Bài giảng Phân tích tài chính - Bài 5: Phân tích hoạt động tài chính giới thiệu về đặc điểm các nguồn vốn của doanh nghiệp, bao gồm nợ phải trả, vốn chủ sở hữu và các thành phần phổ biến của chúng. Bài học còn trình bày về khái niệm và ý nghĩa của cơ cấu vốn, cơ cấu vốn tối ưu, khái niệm vốn lưu động ròng, ý nghĩa của phân tích vốn lưu động ròng và các kiểu chính sách tài trợ vốn.
Trang 1BÀI 5 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
Hướng dẫn học
Hoạt động tài chính bao gồm những hoạt động làm thay đổi quy mô và cơ cấu vốn của doanh nghiệp Tương tự phân tích hoạt động sản xuất – kinh doanh và hoạt động đầu tư, phân tích hoạt động tài chính là một trong những phương diện quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, giúp nhà nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tác động của hoạt động tài chính đối với doanh nghiệp
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, trả lời các câu hỏi ôn tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Chương 3, sách “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp” (Dùng cho sinh viên trong ngành), PGS.TS Lưu Thị Hương (chủ biên), Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, 2014
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài học này trước tiên giới thiệu về đặc điểm các nguồn vốn của doanh nghiệp, bao gồm
nợ phải trả, vốn chủ sở hữu và các thành phần phổ biến của chúng Bài học còn trình bày
về khái niệm và ý nghĩa của cơ cấu vốn, cơ cấu vốn tối ưu, khái niệm vốn lưu động ròng,
ý nghĩa của phân tích vốn lưu động ròng và các kiểu chính sách tài trợ vốn Bên cạnh đó, bài học còn đề cập một số vấn đề cơ bản về đòn bẩy tài chính, bao gồm khái niệm đòn bẩy tài chính, công thức tính toán độ lớn đòn bẩy tài chính và ý nghĩa của phân tích đòn bẩy tài chính
Mục tiêu
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có thể thực hiện được các việc sau:
Phân biệt được các nguồn vốn của doanh nghiệp, gồm nợ và vốn chủ sở hữu và đặc điểm của mỗi loại vốn
Trình bày được khái niệm cơ cấu vốn tối ưu, các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, khái niệm và ý nghĩa của cơ cấu vốn tối ưu
Trình bày được khái niệm vốn lưu động ròng và các chính sách tài trợ vốn của doanh nghiệp
Trình bày được khái niệm rủi ro tài chính
Trình bày được khái niệm, công thức tính độ lớn, ý nghĩa của đòn bẩy tài chính
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Đòn bẩy tài chính – Con dao hai lưỡi đối với doanh nghiệp
Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVX) là một trong những doanh nghiệp ưa thích sử dụng đòn bẩy tài chính Giai đoạn 2008-2010, nhờ vào việc sử dụng đòn bẩy tài chính, thu nhập cơ bản trên cổ phiếu thường (EPS) của công ty đã tăng gấp 5,5 lần sau 3 năm
Tuy nhiên, kể từ năm 2011, công ty bắt đầu làm ăn thua lỗ Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn trong năm 2012 và 2013 Theo Báo cáo kiểm toán năm 2013, công ty có nguy cơ suy giảm khả năng thanh toán ở mức đáng lo ngại: Tổng nợ ngắn hạn vượt xa tài sản ngắn hạn, tỷ trọng nợ vượt quá 90%, chi phí tài chính tăng mạnh từ 587 tỷ (2012) lên 811 tỷ (2013) và doanh nghiệp có nguy cơ phải hủy niêm yết do thua lỗ 3 năm liên tiếp Theo nhận định của các nhà phân tích, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính không đúng thời điểm
Đòn bẩy tài chính là gì? Tại sao trong giai đoạn 2008-2010 đòn bẩy tài chính có thể giúp PVX tăng tỷ lệ sinh lợi nhưng sau đó lại khiến cho công ty thua lỗ ngày càng trầm trọng hơn? Vậy trong trường hợp nào doanh nghiệp nên sử dụng đòn bẩy tài chính, trường hợp nào nên hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính?
Trang 35.1 Các nguồn vốn của doanh nghiệp
5.1.1 Nợ phải trả
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động nợ
từ các nguồn: Tín dụng thương mại; Tín dụng ngân hàng; Vay thông qua phát hành trái phiếu
Tín dụng ngân hàng thương mại là hình thức huy
động vốn thông qua một thỏa ước tín dụng dưới
dạng hợp đồng giữa người vay (chủ thể huy động
vốn) và ngân hàng thương mại (chủ thể cung cấp
vốn), theo đó, người vay có nghĩa vụ phải thanh
toán khoản lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền gốc vay
theo một lịch trình đã định
Một thỏa ước tín dụng thường bao gồm những nội
dung cơ bản sau: Số tiền gốc hay mệnh giá của khoản vay, lãi suất và cách thức trả lãi, thời hạn của khoản vay và các điều khoản phụ khác
Ưu điểm của tín dụng ngân hàng
o Mang các ưu điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Tạo ra khoản tiết kiệm thuế (Lãi vay là chi phí hợp lý, hợp lệ trong kỳ của doanh nghiệp, và được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, từ đó, làm giảm thu nhập tính thuế và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp); Phát huy tác dụng của đòn bẩy tài chính; Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu, từ đó, giúp bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hiện hành trong doanh nghiệp; Chịu chi phí vốn
thấp hơn so với việc huy động vốn chủ sở hữu
o Doanh nghiệp có khả năng huy động được một lượng vốn lớn với thời hạn sử dụng vốn đa dạng (có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn)
o Nhiều dịch vụ tiện ích đi kèm (dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ thanh toán qua tài khoản…)
Nhược điểm của tín dụng ngân hàng
o Mang các nhược điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Làm tăng
tỷ số nợ, giảm sự tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp tăng rủi ro tài chính; Gia tăng áp lực lên các hoạt động tài chính của doanh nghiệp (Nguyên nhân: Vốn vay có thời gian đáo hạn và nghĩa vụ hoàn trả Dù hoạt động tốt hay không tốt, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán được đầy đủ và đúng hạn số tiền gốc và lãi vay theo như các điều khoản đã thỏa thuận trước đó, ghi trên hợp
đồng tín dụng)
o Phải thỏa mãn được các điều kiện bảo đảm tiền vay khắt khe của ngân hàng Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung, các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp đã làm cho bên
đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, đây chính là một trong
Trang 4những rào cản lớn nhất cản trở các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng
ngân hàng
o Trong một số thời điểm, lãi suất cho vay có thể bị đẩy lên cao, khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vốn từ tín dụng ngân hàng Các doanh nghiệp đi
vay sẽ phải gánh chịu chi phí lãi vay lớn
o Doanh nghiệp vay vốn sẽ chịu sự giám sát của ngân hàng và tổ chức tín dụng,
có trách nhiệm phải chia sẻ những thông tin nội bộ với đối tượng cho vay
Định nghĩa
Tín dụng thương mại được hiểu là các khoản tín dụng phát sinh trong quan hệ mua chịu hàng hóa
Nó chính là các khoản phải trả nhà cung cấp Các khoản tín dụng này được hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa, dịch
vụ giữa các chủ thể trong nền kinh tế với nhau Giá trị các khoản tín dụng thương mại thường nhỏ và không ổn định Thời gian doanh nghiệp được cấp khoản tín dụng thương mại thường rất ngắn
Ưu điểm
o Đơn giản, dễ thực hiện, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh
o Tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền
o Chi phí thấp
o Mang các ưu điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Tạo ra khoản tiết kiệm thuế (Chi phí của vốn nợ nói chung là chi phí trước thuế, được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ trong kỳ của doanh nghiệp, và được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, từ đó làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp); Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu, từ đó, giúp bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hiện hành của doanh nghiệp
Nhược điểm
o Quy mô cấp vốn thường nhỏ và thời gian cấp vốn thường rất ngắn
o Mang các nhược điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Làm tăng
tỷ số nợ, giảm sự tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp tăng rủi ro tài chính, gia tăng áp lực lên hoạt động tài chính của doanh nghiệp do vốn có thời gian đáo hạn và nghĩa vụ hoàn trả
o Có thể gây ra tác động dây chuyền trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
5.1.1.3 Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp trong việc thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời hạn xác định cho người nắm giữ trái phiếu
Trang 5Doanh nghiệp là người phát hành và cũng là người đi vay Thông qua việc phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có thể thực hiện vay vốn trung hạn và dài hạn thông qua thị trường vốn với một khối lượng lớn
Phân loại trái phiếu
o Dựa vào lãi suất trái phiếu:
Trái phiếu có lãi suất cố định
Trái phiếu có lãi suất thay đổi (thả nổi)
Trái phiếu có lãi suất bằng không
o Dựa vào tính chất của trái phiếu:
Trái phiếu thông thường
Trái phiếu có thể chuyển đổi
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu
Trái phiếu có thể thu hồi
Ưu điểm của phương thức huy động vốn bằng phát hành trái phiếu:
o Mang các ưu điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Tạo ra khoản tiết kiệm thuế (Trái tức phải trả cho trái chủ là chi phí hợp lý, hợp lệ trong kỳ của doanh nghiệp, và được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, từ đó, làm giảm thu nhập tính thuế và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp); Phát huy tác dụng của đòn bẩy tài chính; Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu,
từ đó, giúp bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hiện hành trong doanh nghiệp; Chịu chi phí vốn thấp hơn so với việc huy động vốn chủ sở hữu
o Công ty hoàn toàn nắm quyền chủ động trong quá trình huy động vốn (Thời
gian, quy mô, cách thức phát hành )
o Mức độ kiểm soát tiền vay của người cho vay thấp hơn so với tín dụng ngân hàng
o Có khả năng huy động được một lượng vốn lớn với thời gian sử dụng lâu dài
Nhược điểm của huy động vốn bằng phát hành trái phiếu:
o Mang các nhược điểm cơ bản của việc huy động nợ nói chung, như: Làm tăng
tỷ số nợ, giảm sự tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp tăng rủi ro tài chính; Gia tăng áp lực lên các hoạt động tài chính của doanh nghiệp (Nguyên nhân: Vốn vay từ phát hành trái phiếu có thời gian đáo hạn và nghĩa vụ hoàn trả Dù hoạt động tốt hay không tốt, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán được đầy đủ và đúng hạn số tiền gốc và trái tức dựa trên một lịch trình được quy
định từ trước)
o Phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước thì mới có thể huy động vốn theo phương thức này
o Phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh…)
5.1.2 Vốn chủ sở hữu
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các
bộ phận chủ yếu sau:
Vốn góp ban đầu
Trang 6 Vốn chủ sở hữu được tạo lập từ kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp (bản chất chính là các đồng vốn lợi nhuận giữ lại)
Vốn góp thêm của các chủ sở hữu trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp (Với công ty cổ phần, lượng vốn này được hình thành từ việc phát hành
cổ phiếu mới)
5.1.2.1 Vốn góp ban đầu
Là số vốn mà những người chủ sở hữu của doanh nghiệp đã thực góp tại thời điểm doanh nghiệp được thành lập
Hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và phương thức tạo lập số vốn góp ban đầu của doanh nghiệp Ví dụ: Doanh nghiệp Nhà nước có vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước Doanh nghiệp tư nhân có vốn góp ban đầu là vốn đầu tư của cá nhân là chủ sở hữu của doanh nghiệp Doanh nghiệp FDI có vốn góp ban đầu là vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp liên doanh, vốn góp ban đầu sẽ
do các đối tác tham gia liên doanh góp Với công ty cổ phần, các cổ đông góp vốn thông qua hình thức mua cổ phiếu của công ty
Phân biệt Vốn góp ban đầu với Vốn điều lệ, Vốn pháp định và Vốn chủ sở hữu:
Vốn điều lệ là số vốn do những người chủ sở hữu doanh nghiệp góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào trong Điều lệ của doanh nghiệp Đây chỉ là số vốn ghi trên giấy tờ, không phải là số vốn mà doanh nghiệp thực có trong tay tại thời điểm mới thành lập
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực đặc thù, ví dụ như ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, vốn pháp định là 3.000 tỷ VNĐ
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc về những người chủ sở hữu của doanh nghiệp Nó bao gồm vốn góp ban đầu, phần vốn góp thêm của các chủ sở hữu sau này, quỹ lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ chuyên dùng khác của doanh nghiệp
5.1.2.2 Lợi nhuận không chia
Lợi nhuận không chia hay lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings) là phần lợi nhuận sau thuế được doanh nghiệp sử dụng để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh trong kỳ tới, thay vì được dùng để chi trả cho các chủ sở hữu (thành viên góp vốn, cổ đông…)
Ngoài việc trực tiếp giữ lại lợi nhuận (giữ lại tiền và không tiến hành chia lợi nhuận cho các chủ sở hữu hoặc cổ tức cho cổ đông), riêng với công ty cổ phần, việc giữ lại lợi nhuận còn có thể được tiến hành thông qua việc trả cổ tức bằng cổ phiếu
Điều kiện để giữ lại lợi nhuận
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được các chủ sở hữu cho phép giữ
lại lợi nhuận để tái đầu tư Điều này phụ thuộc vào chính sách cổ tức và chính sách
đầu tư của doanh nghiệp Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách
Trang 7phân phối cổ tức của công ty cổ phần, cần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên
quan sau:
o Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
o Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
o Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó
o Hiệu quả của việc tái đầu tư
Ưu điểm của phương thức giữ lại lợi nhuận:
o Mang đầy đủ các ưu điểm của việc huy động vốn chủ sở hữu nói chung, như:
an toàn, vốn không xác định thời gian đáo hạn, tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính (đồng nghĩa với hạ thấp hệ số nợ, giảm rủi ro tài chính), từ đó, tăng uy tín và khả năng vay nợ của doanh nghiệp
o Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu, từ đó, giúp bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hiện hành của doanh nghiệp
o Việc huy động được thực hiện cực kỳ dễ dàng, nhanh chóng (gần như là ngay lập tức)
Nhược điểm của phương thức giữ lại lợi nhuận:
o Mang đầy đủ các nhược điểm chung của việc huy động vốn chủ sở hữu như: Vốn có chi phí cao hơn so với chi phí nợ Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế, không tận dụng được tác dụng khuếch đại thu nhập chủ sở hữu của đòn bẩy tài chính
o Đối với các công ty cổ phần, tăng lợi nhuận giữ lại sẽ làm giảm cổ tức, khiến cho cổ phiếu của doanh nghiệp trở nên kém hấp dẫn
5.1.2.3 Phát hành cổ phiếu
Chỉ có công ty cổ phần mới được phép huy động vốn
thông qua hình thức phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi
ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn
cổ phần của tổ chức phát hành
Đối với công ty cổ phần, cổ phiếu là phương tiện để
hình thành vốn chủ sở hữu ban đầu và cũng là phương
tiện để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu
Phân loại cổ phiếu
o Dựa vào tình hình phát hành và lưu hành, cổ phiếu của công ty cổ phần có thể được phân biệt thành: Cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành,
cổ phiếu đang lưu hành và cổ phiếu quỹ
o Dựa vào tính hữu danh của cổ phiếu, có thể phân biệt thành: Cổ phiếu ghi tên (hữu danh) và cổ phiếu không ghi tên (vô danh)
o Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, lại có thể chia thành: Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần
Trang 8Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần, đồng thời, cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường Cổ phiếu ưu đãi gồm các loại: Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức (Cổ phiếu ưu tiên – Preferred Stock), cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Trong đó cổ phiếu ưu đãi cổ tức (Còn gọi là cổ phiếu ưu tiên – Preferred Stock) là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ được hưởng quyền ưu tiên về
cổ tức và ưu tiên về thanh toán vốn góp khi công ty ngừng hoạt động Cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu tiên có quyền được nhận cổ tức cố định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc kết quả kinh doanh của công ty Mặt khác, cổ đông ưu tiên còn được quyền thanh toán cổ tức trước các cổ đông thường Nếu
số cổ tức chỉ đủ để chia cho các cổ đông của cổ phiếu ưu tiên thì các cổ đông của cổ phiếu thường sẽ không được chia cổ tức của kỳ đó Ngoài ra, khi công
ty bị thanh lý hoặc giải thể thì cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu tiên còn được ưu tiên thanh toán giá trị phần vốn đầu tư trước các cổ đông thường Mặc dù vậy, khác với cổ đông thường, các cổ đông ưu tiên thường không được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị, cũng như quyền biểu quyết thông qua các vấn đề quan trọng trong quản lý công ty
Phát hành cổ phiếu thường
o Ưu điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu thường:
Mang đầy đủ các ưu điểm cơ bản của việc huy động vốn chủ sở hữu, như: An toàn;
Không tạo ra các căng thẳng về mặt tài chính như khi huy động nợ (Nguyên nhân:
Không xác định thời gian đáo hạn vốn gốc,
cổ tức trả cho các chủ sở hữu thay đổi phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của công ty, những kỳ hoạt động kém hiệu quả, công ty có thể không cần trả cổ tức cho các cổ đông); Tăng hệ số vốn chủ
sở hữu, tăng mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính (đồng nghĩa với hạ thấp hệ số nợ, giảm rủi ro tài chính), từ đó, giúp tăng uy tín và khả năng vay nợ của công ty
Có khả năng huy động được lượng vốn rất lớn
Công ty hoàn toàn nắm quyền chủ động trong quá trình huy động vốn (Thời gian, quy mô, cách thức phát hành )
o Nhược điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu thường:
Mang đầy đủ các nhược điểm chung của việc huy động vốn chủ sở hữu, như: Vốn có chi phí cao hơn so với chi phí nợ Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế, không tận dụng được tác dụng khuếch đại thu nhập chủ sở hữu của đòn bẩy tài chính
Việc chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng có thể làm thay đổi số lượng
và cơ cấu cổ đông, từ đó làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các cổ đông hiện tại (Bên cạnh việc phải chia sẻ quyền quản lý, các cổ đông hiện tại còn
Trang 9phải chia sẻ quyền dự chia phần thu nhập cao, tăng thêm do công ty tạo ra với các cổ đông mới)
Phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước thì mới có thể huy động vốn theo phương thức này
Phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh…)
Cổ đông của công ty phải đối mặt với hiệu ứng loãng giá cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên là loại chứng khoán lai ghép giữa cổ phiếu thường và trái phiếu doanh nghiệp
Cổ phiếu ưu tiên mang những đặc điểm giống với
cổ phiếu thường, cụ thể: Đều là loại chứng khoán
vốn (Là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi
ích hợp pháp của người nắm giữ đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành); Đều không
xác định thời gian đáo hạn; Lợi tức trả cho người nắm giữ đều được lấy từ lợi nhuận sau thuế; Việc chi trả cổ tức cho cổ đông đều phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp (Trong trường hợp làm ăn kém hiệu quả, công ty cổ phần có thể hoãn trả cổ tức ưu tiên sang các kỳ sau Tuy nhiên, công ty vẫn phải có nghĩa vụ trả hết số nợ về lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho cổ đông ưu tiên, sau
đó mới có thể thanh toán cho các cổ đông thường)
Cổ phiếu ưu tiên mang nhiều đặc điểm giống với trái phiếu doanh nghiệp, cụ thể như sau: Lợi tức mà người nắm giữ được hưởng là cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Đều có khả năng tạo cho công ty cơ hội để khuếch đại thu nhập thuộc về các cổ đông thường; Đều không đem lại cho người nắm giữ quyền biểu quyết về các vấn đề quan trọng của công ty
o Ưu điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu ưu tiên
Mang các ưu điểm cơ bản của việc huy động vốn chủ sở hữu nói chung, như: An toàn; Không tạo ra các căng thẳng về mặt tài chính như khi huy động nợ (Nguyên nhân: Không xác định thời gian đáo hạn vốn gốc, cổ tức trả cho cổ đông ưu tiên mặc dù cố định, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của công ty, nhưng việc chi trả có thể được hoãn lại tới các
kỳ sau); Tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính (đồng nghĩa với hạ thấp hệ số nợ, giảm rủi ro tài chính), từ đó, giúp tăng uy tín và khả năng vay nợ của công ty
Giúp bảo vệ quyền kiểm soát công ty của các cổ đông hiện hành Việc phát hành cổ phiếu ưu tiên mặc dù dẫn tới việc tăng thêm số lượng các cổ đông; tuy nhiên, do các cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu tiên không được hưởng quyền biểu quyết, vì vậy, các cổ đông thường hiện tại không bị chia sẻ quyền kiểm soát các hoạt động kinh doanh của công ty cho các cổ đông mới này
Tạo điều kiện cho công ty khuếch đại thu nhập thuộc về các cổ đông thường (EPS) Trong điều kiện công ty làm ăn có hiệu quả, thu được lợi
Trang 10nhuận cao, việc công ty chỉ phải trả mức lợi tức cố định đã được xác định
từ trước cho các cổ đông ưu tiên cũng có nghĩa là: Phần lợi nhuận tăng thêm, mà công ty tạo ra hoàn toàn thuộc quyền phân chia của các cổ đông
thường hiện tại
o Nhược điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu ưu tiên
Mang các nhược điểm chung của việc huy động vốn chủ sở hữu, như: Vốn có chi phí cao hơn so với chi phí nợ Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế (bởi giống với cổ tức trả cho các cổ đông thường, cổ tức trả cho cổ đông ưu tiên được lấy từ lợi nhuận sau thuế, và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của công ty)
Phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước thì mới có thể huy động vốn theo phương thức này
Phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh…)
5.2 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn là tỷ trọng các loại vốn trong tổng vốn của doanh nghiệp Ví dụ doanh nghiệp A có tổng vốn là 100 tỷ VND, trong đó có 60 tỷ VND là vốn vay, 40 tỷ VND còn lại là vốn chủ sở hữu, vậy doanh nghiệp này có cơ cấu vốn gồm 60% nợ và 40% vốn chủ sở hữu
Có bốn nhân tố tác động đến những quyết định về cơ cấu vốn:
Thứ nhất, rủi ro kinh doanh Đây là loại rủi ro tiềm ẩn
trong tài sản của doanh nghiệp Rủi ro kinh doanh càng
lớn, tỷ lệ nợ tối ưu càng thấp
Thứ hai, chính sách thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp
có ảnh hưởng đến chi phí của nợ vay thông qua điều
tiết phần tiết kiệm nhờ thuế Thuế suất cao sẽ khuyến
khích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ
thuế tăng lên
Thứ ba, khả năng tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng tăng vốn một cách
hợp lý trong điều kiện có tác động xấu Các nhà quản lý tài chính biết rằng tài trợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạt động ổn định
và có hiệu quả Họ cũng biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua những khó khăn trong hoạt động, những nhà cung ứng vốn muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn
có ảnh hưởng quan trọng đối với mục tiêu cơ cấu vốn
Bốn nhân tố trên tác động rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn Với mỗi doanh nghiệp,
cơ cấu vốn tối ưu tại mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau Nhiệm vụ của các nhà quản lý là xác định và đảm bảo kết cấu vốn tối ưu