1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biển hiệu - bản chất và mối quan hệ với quyền sở hữu nhãn hiệu và tên thương mại

6 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 266,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biển hiệu trong kinh doanh đóng vai trò truyền tải thông tin về chủ thể kinh doanh ra công chúng, hay nói cách khác, chỉ đích danh chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động sản xuất kinh doanh có trụ sở hoạt động gắn biển hiệu. Bên cạnh đó, biển hiệu còn đóng vai trò thông tin nên chủ thể kinh doanh cố gắng tận dụng lợi thế này để truyền tải tất cả thông tin liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà họ đang kinh doanh, nhưng từ đó có thể phát sinh những tình huống vi phạm quyền sở hữu đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hóa.

Trang 1

BIÏÍN HIÏåU - BẪN CHÊËT VÂ MƯËI QUAN HÏå

VÚÁI QUYÏÌN SÚÃ HÛÄU NHẬN HIÏåU VÂ TÏN THÛÚNG MẨI

1 Pháp luật thực định về biển hiệu

Giống như tên thương mại, biển hiệu

trong thực tế là yếu tố cấu thành sản nghiệp

thương mại và cĩ chức năng phân biệt với

các đối thủ cạnh tranh khác Biển hiệu trước

tiên là một dấu hiệu phải được thể hiện ra

bên ngồi và nhìn thấy được Vì thế, một

biển hiệu chỉ được đặt tại trụ sở doanh

nghiệp khi đáp ứng các điều kiện sau:

Tính hợp pháp: Pháp luật Việt Nam quy

định các điều kiện theo đĩ một dấu hiệu cĩ

thể được cơng nhận là biển hiệu khi đáp ứng

các yêu cầu về nội dung được quy định tại

khoản 1 Điều 34 Luật Quảng cáo năm 2012,

cụ thể phải cĩ “Tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu cĩ); tên cơ sở sản xuất, kinh doanh theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; và địa chỉ, điện thoại” Bên cạnh đĩ, pháp luật khơng thừa nhận xác lập quyền đối với việc sử dụng thực tế biển hiệu Vì thế, việc lựa chọn một biển hiệu khơng được trái với các quy định của pháp luật, cụ thể là đảm bảo tính mỹ quan Một biển hiệu được cơng nhận là tồn tại hợp pháp chỉ khi được treo tại trụ sở của chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, pháp luật chưa đề cập đến nội dung biển hiệu khơng được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong kinh

* TS Đại học An Giang.

Biển hiệu trong kinh doanh đĩng vai trị truyền tải thơng tin về chủ thể kinh doanh ra cơng chúng, hay nĩi cách khác, chỉ đích danh chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động sản xuất kinh doanh cĩ trụ sở hoạt động gắn biển hiệu Bên cạnh đĩ, biển hiệu cịn đĩng vai trị thơng tin nên chủ thể kinh doanh cố gắng tận dụng lợi thế này để truyền tải tất cả thơng tin liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà họ đang kinh doanh, nhưng từ đĩ cĩ thể phát sinh những tình huống vi phạm quyền

sở hữu đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hĩa.

Trang 2

doanh nói riêng và trật tự xã hội nói chung.

Ví dụ, một cửa hiệu kinh doanh thực phẩm

chức năng sử dụng dấu chữ thập quy ước cho

các sản phẩm dược, việc sử dụng này sẽ gây

nhầm lẫn cho người tiêu dùng, vì họ tin rằng

chủ thể này đang kinh doanh sản phẩm có

khả năng chữa được bệnh; hoặc nội dung

biển hiệu có dấu hiệu tương tự hoặc trùng với

nhãn hiệu hàng hóa đã tồn tại trước đó

Tính phân biệt: Biển hiệu thể hiện thông

tin phân biệt các chủ thể kinh doanh trong

cùng lĩnh vực và cùng khu vực kinh doanh

với nhau Hơn nữa, nội dung biển hiệu phải

thể hiện được sự phân biệt với chính chủ thể

kinh doanh, có nghĩa là không được thể hiện

các từ ngữ miêu tả, khẳng định vị thế của

chính chủ thể kinh doanh Quy định của Điều

34 Luật Quảng cáo năm 2012 đã thu hẹp nội

dung của khoản 3 Điều 23 Nghị định số

103/2009 của Chính phủ ngày 6/11/2009 ban

hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh

doanh dịch vụ văn hóa công cộng, cụ thể một

biển hiệu chỉ được thể hiện tên đầy đủ của

chủ thể kinh doanh đã đăng ký và thông tin

liên hệ (địa chỉ và số điện thoại) Với quy

định này, Luật Quảng cáo năm 2012 tạo

được sự phân biệt giữa nội dung quảng cáo

và sự tồn tại về mặt pháp lý của chủ thể kinh

doanh Tuy nhiên, thông tin về địa chỉ thể

hiện trên biển hiệu, theo chúng tôi là nội

dung không cần thiết Bởi lẽ, theo quy định

tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số

103/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày

6/11/2009 ban hành Quy chế hoạt động văn

hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công

cộng, việc sử dụng biển hiệu chỉ được xem

là hợp pháp khi được treo ngay trụ sở của

chủ thể kinh doanh Còn theo khoản 4 Điều

17 Luật Quảng cáo năm 2012, biển hiệu được hiểu là phương tiện quảng cáo và vô hình trung được sử dụng không chỉ tại trụ sở của chủ thể kinh doanh, mà còn được khai thác ở những phạm vi địa lý khác Như vậy, quy định về nội dung biển hiệu trong Luật Quảng cáo năm 2012 có sự mâu thuẫn Sự mâu thuẫn này có thể tạo ra những hệ lụy trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo, cũng như khai thác quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với biển hiệu

2 Mối quan hệ giữa biển hiệu với quyền

sở hữu nhãn hiệu và tên thương mại

Biển hiệu với tên thương mại: Theo

khoản 21 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực

và khu vực kinh doanh” và có thể được thể hiện trong biển hiệu (theo khoản 6 Điều 124 Luật SHTT) Nhưng, Luật SHTT năm 2005 lại không có điều khoản nào định nghĩa về biển hiệu Bên cạnh đó, Điều 34 Luật Quảng cáo năm 2012 có ghi nhận, biển hiệu chỉ được thể hiện tên của cơ sở sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quy định này có thể hình dung tên thương mại và biển hiệu có những đặc điểm pháp lý gần giống nhau:

Thứ nhất, nội dung biển hiệu và tên

thương mại đều phải là các đối tượng hợp pháp, có nghĩa là tên của chủ thể kinh doanh phải được đăng ký trước

Thứ hai, cả hai đối tượng đều thể hiện tên gọi của chủ thể trong giao dịch kinh

1 Điều 34 Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh

1) Biển hiệu phải có các nội dung sau:

b) Tên cơ sở sản xuất, kinh doanh theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

Trang 3

doanh nhằm hướng đến sự phân biệt với các

chủ thể khác

Thứ ba, một chủ thể kinh doanh không

được sử dụng hơn một tên thương mại hoặc

biển hiệu Bởi lẽ, theo quy định của Luật

Quảng cáo năm 2012, biển hiệu phải thể hiện

tên của chủ thể kinh doanh đã đăng ký với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền1

Tuy nhiên, pháp luật không quy định bắt

buộc doanh nghiệp phải có tên thương mại

và quyền sở hữu tên thương mại chỉ phát

sinh dựa trên cơ sở sử dụng hợp pháp2,

ngược lại pháp luật quy định bắt buộc mỗi

chủ thể kinh doanh phải gắn biển hiệu trước

trụ sở kinh doanh (Điều 32 Nghị định số

155/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu

tư) Tên thương mại được công nhận là

quyền sở hữu công nghiệp, yếu tố cấu thành

sản nghiệp thương mại, ngược lại biển hiệu

chỉ là công cụ thể hiện tài sản đó ra bên ngoài

đối với công chúng, mặc dù biển hiệu cũng

đóng vai trò thu hút khách hàng và thể hiện

sự phân biệt các chủ thể kinh doanh trong

cùng lĩnh vực hoặc cùng phạm vi; hơn nữa,

phạm vi bảo hộ đối với tên thương mại được

Luật SHTT năm 2005 khẳng định một cách

rõ ràng trong phạm vi khu vực kinh doanh và

trong lĩnh vực kinh doanh 3, ngược lại pháp

luật quảng cáo không đề cập phạm vi bảo hộ

đối với biển hiệu Như vậy, trong trường hợp

một chủ thể sử dụng biển hiệu có chứa đựng

tên thương mại vượt ra khỏi khu vực kinh

doanh có quyền ngăn cấm các chủ thể khác

sử dụng hoặc khai thác tên thương mại trùng

hoặc tương tự không? Đây là vấn đề mà pháp

luật về quảng cáo và SHTT chưa đề cập đến

Về nguyên tắc, chủ sở hữu tên thương mại

có quyền yêu cầu chấm dứt việc sử dụng tên thương mại hoặc khởi kiện ra tòa án khi chưa

có sự đồng ý của họ

Biển hiệu với nhãn hiệu hàng hóa : Theo khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau,

nhãn hiệu có vai trò là thông tin về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa mà nó thể hiện Ngược lại, biển hiệu thể hiện sự tồn tại của chủ thể kinh doanh được pháp luật công nhận Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một chủ thể có thể sử dụng tên cùng một đối tượng là tên doanh nghiệp, tên thương mại

và nhãn hiệu hàng hóa Hơn nữa, pháp luật Việt Nam không cấm việc dùng các dấu hiệu cấu thành biển hiệu đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, vì nhãn hiệu không yêu cầu phải có tính mới như một số quyền sở hữu công nghiệp khác Điều này có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa có thể được thể hiện trên biển hiệu; việc phân biệt các đối tượng quyền SHTT là không quá khó khăn đối với chủ thể trong kinh doanh; ngược lại đối với người tiêu dùng, việc phân biệt các đối tượng này không phải là dễ dàng

Luật SHTT năm 2005 thừa nhận phạm

vi bảo hộ của quyền sở hữu nhãn hiệu trên toàn lãnh thổ, vì thế việc khai thác và bảo hộ nhãn hiệu được công nhận ở phạm vi tương xứng Ngược lại, một biển hiệu chỉ được thừa nhận trong khu vực kinh doanh nhất định, cụ thể là địa phương nơi có trụ sở của chủ thể thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này có thể hình dung trong thực

tế một sản phẩm mang nhãn hiệu A (đồng thời là tên thương mại, tên doanh nghiệp)

2 Điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT năm 2005

3 Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT năm 2005.

Trang 4

được ghi trên biển hiệu và treo nhiều nơi trên

toàn quốc Vậy, trong trường hợp này cơ

quan có thẩm quyền sẽ xác định đối tượng

thể hiện trên biển hiệu thuộc loại nào Giả sử

tại một địa phương T, một chủ thể sử dụng

biển hiệu cùng là tên A nhằm mục đích phân

biệt chủ thể kinh doanh, trong trường hợp

này chủ sở hữu nhãn hiệu A có quyền ngăn

cấm việc sử dụng và khai thác dấu hiệu A

hay không? Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền

khởi kiện nếu việc sử dụng nhằm kinh doanh

sản phẩm trùng hoặc tương tự; ngược lại chủ

sở hữu dấu hiệu A không thể ngăn cấm người

khác sử dụng biển hiệu, vì phạm vi bảo hộ

của biển hiệu chỉ trong phạm vi địa phương

doanh nghiệp có trụ sở

Xét về bản chất, việc sử dụng biển hiệu

cũng có thể nhằm mục đích tiêu thụ sản

phẩm, ngay cả khi trên nội dung biển hiệu

không thể hiện những thông tin sản phẩm

kinh doanh, bởi lẽ người tiêu dùng có thể

nhận biết sản phẩm thông qua các dấu hiệu

chỉ chủ thể kinh doanh

Sử dụng biển hiệu trước khi một nhãn

hiệu hàng hóa có dấu hiệu tương tự hoặc

trùng được xác lập: Quy định của pháp luật

về quyền SHTT không cho phép chủ sở hữu

nhãn hiệu được xác lập sau có quyền ngăn

cấm việc khai thác biển hiệu đã tồn tại trước

Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là một khi

biển hiệu của doanh nghiệp được khai thác

và đạt đến mức độ nổi tiếng vượt ra khỏi

phạm vi khu vực kinh doanh đã đăng ký, có

thể trở thành biển hiệu nổi tiếng trong toàn

lãnh thổ, việc một chủ thể khác đăng ký nhãn

hiệu hàng hóa có các yếu tố trùng hoặc tương

tự với biển hiệu nổi tiếng sẽ dễ gây nhầm lẫn

về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa Hơn

nữa, trong trường hợp này có thể xem việc

đăng ký nhãn hiệu nhằm mục đích lợi dụng

sự nổi tiếng của dấu hiệu đã tồn tại trong

thực tế Tuy nhiên, pháp luật chưa công nhận việc xác lập quyền sở hữu đối với biển hiệu, nên chủ thể có biển hiệu khó có căn cứ khởi kiện chủ thể khác có hành vi sử dụng các nội dung trên biển hiệu của họ

Sử dụng biển hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hóa đã được xác lập trước: Tất nhiên việc sử dụng biển hiệu chỉ

được thực hiện trong phạm vi khu vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh Hơn nữa, biển hiệu nhằm phân biệt các chủ thể kinh doanh với nhau; ngược lại nhãn hiệu là dấu hiệu phân biệt hàng hóa của chủ thể này với chủ thể khác Như vậy, trong chừng mực nhất định, việc sử dụng biển hiệu có dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu có thể không phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hơn nữa, quy định tại Điều 17 Luật Quảng cáo năm 2012 công nhận biển hiệu chỉ là một phương tiện quảng cáo, quy định này vô hình trung cho phép một chủ thể bất

kỳ có quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể khác nhằm mục tiêu thu hút khách hàng Bởi lẽ, theo giải thích tại khoản 1 Điều

2 Luật Quảng cáo năm 2012, nội dung biển hiệu trong trường hợp này nhằm mục đích thông báo ra công chúng việc kinh doanh các sản phẩm có thể của chính chủ thể kinh doanh hoặc sản phẩm đã đăng ký nhãn hiệu của chủ thể khác Ví dụ, một chủ thể sử dụng biển hiệu với các yếu tố thể hiện việc kinh doanh các sản phẩm điện thoại APPLE, việc trình bày biển hiệu trong trường hợp này phát sinh các tình huống pháp lý sau:

Thứ nhất, ngay trong cửa hàng có bán

điện thoại của APPLE và rõ ràng đây không phải là hành vi xâm phạm nhãn hiệu của APPLE, vì nội dung của biển hiệu nhằm thông báo với công chúng là cửa hàng có bán sản phẩm của APPLE

Trang 5

Thứ hai, cửa hàng không có bán các sản

phẩm của hãng APPLE hoặc đã từng kinh

doanh sản phẩm của APPLE, việc sử dụng

nội dung biển hiệu này nhằm mục tiêu thu

hút khách hàng, những người có nhu cầu sử

dụng điện thoại nói chung

Cả hai tình huống pháp lý trên đều sử

dụng nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể khác

vào mục đích kinh doanh Tuy nhiên, trong

tình huống thứ nhất, nếu ngoài việc kinh

doanh sản phẩm của APPLE, cửa hàng còn

bán nhiều loại điện thoại khác, hành vi sử

dụng nhãn hiệu trong trường hợp này có thể

xem là hợp pháp Ngược lại, trong tình

huống thứ hai, chủ sở hữu nhãn hiệu phải

chứng minh việc sử dụng nhãn hiệu là hành

vi cạnh tranh không lành mạnh

Luật SHTT năm 2005 cho phép chủ sở

hữu nhãn hiệu khởi kiện hành vi sử dụng các

dấu hiệu tương tự hoặc trùng với nhãn hiệu

đã đăng ký và xem việc sử dụng bất hợp

pháp này là hành vi cạnh tranh không lành

mạnh4 Ngược lại, pháp luật thực định không

quy định việc sử dụng các dấu hiệu tương tự

hoặc trùng với biển hiệu là hành vi cạnh

tranh không lành mạnh, mặc dù việc sử dụng

các dấu hiệu trên biển hiệu của chủ thể khác

cũng nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa hoặc

dịch vụ

Như vậy, rõ ràng nhãn hiệu hàng hóa

nhằm mục đích phân biệt sản phẩm dịch vụ

của các chủ thể khác nhau; tên thương mại

và biển hiệu nhằm phân biệt chủ thể kinh

doanh khác nhau Tuy nhiên, trong một số

trường hợp, tên thương mại và biển hiệu có

thể là dấu hiệu dùng phân biệt sản phẩm dịch

vụ và có chức năng thu hút khách hàng,

nghĩa là hai đối tượng này đóng vai trò của

nhãn hiệu hàng hóa

3 Một số kiến nghị

Thực tế tồn tại các quy định không thống nhất về nội dung biển hiệu là tiền đề phát sinh các tình huống tranh chấp trong tương lai với một số quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể là tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa; hoặc việc sử dụng biểu hiện có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Vì thế, cần thiết phải bổ sung một số quy định điều chỉnh việc xác lập và sử dụng biển hiệu, cụ thể như sau:

Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với biển hiệu: Theo quy định của pháp luật thực

định, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh phải có biển hiệu riêng

và phân biệt với các chủ thể khác trong cùng khu vực và lĩnh vực kinh doanh Chủ thể kinh doanh chỉ được quyền khai thác biển hiệu khi đã hoàn tất các thủ tục với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, một biển hiệu sau khi đăng ký và đưa vào khai thác thương mại có thể được người tiêu dùng thừa nhận như là dấu hiệu có chức năng phân biệt với nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp khác Trong trường hợp này, biển hiệu trở thành một yếu tố cấu thành sản nghiệp thương mại Vì thế, pháp luật Việt Nam cần

bổ sung quy định về quyền sở hữu biển hiệu bao gồm các yếu tố thể hiện trên biển hiệu,

vì chính các dấu hiệu này là yếu tố giúp khách hàng dễ dàng nhận dạng và phân biệt với các dấu hiệu của chủ thể khác

Nội dung thể hiện trên biển hiệu: Pháp

luật SHTT cần bổ sung quy định giải quyết xung đột giữa các quyền sở hữu công nghiệp

và biển hiệu Theo đó, cần xác định lại nội dung được thể hiện trên biển hiệu, chẳng hạn như chủ thể kinh doanh chỉ có quyền giới thiệu về tên riêng hoặc tên thương mại trên

4 Điều 129 và Điều 130 Luật SHTT năm 2005.

Trang 6

biển hiệu Nội dung của một biển hiệu phải

đảm bảo tính phân biệt và hợp pháp:

Thứ nhất, biển hiệu không được dùng

các dấu hiệu mang tính chất mô tả, hoặc từ

ngữ thông thường chỉ hàng hóa dịch vụ kinh

doanh Như vậy, nội dung thể hiện trên biển

hiệu phải thể hiện được sự phân biệt với sản

phẩm dịch vụ mà chủ thể đang kinh doanh

Thứ hai, dấu hiệu dùng đăng ký biển

hiệu phải không trùng hoặc tương tự với biển

hiệu đã được khai thác cho cùng loại sản

phẩm dịch vụ trong cùng phạm vi khu vực

kinh doanh và không được trùng hoặc tương

tự với tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa

của chủ thể khác Việc bổ sung quy định này

nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng các yếu tố

màu sắc đã được đăng ký nhãn hiệu hàng

hóa, hoặc được sử dụng dưới danh nghĩa tên

thương mại của chủ thể khác nhằm mục đích

thu hút khách hàng

Nhãn hiệu, tên thương mại không được

trùng hoặc tương tự với biển hiệu: Giải thích

rõ quyền của người thứ ba trong quá trình

xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu tại Điều 112

Luật SHTT năm 20055, cụ thể:

Chủ sở hữu biển hiệu có quyền yêu cầu

hủy đơn đăng ký hoặc văn bằng bảo hộ nhãn

hiệu xác lập sau với điều kiện biển hiệu đạt

được sự nổi tiếng trên toàn lãnh thổ hoặc

việc xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu có dấu

hiệu gây nhầm lẫn với nội dung biển hiệu đã

tồn tại trước; trừ trường hợp việc xác lập

quyền sở hữu nhãn hiệu ngay tình

Cho phép sử dụng biển hiệu cho chi nhánh, vì một chủ thể kinh doanh được

quyền có nhiều biển hiệu ở nhiều địa phương khác nhau Vì việc sử dụng và khai thác biển hiệu không chỉ nhằm mục đích công bố ra công chúng về sự tồn tại mà còn là sự quảng

bá hình ảnh của doanh nghiệp

Không quảng cáo trên biển hiệu Xét về

bản chất, biển hiệu là dấu hiệu dùng phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng phạm

vi khu vực kinh doanh, vì thế nội dung trên biển hiệu chỉ được thể hiện các thông tin cần thiết về chủ thể kinh doanh

Mở rộng quyền của chủ sở hữu biển hiệu Có thể công nhận quyền sở hữu biển

hiệu là quyền tài sản Có thể bổ sung quy định cho phép chủ sở hữu thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sở hữu biển hiệu

Chế tài vi phạm biển hiệu: chủ sở hữu

biển hiệu có quyền yêu cầu bồi thường nếu việc sử dụng biển hiệu khi chưa có sự đồng

ý hoặc việc sử dụng gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh6

Về mặt lý luận, việc phân biệt rõ ràng giữa các quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại với biển hiệu

sẽ giúp cơ quan quản lý và cơ quan chuyên môn khác dễ dàng xử lý các tình huống phát sinh trong tương lai Bên cạnh đó, việc thừa nhận quyền sở hữu biển hiệu làm tăng thêm giá trị tài sản vô hình của các chủ thể kinh doanh, cũng như quyền ngăn cấm việc sử dụng gây nhầm lẫn đối với các dấu hiệu trình bày trên biển hiệu n

5 “Điều 112 Ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ

Kể từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp đến trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp về việc cấp hoặc không cấp văn bằng bảo hộ đối với đơn đó Ý kiến phải được lập thành văn bản kèm theo các tài liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh”.

6 Theo điểm a khoản 1 Điều 130 Luật SHTT năm 2005, việc sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Xét về bản chất, biển hiệu thể hiện thông tin về chủ thể kinh doanh, nên việc sử dụng biển hiệu khi chưa được phép của chủ sở hữu có thể gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh và nên xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Ngày đăng: 02/12/2020, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w