung dứt điểm Đó là biện pháp tiết kiệm vốn đầu tư tích cực nhất
Vì vậy, quản lý NSNN đầu tư cho lĩnh vực GTVT là vô cùng quan trọng Ở Việt Nam, quản lý nhà nước cấp trung ương do Bộ GTVT quản lý; cấp tỉnh là các Sở GTVT; các Ban dự án; các Tổng Công ty Theo quy đi ̣nh của Luật NSNN thì ngành GTVT có trách nhiệm thực hiện quản lý ngân sách của ngành mình với những nội dung cơ bản như sau:
Trang 40- Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan mình;
- Phối hợp với ngành Tài chính trong quá trình l ập dự toán NSNN, phương án phân bổ ngân sách trung ương, quyết toán ngân sách thuộc ngành GTVT phụ trách;
- Kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành GTVT phụ trách;
- Báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành GTVT phụ trách theo chế độ quy định;
- Phối hợp với ngành Tài chính trong việc xây dựng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách thuộc ngành GTVT phụ trách;
- Quản lý, tổ chức thực hiện và quyết toán đối với ngân sách được giao; bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản của Nhà nước được giao;
- Tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý, thực hiện phân bổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao cho các đơn vị trực thuộc và điều chỉnh phân bổ dự toán theo thẩm quyền;
- Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm; quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước đối với các đơn vị trực thuộc theo đúng chế độ quy định;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách đối với các đơn vị trực thuộc;
- Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; báo cáo, quyết toán ngân sách và công khai ngân sách theo quy định của pháp luật; duyệt quyết toán đối với các đơn vị dự toán cấp dưới;
- Đối với các đơn vị dự toán là đơn vị sự nghiệp, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định như trên, được chủ động sử dụng nguồn thu sự nghiệp để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động theo quy định của Chính phủ