1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Thị trường chứng khoán - Bài 4: Công ty chứng khoán

18 53 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 524,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Thị trường chứng khoán - Bài 4: Công ty chứng khoán cung cấp các kiến thức về các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán; những vấn đề chung về công ty chứng khoán; các nghiệp vụ của công ty chứng khoán.

Trang 1

BÀI 4 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

Giáo trình Thị trường chứng khoán, Trường ĐH Kinh tế quốc dân – Khoa Ngân hàng tài chính, Nxb Tài chính (2013)

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

 Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán

 Những vấn đề chung về công ty chứng khoán

 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán

Mục tiêu

 Hiểu được khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán (CTCK) trên thị trường chứng khoán

 Hiểu được mô hình tổ chức của CTCK

 Nắm được những kiến thức cơ bản về các hoạt động của CTCK như hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và các hoạt động hỗ trợ khác

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Minh được thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán theo Giấy phép số 90/UBCK- GP ngày 21/04/2008 và hoạt động Lưu ký Chứng khoán số 19/UBCK-GCN ngày 21/4/2008 do Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp và là thành viên của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán theo giấy chứng nhận số 92/CNTVLK ngày 12/5/2008 Ngành nghề kinh doanh của công ty:

 Môi giới chứng khoán;

 Tự doanh chứng khoán;

 Lưu ký chứng khoán;

 Bảo lãnh phát hành chứng khoán;

 Tư vấn đầu tư chứng khoán

Với ngành nghề kinh doanh như trên, công ty phải đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu là bao nhiêu?

Trang 3

4.1 Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán

Hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông thường vì công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế đặc biệt Vì vậy, vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK cũng có những điểm khác nhau và vận dụng cho các khối thị trường có mức độ phát triển khác nhau (thị trường cổ điển; thị trường mới nổi; thị trường các nước chuyển đổi) Tuy nhiên, có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán của công

ty chứng khoán theo 2 nhóm sau:

4.1.1 Mô hình công ty chứng khoán đa năng

Theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức

một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh

doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ

tài chính Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt

động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán,

bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được

biểu hiện dưới 2 hình thức sau:

 Loại đa năng một phần: Theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Anh

 Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Đức

Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hóa đầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại

và hiểu biết rõ về khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án

Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức tín dụng vừa

là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh Điều này sẽ làm cho thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư

Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh, các ngân hàng

dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường và khi đó các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để

Trang 4

đầu tư chứng khoán và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả Do những hạn chế như vậy, nên sau khi khủng hoảng thị trường tài chính

1929 – 1933, các nước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh, chỉ có một số thị trường (Đức) vẫn còn áp dụng mô hình này

4.1.2 Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh

Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán

sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hóa trong

lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không

được tham gia kinh doanh chứng khoán

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho

hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi

vòa chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán

để thúc đẩy thị trường phát triển Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan…

Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một

số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành các công ty mẹ, công ty con và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau

4.2 Những vấn đề chung về công ty chứng khoán

4.2.1 Khái niệm và các loại hình tổ chức của công ty chứng khoán

CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường

chứng khoán Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng

khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán TT210/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán

Do đặc điểm một CTCK có thể kinh doanh trên một lĩnh vực, loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay, có quan điểm phân chia CTCK thành các loại sau:

 Công ty môi giới chứng khoán: là CTCK chỉ thực

hiện việc trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng

 Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán là CTCK

có lĩnh vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp

vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá

 Công ty kinh doanh chứng khoán là CTCK chuyên

mua bán các loại trái phiếu

 Công ty chứng khoán không tập trung là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo thị trường

Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần

Trang 5

 Công ty hợp danh

o Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở nên

o Thành viên của CTCK hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn và thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty

o Công ty hợp danh thông thường không được phép phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào

 Công ty cổ phần

o CTCP là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông

o Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

o CTCP có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành

 Công ty Trách nhiệm hữu hạn

o Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

o Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu

Do các ưu điểm của loại hình CTCP và công ty TNHH so với Công ty hợp danh, vì vậy, hiện nay chủ yếu các CTCK được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH và CTCP

4.2.2 Đặc điểm của công ty chứng khoán

CTCK có các đặc điểm riêng biệt so với các doanh nghiệp thông thường Đó là CTCK

là trung gian tài chính, là tổ chức kinh doanh có điều kiện với nhiều sản phẩm đa dạng

và bị kiểm soát về hoạt động

4.2.2.1 Công ty chứng khoán là trung gian tài chính

Với tư cách là một thành viên tham gia TTCK, CTCK đóng vai trò là một trung gian tài chính trong các hoạt động như giao dịch, thanh toán, làm trung gian rủi ro, trung gian truyền thông tin

CTCK làm trung gian giao dịch Đặc điểm này được

thể hiện rõ nhất khi thực hiện nghiệp vụ môi giới

chứng khoán CTCK đại diện cho nhà đầu tư tiến hành

giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC, qua đó

giúp người mua và người bán dễ dàng thực hiện giao

dịch với những thông tin đáng tin cậy, rút ngắn thời

gian cũng như chi phí giao dịch và làm tăng tính thanh

khoản của thị trường

CTCK là trung gian thanh toán Theo nguyên tắc thanh toán giao dịch chứng khoán thì chứng khoán được thực hiện thanh toán thông qua hệ thống tài khoản lưu ký của thành viên lưu ký CTCK chính là một thành viên của hệ thống thanh toán lưu ký nên nó là trung gian thanh toán giữa nhà phát hành và nhà đầu tư hoặc giữa người mua và người bán

Trang 6

CTCK là trung gian rủi ro khi tham gia TTCK với vai trò là trung gian giữa người mua và người bán TTCK luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối

với tất cả các thành viên tham gia Nếu người mua và

người bán tự giao dịch với nhau thì có thể dẫn đến rủi

ro phát sinh do thông tin bất cân xứng giữa người mua

và người bán Bởi vậy, CTCK là người đứng giữa và

thực hiện các giao dịch cho khách hàng, đồng thời

cũng giảm thiểu rủi ro lừa đảo trong giao dịch với cả

hai phía

CTCK là trung gian thông tin Để thực hiện các hoạt động của mình thì CTCK cần phải thu thập, xử lý thông tin và cung cấp cho doanh nghiệp và nhà đầu tư sao cho phù hợp Bởi vậy, CTCK đã đảm nhận vai trò là trung tâm thông tin truyền tới khách hàng đảm bảo khách hàng nắm được các thông tin cần thiết trên TTCK và đưa ra các quyết định đầu tư của mình

4.2.2.2 Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện

Hoạt động kinh doanh của CTCK phải đảm bảo những tiêu chuẩn nhất định theo quy định của pháp luật Kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán là những hoạt động kinh doanh có điều kiện bao gồm các điều kiện về vốn, nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ lãnh đạo

và những đặc điểm về xung đột lợi ích và quyền lợi khách hàng và CTCK

Điều kiện về vốn: CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định, vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ Trường hợp tổ chức đề nghị cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụ xin cấp phép

Điều kiện về nhân sự: Những người quản lý hay nhân viên giao dịch của công ty phải đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cũng như mức độ tín nhiệm, tính trung thực

Yêu cầu nhân viên của CTCK phải có giấy phép, chứng chỉ hành nghề Những người giữ các chức danh quản lý cũng phải có đòi hỏi về giấy phép đại diện

Điều kiện về cơ sở vật chất: Để được cấp phép thành lập và hoạt động, CTCK phải đáp ứng được những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất, có thể bao gồm: có trụ sở;

có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang bị, thiết bị; có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán

Trường hợp cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh; trường hợp là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn Các cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập phải sử dụng nguồn vốn của chính mình để góp vốn thành lập CTCK

Trang 7

4.2.2.3 Các sản phẩm của công ty chứng khoán rất đa dạng

CTCK cung cấp dịch vụ trung gian giữa cung và cầu chứng khoán trên thị trường Đối tượng cung cấp dịch vụ chứng khoán của CTCK đa dạng với nhiều nhu cầu, trình độ khác nhau và luôn theo chiều hướng ngày một hiện đại, chuyên sâu

Các dịch vụ mà CTCK cung cấp có tính trừu tượng, tính chuyên sâu dựa trên trình độ khoa học và kỹ thuật ngày càng hiện đại, tiên tiến Các dịch vụ mà CTCK cung cấp trên thị trường ngày một phong phú, đa dạng dựa trên hệ thống công nghệ được cập nhật thường xuyên Tuy nhiên, các sản phẩm dịch vụ thường dễ bị bắt chước nên các CTCK phải làm mới các sản phẩm để tạo lợi thế so với các công ty khác trên thị trường

4.2.2.4 Công ty chứng khoán bị kiểm soát về hoạt động

Các hoạt động của CTCK bị kiểm soát chặt chẽ bởi SGDCK và UBCKNN

CTCK phải có những giải trình, báo cáo mỗi tuần và khi có giao dịch bất thường Định kỳ hàng tháng, CTCK phải báo cáo UBCKNN về tỷ lệ vốn khả dụng UBCKNN

sẽ quyết định đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng dưới mực quy định an toàn tối thiểu Các kiểm soát này được đặt ra nhằm đảm bảo CTCK thực hiện đúng chức năng của mình, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho CTCK, khách hàng cũng như cho toàn thị trường

4.2.2.5 Đặc điểm về xung đột lợi ích và quyền lợi của khách hàng và công ty

chứng khoán

Đối với ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, lợi ích của khách hàng gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp, không có mâu thuẫn, xung đột về lợi ích

Trên TTCK có rất nhiều CTCK với cơ cấu sở hữu đa dạng, bao gồm các cổ đông, thành viên góp vốn là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các tổ chức nước ngoài được cấp phép và hoạt động Hệ thống các CTCK đã cung cấp dịch

vụ chứng khoán cho nhiều nhà đầu tư, giúp công chúng đầu tư dễ dàng tiếp cận với TTCK Bên cạnh đó, nhiều quan hệ giữa CTCK với nhà đầu tư cũng được hình thành

và theo đó, xung đột về lợi ích giữa các nhóm chủ thể tham gia thi trường là điều tất yếu Các xung đột có thể xảy ra giữa CTCK với khách hàng đó là:

 Xung đột lợi ích giữa CTCK với khách hàng là nhà

đầu tư trong hoạt động tư vấn chứng khoán (môi giới) Nhà môi giới được hưởng phần trăm trên giá trị giao dịch của họ Xung đột ở đây là nhà môi giới vẫn có thu nhập ngay cả khi vì tư vấn của mình mà khách hàng bị thua lỗ Thực tế, có những trường hợp chính nhà môi giới của CTCK “xúi”

khách hàng giao dịch liên tục chỉ vì hoa hồng của mình chứ không vì lợi ích của khách hàng Bên cạnh đó, tình trạng khách hàng kiện CTCK diễn ra khá thường xuyên do nhân viên môi giới lợi dụng việc ủy quyền tài khoản của khách hàng để bán khống (short-sell) danh mục chứng khoán và kiếm lời

 Xung đột giữa lợi ích của khách hàng với lợi ích của người viết báo cáo, đưa ra nhận định, khuyến nghị gửi khách hàng đọc hàng ngày (thường là bộ phận phân tích, tư vấn đầu tư) cũng không hề nhỏ

Trang 8

Xung đột lợi ích của khách hàng với lợi ích của chính CTCK khi triển khai thực hiện giao dịch chứng khoán cũng xảy ra không ít nhưng chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát

và chịu trách nhiệm pháp lý đối với các hoạt động này

4.2.3 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán

CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là

nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức và nhóm nguyên

tắc mang tính tài chính

Nhóm nguyên tắc đạo đức

CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công

bằng vì lợi ích của khách hàng

Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm

 Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về các tài khoản hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước

 CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu mà họ tư vấn

 CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình

 Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường CTCK mất khả năng thanh toán

 Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng

 Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng

Nhóm nguyên tắc tài chính

 Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng

 CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng

 CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản

4.2.4 Vai trò, chức năng của công ty chứng khoán

Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môi giới trung gian,

đó là các CTCK – một định chế tài chính trên thị trường chứng khoán, có nghiệp vụ chuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai

Trang 9

trò trung gian môi giới mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch

vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát hành

CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các CTCK mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả

Chức năng cơ bản của CTCK:

 Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành vào bảo lãnh phát hành)

 Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)

 Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)

 Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường)

Vai trò của công ty chứng khoán

Với những đặc điểm trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán

Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của

tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra

cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành

Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường

chứng khoán là nguyên tắc trung gian Nguyên tắc này

yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành

không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải

thông qua các trung gian mua bán Các CTCK sẽ thực

hiện vai trờ trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát

hành Và khi thực hiện công việc này, CTCK đã tạo ra

cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị

trường chứng khoán

Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hóa thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu

tư một cách hiệu quả

Đối với thị trường chứng khoán, CTCK thể hiện hai vai trò chính:

(1) Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải

Trang 10

thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK

Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều CTCK đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường

(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính

Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra

cơ chế giao dịch trên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2 Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai

trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho

các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu

đó Các CTCK thực hiện được vai trò này bởi vì họ

vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán

mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực

hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những

yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới

sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường

Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của CTCK

4.3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán

4.3.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Theo đó, CTCK đại diện cho khách hàng tiến

Ngày đăng: 02/12/2020, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w