1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học thông qua dạy học các học phần về phương pháp dạy học toán (tt)

27 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 890,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HOÀNG THỊ NGÀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Chuyên ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGÀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN

VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 9.14.01.11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Trần Luận

vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm ………….

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội

hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

1 Hoàng Thị Ngà (2014), "Mô hình dạy học Bàn tròn”, Tạp chí Giáo

dục, Số đặc biệt, tháng 7/2014, tr 110-113

2 Hoàng Thị Ngà (2017), "Nghiên cứu bước đầu về siêu nhận thức

và khả năng ứng dụng trong giáo dục", Tạp chí Giáo dục, Số đặc

biệt, kì 3 tháng 8/2017,tr 147-151

3 Hoàng Thị Ngà (2019), "Đánh giá siêu nhận thức – kĩ năng siêu

nhận thức trong học tập", Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư

phạm Hà Nội, ISSN 2354-1075, Volume 64, Issue 7, tr 130-139

4 Hoàng Thị Ngà (2019),"Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mang tính siêu nhận thức trong dạy học các học phần phương pháp

dạy học toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học", Tạp chí

Giáo dục, Số đặc biệt tháng 12/2019, tr 171-175

5 Hoang Thi Nga (2020), "A Model of Organizing Activities for Training Metacognitive Skils for Primary Education Students in

Mathematics Teaching Methodology Courses", Vietnam Journal of

Education, ISSN 2588-1477, Volume 04, Issue 01, pp 36-43

6 Hoàng Thị Ngà (2020), "Kĩ năng siêu nhận thức của sinh viên

ngành Giáo dục Tiểu học", Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng

11/2020

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Yêu cầu của xã hội đối với việc đổi mới giáo dục đại học

Để đáp ứng yêu cầu của xã hội, theo yêu cầu đổi mới giáo dục, dạy học ở ĐH phải tổ chức hoạt động để trong quá trình giáo dục, SV tích cực, chủ động tiếp thu những kiến thức và kĩ năng cần thiết để hình thành nhân cách theo yêu cầu xã hội, hơn nữa, phải có năng lực tự học, tự làm giàu tri thức để có thể học tập và học tập suốt đời

1.2 Yêu cầu chuyển đổi cách thức dạy học và vai trò của kĩ năng siêu nhận thức trong việc học tập

Xu hướng dạy học hiện nay không chỉ chú trọng ở việc người học sẽ học được cái gì mà còn chú trọng ở việc học như thế nào Kĩ năng SNT giúp người học định hướng và lập được kế hoạch học tập một cách khoa học; tự đánh giá và điều chỉnh về nhiều khía cạnh của việc học; theo dõi việc học của chính mình và tự đưa ra phương pháp giải quyết phù hợp trong từng tình huống cụ thể; phát triển tư duy logic, tư duy chiến lược; giúp người học hiểu việc học của mình và có cách học tốt nhất

1.3 Yêu cầu rèn luyện kĩ năng dạy học cho sinh viên sư phạm

Đối với SV sư phạm, một trong những nhân tố cốt lõi hình thành nên năng lực sư phạm chính là kĩ năng dạy học Kĩ năng SNT vừa đóng vai trò

là một kĩ năng học tập quan trọng, vừa là một kĩ năng dạy học cần thiết

1.4 Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức trong các học phần về Phương pháp dạy học Toán

Trong chương trình đào tạo giáo viên tiểu học, các học phần về PPDH Toán đóng vai trò quan trọng và được SV đặc biệt quan tâm do ý nghĩa thiết thực với hoạt động dạy – học nghề Kĩ năng SNT sẽ giúp SV học tốt hơn học phần phương pháp dạy học toán nói riêng và các học phần trong chương trình đào tạo nói chung Hơn nữa, việc rèn luyện kĩ năng SNT giúp SV rèn luyện kĩ năng nghề cần thiết

1.5 Thực tiễn nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

Đến thời điểm này, SNT đã có lịch sử nghiên cứu hơn 30 năm kể từ khi nhà tâm lí học người Mĩ J Flavell khai sinh ra thuật ngữ này Từ đó, một trào lưu, một xu hướng nghiên cứu mới về SNT ngày càng được mở rộng với nhiều lý thuyết, mô hình của các tác giả khác nhau Ở Việt Nam, những nghiên cứu về SNT có thể nói là chưa nhiều và mới dừng ở bước đầu với những khám phá về lý thuyết và đề xuất khả năng ứng dụng của SNT vào lĩnh vực giáo dục Như vậy, việc hệ thống hoá những vấn đề

Trang 5

líluận, đưa ra những phân tích về khả năng ứng dụng của lý thuyết SNT cũng như đề xuất biện pháp để rèn luyện kĩ năng SNT cho SV là điều rất cần thiết

Với những lí do kể trên, đề tài nghiên cứu được chọn trong luận án là

"Rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học thông qua dạy học các học phần về phương pháp dạy học toán”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xác định được các kĩ năng SNT cần thiết, vai trò, ý nghĩa của các kĩ năng SNT đó đối với SV ngành Giáo dục Tiểu học, luận án xây dựng quy trình và đề xuất mô hình tổ chức các hoạt động, thiết kế các hoạt động cụ thể vận dụng trong các học phần về PPDH Toán nhằm rèn luyện

kĩ năng SNT cho SV ngành GDTH

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các kĩ năng SNT cần rèn luyện cho SV ngành Giáo dục Tiểu học trong các học phần về PPDH Toán

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung rèn luyện những kĩ năng SNT cần thiết cho SV ngành GDTH trong các học phần về PPDH Toán

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được các kĩ năng SNT cần thiết đối với SV ngành

GDTH và xây dựng được quy trình, đề xuất được mô hình tổ chức hoạt

động phù hợp vận dụng trong các học phần về PPDH Toán thì có thể rèn

luyện kĩ năng SNT cho SV, từ đó có thể nâng cao hiệu quả dạy học các học phần PPDH Toán và rèn luyện kĩ năng nghề cho SV

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan và làm rõ những vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng SNT cho SV ngành GDTH thông qua dạy học các học phần về PPDH Toán

- Xác định các kĩ năng SNT cần thiết đối với SV ngành GDTH

- Xây dựng quy trình, đề xuất mô hình tổ chức hoạt động và thiết kế các hoạt động dạy học cụ thể vận dụng mô hình trong các học phần về PPDH Toán ở tiểu học nhằm rèn luyện kĩ năng SNT cho SV

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của quy trình và mô hình tổ chức hoạt động đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra và quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 6

- Đưa ra phương pháp, kĩ thuật đánh giá mức độ kĩ năng SNT của SV ngành Giáo dục Tiểu học

- Xây dựng quy trình, đề xuất mô hình tổ chức hoạt động và thiết kế một số hoạt động dạy học cụ thể vận dụng trong các học phần về PPDH Toán nhằm rèn luyện kĩ năng SNT cho SV ngành GDTH

7.2 Về mặt thực tiễn

- Bước đầu tìm hiểu thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng SNT cho

SV ngành GDTH thông qua dạy học các học phần về PPDH Toán ở các trường đại học, cao đẳng

- Quy trình và mô hình tổ chức hoạt động rèn luyện kĩ năng SNT cho

SV được đề xuất trong luận án được kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả,

có thể được vận dụng vào thực tiễn dạy học các học phần về PPDH Toán ở các trường đại học, cao đẳng có đào tạo ngành GDTH, góp phần rèn luyện

kĩ năng SNT cho SV và nâng cao chất lượng dạy học

- Những nghiên cứu được trình bày trong luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho GV giảng dạy các học phần về PPDH Toán và SV ở các trường ĐH có đào tạo ngành GDTH

8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ

8.1 Việc rèn luyện kĩ năng SNT cho SV ngành GDTH như một kĩ năng học tập và một kĩ năng nghề quan trọng là việc làm cần thiết trong xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay

8.2 Các phương pháp đánh giá và các mức độ kĩ năng SNT của SV ngành GDTH đưa ra trong luận án làcó cơ sở khoa học

8.3 Quy trình và mô hình tổ chức hoạt động được đề xuất trong luận

án có tính khả thi và sẽ góp phần đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo ngành GDTH theo hướng rèn luyện kĩ năng SNT cho SV

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,luận án gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Xây dựng quy trình và đề xuất mô hình tổ chức hoạt động rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học thông qua các học phần về Phương pháp dạy học Toán

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2 Khái quát về siêu nhận thức

1.2.1 Quan niệm về siêu nhận thức

Thuật ngữ Siêu nhận thức (Metacognition) bắt nguồn từ Hy Lạp với tiền tố "meta" có nghĩa là "sau", "vượt lên trên"

Có nhiều quan niệm khác nhau về SNT của J Flavell (1976), A Brown (1982), Janet Metcalfe và Arthur P Shimamura (1994), A Livingston (2003), F.E Weinert (1998)

Trong luận án, SNT được hiểu là khả năng của một người trong việc

kiểm soát quá trình NT của chính mình, bao gồm sự hiểu biết về quá trình

NT và việc định hướng, theo dõi, điều chỉnh, đánh giá các hoạt động của quá trình NT có liên quan khi cần thiết

1.2.2 Phân biệt nhận thức và siêu nhận thức

SNT và NT đều là quá trình tư duy diễn ra trong đầu của chủ thể NT, thường diễn ra song song và có mối quan hệ biện chứng với nhau: có nhận thức mới có SNT, mặt khác, SNT làm tăng chất lượng của quá trình nhận thức SNT có thể diễn ra trước hoặc sau quá trình NT Tuy nhiên, vẫn có thể phân biệt chúng với nhau bởi hai khía cạnh: nội dung và chức năng

Brown (1982) chia SNT thành 2 thành phần chính, bao gồm: (1) Sự hiểu biết về NT, là những thông tin phản ánh ý thức về những khả năng và hoạt động NT; (2) điều chỉnh NT, là các hoạt động liên quan đến cơ chế tự điều chỉnh trong một nỗ lực liên tục để tìm hiểu và GQVĐ

Schraw và Dennison (1994) phân biệt SNT thành 2 thành phần chính,

bao gồm: Kiến thức về NT và điều chỉnh NT Kiến thức về NT gồm ba

loại: Kiến thức khai báo (Declarative Knowledge, kiến thức thủ tục

Trang 8

(Procedural Knowledge), kiến thức điều kiện (Conditional Knowledge)

Điều chỉnh NT gồm một số hoạt động kiểm soát quá trình học tập: Lập kế

hoạch, quản lí thông tin, giám sát sự hiểu, điều chỉnh và đánh giá

Tobias và Everson (1995) nhận thấy SNT là sự kết hợp của kĩ năng

và kiến thức - kiến thức về NT, việc giám sát quá trình học tập và NT của một người và việc kiểm soát các quá trình này Tuy nhiên, họ tổ chức các thành phần này thành một mô hình phân cấp trong đó, việc giám sát sự hiểu biết là một điều kiện tiên quyết để kích hoạt các kĩ năng SNT khác

Từ các mô hình kể trên, luận án phân biệt SNT thành 3 thành phần chính, bao gồm: kiến thức SNT (Metacognitive Knowledge), kĩ năng SNT (Metacognitive Skills) và trải nghiệm SNT (Metacognitive Experiences)

Sơ đồ 1.1: Các thành phần của SNT

Cách phân loại này cho thấy cách nhìn nhận của luận án về SNT như một năng lực nội quan của một con người về quá trình NT của chính mình Năng lực này tồn tại trong mỗi người nhưng không giống nhau về mức độ và có thể rèn luyện, phát triển thông qua hoạt động, đặc biệt là hoạt động giáo dục

1.2.4 Đánh giá siêu nhận thức

1.2.4.1 Một số phương pháp, kĩ thuật đánh giá định tính

- Nói to suy nghĩ (Think - aloud)

- Phỏng vấn (Interviews)

- Dạy kèm (Tutor)

1.2.4.2 Một số phương pháp đánh giá định lượng

a) Phương pháp sử dụng bảng khảo sát (MAI) của Schraw và

Dennison (1994)

b) Phương pháp KMA (Knowledge Monitoring Assessment) của Tobias và Everson (1995)

Trang 9

c) Phương pháp KMA (Knowledge Monitoring Accuracy) và KMB (Knowledge Monitoring Bias) của Gama (2004)

d) Phương pháp sử dụng bảng hỏi MARSI1 của Sperling, Howard, Miller và Murphy (2002)

1.2.5 Siêu nhận thức và việc dạy siêu nhận thức

Trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả đã nhấn mạnh vai trò của SNT và đề xuất những cách thức vận dụng lí thuyết SNT vào giảng dạy và học tập như: Flavell (1979), Brown và Palinscar (1982),

tổ chức SESS (2009), Gama (2004), Hartman (2001), Weinert (1997)

Chúng tôi cũng có cùng quan điểm rằng, SNT có thể phát triển và nên được đưa vào giảng dạy kết hợp trong các hoạt động học tập đặc thù của từng chuyên ngành Và như vậy, trong nghiên cứu này, luận án sẽ tập trung thiết kế quy trình và các hoạt động học tập kết hợp dạy SNT trong các học phần Phương pháp dạy học Toán cho SV ngành Giáo dục Tiểu học

1.2.6 Chiến lược siêu nhận thức

1.2.6.1 Khái niệm

* Chiến lược

Trong luận án, chiến lược được hiểu là một kế hoạch/ cách thức hành động được thiết kế một cách có ý thức, nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó Chiến lược học tập là các kế hoạch/biện pháp được thiết kế để đảm bảo quá trình học tập đi đúng hướng và đạt được mục đích học tập đã đề ra

* Chiến lược siêu nhận thức

Trong luận án này, chiến lược SNT được hiểu là các cách thức hoạt động được thiết kế để giám sát và điều chỉnh quá trình NT Có thể căn cứ vào mục tiêu sử dụng để phân biệt chiến lược SNT và chiến lược NT Tuy nhiên, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được thực hiện đan xen và phụ thuộc lẫn nhau

1.2.6.2 Một số chiến lược siêu nhận thức

Nhìn chung, có thể phân chia các chiến lược SNT vào 4 nhóm: Giám sát sự hiểu, lập kế hoạch, theo dõi và điều chỉnh, đánh giá Các hoạt động này được thực hiện một cách có ý thức và có chủ đích Cách phân loại cũng như các nhóm chiến lược là không duy nhất, tuỳ thuộc vào nội dung, mục đích nhiệm vụ và đối tượng NT

1 Viết tắt của cụm từ tiếng Anh Metacognitive Awareness of Reading Strategies Inventory.

Trang 10

1.3 Quan niệm về kĩ năng siêu nhận thức

1.3.1 Khái niệm kĩ năng

Nghiên cứu đề tài này, luận án xem kĩ năng như một biểu hiện của năng lực Với cách tiếp cận khái niệm kĩ năng như vậy, có thể thấy:

- Kĩ năng là một dạng năng lực hành độnggắn với hành động, nhiệm

vụ, lĩnh vực, hoàn cảnh và con người cụ thể

- Kĩ năng không phải sinh ra đã có mà chỉ có thể được hình thành, rèn luyện, phát triển bằng hoạt động và thông qua hoạt động thực tiễn

- Kĩ năng có thể được phát triển từ mức độ thấp đến cao thông qua giáo dục, tự giáo dục và thông qua đào tạo, tự đào tạo

1.3.2 Khái niệm kĩ năng siêu nhận thức

Có thể hiểu kĩ năng SNT là khả năng kiểm soát một cách có ý thức

thức các quá trình học tập và tư duy đang diễn ra bao gồm việc giám sát sự hiểu, lập kế hoạch, theo dõi - điều chỉnh và đánh giá những quá trình đó

1.4 Kĩ năng siêu nhận thức của sinh viên

1.4.1 Một số kĩ năng siêu nhận thức cơ bản cần rèn luyện cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

1.4.1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

a) Kĩ năng giám sát sự hiểu biết: là khả năng đánh giá kiến thức hay

rộng hơn là sự hiểu biết của một người về kiến thức của mình - biết mình biết gì và không biết cái gì Phát triển khả năng giám sát sự hiểu biết là bước đầu tiên để phát triển các kĩ năng khác

b) Kĩ năng lập kế hoạch: là khả năng lựa chọn các chiến lược phù

hợp cho từng loại nhiệm vụ/tình huống, xác định mục tiêu và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu đặt ra và sự phân bổ/tổ chức các nguồn lực

có ảnh hưởng đến quá trình học tập

c) Kĩ năng theo dõi và điều chỉnh: là kĩ năng đặc trưng, thể hiện vai

trò, chức năng của kĩ năng SNT Đó là khả năng theo dõi suy nghĩ và quá

Trang 11

trình thực hiện công việc của bản thân, phát hiện những vướng mắc, sai lầm và đưa ra những quyết định điều chỉnh hợp lý khi cần

d) Kĩ năng đánh giá quá trình học tập: là một kĩ năng SNT quan

trọng, là điều kiện đủ để phát triển những kĩ năng ở trên Đó là khả năng xem xét và đưa ra những nhận định về cách thức, nguồn lực sử dụng, thời gian và những quyết định trong quá trình giải quyết vấn đề

1.4.2 Biểu hiện của sinh viên có kĩ năng siêu nhận thức

Căn cứ vào các kĩ năng SNT được đưa ra ở mục 1.3.3, một SV có kĩ năng SNT thường có những biểu hiện sau đây:

- Đưa ra được những phán đoán tương đối chính xác về những điều mình biết và không biết, về khả năng giải quyết một vấn đề nào đó

- Theo dõi được các hoạt động học tập của mình

- Xây dựng được kế hoạch học tập

- Đưa ra được những nhận định về quá trình học tập: đối chiếu kết quả thực hiện so với mục tiêu ban đầu đã đề ra và khả năng của bản thân; xem xét thời gian, cách thức thực hiện; những chiến lược/cách thức nào thì phù hợp với những nhiệm vụ/tình huống như thế nào

1.4.3 Phân tích một số đặc điểm đặc thù của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học với sự cần thiết và cơ hội phát triển kĩ năng siêu nhận thức

Thứ nhất, giống như SV học tập ở các lĩnh vực nghề nghiệp khác,

hoạt động học tập của SV ngành GDTH là hoạt động được tổ chức có kế hoạch, có mục đích, có nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo phù hợp

Thứ hai, hoạt động học tập của SV sư phạm tiểu học là một loại hình

hoạt động phức hợp, cùng một lúc phải học tập và huy động nhiều năng lực sư phạm

Thứ 3, SV ngành GDTH cần hiểu rõ các đặc trưng của việc dạy học

toán ở tiểu học khác với các cấp học khác:

- Bản chất của việc dạy học toán ở trường tiểu học là dạy "tiền chính thức" (infomal)

- Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học được xây dựng trên tinh thần tích hợp

Trang 12

- Dạy học toán ở tiểu học đòi hỏi giáo viên phải giải quyết hài hoà mâu thuẫn cơ bản giữa tính trừu tượng của đối tượng toán học với tính trực quan, cụ thể của tư duy HS

Tóm lại, với những đặc điểm kể trên, SV ngành GDTH cần có các kĩ

năng SNT để có thể hiểu, định hướng, điều khiển, giám sát, điều chỉnh và đánh giá về nhiều mặt quá trình học tập cũng như quá trình dạy học của mình sau này Mặt khác, môi trường học tập với nhiều bộ môn khoa học và đặc biệt sự tích hợp trong nội bộ môn Toán ở tiểu học tạo cơ hội phát triển

NT và SNT cho SV ngành GDTH một cách sâu sắc và toàn diện hơn

1.4.4 Vai trò của kĩ năng siêu nhận thức đối với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

* Đối với việc học:

Kĩ năng SNT có vai trò quan trọng trong việc học tập, giúp việc học tập được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả; đồng thời giúp người học hiểu rõ việc học tập của mình và có phương pháp học tập tốt nhất Bên cạnh đó, kĩ năng SNT có mối quan hệ đặc biệt với tư duy tự phản ảnh - tư duy bậc cao nhất, giúp tư duy này phát triển và có ảnh hưởng sâu sắc tới thái độ, tâm thế của người học trong quá trình học tập

* Đối với việc dạy học:

Kĩ năng SNT sẽ giúp cho SV ngành Giáo dục Tiểu học có khả năng định hướng, theo dõi, điều chỉnh quá trình dạy học của mình sau này và biết cách rèn luyện kĩ năng SNT cho HS tiểu học trong tương lai Điều này

sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng nghề cho SV, cũng như mang lại những lợi ích cho việc dạy học của các em sau này

1.5 Đánh giá kĩ năng siêu nhận thức

Bảng khảo sát được thiết kế gồm hai phần:

a) Phần 1: Gồm hệ thống những mệnh đề với 5 mức độ đánh giá cho mỗi câu được quy đổi thành điểm số để người học lựa chọn: 1 = Không bao giờ; 2 = Hiếm khi; 3 = Thỉnh thoảng; 4 = Thường xuyên; 5 = Luôn

Trang 13

luôn 30 mệnh đề được sắp xếp ngẫu nhiên cung cấp những thông tin về các kĩ năng thành phần của kĩ năng SNT: kĩ năng giám sát sự hiểu biết, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng theo dõi - điều chỉnh và kĩ năng đánh giá

b) Phần 2: Hướng dẫn người học tự tính điểm

Trong phần 2, các mệnh đề được sắp xếp lại theo các nhóm kĩ năng

để người học ghi lại số điểm tự đánh giá của mình và tính điểm cho mỗi nội dung Có 5 bước hướng dẫn người học tự tính và đọc điểm kĩ năng SNT của mình

1.5.2.2 Thang điểm đánh giá

Dựa theo thang điểm đánh giá của Sperling (2008), kĩ năng SNT của sinh viên được đánh giá theo ba mức:

- Nếu điểm trung bình ≥ 3.5: Cao

- Nếu điểm trung bình nằm trong nửa đoạn [2.5; 3.5): Trung bình

- Nếu điểm trung bình < 2.5: Thấp

1.6 Phân tích các học phần về Phương pháp dạy học Toán trong chương trình khung đào tạo giáo viên tiểu học với khả năng rèn luyện

kĩ năng siêu nhận thức cho sinh viên

1.6.1 Mục đích của các học phần về Phương pháp dạy học Toán

- Cung cấp cho SV lí luận chung về PPDH Toán ở tiểu học

- Rèn luyện cho SV các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết

- Giúp SV cập nhật những định hướng, xu hướng dạy học mới

- Giúp SV biết cách tổ chức một hoạt động dạy học toán ở tiểu học

- Giúp SV khai thác được mối liên hệ giữa các học phần Toán cơ sở

và Toán ở tiểu học

- Phát triển tư duy, khả năng suy luận logic, năng lực tự học và có thái độ phê phán đối với những điều đọc được từ tài liệu hoặc nghe được

từ bài dạy của GV

1.6.2 Nhiệm vụ của các học phần về Phương pháp dạy học Toán

Theo Nguyễn Bá Kim (2012), các học phần PPDH Toán có các nhiệm vụ sau:

1.6.2.1 Trang bị những tri thức cơ bản về dạy học môn Toán

1.6.2.2 Rèn luyện những kĩ năng cơ bản về dạy học môn Toán

1.6.2.3 Bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của

người giáo viên dạy môn Toán

1.6.2.4 Phát triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu về Phương pháp dạy học môn Toán [29, tr 12-13]

Ngày đăng: 02/12/2020, 14:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w