Bài giảng Kế toán quản trị 1 - Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận được biên soạn giúp người học hiểu được các khái niệm cơ bản phục vụ cho phân tích quan hệ C–V–P như lợi nhuận góp, tỷ lệ lợi nhuận góp, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, cơ cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy kinh doanh, doanh thu an toàn; phân tích điểm hòa vốn trong các trường hợp sản xuất tiêu thụ một loại sản phẩm và các loại sản phẩm khác nhau.
Trang 1BÀI 4 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ, SẢN LƯỢNG
VÀ LỢI NHUẬN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
2 Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội
3 Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài 4 trong Học phần Kế toán quản trị 1, nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận (C–V–P) là cần thiết cho việc quản trị thành công một doanh nghiệp Phân tích C–V–P cho thấy ảnh hưởng của lợi nhuận là do sự thay đổi doanh thu, chi phí,
cơ cấu tiêu thụ và giá bán sản phẩm Phân tích C–V–P Báo cáo này cho phép nhà quản trị
dự đoán được ảnh hưởng của sự biến động doanh thu tới lợi nhuận của doanh nghiệp Báo cáo này cũng cho thấy rõ được cơ cấu chi phí của doanh nghiệp đã phù hợp chưa Cơ cấu chi phí của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến độ lớn đòn bẩy kinh doanh và lợi nhuận, theo tốc độ tăng, giảm của doanh thu Qua nghiên cứu phân tích C–V–P góp phần cho các nhà quản trị chủ động trong các quyết định kinh doanh ngắn hạn và dài hạn.
Mục tiêu
Hiểu được các khái niệm cơ bản phục vụ cho phân tích quan hệ C–V–P như lợi nhuận góp, tỷ lệ lợi nhuận góp, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, cơ cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy kinh doanh, doanh thu an toàn
Phân tích điểm hòa vốn trong các trường hợp sản xuất tiêu thụ một loại sản phẩm và các loại sản phẩm khác nhau
Đưa ra các quyết định kinh doanh dựa trên phân tích quan hệ C–V–P
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Bài học kinh nghiệm của Công ty TM ABC
Công ty thương mại ABC mới gia nhập vào thị trường phân phối các loại áo sơ mi trên thị trường miền Bắc Để bắt đầu thâm nhập thị trường, công ty lựa chọn loại áo thuộc phân khúc thị trường bình dân vì quy mô của phân khúc này là lớn nhất Công ty ABC đã tìm được một nguồn cung cấp hàng hóa khá ổn định với mức giá phải chăng Giám đốc doanh nghiệp cũng
đã tìm thuê được ngôi nhà mặt tiền một khu phố khá sầm uất làm trụ sở kinh doanh Bên cạnh đó ông ta cũng dễ dàng tuyển được 6 nhân viên bán hàng với mức lương thỏa thuận là 5.000.000 đồng/tháng
Tuy nhiên sau tháng đầu tiên kinh doanh công ty chỉ đạt mức tiêu thụ 300 sản phẩm đồng thời thua lỗ 25.000.000 đồng Giám đốc doanh nghiệp nhận ra rằng việc mở cửa hàng là quá vội vàng Và nếu công ty không có các biện pháp xử lý thì công ty có thể phải đóng cửa ngay trong tháng kinh doanh thứ hai
1 Nếu muốn bắt đầu hoạt động kinh doanh thì mức tiêu thụ tối thiểu công ty cần đạt trong một tháng là bao nhiêu? Bài học kinh nghiệm gì được rút ra trong tình huống của công ty ABC?
2 Để cứu vãn tình trạng hiện tại công ty ABC cần những biện pháp cụ thể nào?
Trang 34.1 Ý nghĩa phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận trong
doanh nghiệp
Mục tiêu của các nhà quản trị kinh doanh là tối đa
hoá lợi nhuận của mọi hoạt động Do vậy trong kinh
doanh các nhà quản trị thường có các biện pháp sử
dụng hữu hiệu tài sản để giảm chi phí thấp nhất
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong các hoạt
động kinh doanh hàng ngày, các nhà quản trị thường
phải đưa ra các quyết định cho mọi hoạt động Do
vậy phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng
và lợi nhuận chính là cơ sở khoa học ra các quyết
định như:
Định giá bán đơn vị sản phẩm để phù hợp với thu nhập của khách hàng, thị trường tiêu thụ và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp
Tăng, giảm chi phí khả biến đơn vị sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm thích nghi với nhu cầu khách hàng
Đầu tư chi phí cố định để tăng nhanh về công suất, chất lượng sản phẩm thỏa mãn nhu cầu thị trường
Xác định sản lượng sản phẩm tiêu thụ như thế nào để đạt lợi nhuận tối đa và khai thác hết công suất của máy móc thiết bị và các tài sản đã đầu tư nhằm giảm chi phí bình quân thấp nhất
Xác định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phù hợp nhằm khai thác khả năng tiềm tàng của các yếu tố sản xuất và nhu cầu của thị trường
4.2 Các khái niệm phục vụ cho phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng
và lợi nhuận
4.2.1 Lợi nhuận góp (contribution margin)
Lợi nhuận góp hay còn gọi là lãi theo biến phí là số tiền còn lại của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi chi phí khả biến (Khoản chênh lệch giữa giá bán chưa có thuế
của sản phẩm và biến phí của sản phẩm đó) Như vậy có nhiều tên gọi khác nhau về khái niệm này, song bản chất đó chính là phần để bù đắp định phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
Ta có các khái niệm về lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm, lợi nhuận góp 1 loại sản phẩm
và lợi nhuận góp bình quân
Cách tính tổng quát lợi nhuận góp như sau:
Lợi nhuận góp = Doanh thu – Biến phí tương ứng
với doanh thu Đối với 1 đơn vị sản phẩm thì lợi nhuận góp chính là doanh thu của sản phẩm đó trừ
đi chi phí khả biến của nó
Lợi nhuận góp bình quân chỉ áp dụng khi doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, các sản phẩm thường mang tính đồng chất
Trang 4Tổng lợi nhuận góp Lợi nhuận góp
bình quân = Tổng sản lượng sản phẩm Lợi nhuận góp là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả kinh doanh của từng bộ phận hay toàn doanh nghiệp Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp:
Lợi nhuận góp là chỉ tiêu cơ bản dùng để trang trải chi phí cố định và là bộ phận quan trọng để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
o Nếu lợi nhuận góp < Chi phí cố định thì doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ do không đủ để trang trải định phí
o Nếu lợi nhuận góp = Chi phí cố định thì doanh nghiệp hòa vốn vì khi đó lợi nhuận góp bù đắp vừa đủ chi phí cố định
o Nếu lợi nhuận góp > Chi phí cố định thì doanh nghiệp kinh doanh có lãi vì thừa trang trải định phí
Để phân tích kết quả kinh doanh của từng hoạt động, từng sản phẩm, ta cần tính tổng lợi nhuận góp, lợi nhuận góp bình quân, lợi nhuận góp theo từng loại sản phẩm và cho từng đơn vị sản phẩm Đối với loại sản phẩm nào có lợi nhuận góp cao nhất đó chính là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư vào sản phẩm đó Khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì lợi nhuận góp bình quân cũng thay đổi theo
Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại sản phẩm, mỗi sản phẩm có mức lợi nhuận góp khác nhau Do vậy khi tăng cùng một mức sản lượng, những sản phẩm có lợi nhuận góp cao thì mức độ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn Khi giảm cùng một mức sản lượng, doanh nghiệp nên chọn các sản phẩm có lợi nhuận góp thấp, nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động
Khi điểm hoà vốn đã đạt được thì lợi nhuận sẽ tăng tỷ lệ theo lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm bán được tăng thêm kể từ khi hoà vốn Do vậy, ta có thể tính lợi nhuận ở các mức độ hoạt động khác nhau khi đã đạt hòa vốn theo công thức sau:
Công thức 1:
Lợi nhuận = Số lượng sản phẩm bán
trên điểm hòa vốn lợi nhuận góp
đơn vị sản phẩm Công thức 2:
Lợi nhuận = Số lượng sản
phẩm tiêu thụ
lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
– Chi phí
cố định
4.2.2 Tỷ lệ lợi nhuận góp (tỷ lệ lãi theo biến phí)
Tỷ lệ lợi nhuận góp hay còn gọi là tỷ lệ lãi theo biến phí là chỉ tiêu biểu hiện mối quan
hệ tỷ số giữa tổng lợi nhuận góp và doanh thu (giá bán chưa thuế sản phẩm)
Ta có các khái niệm về tỷ lệ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm, tỷ lệ lợi nhuận góp 1 loại sản phẩm, tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân
Tỷ lệ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm là tỷ số giữa lợi nhuận góp và doanh thu của sản phẩm đó Tỷ lệ lợi nhuận góp của 1 sản phẩm và 1 loại sản phẩm là như nhau Tỷ lệ
Trang 5lợi nhuận góp bình quân thường áp dụng khi doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm khác nhau
Cách tính
Tổng lợi nhuận góp một loại sản phẩm
Tỷ lệ lợi nhuận góp
một loại sản phẩm = Tổng doanh thu một loại sản phẩm
Số sản phẩm tiêu thụ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
=
Số sản phẩm tiêu thụ Giá bán đơn vị sản phẩm Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
=
Giá bán đơn vị sản phẩm Tổng lợi nhuận góp
Tỷ lệ lợi nhuận góp
bình quân = Tổng doanh thu tiêu thụ
Tỷ lệ lợi nhuận góp là chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả kinh doanh của các bộ phận hay toàn doanh nghiệp Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị như sau:
Tỷ lệ lợi nhuận góp cho ta biết trong 1 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng dùng
để trang trải chi phí khả biến và còn lại bao nhiêu đồng phần thuộc về lợi nhuận góp dùng để bù đắp chi phí cố định
Tỷ lệ lợi nhuận góp cho phép doanh nghiệp xác định khả năng sinh lời của từng loại sản phẩm Trong trường hợp cùng tăng một mức doanh thu như nhau, những sản phẩm có tỷ lệ lợi nhuận góp cao thì tốc độ tạo ra lợi nhuận nhanh và đó chính
là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư
Tỷ lệ lợi nhuận góp là một kênh thông tin quan trọng khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của các sản phẩm, dịch vụ, phương án đầu tư, dùng để so sánh với các chỉ tiêu khác khi đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh
Khi hoà vốn, tỷ lệ lợi nhuận góp cũng chính là tỷ lệ tăng lợi nhuận khi doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng lên Ta có thể xác định lợi nhuận của doanh nghiệp dựa vào các công thức sau:
Công thức 1:
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu thụ
trên điểm hòa vốn Tỷ lệ lợi nhuận góp sản phẩm
Công thức 2:
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu
thụ sản phẩm Tỷ lệ lợi nhuận
góp sản phẩm – Chi phí cố định
4.2.3 Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp thường kinh doanh đa ngành hàng, nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau Mỗi một mặt hàng thường có vai trò khác nhau trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị cần phải chọn những sản phẩm có doanh thu và lợi nhuận cao nhất trong trong tổng các mặt hàng kinh doanh Hay nói một cách khác cơ cấu của các sản phẩm tạo ra lợi
Trang 6nhuận cao thường chiếm tỷ trong đáng kể trong doanh nghiệp Như vậy để nâng cao lợi nhuận, các nhà quản trị cần phải xem xét cơ cấu tiêu thụ một cách khoa học
Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ là tỷ trọng của từng mặt hàng chiếm trong tổng số các mặt hàng tiêu thụ
Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ có thể tính theo doanh thu tiêu thụ các sản phẩm hoặc tính theo khối lượng tiêu thụ các sản phẩm tùy theo từng trường hợp cụ thể
Có thể tính theo doanh thu:
Công thức 1:
Doanh thu tiêu thụ của một mặt hàng
Cơ cấu tiêu thụ của một mặt hàng
(Tính theo doanh thu) = Tổng doanh thu tiêu thụ
Có thể tính theo thước đo hiện vật, trong trường hợp này thường áp dụng đối với các sản phẩm đồng chất
Công thức 2:
Sản lượng tiêu thụ của một mặt hàng
Cơ cấu tiêu thụ của một mặt hàng
(Tính theo sản lượng) = Tổng sản lượng tiêu thụ
Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng có ý nghĩa đối với các nhà quản trị như sau:
Phân tích cơ cấu tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp thiết lập được một cơ cấu hợp lý về số lượng, chủng loại sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường và khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất Đồng thời là cơ sở cho việc ra quyết định sản xuất sản phẩm cũng như quyết định thu mua hàng hoá một cách hợp lý
Do mỗi loại sản phẩm có tỷ lệ lợi nhuận góp và lợi nhuận góp đơn vị khác nhau nên khi cơ cấu sản phẩm tiêu thụ thay đổi sẽ làm tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân và lợi nhuận góp bình quân sản phẩm thay đổi theo Sự thay đổi này ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vậy các nhà quản trị kinh doanh phải biết lựa chọn cơ cấu tiêu thụ sản phẩm hợp lý để làm tăng lợi nhuận Thông thờng các nhà quản trị kinh doanh thường chọn các sản phẩm có lợi nhuận góp và tỷ lệ lợi nhuận góp cao nhất để sản xuất và tiêu thụ
Từ công thức tính lợi nhuận góp bình quân, tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân ở phần trên, công thức xác định cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, ta có thể thiết lập công thức tính lợi nhuận góp bình quân, tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân thông qua cơ cấu sản phẩm tiêu thụ:
Tổng lợi nhuận góp
Tỷ lệ lợi nhuận
góp bình quân = Tổng doanh thu
(Doanh thu từng loại sản phẩm Tỷ lệ lợi nhuận góp từng
loại sản phẩm)
=
Tổng doanh thu
= (Cơ cấu sản phẩm theo doanh thu Tỷ lệ lợi nhuận góp từng
loại sản phẩm)
Trang 7Tổng lợi nhuận góp Lợi nhuận góp
bình quân = Tổng số lượng sản phẩm tiêu thụ
(Lượng sản phẩm tiêu thụ từng loại Lợi nhuận góp đơn
vị sản phẩm)
=
Tổng lượng các sản phẩm tiêu thụ
= (Cơ cấu sản phẩm theo số lượng lợi nhuận góp đơn vị)
4.3 Phân tích điểm hòa vốn
4.3.1 Khái niệm và ý nghĩa phân tích điểm hòa vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm vừa đủ bù đắp chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc là điểm mà tại đó tổng lợi nhuận góp bằng tổng chi phí cố định Hay nói một cách khác điểm hòa vốn là điểm mà tại đó lợi nhuận của doanh nghiệp bằng không
Điểm hòa vốn là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, giúp cho các nhà quản trị biết được ngưỡng cần sản xuất và tiêu thụ đạt được mức lợi nhuận như dự kiến Là nội dung phân tích phổ biến trong các doanh nghiệp được các nhà quản trị quan tâm
Phân tích điểm hòa vốn được xét trong điều kiện khi doanh nghiệp phân chia chi phí theo cách ứng xử chi phí và xét trong giới hạn của quy mô hoạt động
Chi phí trong nội dung phân tích điểm hòa vốn cần phân loại chi tiết theo biến phí và định phí Định phí được xem xét là chi phí thời kỳ để xác định kết quả kinh doanh Biến phí được gắn với các định mức cho từng loại sản phẩm
Quy mô hoạt động của doanh nghiệp được hiểu đó là giới hạn bởi các yếu tố sản xuất nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diền ra một cách bình thường Các yếu tố thường quyết định tới giới hạn của quy mô hoạt động doanh nghiệp như: Vốn đầu tư, công suất máy móc thiết bị, tổ chức bộ máy nhân sự, thị trường tiêu thụ…
Sản lượng là chỉ tiêu phản ánh mức sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp trong một
kỳ hoạt động Sản lượng có thể thông qua các thước đo hiện vật hoặc giá trị phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và mặt hàng cụ thể của các doanh nghiệp
Phân tích điểm hoà vốn giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp chủ động xác định tại mức doanh thu nào thì tương ứng với sản lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ Đồng thời cũng biết được cần một khoản thời gian bao nhiêu để đạt được điểm hoà vốn và mức lợi nhuận dự định Từ đó doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp Trên cơ sở đó để xây dựng các giá bán, các chi phí phát sinh phù hợp… Mặt khác phân tích điểm hòa vốn cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp
về các chỉ tiêu an toàn từ đó nhận diện mức độ rủi ro của các phương án đầu tư
4.3.2 Nội dung phân tích điểm hoà vốn
4.3.2.1 Trường hợp doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm
Các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hay nhiều loại sản phẩm đồng chất, chúng khác nhau về khối lượng, kích cỡ, quy cách có thể vận dụng phân tích trong trường hợp này Khi đó chi phí cố định được xem là chi phí trực tiếp cho sản xuất các sản phẩm hay nhóm sản phẩm Ta xét những cách tiếp cận điểm hòa vốn như sau:
Trang 8 Xác định điểm hòa vốn thông qua phương trình
Ta có thể xác định điểm hoà vốn thông qua sản lượng sản phẩm, doanh thu hay thời gian tiêu thụ
Theo phương pháp tính giá trực tiếp lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng biến phí – Tổng định phí Tại điểm hòa vốn lợi nhuận bằng không do vậy ta có phương trình 1:
0 = Doanh thu – Tổng biến phí – Tổng định phí Gọi P là giá bán đơn vị sản phẩm chưa có thuế, Q là sản lượng sản phẩm tiêu thụ,
VC là biến phí đơn vị sản phẩm, TFC là tổng định phí, do vậy phương trình 1 có thể viết như sau:
TFC (định phí)
Q (hòa vốn) =
P – VC Gọi c là lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
TFC (định phí)
Q (hòa vốn) =
c Trường hợp xác định doanh thu hòa vốn, ta có thể sử dụng phương trình 1 Gọi S
là tổng doanh thu hòa vốn cần xác định, gọi d là tỷ lệ lợi nhuận góp sản phẩm
TFC
S = Q.P =
c × P TFC
S =
d
Từ đây ta xác định thời gian hòa vốn
Doanh số hòa vốn Thời gian kỳ phân tích Thời gian hòa vốn =
Doanh thu kỳ phân tích Hoặc
Sản lượng hòa vốn Thời gian kỳ phân tích Thời gian hòa vốn =
Sản lượng kỳ phân tích
Xác định điểm hòa vốn thông qua đồ thị
Ngoài phương pháp thông qua phương trình, điểm hòa vốn có thể xác định bằng phương pháp đồ thị, có 2 cách sử dụng đồ thị để xác định điểm hòa vốn: Đồ thị chi phí, sản lượng và lợi nhuận và đồ thị sản lượng và lợi nhuận
Ta giả thiết trục hoành (0x) thể hiện sản lượng tiêu thụ, trục tung (0y) thể hiện doanh thu, chi phí và lợi nhuận Điểm hòa vốn là điểm giao nhau giữa đường doanh thu, chi phí Lợi nhuận có thể được xác định dựa vào các mức doanh thu bất
kỳ trên đồ thị
Trang 94.3.2.2 Trường hợp doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm
Trong thực tế nhiều doanh nghiệp kinh doanh đa mặt hàng nhằm hạn chế những rủi ro
có thể xảy ra Phân tích điểm hòa vốn trong các doanh nghiệp này thường phức tạp hơn, vì điều kiện quan trọng của phân tích điểm hòa vốn là phải tách biệt chi phí của doanh nghiệp theo biến phí và định phí, đồng thời xét doanh nghiệp trong giới hạn của quy mô hoạt động Chi phí cố định trong những doanh nghiệp này không thể phân bổ cho từng loại sản phẩm, dịch vụ được vì thiếu độ chính xác Do vậy phân tích điểm hòa vốn ở những doanh nghiệp này ta có thể vận dụng những cách sau:
Cách 1: Phân tích điểm hòa vốn trong trường hợp kinh doanh nhiều loại sản phẩm
ta có thể chuyển thành kinh doanh một loại sản phẩm Trường hợp này áp dụng nếu mỗi sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất, kinh doanh riêng biệt Do vậy các khoản chi phí kế toán có thể tách biệt được chi phí cố định, chi phi biến đổi cho từng đối tượng chịu chi phí Phần chi phí quản lý của Bộ máy doanh nghiệp coi như không đáng kể và không phân bổ cho các đối tượng trong doanh nghiệp Như vậy với giả thiết trên nội dung phân tích điểm hòa vốn tương
tự như trường hợp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm
Cách 2: Được xem xét trong trường hợp cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ ổn
định Trên cơ sở cơ cấu tiêu thụ ổn định ta có thể xác định được tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân, doanh thu hòa vốn
Tổng định phí Doanh thu hòa vốn =
Tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân Tổng định phí trên bao gồm tổng định phí của doanh nghiệp như định phí trực tiếp của các bộ phận, định phí chung của toàn công ty Với cơ cấu doanh thu đã xác định, ta có thể xác định doanh thu hòa vốn của từng loại sản phẩm và dịch vụ: Doanh thu hòa vốn
của sản phẩm A =
Doanh thu hòa vốn chung Cơ cấu doanh thu của
sản phẩm A Doanh thu hòa vốn của sản phẩm A Sản lượng hòa vốn của sản phẩm A =
Giá bán đơn vị sản phẩm A
Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ thay đổi sẽ làm điểm hoà vốn thay đổi theo Do đó, các nhà quản trị kinh doanh cần phải biết lựa chọn cơ cấu sản phẩm tiêu thụ hợp lý để làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Thông thường các nhà quản trị thường tăng
số lượng sản phẩm có số dư đảm phí cao hoặc tăng doanh thu các mặt hàng có tỷ
lệ số dư đảm phí cao, khi đó góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Lập kế hoạch sản lượng, doanh thu và lợi nhuận mong muốn
Trong thực tế, nhiều trường hợp doanh nghiệp cần phải xác định mức lợi nhuận dự đoán trước, sau đó mới tính mức doanh thu và sản lượng tương ứng sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ phục vụ cho các quyết định kinh doanh Việc xác định lợi nhuận theo kế hoạch giúp cho các nhà quản trị lựa chọn các phương án kinh doanh tối ưu Để đạt được các chỉ tiêu dự toán này, ta sử dụng một số phương trình dự đoán lợi nhuận sau:
Tổng lợi nhuận góp
kế hoạch =
Tổng chi phí cố định
kế hoạch + Lợi nhuận kế hoạch
= Lợi nhuận góp bình
quân kế hoạch Số sản phẩm tiêu thụ kế hoạch
Trang 10Tổng chi phí cố định + Lợi nhuận kế hoạch Sản lượng sản phẩm tiêu thụ
đạt lợi nhuận kế hoạch = lợi nhuận góp bình quân kế hoạch
Tổng chi phí cố định + Lợi nhuận kế hoạch Doanh thu tiêu thụ để đạt lợi
nhuận kế hoạch = Tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân kế hoạch Công thức trên áp dụng cho lợi nhuận trước thuế Đối với lợi nhuận sau thuế, ta phải
sử dụng thêm công thức:
Lợi nhuận kế hoạch sau thuế Lợi nhuận kế hoạch trước thuế =
1 – Thuế suất thuế TNDN
4.3.3 Các chỉ tiêu an toàn
Các chỉ tiêu an toàn có vai trò quan trọng trọng việc lựa chọ các phương án kinh doanh và xác định mức độ rủi ro của các hoạt động, nhằm đưa ra các thông tin thích hợp Để phản ánh mức độ an toàn của doanh nghiệp ta có thể thông qua các chỉ tiêu doanh thu, sản lượng, thời gian thể hiện bằng số tuyệt đối và số tương đối
Doanh thu an toàn là phần chênh lệch giữa doanh thu thực tế hay dự toán so với doanh thu hoà vốn
Hệ số doanh thu an toàn là tỷ số giữa doanh thu an toàn và doanh thu thực tế
Ta có thể xác định các chỉ tiêu này theo công thức sau:
Doanh thu an toàn = Doanh thu thực tế (Dự toán) – Doanh thu hòa vốn
Doanh thu an toàn
Hệ số doanh thu an toàn =
Doanh thu thực tế (Dự toán)
Sản lượng an toàn là phần chênh lệch giữa sản lượng thực tế hay dự toán so với sản lượng hoà vốn
Hệ số sản lượng an toàn là tỷ số giữa sản lượng an toàn và sản lượng thực tế
Ta có thể xác định các chỉ tiêu này theo công thức sau:
Sản lượng an toàn = Sản lượng thực tế (Dự toán) – Sản lượng hòa vốn
Sản lượng an toàn
Hệ số sản lượng an toàn =
Sản lượng thực tế (Dự toán)
Thời gian an toàn là phần chênh lệch giữa thời gian thực tế hay dự toán so với thời gian hoà vốn
Hệ số sản lượng an toàn là tỷ số giữa sản lượng an toàn và sản lượng thực tế Thời gian an toàn = Thời gian thực tế (Dự toán) – Thời gian hòa vốn
Thời gian an toàn
Hệ số thời gian an toàn =
Thời gian thực tế (Dự toán) Các chỉ tiêu an toàn càng cao chứng tỏ mức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
ổn định hay rủi ro thấp và ngược lại Đây là những chỉ tiêu thường hấp dẫn các nhà đầu tư Tuy nhiên các chỉ tiêu này thường tác động tới đòn bẩy kinh doanh và phụ thuộc vào cơ cấu chi phí của doanh nghiệp