Riêng với Hà Nội, qua hơn 22 năm hình thành và phát triển, các KCN đã có đóng góp lớn vào việc thu hút vốn đầu tư, tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sức c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu - Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Kinh tế chính trị đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn đã chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, cô trong tổ tư vấn đã nhiệt tình giúp
đỡ, tư vấn, góp ý cho tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cám ơn !
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ KHU CÔNG NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp 12
1.2.1 Khái niệm về khu công nghiệp 12
1.2.2 Đặc điểm của khu công nghiệp 17
1.2.3 Phân loại KCN 19
1.2.4 Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên bình diện tổng quát 21
1.2.5 Vai trò của nhà nước trong việc phát huy tác động tích cực và khắc phục những hạn chế của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 23
1.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố về sự tác động của khu công nghiệp đối với kinh tế - xã hội 24
1.3.1.Tỉnh Vĩnh Phúc 25
1.3.2.Tỉnh Bắc Ninh 27
1.3.3 Bài học cho thành phố Hà Nội 30
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33
2.1 Phương pháp luận 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 33
2.3 Các bước thực hiện và thu thập số liệu 34
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
Trang 63.1 Tình hình kinh té – xã hội của thành phố Hà Nội 35
Vị trí, địa hình: 35
3.2 Thực trạng xây dựng và phát triển các các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 38
3.2.1 Công tác quy hoạch và xây dựng hạ tầng 38
3.2.2 Tình hình triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng 39
3.2.3 Tình hình thu hút đầu tư thứ phát 40
3.2.4 Đánh giá chung về thu hút đầu tư 40
3.2.5 Về thu hút đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh 41
3.2.6 Một số vần đề tồn tại 43
3.3 Những tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội trong thời gian qua 44
3.3.1 Những tác động tích cực 44
3.3.2 Một số hạn chế về tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội và nguyên nhân 62
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
4.1 Bối cảnh và quan điểm phát triển các khu công nghiệp ở Hà Nội 68
4.1.1 Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thuận lợi 68
4.1.2 Quan điểm phát triển các khu công nghiệp ở Hà Nội 68
4.2 Mục tiêu phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020 69
4.2.1 Mục tiêu tổng quát 69
4.2.2 Mục tiêu cụ thể 70
4.3 Các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 72
4.3.1 Huy động vốn đầu tư vào các KCN 72
Trang 74.3.2 Nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp 74
4.3.3 Về nguồn nhân lực 75
4.3.4 Về quy hoạch các KCN 76
4.3.5 Về chính sách tăng cường nội địa hoá 77
4.3.6 Tăng cường quản lý nhà nước của BQL các KCN&CX Hà Nội 79
4.3.7 Về công tác đền bù, giải phóng mở rộng các KCN 80
4.3.8 Các chính sách marketing và công tác xúc tiến đầu tư 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8và thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các KCN năm
2 Bảng 3.2 Các quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đâu tư vào các KCN trên
7 Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội của Hà Nội (2009
Trang 10Doanh thu của các doanh nghiệp KCN với GRDPcủa Hà Nội và
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế của các nước trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Theo kinh nghiệm của các nước, muốn phát triển kinh tế, Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào đếu phải tìm cho mình một trọng điểm ưu tiên nhất định, trong đó có khu công nghiệp và khu chế xuất Một số nước đang phát triển ở khu vực Châu Á, Thái Bình Dương trong thời gian qua đã coi việc phát triển các KCN, KCX là một giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển nội lực, đấy mạnh quá trình CNH, HĐH hướng về xuất khẩu Rất nhiều nước đã thành công trong việc xây dựng và triển khai mô hình kinh tế kiểu này để phát triển đất nước
Với xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, Việt Nam đã lựa chọn quá trình CNH, HĐH đất nước theo phương châm “đi tắt đón đầu”, dựa trên nền tảng phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực và học hỏi kinh nghiệm của những nền kinh tế tương đồng Qua quá trình nghiên cứu thì con đường phát triển kinh tế của những nước công nghiệp mới châuÁ(những con rồng châuÁ) là sự lựa chọn tốt nhất, có thể giúp các nhà hoạch định chính sách nhiều bài học quý báu Trong quá khứ, các nướcSingapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kôngcó xuất phát điểm giống Việt Nam, song bằng những chủ trương, chính sách thích hợp của chính phủ,các nước nàyđã đạt được những bướctiến vượt bậc
về kinh tế - xã hội, với thời gian công nghiệp hóa đất nước rất ngắn và tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ được cả thể giới công nhận và được coi là bốn con rồng châuÁ
Xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của đất nước và những kinh nghiệm rút ra từ việc xây dựng và triển khai các KCN, KCX ở một số nước trong khu vực, ngày 12/10/1991 Nghị định 322/HĐBT đã ban hành quy chế KCN, KCX và từ năm 1997 Chính phủ đã cho phép thành lập một số KCN, KCX tại một
số địa phương có hoàn cảnh thuận lợi Đó là chủ trương kịp thời, đúng đắn, phù hợp
xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới cũng như thực tiễn của nước ta Cho đến nay, các KCN đã trở thành một bộ phận không thể t hiếu trong ngành công nghiệp
Trang 12Việt Nam cũng như trong nền kinh tế đất nước và được đánh giá là một nhân tố quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, công nghệ tiên tiến
Riêng với Hà Nội, qua hơn 22 năm hình thành và phát triển, các KCN đã có đóng góp lớn vào việc thu hút vốn đầu tư, tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tiếp nhận kỹ thuật công nghệ mới, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng lao động, đấy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng Các doanh nghiệp đi vào hoạt động đã đóng góp quan trọng vào chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục của thành phố
Hà Nội hiện có 19 khu công nghiệp, khu công nghệ cao (KCN, KCNC) đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc ghi danh vào mạng lưới quy hoạch các KCN, KCNC cả nước tới năm 2015, trong đó 01 KCNC Hòa Lạc do Bộ Khoa học công nghệ quản lý, Ban Quản lý trực tiếp quản lý 18 KCN, KCNC Tính đến 30/06/2014, Hà Nội có 08 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 1.236
ha, cơ bản lấp đầy 95% đó là : KCN Nội Bài, KCN Bắc Thăng Long, KCN Nam Thăng Long, Quang Minh, Hà Nội – Đài Tư, KCN Sài Đồng B, KCN Thạch Thất – Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa Với sự nỗ lực của toàn thành phố, các KCN đã thu hút được 545 dự án, tổng mức vốn đăng ký là 10.800 tỷ đồng và trên 4,68 tỷ USD, trong đó có nhiều dự án FDI của các tập đoàn hàng đầu thế giới như Canon, Panasonic, Meiko, Daewoo, Nippon, Sumitomo, Mitsubishi, Yamaha, Ferroli, Zuelling Pharma…, các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội đã chiếm khoảng 10%
số lượng và giá trị các khu công nghiệp của cả nước, tạo ra gần 40% giá trị sản lượng công nghiệp của Thành phố, 45% kim ngạch xuất khẩu 20% GDP
của toàn Thành phố và giải quyết việc làm cho 138.162 lao động (Nguồn: Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội.[61]
Những kết quả đạt được nêu trên đã khẳng định những thành công bước đầu của mô hình khu công nghiệp ở Hà Nội Mặc dù vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tại địa phương cũng nảy sinh những hạn chế đó là : công tác quy hoạch phát triển các KCN còn nhiều bất cập, cơ cấu quy hoạch sử
Trang 13dụng đất và phân khu chức năng trong KCN còn chưa phù hợp, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, vấn đề nhà ở, vấn đề đời sống văn hóa, tinh thần, giáo dục, chăm sóc y tế cho công nhân làm việc tại các KCN còn chưa được quan tâm thích đáng, hiệu quả kinh tế của các KCN và trình độ công nghệ của các doanh nghiệp áp dụng vào sản xuất chưa cao, một số văn bản thể chế hóa chính sách còn bất cập, chưa thực sự thông thoáng, sự phối kết hợp của các cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ, công tác thanh kiểm tra xử lý vi phạm và cái cách thủ tục hành chính chưa triệt
để, tình trạng ô nhiễm môi trường của các KCN vẫn chưa được giải quyết kịp thời
Xuất phát từ nhận thức về những vấn đề nêu trên, học viên xin chọn đề tài:
“Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận chung về KCN, đánh giá các tác động của khu công nghiệp đối với kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của KCN trong chiến lược phát triển của Thủ đô
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định một số nhiệm vụ cụ thể sau đây trong quá trình nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến khu công nghiệp
- Tổng kết thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội Từ đó phân tích theo phương pháp định tính và định lượng để đưa ra các định hướng cho sự phát triển của các KCN trong tương lai
- Phân tích những hệ lụy của KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của KCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội đến năm 2020
Từ đó, đặt ra câu hỏi nghiên cứu cho luận văn :
Trang 14- Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và giải pháp để phát huy những tác động tích cực và khắc phục những hạn chế như thế nào ?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu :
Khu công nghiệp là một phạm trù rộng và có thể được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này là tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Về thời gian : Số liệu nghiên cứu chủ yếu từ năm 2008 (sau khi Hà Tây sáp nhập về Hà Nội) đến năm 2014 Từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phát huy tác động của khu công nghiệp đối với kinh tế - xã hội tầm nhìn đến năm 2020 + Về không gian : Đề tài tập trung nghiên cứu về tác động của 8 khu công nghiệp tiêu biểu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội với tổng diện tích là 1.236 ha đó là: KCN Thăng Long: 274 ha; KCN Nội Bài: 114 ha; KCN Nam Thăng Long: 30,4 ha; KCN Hà Nội - Đài Tư: 40 ha; KCN Sài Đồng B: 47,3 ha; KCN Thạch Thất - Quốc Oai: 155 ha; KCN Phú Nghĩa: 170 ha; KCN Quang Minh I: 407 Đây là những Khu công nghiệp ở nhiều vùng khác nhau của Thành phố Hà Nội, với quy mô và vốn đầu tư lớn, có đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển của Thủ đô
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp nghiên cứu kinh tế thông dụng được sử dụng để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu bao gồm:
Trang 15- Số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn khác nhau
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn được trình bày theo 3 chương gồm :
Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 : Thực trạng về tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội trong thời gian qua
Chương 4 : Phương hướng và giải pháp phát huy tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khu công nghiệp tuy là mô hình kinh tế mới nhưng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Riêng ở Hà Nội kể từ khi xây dựng
và phát triển các KCN đến nay đã có không ít những hội thảo khoa học, hội nghị, các đề tài nghiên cứu được công bố Ở đây, học viên xin điểm qua một số công trình
có liên quan đến luận văn như sau:
Trước hết phải kể đến các đề tài nghiên cứu liên quan đến khu công nghiệp ở thành phố Hà Nội, tiêu biểu là :
Nguyễn Ngọc Dũng, 2011 Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát triển KCN đồng bộ trên địa bàn Hà Nội, những xu hướng vận động và phát triển mới của tình hình trong nước và quốc
tế tác động tới sự hình thành và phát triển của các KCN Hà Nội, luận án đã phân tích và luận giải một số vấn đề sau :
1 Bằng cách tiếp cận hệ thống và loogic, luận văn đã tổng hợp và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về KCN, trong đó bao gồm các vấn đề liên quan đến khái niệm KCN, vái trò của KCN và cho rằng việc phát triển KCN là con đường thích hợp, một hướng đi đúng đắn để Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, đồng thời khẳng định vái trò tất yếu của KCN trong phát triển kinh tế - xã hội ;
2 Dựa trên khung lý thuyết cơ bản, nghiên cứu sinh đã phân tích làm rõ khái niệm KCN đồng bộ và giới hạn phạm vi nghiên cứu phát triển KCN đồng bộ ở góc độ đồng bộ từ khâu quy hoạch xây dựng KCN đến việc thu hút đầu tư, khai thác sử dụng, xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội đồng bộ trong và ngoài hàng rào KCN, lựa chọn 5 KCN của Hà Nội (cũ) làm đối tượng nghiên cứu
Trang 173 Luận văn tập trung nghiên cứu kinh nghiệm thành công đối với việc xây dựng và phát triển KCN của Đài Loan và mô hình KCN Tô Châu, Trung Quốc nhằm rút ra những bài học cần thiết cho thành phố Hà Nội
4 Tiếp cận vấn đề từ góc độ thực tiễn, nghiên cứu sinh đã phân tích thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật của Thủ đô Hà Nội và đánh giá trình độ, tiềm năng phát triển của các KCN trên địa bàn Hà Nội, trong đó tập trung phân tích thực trạng và phát triển của 5 KCN chính của Hà Nội (vị trí, quy mô, sự đồng bộ của kết cấu hạ tầng, tỉ lệ lấp đầy, tình liên kết về tổ chức sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế …) đồng thời luận văn cũng chỉ ra những thành tựu và hạn chế cảu KCN Hà Nội cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
5 Trên cơ sở lý luận cơ bản và thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội trong thời gian vừa qua, dựa trên những đặc thù kinh tế - xã hội cảu thủ đô Hà Nội, tác giả đã đề xuất 9 định hướng và 5 nhóm giải pháp để xây dựng và phát triển các KCN đồng bộ trên địa bàn Hà Nội Ngoài ra, nhóm giải pháp phát triển và đào tọa nguồn nhân lực ; giải pháp tăng cường quản lý nhà nước và hoàn thiện cơ chế, chính sách là những nhóm giải pháp có tác dụng hỗ trợ nâng cao nhằm phát triển bền vững các KCN trong tương lai Để triển khai giải pháp đề xuất, thành phố Hà Nội cần phát huy hết tiềm năng về vị trí địa lý, thế mạnh phát triển công nghiệp và các lợi thế so sánh khác cảu Thủ đô ; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh các thủ tục hành chính, tăng cường đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN ; có sự chỉ đạo kiên quyết, thống nhất của các cấp, các ngành và sự ủng hộ phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, hoàn thiện, thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đạt được kết quả tốt nhất
6 Luận án đề xuất một số mọi dung quy hoạch và hạng mục công trình thiết yếu nhằm xây dựng mô hình thí điểm một KCN đồng bộ phù hợp với đặc thù của thủ đô
Hà Nội và lấy đó làm cơ sở để các KCN đã và đang xây dựng hoặc đi vào hoạt động tùy theo điều kiện, khả năng điều chỉnh lại cho phù hợp
Nguyễn Thị Thơm, 2012 Nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Trang 18Nội Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học tự nhiên Sóc Sơn là một trong những
huyện thuộc ngoại thành Hà Nội được quy hoạch là một trong 5 vệ tinh của Thủ đô
Hà Nội Ngành nông nghiệp Sóc Sơn có vai trò rất lớn trong việc cung cấp gạo, rau, hoa quả … đáp ứng nhu cầu của huyện cũng như một phần nhu cầu của Thủ đô Tuy nhiên, cùng với tốc độ của quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa (CNH – ĐTH) làm cho đất nông nghiệp của huyện Sóc Sơn chịu ảnh hưởng lớn Luận văn đưa ra một số khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị, công nghiệp hóa,
đô thị hóa
Tiếp đến là khái quát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp; một số đặc điểm của CNH – ĐTH ở Việt Nam; khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên xã hội, cơ cấu kinh tế, dân số và lao động ở huyện Sóc Sơn Từ đó đề ra mục tiêu nghiên cứu là: xác định được tình hình sử dụng đất và quá trình phát triển CNH – ĐTH cũng như sự biến động đất nông nghiệp trong quá trình phát triển CNH - ĐTH Nội dung nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn; nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình CNH – ĐTH của huyện Sóc Sơn; nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH khu vực nghiên cứu; dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp sẽ phải chuyển mục đích sử dụng cho CNH – ĐTH đến 2020; đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp
Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp, phân tích, kế thừa tài liệu, phương pháp điều tra khảo sát thực địa, phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp logic, phương pháp chuyên gia để đưa ra các kết quả nghiên cứu về tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình phát triển CNH – ĐTH của huyện Sóc Sơn giai đoạn 1991 đến 2011; sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH – ĐTH giai đoạn 2005 đến 2012; dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp sẽ phải chuyển mục đích sử dụng cho CNH-ĐTH đến năm 2020 Cuối cùng là đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường đất: 1.Giải pháp quy hoạch sử dụng đất; 2 Giải pháp về chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; 3 Giải pháp về khoa học công nghệ; 4 Giải pháp về hạn chế
Trang 19ô nhiễm môi trường đất do CNH – ĐTH (Giải pháp về quy hoạch KCN, đô thị gắn với bảo vệ môi trường, phát triển trồng cây xanh và bảo tồn mặt nước trong các đô thị và các KCN, phát triển ngành nông nghiệp trở thành vành đai xanh) Nhìn chung, trong tương lai để đưa huyện Sóc Sơn trở thành một đô thị vệ tinh, một trung tâm công nghiệp, dịch vụ hàng không và dịch vụ nghỉ dưỡng sinh thái đòi hỏi quá trình quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý kết hợp với các yếu tố môi trường
Lưu Quang Sáng, 2011 Nghiên cứu xác lập mạng lưới điểm quan trắc chất lượng không khí cụm và khu công nghiệp phục vụ công tác giám sát chất lượng môi trường không khí Hà Nội giai đoạn 2010 - 2030
Luận văn thạc sĩ Đại Học Khoa học tự nhiên Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng không khí với sức khỏe của người dân đô thị nên công tác quan trắc ô nhiễm không khí ở các đô thị đã được các nước chú trọng Số liệu quan trắc chất lượng không khí khu vực đô thị là số liệu điều tra cơ bản để hỗ trợ cho hoạch định chính sách quản lý chất lượng không khí Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, với sự mở rộng và phát triển nhanh chóng của Hà Nội hiện tại, sự gia tăng về số lượng của các KCN và CCN, trên địa bàn TP Hà Nội đang có 1 khu công nghệ cao; 18 khu công nghiệp tập trung; 45 cụm công nghiệp vừa và nhỏ thì Hà Nội đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng Bởi vậy xây dựng hệ thống mạng lưới quan trắc chất lượng không khí cho TP Hà Nội là vấn đề cấp thiết Bên cạnh đó hệ thống mạng lưới điểm quan trắc cũ của Hà Nội còn nhiều bất cập, không đáp ứng được quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thủ đô Hà Nội mới
Chính vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc triển khai quy hoạch mạng lưới điểm quan trắc chất lượng không khí (CLKK) định kỳ (theo thiết bị thông dụng và thụ động) tối ưu; đánh giá chất lượng môi trường không khí KCN và CCN theo phương pháp chỉ tiêu riêng lẻ; đánh giá chất lượng môi trường không khí KCN và CCN theo phương pháp chỉ tiêu tổng hợp; dựa vào chuỗi số liệu 04 năm (2007-2010) để tính toán hàm cấu trúc không gian D(r) đặc trưng cho CLKK của KCN và CCN, trên cơ sở đó xây dựng các sơ đồ mô phỏng và bản đồ hệ thống điểm quan trắc định kỳ cho KCN và
Trang 20CCN Đối tượng nghiên cứu là các KCN và CCN trên địa bàn Hà Nội Được hình thành từ đầu những năm 1990 và đặc biệt phát triển trong những năm gần đây, KCN
và CCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam Các KCN, CCN đã và đang là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, tăng khả năng thu thút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân Cùng với sự phát triển của các KCN
và CCN, các khu đô thị mới, các dịch vụ và cơ sở phụ trợ đã không ngừng phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và ô nhiễm môi trường đang là thách thức lớn của các đô thị Việt Nam, đặc biệt
là các đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội Đi cùng với sự phát triển của công nghiệp là sự phát sinh của các nguồn thải độc hại gây ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để, môi trường tự nhiên bị suy thoái
Hà Nội là một trong những trung tâm kinh tế - xã hội lớn của Việt Nam Ở đây tập trung một số lượng lớn các KCN và CCN Các cơ sở sản xuất công nghiệp của Hà Nội hiện nay có thể được chia theo 2 thời gian đầu tư xây dựng là: các cơ sở đầu từ hoạt động từ trước 1990 và các cơ sở đầu tư mới từ 1990 Đối với các cơ sở hoạt động từ trước 1990, do có quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp, các doanh nghiệp không chú ý hoặc ít chú ý đến công tác bảo vệ môi trường Ô nhiễm không khí ở các cơ sở công nghiệp mang tính cục bộ, tập trung nhiều ở các cơ sở công nghiệp
cũ, do các nhà máy ở các cơ sở này sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải, một số cơ sở còn nằm xen kẽ với các khu dân cư Hiện trạng ô nhiễm không khí tại các KCN và CCN chủ yếu là ô nhiễm bụi, một số KCN và CCN xuất hiện ô nhiễm CO, SO2, NO2
Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp; phương pháp điều tra, khảo sát đo đạc tại hiện trường; phương pháp mô hình hóa toán học; phương pháp chỉ số chất lượng môi trường; phương pháp chuyên gia; phương pháp chỉ số chất lượng không khí tổng cộng (TAQI) Qua kết quả nghiên cứu có thể đưa ra một số kết luận
Trang 21sau: Đã xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc triển khai quy hoạch mạng lưới điểm quan trắc CLKK tối ưu đối với KCN và CCN; Dựa vào chuỗi số liệu 04 năm (2007 – 2010) để tính toán hàm cấu trúc không gian D(r) đặc trưng cho CLKK của khu công nghiệp và cụm công nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng các sơ đồ mô phỏng hệ thống điểm quan trắc cho các đối tượng này; Sử dụng tổ hợp phương pháp đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường (phân vùng chất lượng môi trường theo 5 cấp: rất xấu, xấu, trung bình, tốt và rất tốt), phương pháp mô phỏng bằng mô hình và kiểm tra mô hình tại thực địa, đã đề xuất một mạng lưới điểm quan trắc cho KCN và CCN thể hiện được tính tối ưu không chỉ về mặt kinh tế
mà còn đảm bảo độ tin cậy cao của phương pháp luận, có tính khả thi để triển khai thực hiện quy hoạch theo giai đoạn 2012-2015 và 2016-2020, cũng như định hướng đến 2030 trên địa bàn Hà Nội mới; Đã xây dựng được bản đồ dạng GIS về hệ thống mạng lưới điểm quan trắc định kỳ (theo thiết bị thông dụng và thụ động) cho đối tượng KCN và CCN trên địa bàn Hà Nội
Nguyễn Thị Chiến, 2010 Nghiên cứu đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Đề tài cấp Bộ, Đại học Văn hoá Hà Nội Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm của
giai cấp công nhân Việt Nam trong thời đại mới; nghiên cứu tổng quan về các khu công nghiệp ở ba tỉnh Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh (tập trung vào các nội dung như: quy mô, địa điểm, các doanh nghiệp đầu tư và số lượng công nhân làm việc trong các khu công nghiệp); đặc điểm tình hình công nhân làm việc trong các khu công nghiệp ở 3 tỉnh được phản ánh qua nguồn tư liệu điều tra xã hội học; khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của công nhân các KCN trong đó bao gồm: đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; trên cơ sở những nhận định về nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến đời sống văn hóa của công nhân, đề tài đề xuất các giải pháp và kiến nghị về nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân các KCN ở HN, HP, QN Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, tổng quan về các khu công nghiệp ở Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh,
Trang 22quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa Thực trạng đời sống văn hóa công nhân các khu công nghiệp ở 3 tỉnh Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh để đưa
ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân các khu công nghiệp
Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu tổng quan về đề tài khu công nghiệp ở Hà Nội như:
Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2010 Quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp ở Hà Nội (1995 - 2008) Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học xã hội & Nhân
Nguyễn Duy Cường, 2006 Hiệu quả kinh tế - xã hội của các khu công nghiệp ở Thành phố Hà Nộ Luận văn thạc sĩ kinh tế Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh
Phạm Xuân Đức, 2006 Cung cầu nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp ở Hà Nội hiện nay Luận văn thạc sĩ kinh tế Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm về khu công nghiệp
Sự ra đời của KCN thế giới là bắt đầu từ thế kỷ 18, khi các nước phát tư bản giàu có quan tâm mở rộng thương mại quốc tế, áp dụng các loại thuế quan khắt khe đối với những sản phẩm hàng hóa vào lãnh thổ của mình Đặc biệt vào nửa cuối thế
kỷ XX, các KCN trên thế giới phát triển mạnh mẽ khi các nước chủ nghĩa tư bản đang ở trong thời cạnh tranh tìm kiếm thị trường và tranh giành phân lại thị trường thế giới Lúc này trình độ phát triển của các nước tư bản đã ở trình độ cao, vốn có
Trang 23hiện tượng thừa và giá nhân công cao, khan hiếm về nguồn tài nguyên nên chi phí sản xuất cao, lợi nhuận ngày càng giảm
Trong khi đó thì ở các nước đang phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn để phát triển kinh tế, trình độ khoa học công nghệ thấp, thiếu lao động có tay nghề cao, thất nghiệp gia tăng, nền kinh tế chậm phát triển Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn viện trợ thì có hạn, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế Do đó, có điểm gặp nhau
về nhu cầu phát triển kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, tạo nên nhu cầu dịch chuyển vốn và công nghệ giữa các nước này với nhau Các doanh nghiệp ở các nước phát triển tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài để giảm chi phí sản xuất, tận dung lợi thế so sánh ở các nước kém phát triển hơn, có thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới Còn với các nước đang phát triển, với nguồn vốn đầu tư này đã có thể đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của mình, có được vốn đầu tư, có được công nghệ, tiến hành nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá
Thời gian đầu, do thiếu vốn, các cơ sở công nghiệp của các nước đang phát triển phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, phân bố phân tán, khả năng xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường kém Dân số tăng, đất đai ngày càng hạn chế, thêm vào nữa là Chính phủ cần chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu xây dựng phát triển cuả các doanh nghiệp đi đầu tư, làm sao có được cơ sở hạ tầng hiện Đại
để phát triển công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường, xử lý tốt chất thải công nghiệp, tập trung quản lý, tiết kiệm đất đai, chi phí Đảm bảo được các yêu cầu trên, KCN ra đời như một tất yếu khách quan
Vào những năm cuối thế kỉ XIX, KCN đó được hình thành ở một số nước tư bản phát triển Năm 1896, xuất hiện KCN đầu tiên ở Traffort Park thành phố Manchester nước Anh Sau đó, KCN lần lượt được thành lập ở các nước khác như
Mỹ năm 1899, Italia năm 1904; và kể từ những năm 50 thế kỷ XX thì KCN thực sự bùng nổ, trở thành phổ biến ở các nước Trong quá trình phát triển đó, KCN đó đem lại nhiều lợi ích thiết thực nên nó được coi là một công cụ để phát triển kinh tế
Trang 24Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Mặc dù thuật ngữ KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều hình thức tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau
Theo nghĩa thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Các KCN ra đời là kết quả của việc xây dựng các doanh nghiệp công nghiệp riêng rẽ Xen lẫn với các doanh nghiệp công nghiệp là khu dân cư hoặc các cơ quan hành chính sự nghiệp các doanh nghiệp thuộc ngành khác… nghĩa là KCN chuyên sản xuất hàng dành cho xuất khẩu Ở đó, chính quyền áp dụng nhiều chính sách ưu đãi như miễn thuế (thuế xuất - nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản…) và tự do mua bán
Tuy nhiên, đến nay ở các nước khác nhau có những quan niệm khác nhau về KCN Có quan niệm cho rằng, KCN là một vùng đất được phân chia và phát triển
có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với hạ tầng cơ sở, các tiện ích công cộng, các dịch vụ phục
vụ và hỗ trợ Ở Thái Lan và Philippin, KCN được quan niệm như một thành phố công nghiệp và thực tế nó là một cộng đồng tự túc và độc lập Ngoài việc cung cấp kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN cũng bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN ở Thái Lan và Inđônêxia thường có 3 bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại dịch vụ
Có quan niệm lại cho rằng, KCN là một khu vực phụ, không nhất thiết phải
có sự ngăn cách, biệt lập bởi trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp công nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn Việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn như vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất thiết phải có quy mô đặc thù
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) trong tài liệu KCN ở các nước đang phát triển công bố năm 1990, thì KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm
Trang 25mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế
Theo quan điểm của Hiệp hội thế giới về khu chế xuất (World Expot Processing Zone Association – WEPZA) thì KCX là tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự
do, KCN tự do hay bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vựcc khác được tổ chức này công nhận Thực tế cho thấy, do nhu cầu phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển nên khái niệm trên đó được bổ sung thành những quan niệm mới như Khu kinh tế mở, Đặc khu kinh tế, Thành phố mở…
Tuy những quan niệm trên có một số khác nhau về nội hàm KCN, KCX, song về
cơ bản đều thống nhất ở những đặc trưng sau:
Một là, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu
xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà KCN là nơi có môi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế tự do, các chính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thương mại, dịch vụ đầu tư trên cơ sở chính sách ưu đãi về kết cấu hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính tiền tệ, môi trường đầu tư…
Hai là, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời trong sự phát
triển kinh tế của một quốc gia Nó thường là những khu vực có vị trí địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào xung quanh, giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính phủ nước đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển
Ba là, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng
ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển các loại hình sản xuất
Trang 26kinh doanh phục vụ xuất khẩu Đây là mô hình thu nhỏ về chính trị - kinh tế - xã hội
mở cửa của một nước.[39]
Ở Việt Nam, khái niệm về KCN được ghi trong Nghị định 192/CP ngày 15/12/1994 của Chính phủ về quy chế KCN Các KCN được định nghĩa là khu vực công nghiệp tập trung, được thành lập do quyết định của Chính phủ với các ranh giới được xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và không có dân cư
Theo Nghị định Số: 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 3 năm 2008: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
Các tiêu chí để hinh thành một KCN bao gồm:
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp
Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống, xây dựng theo quy hoạch tổng thể đó được chính phủ phê duyệt
Thứ ba, KCN phải do chính phủ hoặc do Thủ tướng chính phủ quyết định
thành lập Khi muốn hình thành KCN đó có trong quy hoạch tổng thể, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tướng chính phủ xem xét để quyết định thành lập
Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất Đó là các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều kiện
về kết cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở sản xuất công nghiệp đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước sở tại
sẽ có được đầy đủ điều kiện mặt bằng, đường sá, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý nước thải…để sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích cho cả hai phía.[27]
Trang 271.2.2 Đặc điểm của khu công nghiệp
Việc thành lập các KCN có tác động nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như tổ chức cơ cấu lại kinh tế của vùng lãnh thổ, bố trí dân cư, bảo vệ môi trường, nâng cao mức sống nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho khu vực Khu công nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội
Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù,
ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế
Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng Nhưng ở Việt Nam thì nhà nước không có đủ vốn, vì thế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước
Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, có tác dụng lan toả trước hết là khu vực xung quanh KCN
Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu
Trang 28Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính
KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước
Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng
Chúng ta cũng có thể xem xét đặc điểm của KCN theo các khía cạnh sau:
Về không gian: Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân
biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống Các khu công nghiệp đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào khu công nghiệp, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong khu công ngiệp
Về chức năng hoạt động: Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp này là sản xuất công nghiệp
và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp Trong khu công nghiệp, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này
Về thành lập: Khu công nghiệp không phải là khu vực được thành lập tự phát
mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt Để phát triển các khu công nghiệp, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu
Trang 29tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng
Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong khu công
nghiệp, có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất) Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, trong phạm vi khu công nghiệp có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất)
Về mặt pháp lý: Các khu công nghiệp là phần lãnh thổ của nước sở tại, các doanh
nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp của Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam như: luật đầu tư nước ngoài, luật lao động, quy chế về khu công nghiệp
và khu chế xuất
Về mặt kinh tế: Khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công
nghiệp Các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu, những ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư Bên cạnh đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường 1.2.3 Phân loại KCN
Một số cách phân loại KCN thường thấy như sau:
- Phân loại KCN theo đặc điểm quản lý: gồm 4 loại
+ KCNTT: có thể là đa ngành, chuyên ngành, có quy mô diện tích khác nhau, được hình thành với các điều kiện khác nhau
Trang 30+ KCX: là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
+ KCNC: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo các dịch vụ liên quan
+ CCN: cụm công nghiệp là tên gọi chung cho các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhưng có quy mô nhỏ do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập (hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn để bố trí cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời khỏi nội thành, nội thị hoặc các khu dân cư tập trung, và thu hút các dự án đầu tư mới với quy mô vừa và nhỏ
- Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 3 loại
+ KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một số loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hóa chất – hóa dầu, điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (gang thép Thái Nguyên, hóa chất Việt Trì, lọc dầu Dung Quất)
+ KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau, KCN đa ngành cho phép thỏa mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động ảnh hưởng xấu giữa các xí nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ tầng
+ KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững Với mô hình này thì phế liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia, hoặc sản phẩm của nhà máy này sẽ
là nguyên liệu, vật tư cho nhà máy kia
Trang 311.2.4 Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên bình diện tổng quát
1.2.4.1 Tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và các tác động lan tỏa đối với các doanh nghiệp trên địa bàn
Khu công nghiệp với hạt nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp trong nước:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các KCN là nhân tố tác động mạnh
mẽ đến đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp trong nước Thực tế cho thấy, việc áp dụng mô hình kinh tế các KCN đã thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ phát triển nhanh, cả về phạm vi và tốc độ Chuyển giao công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài tới doanh nghiệp trong nước có ảnh hưởng lâu dài, đóng góp tích cực vào việc tăng năng suất trong ngành công nghiệp của nước sở tại
Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn:
Sự hiện diện của khu vực đầu tư nước ngoài là một tác nhân thúc đẩy cạnh tranh; nhiều trường hợp, có thể dẫn đến tình trạng giảm sút sản lượng, thậm chí có thể buộc doanh nghiệp rời khỏi thị trường hoặc có thể sống sót nếu vượt qua được giai đoạn điều chỉnh
cơ cấu để thích nghi với môi trường cạnh tranh mới Tuy nhiên, nếu biết tận dụng quá trình sản xuất của mình, bằng việc sản xuất các hàng hóa trung gian và các yếu tố khác của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước có khả năng bứt phá
để sau đó trực tiếp tiến hành xuất khẩu
Về sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ
Mối quan hệ giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và công nghiệp phụ trợ trong nước có tính tương hỗ hai chiều và chỉ có thể phát triển bền vững trên nguyên tắc "đôi bên cùng có lợi" Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, dù đặt cơ sở sản xuất ở đâu, cũng đều cần một lượng lớn các yếu tố đầu vào Rõ ràng là, nếu có thể sử dụng các yếu
tố này ở ngay nền kinh tế nước sở tại, thì họ sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất Đối với lợi ích của nước chủ nhà: trước hết, mối liên kết với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài làm tăng sản lượng và việc làm của các nhà cung ứng địa phương Thêm vào đó, những ảnh hưởng gián tiếp có thể còn quan trọng hơn Các liên kết có thể trở thành
Trang 32những kênh có sức mạnh cho việc nhân rộng tri thức và kỹ năng giữa các công ty; đồng thời có thể kích thích hiệu quả, tăng năng suất, năng lực công nghệ và quản lý, đa dạng hoá thị trường cho nhà cung ứng
1.2.4.2 Tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn
Các khu công nghiệp góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, đóng góp ngày càng lớn cho ngân sách nhà nước Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu, sang cơ cấu kinh tế công nghiệp và dịch vụ, với tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng tăng Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân tại các KCN với sự tăng trưởng mạnh, năng động, hiệu quả đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự mở rộng thị trường, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế, Góp phần quan trọng vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, các KCN thường
có khả năng chuyển nhanh các khu vực thuần nông, trở thành một thành phố công nghiệp với kết cấu hạ tầng phát triển nhanh và ổn định
1.2.4.3 Tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực
Khu công nghiệp là môi trường tốt nhất để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ lâu dài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do áp lực phải sản xuất ra các mặt hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, các nhà đầu tư buộc phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đội ngũ cán bộ quản lý Vì thế, người lao động sẽ có cơ hội để tiếp thu tốt nhất công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ quản trị tiên tiến ở đó, nguời lao động biết cần phải tự giác tham gia vào quá trình đào tạo, tự đào tạo lại để luôn thích ứng với yêu cầu phát triển của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, đây là địa điểm thuận lợi để đào tạo nguồn nhân lực mới có chất lượng cao; là tác động cơ bản, động lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.4.4 Tác động đến môi trường
Khu công nghiệp là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải để xử lý, góp phần khắc phục tình trạng khó kiểm soát chất thải của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất Tuy nhiên, trong quá trình
Trang 33đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển các KCN, ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm trọng, nếu không được kiểm soát một cách chặt chẽ Bảo vệ môi trường ở các KCN vừa là điều kiện vừa là mục tiêu phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh Bởi vậy, bảo vệ môi trường và giảm thiểu các tác động tiêu cực về mặt xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.5 Vai trò của nhà nước trong việc phát huy tác động tích cực và khắc phục những hạn chế của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Công tác quy hoạch phát triển các KCN: Nhà nước đảm bảo việc xây dựng
các KCN phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) và chiến lược CNH, HĐH; bảo đảm sự cân đối, hợp lý cơ cấu quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong vùng; gắn với quy hoạch phát triển hệ thống đô thị, hạ tầng kỹ thuật của vùng và quốc gia Công tác quy hoạch KCN cần
đi trước một bước, đồng bộ và được công bố công khai
Thủ tục hành chính đối với hoạt động đầu tư vào KCN: Một trong những
điểm được các nhà đầu tư trông chờ tại các KCN là độ thông thoáng, linh hoạt về các thủ tục hành chính so với khu vực khác trong nước Ở hầu hết các KCN hoạt động thành công, mọi công việc liên quan đến đầu tư được giải quyết thông qua cơ chế "một cửa" Theo cơ chế này, khi có nhu cầu các nhà đầu tư chỉ cần đến Ban Quản lý các khu công nghiệp để giải quyết các thủ tục Cơ chế quản lý "một cửa, tại chỗ" do Ban Quản lý khu công nghiệp thực hiện theo nhiệm vụ và quyền hạn được Chính phủ quy định và thông qua cơ chế ủy quyền
Tổ chức bộ máy nhà nước đối với các KCN: Từng bước xây dựng bộ máy
quản lý hành chính trong sạch, có hiệu lực Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan quản lý nhà nước về khu công nghiệp Phân công rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan cứ vào phạm vi quản lý Chỉ đạo thực hiện, giám sát, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công
Trang 34Tính hấp dẫn của môi trường đầu tư: Nhà nước đưa ra những phân tích,
đánh giá để tiếp hoàn thiện môi trường đầu tư của đất nước để có thể duy trì và tăng dòng vốn đầu tư từ nước ngoài Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, hoàn thiện các chính sách kinh tế - tài chính, xây dựng và phát triển các loại thị trường và đào tạo lao động cho KCN Các giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ trong mối quan hệ qua lại, nhằm mục tiêu chung là tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho tất cả các nhà đầu tư Đây sẽ là điều kiện quan trọng để thu hút sự đầu tư vào các KCN
Thiết lập các tổ chức chính trị - xã hội (CT - XH) trong KCN: Vai trò của các
tổ chức CT - XH trong KCN là rất quan trọng vì các tổ chức này hỗ trợ hoạt động QLNN trên nhiều mặt, nhất là trong giám sát hoạt động của DN và bảo vệ lợi ích của người lao động
1.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố về sự tác động của khu công nghiệp đối với kinh tế - xã hội
Hà Nội là một trong những hạt nhân quan trọng của vùng kinh tể trọng điểm Bắc Bộ cùng với 6 tỉnh và thành phố khác là: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên Những địa phương này cũng là nơi tập trung các khu công nghiệp lớn tầm cỡ như: khu công nghiệp Thăng Long, khu công nghiệp Sài Đồng, khu công nghiệp Đại An, khu công nghiệp Quế Võ, khu công nghiệp Nomura, khu công nghiệp Đình Vũ Với các ngành công nghiệp chủ chốt như: sản xuất xi măng (Hải Dương, Hải Phòng), đóng tàu (Hải Phòng và Quảng Ninh), ô tô, xe máy (Vĩnh Phúc, Hải Dương), luyện cán thép (Thái Nguyên), điện tử (Bắc Ninh)
Từ việc nghiên cứu các đặc điểm về vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội; các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nền kinh tế như: bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá nhằm rút ra kết luận về những lợi thế, thời cơ phát triển cũng như những hạn chế, thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các tỉnh với thành phố Hà Nội, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu 2 tỉnh, thành phố giáp ranh Hà Nội đó là: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
Trang 351.3.1.Tỉnh Vĩnh Phúc
Tính đến năm 2013, BQLKCN Vĩnh Phúc đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 19 dự án với tổng vốn đầu tư 315,7 triệu USD và 5.179,77 tỷ đồng Trong đó có 15 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 315,7 triệu USD và 4 dự
án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5,179.77 tỷ đồng Hiện tại, có 08 KCN đang triển khai đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động với tổng diện tích vào khoảng 6,196
ha Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp trong KCN trên diện tích đã thu hồi đạt 69,7% Tổng vốn đầu tư hạ tầng đối với dự án trong nước là 675,1 tỷ đồng, đạt 40,42% tổng vốn đầu tư đăng ký, đối với dự án nước ngoài là 44,17 triệu USD đạt 18,32% tổng vốn đầu tư đăng ký Các nhà đầu tư nước ngoài tiêu biểu là Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc với các lĩnh vực chủ yếu như: sản xuất và lắp ráp
ô tô, xe máy, Công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, công nghiệp
hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử, dệt may, sản xuất gạch ốp lát
(Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Vĩnh Phúc)
Những đóng góp chủ yếu của các KCN vào sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc như sau:
Đóng góp vào tổng thu nhập nội địa của tỉnh: Trong những năm qua Vĩnh Phúc
đã sản xuất nhiều sản phẩm, phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh, trong đóchủ yếu các sản phẩm của ngành chế tạo và lắp ráp ôtô, xe máy Sự hình thành một số doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, chi tiết ôtô, xe máy trong các KCN đã góp phần nâng tỷ lệ nội địa hoá ôtô lên khoảng 27%, xe máy lên 81% Những ngành công nghiệp chủ đạo trên đem lại 80% tổng giá trị gia tăng toàn ngành công nghiệp Vĩnh Phúc
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH, HĐH: Tính đến hết tháng 12/2009 trên địa bàn tỉnh có 194 dự án đầu tư vào KCN, CCN, chiếm 42,45% tổng số dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh Các dự án này tập trung chủ yếu vào lĩnh vực như: sản xuất ôtô, xe máy; linh kiện ôtô, xe máy; chế biến nông sản; may mặc Việc ngày càng có nhiều dự án FDI đầu tư vào trong KCN đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Vĩnh Phúc
Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh: Hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thực sự trở nên sôi động kể từ khi các dự án trong KCN được
Trang 36thực hiện, đi vào sản xuất và một số doanh nghiệp tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá
Đóng góp vào ngân sách: Nhờ sự hoạt động có hiệu quả và sự đóng góp đáng
kể của dự án trong KCN, đặc biệt là các dự án FDI, ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc
đã liên tục được cải thiện, năm sau cao hơn năm trước
Thúc đẩy quá trình hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: Để tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn nói chung và KCN nói riêng, đồng thời phục vụ công tác đẩy mạnh thu hút nguồn vốn cho phát triển KCN, nên trong thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã đặc biệt chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bao gồm cả đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, các dịch vụ bưu chính viễn thông
Nâng cao trình độ công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh:
Sự gia tăng của các dự án đầu tư nước ngoài vào các KCN, kéo theo đó là sự xuất hiện của các mô hình tổ chức sản xuất công nghiệp tiên tiến, hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới được chuyển giao cho tỉnh Chính điều này đã làm cho trình
độ công nghệ của nhiều lĩnh vực đã tăng khá nhanh so với trước đây
- Việc xây dựng kết cấu hạ tầng còn chậm, chưa theo kịp công tác xúc tiến đầu tư
- Tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) các KCN và các dự án trên địa bàn tỉnh chậm
- Tỷ lệ lấp đầy còn thấp
- Tình hình triển khai các dự án trong KCN trên địa bàn tỉnh không đảm bảo tiến độ đăng ký
- Mối quan hệ giữa chủ và người lao động chưa được cải thiện
- Trình độ người lao động trong một số doanh nghiệp còn thấp và thiếu trầm trọng
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN:
- Phải đánh giá và lựa chọn chủ đầu tư có tiềm lực mạnh về tài chính
Trang 37- Phải đảm bảo tính nhất quán và đồng bộ trong quy hoạch phát triển KCN
- Đẩy nhanh việc giải quyết bồi thường, giải phóng mặt bằng và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất:
- Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp
- Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư
- Sửa đổi một số cơ chế, chính sách về thu hút đầu tư vào KCN
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các KCN
- Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường tại các KCN [29]
1.3.2.Tỉnh Bắc Ninh
Sự hình thành và phát triển các KCN là một bước đi sáng tạo mang tính đột phá tạo sức hút lớn trong bức tranh kinh tế của Bắc Ninh những năm qua Trong thành quả kinh tế chung của toàn tỉnh thì công nghiệp tập trung luốn giữ vai trò chủ đạo, tiên phong
Tính đến thời điểm hiện tại, Bắc Ninh có 15 Khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích đất quy hoạch là 6.847ha Có 9 Khu công nghiệp đang triển khai đầu tư xây dựng, đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất cho thuê đạt 58,91%, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt 74,85% Luỹ kế đến hết Quý I/2013, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã thu hút 591
dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,3 tỷ USD, trong đó có 304 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
Những đóng góp chủ yếu của các KCN vào sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh:
Qua hơn 14 năm hình thành và phát triển, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã
có đóng góp lớn vào tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo việc làm với thu nhập ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là địa bàn lân cận các Khu công nghiệp Các doanh nghiệp đi vào hoạt động đã đóng góp quan
Trang 38trọng vào chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục ở mức trên hai con số của tỉnh,
cụ thể như sau:
Các Khu công nghiệp đã tạo nên giá trị gia tăng cao về giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Năm 2005, các Khu công nghiệp Bắc Ninh mới có 51 doanh nghiệp đi vào hoạt động, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.800 tỷ Lũy kế đến hết năm 2012, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã có 293 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp lớn, là nhân tố chính đóng góp vào quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp của tỉnh
Các Khu công nghiệp là nhân tố quan trọng nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, góp phần đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh có giá trị xuất siêu, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế: Thực tế cho thấy, giá trị kim ngạch xuất khẩu của các Khu công nghiệp Bắc Ninh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định Điều đó, đã nâng cao tỷ trọng đóng góp về giá trị kim ngạch xuất khẩu của các Khu công nghiệp vào giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Bên cạnh sự đóng góp của các Khu công nghiệp vào giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, các Khu công nghiệp cũng là nhân
tố quan trọng trong việc đưa nền kinh tế Bắc Ninh tham gia hội nhập vào nền kinh
tế quốc tế thông qua trao đổi thương mại, thu hút đầu tư
Các Khu công nghiệp đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động: Tính đến hết 31/12/2012, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã tạo việc làm cho 117.445 lao động Cùng với sự phát triển của các Khu công nghiệp, các doanh nghiệp Khu công nghiệp và quy định lộ trình tăng lương tối thiểu của Chính phủ, thu nhập của người lao động trong các Khu công nghiệp dần được nâng cao Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của các Khu công nghiệp là 100%
Các Khu công nghiệp góp phần tăng thu ngân sách địa phương: Năm 2005, các Khu công nghiệp nộp ngân sách đạt 51 tỷ đồng, chiếm 5,4% so với cả tỉnh; Năm 2011, các doanh nghiệp Khu công nghiệp Bắc Ninh đã nộp ngân sách của
Trang 392.653 tỷ đồng, chiếm 36.8% tổng thu ngân sách tỉnh; Năm 2012, nộp ngân sách 3.980 tỷ đồng, chiếm 43,9% cả tỉnh
Sự phát triển của các Khu công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp: Việc phát triển các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã có tác động lan tỏa đến các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất
Sự phát triển các Khu công nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa; tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh; góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng
xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái: Các Khu công nghiệp đã khẳng định vai trò rất quan trọng tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các Khu đô thị của tỉnh Bắc Ninh Chính hạt nhân từ các Khu công nghiệp đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị của tỉnh ngày càng mở rộng và phát triển Với việc thiết lập mô hình Khu công nghiệp, đô thị đã góp phần hình thành các khu đô thị mới gắn với phát triển cụm công nghiệp, làng nghề và kiến tạo bộ mặt nông thôn mới Góp phần tạo lập và phân bố không gian kinh tế, tạo sự phát triển hài hoà giữa các khu vực trong tỉnh là
cơ sở để Bắc Ninh hội nhập và phát triển một cách bền vững
Bên cạnh những kết quả vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như:
- Quy mô KCN chưa được lượng hoá cho phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh
- Chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn
- Bài toán về lao động và cơ cấu lao động chưa cân bằng
- Trình dộ tay nghề, kỹ năng và ý thức làm việc của người lao động còn thấp
- Một số doanh nghiệp được cấp phép nhưng không triển khai xây dựng, triển khai chậm tiến độ hoặc cầm chừng, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư
Trang 40- Cũng có doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định về chế độ báo cáo gây khó khăn cho công tác tổng hợp, phân tích và dự báo của các cơ quan quản lý Nhà nước
- Các công ty đầu tư hạ tầng KCN chưa có khu lưu trữ chất thải tạm thời theo quy định, hệ thống xử lý nước thải tập trung xây dựng chậm so tiến độ đề ra Vẫn còn doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật…
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN:
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước sau đầu tư
- Nâng cao chất lượng dịch vụ công, thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, tổng hợp qua mạng Internet
- Cải tiến phương pháp xúc tiến, thu hút đầu tư, tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như châu Âu, Mỹ, Nhật,… để thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao
- Thúc đẩy việc phát triển các KCN chuyên ngành, tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, viễn thông) và công nghiệp hỗ trợ
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp KCN, khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp
- Đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng và các doanh nghiệp thứ cấp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường.[55]
1.3.3 Bài học cho thành phố Hà Nội
Qua tìm hiểu kinh nghiệm của các tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh, luận văn rút
ra một số bài học kinh nghiệm cho Hà Nội trong việc phát triển các KCN nhằm nâng cao hiệu quả tác động của nó đối với kinh tế - xã hội của thủ đô, đó là:
Cần có sự thống nhất quan điểm ưu tiên phát KCN trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của Hà Nội nói riêng trong hệ thống Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cấp quận, huyện của thành phố Hà Nội