1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về tội phạm ẩn trong tội phạm học và trên thực tế

8 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nêu những vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm ẩn trong tội phạm học, trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quan điểm của các nhà tội phạm học trên thế giới và trong nước, tìm ra những nội dung tương đồng và khác biệt. Qua đó, bài viết đưa ra một số quan điểm cụ thể, có giá trị ứng dụng thực tế để có thể làm cho phần “ẩn” của tội phạm hiện ra một cách rõ nét, cùng với tội phạm rõ trên “phông” của tình hình tội phạm.

Trang 1

MÖÅT SÖË VÊËN ÀÏÌ VÏÌ

TÖÅI PHAÅM ÊÍN TRONG TÖÅI PHAÅM HOÅC VAÂ TRÏN THÛÅC TÏË

Vũ VăN aNh*

1 Khái niệm tội phạm ẩn

Thuật ngữ tội phạm ẩn “dark figure of

crime” do nhà thiên văn học người Bỉ

Adolpho Quetelet đưa ra đầu tiên năm 1830

Hiện nay, phần ẩn của tội phạm được đề cập

dưới các thuật ngữ “phần ẩn của tội phạm”,

“phần ẩn của tình hình tội phạm”, “tình hình

tội phạm ẩn” hoặc “tội phạm ẩn”1 Tội phạm

ẩn là một khái niệm có đời sống thực tế, bên

cạnh khái niệm tội phạm rõ, nó là hai bộ

phận hợp thành của tình hình tội phạm Trên

cơ sở nghiên cứu hai nội dung đó, chúng ta

mới có thể có cơ sở khoa học đầy đủ để đưa

ra dự báo tình hình tội phạm, bởi lẽ “ dự báo tình hình tội phạm không chỉ là hướng nghiên cứu của tội phạm học mà còn là nhu cầu cấp bách của thực tế đấu tranh phòng và chống tội phạm”2 Còn theo V.M Cogan “Xu hướng ẩn là đặc tính của tình trạng tội phạm nói chung cũng như mong muốn che giấu việc thực hiện tội phạm là đặc trưng của từng tội phạm riêng biệt”3 Như vậy, nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dựa vào số liệu thống kê tội phạm rõ mà còn phải dựa vào tội phạm ẩn, có như vậy thì công tác phòng ngừa tội phạm mới đầy đủ và toàn diện

* ThS TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

1 Phạm Văn Tỉnh, Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Luận án TS, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004

2 GS,TS Võ Khánh Vinh, Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000.

3 V.M Cogan, Các đặc tính xã hội của tình trạng phạm tội Nxb Matxcova, 1977 tr 48.

Bài viết nêu những vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm ẩn trong tội phạm học, trên cơ

sở phân tích, đánh giá một số quan điểm của các nhà tội phạm học trên thế giới và trong nước, tìm ra những nội dung tương đồng và khác biệt Qua đó, bài viết đưa ra một số quan điểm cụ thể, có giá trị ứng dụng thực tế để có thể làm cho phần “ẩn” của tội phạm hiện ra một cách rõ nét, cùng với tội phạm rõ trên “phông” của tình hình tội phạm Mục đích cuối cùng và chủ yếu là hướng tới việc phòng ngừa tội phạm đạt kết quả tốt nhất.

Trang 2

Thực tế nghiên cứu đã cho thấy phần ẩn

của tội phạm chiếm tỷ lệ rất lớn, lớn hơn

nhiều so với phần hiện của tội phạm

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an,

từ năm 1990 đến 1999 tỷ lệ phá án ở nước ta

đạt 41,08% 4 Tỷ lệ phá án ở đây chính là sự

phản ánh thực tế: Những hành vi có dấu hiệu

phạm tội đã được kết thúc điều tra, tức là

hành vi đó đã được khởi tố vụ án, khởi tố bị

can và đã được tiến hành điều tra theo quy

định và có một trong các kết luận sau: Tạm

đình chỉ điều tra vì bị can bị bệnh tâm thần

hoặc bệnh hiểm nghèo khác; tạm đình chỉ

điều tra vì không biết rõ bị can đang ở đâu;

đình chỉ điều tra; có kết luận điều tra và đề

nghị Viện kiểm sát truy tố Còn trường hợp

vụ án không xác định được bị can thì không

được xem là đã phá được án Quan điểm về

tỷ lệ phá án của nước ta cũng phù hợp với

quan điểm của các nhà tội phạm học Đức:

“Một hành vi có dấu hiệu phạm tội chỉ được

xem là đã được “khám phá” (aufgeklaert),

khi cơ quan cảnh sát đã tiến hành điều tra mà

kết quả là bắt quả tang nghi can hoặc chí ít

cũng xác định rõ được tên của nghi can”5

Tỷ lệ tội phạm ẩn ở các nước cũng rất

khác nhau về tình hình tội phạm nói chung

và tội phạm cụ thể nói riêng, như: ở Đức năm

1993 tỷ lệ phá án đạt 43,8%, tỷ lệ này ở tội

giết người là 82%, ở tội trộm cắp nghiêm

trọng là 11,9%6; ở Anh năm 2000 tỷ lệ tội

phạm ẩn chiếm 70% tổng số vụ phạm tội7;

theo Tymothy Mason thì số lượng tội phạm

ẩn lớn hơn từ 6 đến 8 lần tội phạm rõ8 Như

vậy, tội phạm ẩn chiếm tỷ lệ rất lớn, nó

không xuất hiện trên phông của tình hình tội phạm, ở các công trình nghiên cứu về tội phạm học cũng có đề cập nhưng chỉ dưới dạng nêu hiện tượng mang tính chất chung chung, khẩu hiệu mà chưa đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện tượng này

Hiện nay, khái niệm về tội phạm ẩn

đang được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau Theo Timothy Mason, “tội phạm ẩn là tội phạm có thực nhưng không được tường thuật với cảnh sát”9; Frank Schmalleger cho rằng,

“tội phạm ẩn là thuật ngữ được đưa ra bởi các nhà tội phạm học và xã hội học mô tả số lượng tội phạm không được tường thuật hoặc không bị phát hiện và nó trả lời cho câu hỏi

về độ tin cậy của thống kê tội phạm chính thức”10 Theo PGS.TS Phạm Văn Tỉnh,

“phần ẩn của tình hình tội phạm là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của hành vi đó) đã xảy ra trên thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không

có trong thống kê hình sự”11 Còn GS.TS Nguyễn Xuân Yêm cho rằng, “tội phạm ẩn

là khái niệm chỉ một phần trong tổng thể các tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trên một địa bàn nhất định mà chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan khác của Công an có chức năng tiếp nhận tin tố giác và phát hiện tội phạm) phát hiện về sự kiện nói chung hoặc chưa nhận biết được sự kiện, hành vi đã phát hiện là tội phạm”12

Tổng hợp các quan điểm nêu trên, kết

4 Phạm Văn Tỉnh, Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay Tlđd

5 H-D Schwind, Kriminologie, Kriminalistik Verlag, Heidelberg, 1995, tr 19.

6 Phạm Văn Tỉnh, Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Tlđd

7 Bài giảng “Extend of Crime” của GS.TS Jock Young.

8 Bài giảng “Official statistics and the dark figure” của Timothy Mason, Paris University, trên trang www.deviance 2- Official statistics and the dark figure.htm ngày 5/6/2006.

9 Bài giảng “Official statistics and the dark figure, Tlđd”

10 Frank Schmalleger, Criminology today, Prentice Hall in 2002, tr 61.

11 H-D Schwind, Kriminologie, Kriminalistik Verlag, Heidelberg, 1995, tr 42.

12 Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, tr 93.

Trang 3

hợp với thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi đưa

ra khái niệm về tội phạm ẩn như sau: Tội

phạm ẩn là số lượng hành vi phạm tội đã xảy

ra nhưng không được phát hiện, không được

tường thuật, không bị xử lý theo quy định của

pháp luật hình sự hoặc không có trong thống

kê hình sự.

2 Nguyên nhân dẫn tới việc ẩn của tội

phạm

2.1 Nguyên nhân khách quan

Đây là một nguyên nhân nằm hoàn toàn

ngoài ý muốn của cơ quan có thẩm quyền

khởi tố vụ án hình sự cũng như bản thân

người bị hại Họ không có bất kỳ một thông

tin nào về hành vi phạm tội, mặc dù hành vi

phạm tội đã xảy ra trên thực tế Có các

trường hợp sau:

Tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng ngay

cả người bị hại cũng không biết Do vậy, việc

phạm tội đương nhiên không được tường

thuật hoặc không bị phát hiện Ví dụ 1: Một

gia đình của một người giàu có, tiền họ để

trong tủ, người giúp việc biết và đã rút của

họ 20.000.000 đ, nhưng vì số tiền đã mất quá

ít so với số tiền họ có nên họ đã không hề

phát hiện ra số tiền đã bị mất Trong trường

hợp này, không có bất cứ nhân chứng nào

biết, bản thân người mất tiền cũng không biết

mình đã bị lấy cắp Vụ án đã hoàn toàn

không được tường thuật hoặc không bị phát

hiện xử lý Ví dụ 2: Khi một người bị tai nạn

giao thông trên một con đường vắng, có một

người phát hiện Nhưng khi thấy nạn nhận

đã bất tỉnh, nạn nhân lại có nhiều tiền, anh ta

đã nảy sinh lòng tham, lấy hết tiền rồi bỏ đi

Nạn nhân không được cứu kịp thời nên đến

khi có người thứ hai phát hiện ra thì nạn nhân

đã chết Vì không có người chứng kiến, nên

hành vi phạm tội hoàn toàn không được

tường thuật hoặc không bị phát hiện xử lý

Tội phạm thực tế đã xảy ra, người bị hại biết nhưng họ không còn cơ hội để tố giác tội phạm, vụ án cũng không có bất cứ một nhân chứng nào cũng như tình tiết quan trọng nào

đề Cơ quan điều tra điều tra vụ án Ví dụ: Một

thanh niên vào Tây Nguyên làm kinh tế mới,

có mang theo vốn liếng làm ăn Trên đường

đi tìm việc, anh ta đã bị giết và bị giấu xác trong rừng Không có bất kỳ ai chứng kiến vụ việc, việc mất tích của anh ta cũng không có bất kỳ một manh mối nào để điều tra, người

bị hại thì không còn cơ hội để tố giác tội phạm Trong trường hợp này, chỉ có thể xem xét để giải quyết tuyên bố anh ta mất tích hoặc đã chết để giải quyết các vấn đề dân sự Hành vi phạm tội hoàn toàn không được tường thuật hoặc không bị phát hiện xử lý

2.2 Nguyên nhân chủ quan

Theo quy định của pháp luật hình sự, việc phát hiện tội phạm có thể được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: Tố giác và tin báo về tội phạm, như tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Trực tiếp phát hiện tội phạm của các cơ quan chức năng; Người phạm tội tự thú

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các nguồn thông tin về tội phạm nói trên đã không được thực hiện Nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc ẩn của tội phạm có nhiều nhưng có thể chia ra thành 4 nhóm sau:

a Nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm: Tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng vì những lý do khác nhau như: Không tố giác (tỷ lệ không tố giác tội phạm trên thế giới trung bình là 49,9%, trong đó một số nước

có tỷ lệ tố giác tội phạm cao là Scottlen 62,3%, Pháp 60,8%, Newzealand 59,7%13 Ở Việt Nam tỷ lệ này là 29%14); Sợ dư luận (tội phạm về tình dục); Sợ trả thù (chủ thể của tội

13 Viện Nghiên cứu pháp lý - Bộ Tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh, Hà Nội, 1999 tr 41.

14 Trần Hữu Tráng, “Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học (Số 3/2000), tr 53.

Trang 4

phạm hoạt động có tính chất xã hội đen); Có

sự thỏa thuận giữa người bị hại và gia đình

họ với tội phạm

b Nguyên nhân từ phía người phạm tội:

Đe dọa người bị hại, người làm chứng khiến

họ không tố giác tội phạm; Thỏa thuận với

người bị hại, người làm chứng để họ không

tố giác tội phạm; Dùng thủ đoạn tinh vi để

che giấu hành vi phạm tội, không tự thú hành

vi phạm tội Hối lộ cơ quan có thẩm quyền

để thoát tội

c Nguyên nhân từ phía người làm

chứng: Người biết về sự việc phạm tội nhưng

không dám tố cáo vì sợ bị trả thù hoặc do

quen thân thiết với người phạm tội nên họ

không tố giác, cũng có thể do họ thỏa thuận

với người phạm tội để nhận một lợi ích vật

chất nào đó nên họ cũng không tố giác tội

phạm

d Nguyên nhân từ các cơ quan tiến hành

tố tụng: Có hành vi nhận hối lộ để không xử

lý hình sự đối với người phạm tội hoặc do nể

nang, bao che không xử lý tội phạm

e Nguyên nhân do công tác thống kê:

Do một số lý do khác nhau như kỹ thuật xây

dựng các cấu thành tội phạm trong Bộ luật

Hình sự (BLHS) như trường hợp tội ghép, ví

dụ Điều 194 - Tội tàng trữ, mua bán, vận

chuyễn trái phép chất ma túy, rất nhiều

trường hợp một người thực hiện đầy đủ cả

ba hành vi khách quan được mô tả tại Điều

194, nhưng họ cũng chỉ được coi là phạm

một tội danh được quy định tại Điều 194

BLHS Trong khi đó, các hướng dẫn lập

bảng thống kê của các cơ quan tiến hành tố

tụng cũng hướng dẫn với một tội danh quy

định tại Điều 194, chứ không đề cập đến các

hành vi cụ thể khác, việc đó dẫn đến hiện

tượng một số hành vi phạm tội thực tế, thậm

chí đã được xét xử và bản án có hiệu lực

pháp luật nhưng cũng không được thể hiện

thông qua tình hình tội phạm

3 Phân loại tội phạm ẩn

Việc phân loại tội phạm ẩn có một ý nghĩa to lớn trong việc xác định nguyên nhân

ẩn của tội phạm một cách khoa học, hệ thống Việc này sẽ giúp cho bức tranh về tình hình tội phạm được đầy đủ và toàn diện hơn Nghiên cứu tội phạm ẩn mục đích chính và chủ yếu là làm cho nó hiện nên một cách rõ nét, thông qua đó sẽ giúp cho công tác dự báo có hiệu quả và chính xác nhất Một khi công tác dự báo đầy đủ, khách quan và toàn diện thì công tác phòng ngừa tội phạm mới đạt hiệu quả tốt nhất Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại tội phạm ẩn

a Tội phạm ẩn gồm hai loại:

- Tội phạm ẩn khách quan: Là tất cả các

tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không có thông tin về chúng

- Tội phạm ẩn chủ quan: Là trường hợp

tội phạm đã xảy ra trên thực tế, các cơ quan điều tra đã nhận được thông tin về vụ việc nhưng do các nguyên nhân khác nhau mà hành vi phạm tội không được xem xét xử lý

b Tội phạm ẩn gồm ba loại:

Ngoài Tội phạm ẩn khách quan và Tội

phạm ẩn chủ quan như trên, còn có Tội phạm

ẩn thống kê: Là loại tội phạm ẩn tồn tại trong

phạm vi công tác thống kê tội phạm nhưng không phải nằm ở chủ thể tiến hành công việc thống kê, không phải ở phương tiện kỹ thuật, công nghệ áp dụng cho công tác thống

kê lạc hậu hay hiện đại, mà nằm ở các quy định có tính chất pháp lý đối với công tác thống kê tội phạm

Về cơ bản thì hai quan điểm đều thống nhất hai thuộc tính của tội phạm ẩn là tội phạm ẩn khách quan và tội phạm ẩn chủ quan Hiện nay, “tội phạm ẩn khách quan”

15 Trần Hữu Tráng, Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tlđd.; Phạm Văn Tỉnh, Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Tlđd

Trang 5

và “tội phạm ẩn chủ quan” còn có tác giả gọi

là “tội phạm ẩn tự nhiên” và “tội phạm ẩn

nhân tạo”15 Riêng loại “tội phạm ẩn thống

kê” còn có nhiều ý kiến khác nhau Có tác

giả cho rằng, tội phạm ẩn thống kê thực chất

vẫn là tội phạm rõ vì khi đưa ra xét xử rồi thì

đương nhiên vẫn là tội phạm rõ, còn việc

thống kê chính thức của tòa án là do nhiều

nguyên nhân khác nhau16; có tác giả cho

rằng, việc nghiên cứu “tội phạm ẩn thống kê”

có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá

tình hình tội phạm nói chung, nhưng nếu đưa

nó vào phạm trù “tội phạm ẩn” là không phù

hợp với những tiêu chí đánh giá về tình hình

tội phạm ẩn, như “thời gian ẩn”, “lý do ẩn”

và “độ ẩn”17; có tác giả cho rằng, quan điểm

“tội phạm ẩn thống kê” là tội phạm ẩn là

phiến diện, với lập luận: số lượng tội phạm

này chỉ “ẩn” đối với các số liệu tổng hợp về

tình hình tội phạm mà thôi, còn thực tế số

lượng tội phạm này đã bị phát hiện, đã bị xử

lý bằng các chế tài hình sự18

Theo chúng tôi, “tội phạm ẩn thống kê”

là loại tội phạm ẩn có đời sống thực tế, việc

nghiên cứu nó có ý nghĩa quan trọng trong

công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Ở đây, việc “ẩn thống kê” không được hiểu

là những sai sót thống kê, do sự cẩu thả của

cán bộ thực hiện hoặc do công nghệ áp dụng

thống kê lạc hậu, mà nó nằm ngay trong

thuộc tính pháp lý, như kỹ thuật xây dựng

các cấu thành tội phạm ở BLHS (trường hợp

tội phạm ghép đã được đề cập ở trên), hoặc

do hướng dẫn lập biểu bảng thống kê của các

cơ quan tiến hành tố tụng

Chúng tôi xin trích một phần mẫu 1A do

Tòa án nhân dân tối cao ban hành để Tòa án

nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện sử dụng trong

việc lập báo cáo thống kê.(Xem biểu trang

sau)

Qua mẫu bảng thống kê này, chúng ta

thấy các cột tội phạm, điều luật áp dụng, vụ

và cột bị cáo Cột tội phạm có rất nhiều tội ghép nhưng cột Điều luật chỉ ghi Điều luật

cụ thể áp dụng, như Điều 194, điều luật này

có ba hành vi mô tả hành vi khách quan, cho nên nếu một bị cáo thực hiện đồng thời cả ba hành vi trên thực tế thì nhìn qua bảng số liệu thống kê này chúng ta sẽ không thể thấy

được điều đó Việc này đã làm “ẩn” đi đáng

kể số hành vi phạm tội đã thực hiện, điều đó kéo theo việc đánh giá tình hình tội phạm sẽ không được đầy đủ, chính xác và khoa học,

từ đó dẫn đến công tác dự báo tội phạm và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ không đáp ứng được yêu cầu Tương tự như

vậy, cột vụ và cột bị cáo cũng thế Thực tế

cho chúng ta thấy, có rất nhiều trường hợp

mà trong một vụ án lại có nhiều hành vi phạm tội khác nhau (giết người, cướp tài sản, hiếp dâm) nhưng nếu chúng ta nhìn vào bảng 1A thì chúng ta sẽ không thấy được điều này Qua phân tích số liệu thực tế luôn có một kết quả như sau:

∑ Số hành vi phạm tội > ∑ Số bị cáo >

∑ Số vụ án

Vì vậy, việc đưa “tội phạm ẩn thống kê”

là tội phạm ẩn là phù hợp

4 Phương pháp xác định tội phạm ẩn

Hiện nay, các nhà tội phạm học trên thế giới đưa ra hai phương pháp để xác định tội phạm ẩn sau

Phương pháp điều tra về tội phạm tự tường thuật (offender self - report surveys)

Ở các nước Anh, Mỹ, Australia, điều tra tội phạm tự tường thuật được tiến hành hàng năm Đây là phương pháp cần bảo đảm an toàn, đồng thời phải cam kết bảo vệ bí mật danh tính của người tham gia tự tường thuật

về tội phạm mà họ đã thực hiện, họ không

16 Dương Tuyết Miên, Bàn về tội phạm rõ, tội phạm ẩn trong tội phạm học; Tạp chí Luật học (3/2010), tr 30.

17 Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Tlđd, tr 94.

18 Trần Hữu Tráng, Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tlđd;

Trang 6

19 Mẫu 1A, Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 7

phải lo lắng về những điều mà mình đã khai

ra với cơ quan điều tra cũng như sợ hãi về

việc họ sẽ bị bắt giữ và bị xử lý về hình sự

do đã thực hiện tội phạm Đối tượng các nhà

điều tra hướng tới thường là những người trẻ

tuổi, bởi họ là nhóm có nguy cơ phạm tội

cao Kết quả của phương pháp này cho thấy,

tội phạm xảy ra trên thực tế cao hơn rất nhiều

số tội phạm có trong thống kê chính thức

Phương pháp này có một số hạn chế là

phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với giới

trẻ, còn một số lượng lớn các đối tương khác

chưa được đánh giá nghiên cứu

Phương pháp điều tra về nạn nhân của

tội phạm (the victimization survey)

Đối với phương pháp này, nhà điều tra

phải cam kết giữ bí mật danh tính cho nạn

nhân, để đảm bảo chắc chắn rằng họ sẽ được

an toàn Đây là các đối tượng đặc biệt, họ bị

tổn thất về sức khỏe, tinh thần và vật chất do

hành vi phạm tội gây ra Khác với phương

pháp điều tra về tội phạm tự tường thuật,

điều tra về nạn nhân của tội phạm cũng có

cách thức điều tra khác biệt, ví dụ như bảng

biểu điều tra, câu hỏi điều tra cũng phải có

tính chất khác biệt Ở các nước Anh, Mỹ,

Australia, điều tra về nạn nhân được tiến

hành hàng năm và nó đã giúp cho các nhà tội

phạm học có đánh giá chính xác hơn về tội

phạm ẩn Qua đó bức tranh về tình hình tội

phạm sẽ đầy đủ hơn và giúp cho công tác

phòng ngừa tội phạm đạt được kết quả tốt

hơn

5 một số kiến nghị nhằm làm rõ tính “ẩn”

của tội phạm ẩn

Chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị cơ

bản, có tính khả thi cao trong việc làm rõ tội

phạm ẩn:

Thứ nhất, sửa đổi BLHS hoặc các văn

bản hướng dẫn Cần quy định rõ các hành vi

khách quan cụ thể trong BLHS Đối với các hành vi khách quan này cần được mô tả đầy

đủ, cụ thể, tránh tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau hoặc vì một số mục đích khác mà những người có thẩm quyền áp dụng tùy tiện nên không phản ánh đúng hành vi phạm tội

đã xảy ra trên thực tế Ví dụ “Tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý” quy định tại Điều 194 BLHS, đây là dạng tội ghép Thực tế rất khó tách bạch hành vi trong quy định này Để tách bạch các hành vi trong tội danh này, người ta phải phân tích mặt chủ quan của tội phạm, cụ thể là yếu tố “động cơ”, “mục đích” là yếu tố lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm mà chủ thể thực hiện hành

vi phạm tội đã thực hiện để xác định xem là hành vi “vận chuyển”, “mua bán” hay “tàng trữ” Như vậy, vô hình chung các biểu hiện

về mặt khách quan đã có phần bị “ẩn”, bởi các mục đích khác nhau mà người thực hiện hành vi có thể khai sao cho có lợi cho mình hoặc vì lý do nể nang, nhận hối lộ mà những người có thẩm quyền “lách luật” để vụ lợi Như vậy, cần phải hạn chế tối đa những điều luật có sử dụng dấu hiệu “động cơ”, “mục đích” thuộc yếu tố lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội làm căn cứ xác định tội danh đối với hành vi của chủ thể Theo Thông tư liên tịch của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999, thì quy định tại mục 3.6 20 rất dễ xảy ra hiện tượng sai lệch về hành vi phạm tội ban đầu vì những lý do khác nhau, dẫn đến việc xác định hành vi phạm tội không đúng hoặc bỏ sót hành vi phạm tội

Thứ 2: Cần xây dựng luật bảo vệ nhân

chứng và thiết lập cơ quan bảo vệ nhân

20 Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007

Trang 8

chứng độc lập Cần nâng cao ý thức tố giác

tội phạm trong nhân dân để giảm tính “ẩn”

của tội phạm Muốn như vậy, chúng ta cần

phải pháp điển hóa các chế định đảm bảo sự

an toàn cho người tố giác tội phạm Trong

các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam đã

có những quy định để bảo vệ nhân chứng

Tuy nhiên, hiệu quả của nó thì vẫn chưa đáp

ứng được yêu cầu, tỷ lệ tố giác tội phạm ở

Việt Nam chỉ là 29,9%21 Vì vậy, việc quy

định các biện pháp bảo vệ nhân chứng một

cách cụ thể trong các văn pháp luật hình sự

sẽ đảm bảo cho nhân chứng và người thân

của họ được an toàn, điều này sẽ khiến họ

không còn cảm giác lo sợ bị trả thù, nên họ

sẽ hợp tác với cơ quan chức năng để tố giác

tội phạm Do vậy, chúng tôi kiến nghị nước

ta cần nhanh chóng xây dựng Luật Bảo vệ

nhân chứng cũng như thành lập cơ quan bảo

vệ nhân chứng Làm như vậy, chúng ta sẽ

đảm bảo rằng mọi người dân đều được yên

tâm, an toàn trong việc phát hiện và tố giác tội phạm Qua đó, mới đảm bảo cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt kết quả

Thứ ba: Khắc phục tội phạm ẩn thống

kê Tòa án nhân dân tối cao cần phải thay đổi mẫu quy định về thống kê toàn ngành, ví dụ như mẫu 1A cần phải sửa đổi theo hướng phải lấy cơ số hành vi phạm tội làm trung tâm, có như vậy mới phản ánh đúng tình hình

tội phạm Cụ thể ở cột “tội phạm” nên tách

các tội ghép thành các hành vi cụ thể, còn cột

“tội danh” vẫn giữ nguyên điều luật được quy định trong BLHS, các cột về “số vụ” và

“bị cáo” có thể giữ nguyên Chúng ta chấp

nhận một nguyên tắc thực tế ∑ Số hành vi phạm tội > ∑ Số bị cáo > ∑ Số vụ án, làm như vậy mới phản ảnh đúng tình hình tội phạm Khi đó “tội phạm ẩn thống kê” mới được làm “rõ” có thể tới mức được loại trừ hoàn toàn n

21 Trần Hữu Tráng, Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tlđd.

Ngày đăng: 02/12/2020, 14:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w