1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thị phần trong việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp

7 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 483,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua phân tích một số án lệ điển hình, bài viết chỉ ra rằng, để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp, ngoài thị phần còn cần phải tính đến các yếu tố bổ trợ khác như rào cản gia nhập, hiện trạng cạnh tranh trên thị trường liên quan; từ đó, đề xuất các bước cần thực hiện khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp.

Trang 1

VAI TROĐ CUÊA THÕ PHÍÌN TRONG VIÏơC XAÂC ẮNH

VÕ TRÑ THÖỊNG LÔNH THÕ TRÛÚĐNG CUÊA DOANH NGHIÏơP

ĐĂo NGỌC BÂu*

Vũ VăN TấN**

Một trong những nhầm lẫn thường gặp khi nghiín cứu vă thực hiện phâp luật cạnh tranh lă cho rằng doanh nghiệp có thị phần lớn thì tất yếu có vị trí thống lĩnh thị trường Thực tiễn tư phâp câc nước có nền kinh tế thị trường phât triển cho thấy, thị phần đóng vai trò quan trọng, nhưng không phải lă yếu tố duy nhất trong việc xâc định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp Thông qua phđn tích một số ân lệ điển hình, băi viết chỉ ra rằng, để xâc định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp, ngoăi thị phần còn cần phải tính đến câc yếu

tố bổ trợ khâc như răo cản gia nhập, hiện trạng cạnh tranh trín thị trường liín quan; từ đó, đề xuất câc bước cần thực hiện khi xâc định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp.

* T S Viện Nhă nước vă Phâp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

** Công an huyện Thủy Nguyín, thănh phố Hải Phòng.

1 OECD, Glossary of Industrial Organisation Economics and Competition Law, p 57.

1 Quan hệ giữa thị phần vă vị trí thống

lĩnh thị trường

Thị phần (còn được gọi lă suất chiếm

hữu thị trường) lă tỷ lệ hăng hóa bân ra hoặc

dịch vụ cung cấp của một doanh nghiệp so

với tổng số hăng hóa bân ra hoặc dịch vụ

cung cấp của một thị trường đặc định

Thị phần = (Doanh số bân hăng của

doanh nghiệp ÷ Tổng doanh số bân hăng

của thị trường liín quan) x 100%

Từ công thức trín, có thể thấy thị phần

lă sự biểu hiện mức độ lớn nhỏ của một

doanh nghiệp trín thị trường liín quan Thị

phần cho chúng ta biết mối quan hệ giữa một doanh nghiệp với tất cả câc doanh nghiệp khâc trín thị trường Vì vậy, thị phần còn được gọi lă “phương thức xâc định quy

mô tương đối của doanh nghiệp trong một ngănh hoặc trong một thị trường”1 Trong vụ

ân Hoffmann-La Roche, Tòa ân chđu Đu đê chỉ ra: “Mặc dù thị phần tùy theo sự khâc nhau của thị trường mă có những khâc biệt, nhưng trừ những trường hợp đặc thù, thị phần đặc biệt cao thì không còn nghi ngờ gì nữa, nó chính lă một chứng cứ của vị trí chi phối thị trường Nếu một doanh nghiệp trín

Trang 2

2 EUGH, 13.2.1979 “Hoffmann-La Roche/Vitamine” Slg.1979, 461, 521 Rn 41.

3 Vụ án Los Angeles Land Co v Brunswick Corp., 6F 3d 1422 (9th Cir 1993).

4 Vụ án Rebel Oil Co., Inc v Atlantic Richfield Co., 51 F.3d 1421, 1439 (9th Cir 1995).

thị trường liên quan nắm giữ thị phần đặc

biệt cao trong một thời gian dài, thì nó sẽ sử

dụng quy mô sản xuất và tiêu thụ của mình

để trở thành một loại sức mạnh, sức mạnh

này sẽ làm cho nó trở thành một chủ thể

tham gia thị trường hiển hách và làm cho

cách thức hành xử của nó trong một thời

gian tương đối dài không chịu bất kỳ sự hạn

chế nào Sức mạnh này chính là vị trí thống

lĩnh thị trường Trong trường hợp này, doanh

nghiệp có thị phần rất nhỏ không thể trong

một thời gian ngắn có thể thỏa mãn được

nhu cầu thị trường như doanh nghiệp có vị

trí thống lĩnh thị trường có thể thỏa mãn”2

Như vậy, thông thường thị phần càng cao thì

quy mô của doanh nghiệp trên thị trường

liên quan càng lớn, sức mạnh thị trường của

doanh nghiệp cũng càng lớn Vì vậy, thị

phần và sức mạnh thị trường có quan hệ tỷ

lệ thuận Tuy nhiên, cần chú ý đây chỉ là

quan hệ giữa sức mạnh thị trường và thị

phần mà không phải là quan hệ giữa sức

mạnh lũng đoạn và thị phần Sức mạnh thị

trường chỉ được xem là sức mạnh lũng đoạn

(hoặc vị trí thống lĩnh thị trường) nếu doanh

nghiệp có sức mạnh thị trường có khả năng

duy trì việc khống chế các yếu tố cạnh tranh

như giá cả, sản lượng, chất lượng trong một

thời gian đủ dài Như vậy, doanh nghiệp có

thị phần lớn không chắc chắn sẽ có vị trí

thống lĩnh thị trường, mà nó cần phải có sự

bổ sung của rất nhiều yếu tố khác mới có thể

trở thành chủ thể kinh doanh có sức mạnh

lũng đoạn Chính vì vậy, thị phần không

phải là điều kiện đủ của vị trí thống lĩnh thị

trường Nếu một doanh nghiệp có thị phần

lớn nhưng không có rào cản thị trường có

thể dựa vào đó để thực hiện hạn chế cạnh

tranh, thì doanh nghiệp đó sẽ không thể duy

trì được thị phần trong điều kiện có áp lực

to lớn của đối thủ cạnh tranh tiềm năng Tòa

án tối cao Mỹ cho rằng: “mặc dù thông thường thị phần cao có thể chứng minh cho

sự tồn tại của sức mạnh lũng đoạn, nhưng trong trường hợp thị trường có rào cản gia nhập thấp và không thể chứng minh được bị đơn có khả năng khống chế giá hoặc có năng lực bài trừ cạnh tranh thì không thể chứng minh được sự tồn tại của sức mạnh lũng đoạn”3 Ngay cả trong kết cấu thị trường độc quyền hoàn toàn, doanh nghiệp độc chiếm cũng không tất yếu có vị trí thống lĩnh thị trường Đối với vấn đề này, Tòa án tối cao

Mỹ đã chỉ ra: “nếu như thị trường không có bất cứ rào cản gia nhập nào thì được xem là

bị đơn nắm giữ 100% thị phần, nhưng cũng không thể phán đoán nó có vị trí thống lĩnh thị trường”4 Điều này là vì khi một doanh nghiệp nâng giá hàng hóa hoặc dịch vụ lên cao hơn mức giá cạnh tranh thì các đối thủ cạnh tranh sẽ lập tức gia nhập thị trường, cung cấp các sản phẩm thay thế, làm cho doanh nghiệp tại vị mất đi khả năng khống chế đối với cạnh tranh thị trường Khi doanh nghiệp không có khả năng khống chế giá và khả năng bài trừ hoặc hạn chế cạnh tranh thì không có vị trí thống lĩnh thị trường Rào cản gia nhập trực tiếp ảnh hưởng đến việc duy trì thị phần của doanh nghiệp, từ

đó rào cản được xem là một trong những nhân tố quan trọng quyết định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp Trong

vụ án Microsoft, Tòa án Liên bang Mỹ cho rằng công ty Microsoft có sức mạnh lũng đoạn bởi ba lý do sau: (i) công ty Microsoft chiếm thị phần cực lớn (hơn 95%) và có sự ổn định trên thị trường hệ điều hành máy tính cá nhân toàn cầu, (ii) thị phần của công ty Microsoft nhận được

sự bảo hộ gia nhập ngành rất cao, (iii) do có rào cản gia nhập ngành sản phẩm phần mềm rất cao đó nên người tiêu dùng thiếu đi sự

Trang 3

5 Nhật báo pháp chế, Trung Quốc, số ngày 8/11/1999

6 Kết cấu thị trường này hiện nay có một số tài liệu gọi là “độc quyền nhóm” Theo chúng tôi, việc gọi như vậy dễ gây hiểu lầm rằng một nhóm doanh nghiệp liên kết với nhau để hình thành độc quyền Về bản chất, đây là kết cấu thị trường chỉ

có vài doanh nghiệp lớn cùng kinh doanh Ví dụ, thị trường viễn thông nước ta hiện nay có các doanh nghiệp như Vina-phone, Mobifone, Viettel, Vietnam Mobile, giữa các doanh nghiệp này không hề tồn tại liên minh độc quyền, thay vào đó

họ vẫn cạnh tranh với nhau Theo nghĩa Hán - Việt, “quả” có nghĩa là một vài, “quả đầu” nghĩa là “một vài doanh nghiệp

có tính chất đầu sỏ” cùng cạnh tranh.

7 Vụ án Virgin/British Airways (COMP/34.780).

8 Vụ án United Brands v Commission, Case 27/76 [1978] ECR 207: 1 CMLR 429.

lựa chọn sản phẩm thay thế5 Rào cản gia

nhập thị trường càng cao, ảnh hưởng đối với

đối thủ cạnh tranh càng lớn sẽ làm cho sức

mạnh thị trường của doanh nghiệp tại vị

càng mạnh Độ mạnh yếu của sức mạnh thị

trường của doanh nghiệp sẽ quyết định

doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị

trường hay không

Vị trí thống lĩnh thị trường còn phụ

thuộc vào hiện trạng cạnh tranh trên thị

trường liên quan Ví dụ, trong kết cấu thị

trường quả đầu (oligopoly)6, khi một doanh

nghiệp có thị phần tương đối lớn nhưng do

sự khác biệt giữa thị phần của nó với các đối

thủ cạnh tranh là không lớn, nên trong nhiều

trường hợp, không có bất cứ doanh nghiệp

nào được xem là có vị trí thống lĩnh thị

trường Ví dụ, hiện nay thị trường thông tin

di động ở Việt Nam có một số doanh nghiệp

lớn cùng cạnh tranh như Vinaphone, Viettel,

Vietnam Mobile và Mobifone Tuy nhiên,

do các doanh nghiệp này không có sự khác

biệt lớn về thị phần, thay vào đó, thị phần

gần như chia đều cho các doanh nghiệp đã

dẫn đến giữa các doanh nghiệp này tồn tại

sự cạnh tranh khốc liệt, làm cho không

doanh nghiệp nào có thể dựa vào thị phần

mà trở thành chủ thể kinh doanh có vị trí

thống lĩnh thị trường

Mặt khác, doanh nghiệp có thị phần nhỏ

cũng có thể có vị trí thống lĩnh thị trường

Thực tiễn tư pháp cho thấy, nếu thị phần của

một doanh nghiệp không quá lớn nhưng thị

phần của các đối thủ cạnh tranh khác cũng

đặc biệt phân tán thì doanh nghiệp này cũng

có thể trở thành chủ thể có vị trí thống lĩnh

thị trường Chẳng hạn, trong vụ án

Virgin/British Airways năm 2000, mặc dù Công ty hàng không Anh chỉ chiếm thị phần

là 39,7%, nhưng do đối thủ cạnh tranh lớn nhất của nó là công ty Virgin chỉ chiếm 5,5% thị phần nên Ủy ban châu Âu đã nhận định Công ty hàng không Anh có vị trí thống lĩnh thị trường7 Một ví dụ khác là vụ án United Brands năm 1978, mặc dù Công ty United Brands chỉ chiếm thị phần vào khoảng 40% đến 45% trên thị trường liên quan của bốn nước thành viên của Liên minh châu Âu nhưng thị phần này lại đạt mức cao gấp đôi thị phần của đối thủ cạnh tranh lớn nhất, do đó Tòa án châu Âu cho rằng Công ty United Brands có vị trí thống lĩnh thị trường8 Như vậy, một doanh nghiệp không có thị phần lớn trên một thị trường nhất định cũng có thể có sức mạnh lũng đoạn

Ngoài ra, vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp có thị phần nhỏ cũng có thể đến từ việc nắm giữ bằng phát minh sáng chế Trên thực tế, quyền phát minh sáng chế với đặc tính bài trừ rất dễ mang lại cho người sở hữu vị trí thống lĩnh thị trường ngay cả khi người sở hữu không nắm giữ thị phần lớn Người nắm bằng phát minh sáng chế trong một khoảng thời gian và ở một phạm vi nhất định có vị trí độc quyền đối với phát minh hoặc kỹ thuật mới, nếu như không được phép của chủ sở hữu, người khác sẽ không được sử dụng phát minh, sáng chế này Vì vậy, chủ sở hữu quyền phát minh, sáng chế có ưu thế thị trường trên thị trường liên quan, đạt được năng lực khống chế các yếu tố cạnh tranh như giá cả, sản lượng…, cũng có nghĩa là doanh nghiệp

Trang 4

9 Trịnh Á Bình (chủ biên), Nghiên cứu vấn đề công ty xuyên quốc gia lạm dụng vị trí chi phối thị trường ở Trung Quốc và quy chế nó, Nxb Khoa học kinh tế, Trung Quốc, 2009, tr 9

10 Vụ án United States v Aluminum Co of America (Alcoa), 148 F 2d 416 424 (1945).

nắm giữ quyền phát minh, sáng chế có sức

mạnh thị trường Khi không có các nhân tố

bổ trợ như sản phẩm thay thế, sức mạnh thị

trường sẽ trở thành sức mạnh lũng đoạn

Như vậy, đối với quan hệ giữa vị trí

thống lĩnh thị trường và thị phần thì mức cao

thấp của thị phần là một trong những tiền đề

quan trọng nhưng không phải là điều kiện

đủ để cấu thành vị trí thống lĩnh thị trường

Ngoài ra, thị phần có phải là điều kiện cần

để cấu thành vị trí thống lĩnh thị trường hay

không cũng là vấn đề cần được quan tâm

Nếu xem thị phần lớn là điều kiện cần của

vị trí thống lĩnh thị trường, thì trong tất cả

các vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường, doanh nghiệp có hành vi lạm dụng

phải là doanh nghiệp có thị phần lớn Tuy

nhiên, thực tế đã chứng minh rằng, trong

nhiều trường hợp chủ thể kinh doanh có thể

thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

thị trường mà không phụ thuộc vào mức độ

lớn nhỏ của thị phần mà nó nắm giữ Ví dụ,

trên thị trường bán lẻ có kết cấu cạnh tranh

độc quyền, có rất nhiều doanh nghiệp như

Walmart, Carrefour, Auchan cạnh tranh với

nhau, mặc dù không thể phủ nhận rằng các

tập đoàn bán lẻ xuyên quốc gia này có quy

mô rất lớn, song cho đến nay, không có bất

cứ nhà bán lẻ nào trong phạm vi một quốc

gia hoặc trên phạm vi toàn cầu có được vị

trí độc chiếm hoặc “quả chiếm” theo đúng

nghĩa của luật chống lũng đoạn, mà thực

chất chúng đều có thị phần không quá lớn9

Tuy nhiên, dựa vào ưu thế trên các phương

diện như quy mô, nguồn vốn, kỹ thuật tiên

tiến, từ góc độ quan hệ theo chiều dọc giữa

nhà bán lẻ và nhà cung ứng, doanh nghiệp

bán lẻ có ưu thế kinh tế rất rõ ràng và thường

lợi dụng để thực hiện các hành vi lạm dụng

sức mạnh lũng đoạn, như khống chế giá mua

sản phẩm, thu phí gia nhập thị trường rất cao

đối với nhà cung ứng, nợ tiền hàng nhà cung ứng, đối đãi kỳ thị… Như vậy, doanh nghiệp bán lẻ quy mô lớn có thể thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ngay cả khi thị phần của nó là tương đối nhỏ Điều

đó cho thấy, thị phần không phải là điều kiện tất yếu của vị trí thống lĩnh thị trường

2 Sử dụng yếu tố thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp

Mặc dù thị phần không phải là tiêu chí duy nhất để nhận định vị trí thống lĩnh thị trường, song giữa thị phần và sức mạnh thị trường (không phải sức mạnh lũng đoạn) có quan hệ mật thiết, tức là thị phần càng lớn thì sức mạnh thị trường cũng càng lớn Về mặt lý luận, sức mạnh lũng đoạn (cũng được gọi là vị trí thống lĩnh thị trường) là một loại sức mạnh thị trường đáng kể Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là thị phần của doanh nghiệp đạt đến mức độ bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ có vị trí thống lĩnh thị trường? Về mặt lý luận, doanh nghiệp nắm giữ thị phần tương đối nhỏ cũng vẫn tồn tại năng lực khống chế đối với các yếu tố cạnh tranh thị trường như giá cả và sản lượng… Từ trước đến nay, các phán quyết của tòa án đều không đưa ra tiêu chí nhận định thống nhất

Ví dụ, trong vụ án Alcoa năm 1945, thẩm phán Billings Learned Hand cho rằng: “nếu thị phần của chủ thể kinh doanh trên thị trường liên quan đạt tới 90% thì Tòa án sẽ tương đối nhất trí cho rằng doanh nghiệp đó

có sức mạnh lũng đoạn; nếu thị phần đạt tới 66%, thì doanh nghiệp đó có khả năng có sức mạnh lũng đoạn, nếu thị phần nhỏ hơn 33% thì cơ bản doanh nghiệp đó không có sức mạnh lũng đoạn”10 Trong vụ án Grinnell năm 1966, Tòa án cho rằng, Công ty Grinnell chiếm 87% thị phần, vì vậy trên thị trường liên quan nó được coi là có sức mạnh lũng

Trang 5

11 Vụ án United States v United Shoes Machinery Corp., 110 F Supp 295 (D Mass 1953), aff’d per curiam, 347 U.S 521 (1954).

12 European Commission, Antitrust: Guidance on Commission enforcement priorities in applying Article 82 exclusionary con-duct by dominant firms-frequently asked questions, DEMO/08/761 Brussel, 3rd December 2008.

13 Phillip E Areeda, Herbert Hovenkamp, Antitrust Law, 801, at 319 (2nd ed 2002).

đoạn Trong vụ án United Shoes, Tòa án cho

rằng: “United Shoes có sức mạnh lũng đoạn,

khi thị phần của nó đạt 75%”11

Để tiện cho việc nhận định liệu doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay

không, cơ quan chống lũng đoạn thường

phân thị phần thành ba loại, bao gồm thị

phần tương đối lớn, thị phần tương đối nhỏ

và thị phần cực nhỏ Nếu một doanh nghiệp

có thị phần tương đối lớn thì cơ quan quản

lý và cơ quan tư pháp sẽ nhận định doanh

nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị trường mà

không cần phải xem xét các nhân tố liên

quan khác Nhận định này dựa trên nguyên

tắc về quan hệ tỷ lệ thuận giữa thị phần và

sức mạnh thị trường, từ đó mà có thể giảm

thiểu tính phức tạp của việc nhận định vị trí

thống lĩnh thị trường Mặc dù vậy, để đảm

bảo việc nhận định được chính xác, đôi khi

cơ quan chống lũng đoạn còn yêu cầu doanh

nghiệp bị cáo buộc phải có khả năng duy trì

thị phần tương đối lớn đó trong một khoảng

thời gian đủ dài, nếu không, không thể nhận

định doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị

trường Ví dụ, trong “Báo cáo năm 2008”,

Bộ Tư pháp Mỹ đã chỉ ra: “Thông thường

khi một doanh nghiệp có thị phần vượt quá

2/3 và duy trì nó trong một thời gian đủ dài,

đồng thời vị trí thống lĩnh thị trường này

không thể bị mất đi trong một tương lai

không xa và trong trường hợp không có

phản chứng cứ mang tính thuyết phục thì Bộ

Tư pháp sẽ giả định rằng doanh nghiệp này

có sức mạnh lũng đoạn”12 Vấn đề là thời

gian đủ dài là bao lâu? Có học giả cho rằng,

mặc dù không thể tuyệt đối hóa, nhưng

trong điều kiện thị trường được xác định

một cách hợp lý và được bảo đảm bởi rào

cản gia nhập đầy đủ, nếu trước khi tiến hành

tố tụng bị đơn nắm giữ 70% hoặc 75% thị phần tới 5 năm, thì việc giả định doanh nghiệp này có sức mạnh thị trường đáng kể

là điều hợp lý13 Có thể thấy, yêu cầu về thời gian đủ dài có nghĩa là trên thị trường phải tồn tại rào cản thị trường, từ đó mà doanh nghiệp có thị phần tương đối lớn có thể dựa vào rào cản để duy trì trạng thái thị trường hiện có và mưu cầu lợi nhuận lũng đoạn Dựa vào thị phần tương đối lớn làm tiêu chí suy đoán khiến cho việc phán đoán doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay không trở nên đơn giản hơn, nhưng không có nghĩa

là tuyệt đối hóa tiêu chí này Do doanh nghiệp có thị phần tương đối lớn không tất yếu có vị trí thống lĩnh thị trường nên nếu

bị đơn có thể đưa ra phản chứng đánh đổ sự suy đoán của cơ quan quản lý và cơ quan tư pháp thì có thể đi đến kết luận rằng doanh nghiệp đó không có vị trí thống lĩnh thị trường Vì vậy, ngưỡng thị phần tương đối lớn được gọi là tiêu chí suy đoán Trên thực

tế, cho dù là các nền kinh tế phát triển như

Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hay là các quốc gia đang phát triển thì trong thực tiễn lập pháp, hành pháp và tư pháp đều áp dụng tiêu chí suy đoán, nhưng tiêu chí suy đoán được pháp luật các nước quy định hoặc tòa án sử dụng không hoàn toàn giống nhau Nước Mỹ từ trước đến nay chưa từng có tiêu chuẩn cố định về thị phần tương đối lớn, mà toà án chủ yếu dựa vào tình tiết của từng vụ

án để phán đoán Tuy nhiên, thông thường một doanh nghiệp chỉ được xem là có thị phần tương đối lớn nếu nó chiếm 2/3 (khoảng 66%) thị phần trở lên Đối với Liên minh châu Âu, tòa án thường cho rằng, khi

Trang 6

14 Ngô Quảng Hải, Quy chế luật chống lũng đoạn trong thực hiện quyền phát minh, sáng chế, Nxb Quyền sở hữu trí tuệ, Trung Quốc, 2012, tr 100.

15 Lưu Kế Phong, Luật chống lũng đoạn, Nxb Đại học Chính pháp Trung Quốc, Bắc Kinh, 2012, tr 196.

16 Vụ án United States v Dentsply International Inc., 399 F.3d 181 (3d Cir 2005).

17 Vụ án Dimmitt Agri Industries, Inc v CPC International, Inc., 679 F.2d 516 (5th Cir 1982).

một doanh nghiệp chiếm 50% thị phần trở

lên thì cho thấy (hoặc có thể suy đoán rằng)

doanh nghiệp này có vị trí thống lĩnh14 Đối

với những quốc gia thuộc hệ thống luật

thành văn, tiêu chuẩn thị phần suy đoán

được pháp luật quy định phụ thuộc vào đặc

điểm của từng quốc gia Ví dụ, Điều 19 Luật

Chống lũng đoạn của Trung Quốc quy định:

“Nếu thuộc về một trong các trường hợp sau

đây thì có thể suy đoán chủ thể kinh doanh

có vị trí thống lĩnh thị trường: thị phần trên

thị trường liên quan của một chủ thể kinh

doanh đạt tới ½ (50%); thị phần kết hợp trên

thị trường liên quan của hai chủ thể kinh

doanh đạt tới 2/3; thị phần kết hợp trên thị

trường liên quan của ba chủ thể kinh doanh

đạt tới ¾” Theo quy định tại Điều 11 Luật

Cạnh tranh của Việt Nam, nếu một doanh

nghiệp trên thị trường liên quan chiếm từ

30% thị phần trở lên thì doanh nghiệp này

được xem là có vị trí thống lĩnh thị trường

Đối với các nước thành viên của Liên minh

châu Âu, mỗi quốc gia cũng có tiêu chuẩn

suy đoán của riêng mình nhưng mức thị

phần bình quân chủ yếu là 40%15

Khi thị phần của doanh nghiệp nằm

giữa mức rất nhỏ và tương đối lớn thì được

xem là thị phần tương đối nhỏ Như trên đã

phân tích, vị trí thống lĩnh thị trường không

có nghĩa là doanh nghiệp này có quy mô lớn

Ngược lại, doanh nghiệp có quy mô nhỏ

(hoặc doanh nghiệp có thị phần tương đối

nhỏ) vẫn có thể có vị trí thống lĩnh thị

trường nếu có khả năng khống chế đối với

các nhân tố cạnh tranh như giá cả và sản

lượng Trong trường hợp này, việc thiết lập

vị trí thống lĩnh thị trường chủ yếu dựa vào

các nhân tố ngoài thị phần như rào cản thị

trường, trạng thái cạnh tranh thị trường, tính

phụ thuộc giữa các chủ thể giao dịch, sự tồn tại của quyền phát minh, sáng chế… Chính

vì vậy, khi phán đoán doanh nghiệp có thị phần tương đối nhỏ có vị trí thống lĩnh thị trường hay không, cơ quan chấp pháp chống lũng đoạn thường dựa vào thị phần làm tiêu chuẩn nhận định Để có thể đưa ra kết luận chính xác, họ sẽ kết hợp thị phần với các nhân tố liên quan khác như rào cản gia nhập, thị phần của các đối thủ cạnh tranh khác, tính phụ thuộc giữa các đối tác giao dịch, từ

đó mới có thể nhận định vị trí thị trường của một doanh nghiệp Trong vụ án Densply năm 2005, Tòa án Mỹ đã chỉ ra: “Trong trường hợp không xem xét các yếu tố liên quan khác (như rào cản gia nhập thị trường…) nếu thị phần của doanh nghiệp đương sự không vượt quá 55% thì không thể truy xét trách nhiệm của việc tham gia lũng đoạn hóa”16 Trong một vụ án khác, Tòa án cho rằng nếu như thị phần của chủ thể kinh doanh thấp hơn 50% thì không đủ để nhận định nó có sức mạnh thị trường17 So với trường hợp thị phần tương đối lớn, việc nhận định doanh nghiệp có thị phần tương đối nhỏ có vị trí thống lĩnh thị trường hay không phức tạp hơn nhiều Đó là vì lúc này, thị phần không còn là tiêu chí để suy đoán

mà chỉ là tiêu chuẩn tương đối để đo lường (hoặc để nhận định) doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay không Vì vậy, cơ quan chấp pháp chống lũng đoạn cần phải xem xét các nhân tố khác nữa mới có thể đưa ra kết luận về trạng thái thị trường của doanh nghiệp Điều cần chú ý là ngưỡng thị phần tương đối nhỏ trong từng vụ án khác nhau là khác nhau, nó phụ thuộc vào các nhân tố như kết cấu thị trường của từng quốc gia và đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực

Trang 7

18 Vụ án United States v Aluminum Co of America (Alcoa), 148 F 2d 416 424 (1945).

19 Vụ án M&M Medical Supplies and Service v Pleasant Valley Hospital, 981 F.2d 160 (4th Cir 1992).

20 European Commission, Antitrust: Guidance on Commission enforcement priorities in applying Article 82 exclusionary con-duct by dominant firms-frequently asked questions, DEMO/08/761 Brussel, 3rd December 2008.

21 Tài Long, Nghiên cứu quy chế lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, Nxb Đại học Nhân dân Trung Quốc, Bắc Kinh, 2012,

tr 125.

Ngoài hai loại thị phần nêu trên, còn có

trường hợp doanh nghiệp có thị phần rất

nhỏ Khi doanh nghiệp có thị phần rất nhỏ,

nó thông thường được suy đoán là không có

vị trí thống lĩnh thị trường Tuy nhiên, tiêu

chí nhận định thị phần rất nhỏ ở các nước là

không giống nhau Chẳng hạn trong vụ

Alcoa, Tòa án Mỹ cho rằng nếu thị phần nhỏ

hơn 33% thì về cơ bản doanh nghiệp không

có vị trí thống lĩnh thị trường18 Trong một

vụ án khác, Tòa án khu vực (Circuit Court)

số 4 của Mỹ đã đưa ra tiêu chí sức mạnh thị

trường mà nguyên đơn cần phải chứng minh

bị đơn đã cấu thành “ý đồ lũng đoạn” là nếu

thị phần của bị cáo nhỏ hơn 30% thì suy

đoán tất yếu là bác bỏ yêu cầu của nguyên

đơn19 Vào tháng 12/2008, Ủy ban châu Âu

đã ban hành “Hướng dẫn của Ủy ban châu

Âu về việc thi hành một số điểm quan trọng

khi áp dụng Điều 82 của Điều ước đối với

hành vi lạm dụng mang tính bài trừ của các

doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh” Hướng

dẫn này quy định: “thị phần tương đối nhỏ

thông thường là thiếu tính đại diện cho sức

mạnh thị trường đáng kể Kinh nghiệm chấp

pháp của Ủy ban châu Âu cho thấy, mặc dù

có ngoại lệ nhưng nếu thị phần của doanh

nghiệp trên thị trường liên quan nhỏ hơn 40% thì doanh nghiệp này (thông thường) không thể có vị trí thống lĩnh”20 Tuy nhiên, căn cứ vào Hướng dẫn sáp nhập do Ủy ban châu Âu ban hành, nếu thị phần của doanh nghiệp nhỏ hơn 25% thì cơ bản có thể bài trừ nhận định đối với việc doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường Đối với chủ thể kinh doanh có thị phần vượt quá ngưỡng an toàn này thì cần tiến hành phân tích các tình tiết của vụ án, đặc biệt là phải xem xét tới rào cản gia nhập thị trường và thị phần của đối thủ cạnh tranh21 Bên cạnh đó, luật cạnh tranh một số nước đưa ra quy định rõ ràng hơn về vấn đề này Ví dụ, Luật Bảo hộ cạnh tranh của Nga và Luật Chống lũng đoạn của Trung Quốc đều quy định tiêu chí nhận định thị phần rất nhỏ là 10% Trên thực tế, ngưỡng thị phần phụ thuộc vào các yếu tố như đặc điểm của từng thời kỳ, từng ngành, mức độ tập trung thị trường và tình tiết của từng vụ án Nếu những nhân tố này có thay đổi thì tiêu chí nhận định ngưỡng thị phần cũng sẽ thay đổi theo Cách thức sử dụng yếu tố thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp được mô tả qua

sơ đồ sau:

(Xem tiếp trang 64)

Ngày đăng: 02/12/2020, 13:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w