1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành tâm lý học ở thành phố hồ chí minh

107 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 267,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địnhhướng nghề không rõ ràng của SV có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức trongquá trình học cũng như cơ hội kiếm được việc làm của sinh viên sau khi ra trường.Nhiều nhà quản lý n

Trang 1

sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả nghiên

cứu lần đầu tiên Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả,

số liệu nghiên cứu được trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

Tác giả

Trần Thị Hà

Trang 2

 Quý Thầy Cô trong khoa tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TPHCM và nhà trường đã tạo môi trường học tập cho tôi được tham gia nghiên cứu khoa học.

 Thạc sĩ Võ Minh Thành, người đã tận tình hướng dẫn và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

 Quý thầy cô trong ban giám khảo hội đồng khoa học

 Cùng tất cả những người thân, chị em và bạn bè đã khuyến khích động viên và tạo điều kiện cho tôi được hoàn thành tốt nhất có thể

Khóa luận tốt nghiệp hoàn thành với sự phấn đấu và cố gắng hết mình tuy nhiên cũng

không tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin cảm ơn và ghi nhận những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô giáo và bạn bè!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

Tác giả

Trần Thị Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 4

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4.Giả thuyết nghiên cứu 4

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6.Giới hạn nghiên cứu 4

7.Phương pháp nghiên cứu 4

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ 6

1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề 6

1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài………6

1.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.Lý luận về định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học 12

2.1.Khái niệm định hướng 12

2.2.Khái niệm nghề 13

2.2.1.Khái niệm 13

2.2.2.Đặc điểm 14

2.2.3.Phân loại nghề 14

2.2.4.Một số lĩnh vực nghề nghiệp chính trong Tâm lý học 15

2.3.Khái niệm định hướng nghề 21

2.4.Khái niệm sinh viên 25

2.5.Một số đặc điểm của sinh viên 26

Trang 4

2.6.2.Tiêu chí đánh giá định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm

lý học……… 32

3.Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHN của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học 36

3.1.Yếu tố khách quan 37

3.2.Yếu tố chủ quan 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ CỦA SINH VIÊN NĂM 4 NGÀNH TÂM LÝ HỌC Ở TP HCM 42

2.1.Tổ chức nghiên cứu thực trạng 41

2.1.1.Vài nét về địa bàn khảo sát 41

2.1.1.1.Khoa tâm lý học trường ĐHSP TP HCM 42

2.1.1.2.Khoa tâm lý học trường ĐH KHXH&NV 42

2.1.1.3.Tổ bộ môn Tâm lý học trường Đại Học Văn Hiến 43

2.1.2.Mô thức nghiên cứu 43

2.1.2.1.Mẫu nghiên cứu 43

2.1.2.2.Mô tả cách thức nghiên cứu 45

2.1.2.2.1.Công cụ nghiên cứu 45

2.1.2.2.2.Xử lý số liệu 45

2.2.Kết quả nghiên cứu 47

2.2.1.Nhận thức về khó khăn trong ĐHN của SV 47

2.2.2.Nhận thức về nghề và sự lựa chọn nghề của SV năm 4 ngành TLH 48

2.2.2.1.Nhận thức về nghề SV tốt nghiệp ngành TLH có thể làm……… 48

2.2.2.2.Sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai của bản thân SV theo từng CV 50

2.2.2.3.Nhận thức yêu cầu về phẩm chất của SV năm 4 ngành TLH 54

2.2.2.4.Nhận thức của SV về các năng lực cần thiết của các nhóm nghề TLH 59

2.2.2.5.Nhận thức yêu cầu về phẩm chất và năng lực của bản thân SV 65

2.2.3.Thái độ ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 69

2.2.3.1.Biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động ĐHN 69

Trang 5

2.2.4.Hành vi ĐHN của sinh viên năm 4 ngành TLH Error! Bookmark not defined.

2.2.4.1.Kết quả về sự cân nhắc của SV trong quá trình ĐHN 71

2.2.4.2.Kết quả về biểu hiện hành vi ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 72

2.2.4.3 So sánh biểu hiện hành vi ĐHN của SV chuyên ngành TLH theo các tham số nghiên cứu 74

2.2.5.Mối tương quan giữa nhận thức, thái độ và hành vi ĐHN 75

2.2.6.Yếu tố ảnh hưởng ĐHN của SV 77

2.2.6.1.Kết quả chung về các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHNN của sinh viên 77

2.2.6.2.Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng định hưởng ngành học của SV theo các tham số 78

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

1.Kết luận 81

1.1.Về mặt lý luận 82

1.2.Về mặt thực tiễn 82

2.Các biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHN cho SV năm 4 chuyên ngành TLH 84

2.1.Cơ sở đề xuất 84

2.1.1.Dựa vào cơ sở lý luận của bài nghiên cứu 84

2.1.2.Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng 85

2.1.3.Dựa vào quá trình giao lưu, trao đổi với các bạn SV về ĐHN cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực Tâm lý học 85

2.2.Một số biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHN cho SV năm 4 chuyên ngành TLH……… 85

2.2.1.Các biện pháp thuộc về sinh viên 85

2.2.2.Các biện pháp thuộc về giảng viên 86

2.2.3.Các biện pháp thuộc về nhà trường 86

3.Kiến nghị 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

Bảng 2.2 Tổng hợp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 46

Bảng 2.3 Kết quả về vấn đề khó khăn của SV trong ĐHN……… 47

Bảng 2.4 Kết quả hiểu biết của sinh viên về nghề có thể làm sau khi tốt nghiệp…… 48

Bảng 2.5 Kết quả lựa chọn nghề của SV theo từng CVError! Bookmark not defined Bảng 2.6 Kết quả nhận thức về phẩm chất đối với nhóm nghề giảng dạy 54

Bảng 2.7 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV theo nhóm nghề TV - TL 55

Bảng 2.8 Kết quả nhận thức về phẩm chất theo nhóm nghề NCKH 56

Bảng 2.9 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với QL-TCNS 57

Bảng 2.10 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với nhóm nghề khác có UDTLH…… 59

Bảng 2.11 Kết quả về nhận thức của SV về năng lực đối với nhóm Giảng Dạy 60

Bảng 2.12 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết đối với nhóm TV - TL Error! Bookmark not defined Bảng 2.13 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết của SV với nhóm nghề NCKH……… 62

Bảng 2.14 Kết quả nhận thức của SV về năng lực cần thiết đối với nhóm nghề QL-TCNS 63

Bảng 2.15 Kết quả về nhận thức năng lực thiết yếu của SV với nhóm nghề khác có UDTLH 64

Bảng 2.16 Kết quả nhận thức về phẩm chất hiện có của SV 66

Bảng 2.17 Kết quả về nhận thức năng lực hiện có của SV 66

Bảng 2.18 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo trường 68

Bảng 2.19 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo tham số giới tính 68

Bảng 2.20 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo tham số hộ khẩu 69 Bảng 2.21 Kết quả biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động ĐHN Error!

Bookmark not defined

Trang 8

Bảng 2.23 Kết quả về sự cân nhắc của SV trong quá trình ĐHN 72 Bảng 2.24 Kết quả về biểu hiện hành vi ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 73 Bảng 2.25 Kết quả so sánh biểu hiện hành vi ĐHN của SV chuyên ngành TLH theo các tham số nghiên cứu 75 Bảng2.26 Kết quả so sánh mức độ tương quan giữa nhận thức, hành vi và thái độ……… 75 Bảng 2.27 Kết quả chung về các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHN của sinh viên 77 Bảng 2.28 Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng ĐHN của SV theo các tham số……… 79

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI diễn ra cùng với sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ mới kết hợp với nền kinh tế thị trường đãmang lại cho con người cuộc sống hiện đại và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của conngười Điều này làm cho số lượng công việc tăng cao, cùng với việc xuất hiện nhiềungành nghề mới, lạ trong xã hội khiến cho nhiều bạn trẻ bối rối và gặp khó khăn trướcviệc lựa chọn nghề nghiệp, hướng đi phù hợp cho bản thân mình

Thế giới toàn cầu đang đứng trước một vấn đề nan giải là vấn đề việc làm trong giớitrẻ hiện nay Bộ trưởng Việc làm của Anh Quốc, ông Chris Graling mới đây đã phải ví

nó như là “những quả bom nổ chậm” Năm 2015, theo như kết quả đã điều tra củaViện Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiệnnay của họ là vấn đề việc làm Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viêntốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm, 37% SV có việc làm nhưng

đa số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại [43] Một trong những nguyên nhân khi

ra trường sinh viên không có việc làm là định hướng nghề nghiệp không rõ ràng Địnhhướng nghề không rõ ràng của SV có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức trongquá trình học cũng như cơ hội kiếm được việc làm của sinh viên sau khi ra trường.Nhiều nhà quản lý nhân sự ở các công ty nước ngoài có chung nhận định: “Lao độngtrẻ thiếu và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp, quan trọng hơn là họchưa có định hướng nghề rõ ràng Đại đa số có tư tưởng xin việc vì quyền lợi bản thânchứ chưa nghĩ nhiều về công việc, chưa thật sự tâm huyết và sống chết vì nó…” Trongmôi trường công việc với xu thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, nếu không cóđịnh hướng nghề rõ ràng, làm sao sinh viên có thể bảo đảm yếu tố gắn bó với côngviệc ở các cơ quan tuyển dụng [42]

Nghề là khái niệm chung dành để chỉ những công việc sẽ gắn với bản thân của mỗingười trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng trong đời Do đó, việc địnhhướng nghề là một điều tối cần thiết đối với các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế giảngđường Theo một khảo sát tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM (2014) có: 52,6 %

Trang 11

sinh viên năm cuối chưa có kế hoạch tìm việc cho mình; 46,3 sinh viên hiện nay chưa

có ý định tự trau dồi về nghề nghiệp; 44,8 % sinh viên không hình dung về nghềnghiệp của mình sau 5 năm Đây là những con số chứng minh sự băn khoăn của cácbạn sinh viên với nghành nghề mình đang theo học cũng như định hướng về nghànhnghề mình sẽ làm trong tương lai [41]

Cuộc khảo sát năm 2011, được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Chính sáchthuộc trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu

SV thuộc 5 khóa khác nhau đã tốt nghiệp cho thấy, 70% SV chưa có định hướng cụ thểnào cho nghề của họ sau khi tốt nghiệp Theo T.V.T, người tham gia nghiên cứu, thìmức độ mù mờ trong định hướng nghề của SV rất cao Một bộ phận không nhỏ SVngay từ khi lựa chọn ngành học và trong quá trình học đã không có sự định hướng cụthể và không được ai hướng dẫn về các nghề gắn với ngành học của mình [34]

Giai đoạn SV là giai đoạn có đầy đủ điều kiện thuận lợi để bản thân cá nhân mỗingười tự xây dựng và hoàn thiện bản thân mình Ở giai đoạn này, SV có thời gian, có

sự chủ động học tập, có đủ nhạy bén của tư duy để nắm bắt nhịp sống của xã hội đangdiễn ra như thế nào và kịp thời bổ sung theo nhịp sống đó Hoạt động chủ đạo của sinhviên là hoạt động chuẩn bị nghề nghiệp Trong giai đoạn này, sinh viên trực tiếp thamgia vào việc học nghề và trải nghiệm các công việc cụ thể của nghề Vì vậy, tiếp tụchướng nghiệp cho sinh viên là điều rất cần thiết để tạo sự ổn định tâm lý và tâm thếtích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội [16] Như vậy,khoảng thời gian này là khoảng thời gian mà SV phải định hướng được nghề cho chínhmình một cách thật nghiêm túc và chính xác, mình sẽ theo hướng nào và mình sẽ làmnghề gì trong tương lai sắp tới Đồng thời, đây cũng là giai đoạn phải chuẩn bị, trang

bị những kiến thức cần có và sâu sắc về hướng mình chọn và nghề mình sẽ đảm nhậntrong tương lai Tuy vậy, không phải tất cả SV đều ý thức được tầm quan trọng củaviệc ĐHN, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên Nghiêncứu kịp thời để SV ý thức được tầm quan trọng của việc ĐHN là rất cần thiết

Ngành Tâm lý học là một ngành khoa học non trẻ ra đời mới hơn một thế kỷ qua, Tâm

lý học ngày nay đã phát triển với những bước tiến mạnh mẽ bởi sự cần thiết và tính

Trang 12

ứng dụng của nó trong mọi lĩnh vực của cuộc sống con người Hiệu quả đặc biệt của Tâm

lý học không chỉ đối với việc phát triển cá nhân, giải quyết những vấn đề con người

– xã hội mà còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả trong các hoạt động đa dạng vàphong phú của con người [28] Vì vậy, đứng trước sự phong phú và đa dạng trong cácngành nghề của Tâm lý học, lại càng đòi hỏi SV chuyên ngành phải trang bị và định

hướng cho mình được ngành nghề phù hợp từ sớm là điều rất thiết thực và đáp ứng caoyêu cầu của xã hội hôm nay

Có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập đến ĐHN Năm 1995, Meir,Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tươngquan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp Các nhà nghiên cứu ởcác nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H.Perho,nhà TLH người Phần Lan đã tiến hành nghiên cứu “Định hướng nghề nghiệp và nghệthuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” hay một nhà TLH Phần Lan khác,M.V.Volanen nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp và thích ứng việc làm ở thanhniên” [5] Ở nước ta, thực tế cho thấy, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ĐHN, tác giảTrần Thị Dương Liễu nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyênngành Tâm lý học ở một số trường đại học tại Tp HCM” [20] hay nghiên cứu của tác giảPhạm Thị Thúy Hằng với đề tài “Định hướng nghề của sinh viên ngành Tâm lý học-Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM [15] Nhìn chung, các nghiên cứu đều nói đến ĐHNcủa HS, SV và thanh niên nói chung, tuy nhiên cũng chưa có tác giả nào đề cập và đi sâuvào tìm hiểu ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học Chính vì vậy, người nghiên cứumuốn tìm hiểu nhằm giúp sinh viên ngành Tâm lý học có một tâm thế tốt để ra trường, cómột định hướng nghề đúng và thiết thực càng sớm càng tốt để bước vào thế giới nghềnghiệp một cách thật sẵn sàng và vững chắc

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tác giả chọn đề tài: “Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh”.

Trang 13

2. Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học tại thành phố Hồ ChíMinh, từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả việc ĐHN cho SV năm 4ngành Tâm lý học

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên chính quy năm thứ 4 ngành Tâm lý học ở Tp HCM

4. Giả thuyết nghiên cứu

SV năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tại Tp HCM có lựa chọn nghề ở mức độ thấp.Một số SV vẫn chưa có định hướng nghề

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận liên quan đến ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học.

5.2 Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành TLH

6. Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung: ĐHN của SV năm 4 chuyên ngành TLH.

- Về địa điểm và đối tượng khảo sát: Chỉ nghiên cứu những SV chính quy năm 4

(niên khóa 2017 - 2018) ngành Tâm lý học tại 3 trường đại học tại Tp HCM: Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Văn Hiến và Đại học Sư Phạm Tp HCM

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm

rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu

- Cách thức tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu cần thiết phục vụ cho

việc nghiên cứu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn

Trang 14

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp

chính của đề tài

- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía SV.

- Cách thức tiến hành: Xây dựng bảng hỏi, khảo sát ngẫu nhiên trên 250 SV để

tìm hiểu về biểu hiện của ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học

7.3 Phương pháp thống kê toán học

- Mục đích: Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu.

- Cách thức tiến hành: Sử dụng phần mềm SPSS.

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ

1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề

1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Tư tưởng định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất

sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân củamỗi người trong xã hội Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất phát triển cùng với những tưtưởng tích cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướngnghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập [20]

Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850-1940, gắn liền vớinhững cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattel, Alfred Binet, FrankParson, Robert Yerkes, E.K Strong Cuối những năm 1800, một hệ thống công nghiệpvới quy mô lớn ra đời, đã làm thay đổi môi trường mạnh mẽ, môi trường làm việc vàđiều kiện sống Để đáp ứng được các yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điềukiện sống khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột một nhu cầu đổi mới đãxuất hiện, một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, nhữngđiều kiện khách quan trên để phôi thai và cho ra đời một ngành khoa học Tham vấnnghề Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsons thành lậpvào năm 1908 ở Boston Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho thanh niên có nhu cầutìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề phù hợp với nănglực, sở trường của mình [11]

Đầu thế kỷ XX, ở Đức, Anh, Pháp, Mỹ đã có phòng tư vấn chĩ dẫn cho thanh niêntìm việc làm, ở đó thanh niên, học sinh được tư vấn về việc lựa chọn nghề nghiệp chotương lai của họ [18]

Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J.L Holland (1919-2008) đã nghiên cứu vàthừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp của con người Tácgiả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương xứng

có thể chọn để đạt được kết quả làm việc và thành công cao nhất Đến năm 1948,

Trang 16

cuốn sách hướng nghiệp “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản ở Pháp được xem là cuốn sáchđầu tiên nói về định hướng nghề nghiệp, nội dung cuốn sách đề cập đến sự phát triển củacông nghiệp Tiếp tục phát triển đến năm 1970, năm 1980 ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc

tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề Những nhà nghiên cứu ở đây cũng

đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề-Career guidance” vào giảng dạy ở trường trung học,sau đó là từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn học tập hay cố vấn tâm lý làmviệc Năm 1974, cuốn sách nghiên cứu định hướng của nhà TLH người Mỹ, J.L Hollandlại tiếp tục bàn về định hướng nghề với dụng cụ tư vấn, những đặc điểm môi trường vàcon người dẫn đến việc chọn nghề, học nghề, gắn bó và thành công với nghề nghiệp củacon người được xuất bản mới đều được Holland sửa đổi theo quan niệm mới của ông vàtheo đề xuất của khách hàng hay của các nhà phê bình Năm 1995, Meir, Melamed vàDinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tương quan tích cực

dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp [20] Ngoài những nghiên cứu ở cácnước nói trên, các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệtrẻ, như nghiên cứu của H Perho, nhà TLH Phần Lan đã nghiên cứu vấn đề “Định hướngnghề nghiệp và nghệ thuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” kết quả cho thấy,trong động cơ học tập của sinh viên ngành Sư Phạm ước muốn nhận được điểm tốt mạnhhơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi Từ đó, ông kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trình)tuyển sinh ngành Sư Phạm M.V Volanen một người nghiên cứu Phần Lan khác lại tìmhiểu quá trình thích ứng nghề nghiệp và định hướng việc làm ở thanh niên Kết quả chothấy, những đánh giá chủ quan của thời kỳ quá độ ảnh hướng đến định hướng việc làmnhanh hơn nhiều so với bản thân thời kỳ quá độ và ảnh hưởng của những năm tháng làmviệc đầu tiên đến định hướng việc làm phụ thuộc và quá trình thích ứng nghề nghiệp Z.Ransen Bakh đã nghiên cứu về định hướng giá trị của sinh viên gắn với quá trình địnhhướng nghề nghiệp và các kế hoạch cuộc sống Trong nghiên cứu định hướg giá trị củathanh niên, các nhà nghiên cứu chú ý đến định hướng nghề nghiệp của nhóm xã hội này.Như vậy, nhìn chung trọng tâm nghiên cứu của các nước phương Tây chủ yếu sử dụng cácphương tiện, thiết bị chuyên môn nhằm tham vấn chuyên sâu với mục đích xác định xuhướng và sự phù hợp nghề của thanh niên Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức, trong côngtrình “Nghiên cứu

Trang 17

những vấn đề thanh niên ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức” (1976), đã nghiên cứu về địnhhướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên công nhân Đức Các tiêu chí có ý nghĩa quantrọng nhất trong công việc và động cơ làm việc được xem là những chỉ báo về địnhhướng giá trị của họ [5].

Lĩnh vực này cũng thu hút sự quan tâm của các nhà TLH Nga Xung quanh vấn đềlựa chọn nghề nghiệp, A.E Golomstoc, E.A Klimov, chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đếnsai lầm khi chọn nghề Về nhận thức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu N.D Levitop, V.A.Kruchetxki, A.V Petroxki đã đề cập đến ý nghĩa của sự hiểu biết nghề định chọn đốivới học sinh Vì học sinh chưa có quan niệm rõ ràng về đa số các nghề nên không thểđịnh hướng đúng đắn trong các nghề đó Dự định chọn nghề của học sinh được các nhànghiên cứu quan tâm: V.V Votzinxkaia, V.S Soukin, V.P Gribanop, X.N Tritaikova,N.N Đakhop… [11]

Ở Liên Xô cũ, vào những năm 29,30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp cho họcsinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan tâm.Nhà giáo dục học lỗi lạc N.K Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọnnghề” cho mỗi thanh thiếu niên Theo bà, công tác hướng nghiệp giúp cho trẻ pháttriển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao độngđúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng Dựa trên các luận điểm chọn nghề củaC.Mác và Lê Nin các nhà giáo dục Liên Xô trong các tác phẩm và công trình nghiêncứu của mình đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghềnghiệp cho thế hệ trẻ sẽ là cơ sở cho họ chọn nghề đúng đắn, phù hợp giữa năng lực cánhân, sở thích và nhu cầu xã hội Trong những năm 1970, nhà TLH Lao Động Liên XôE.A Kalimop đã đưa ra trắc nghiệm “Xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánhgiá” với 30 câu hỏi Cùng thời gian đó A.E Colomtoc cũng đưa ra trắc nghiệm đohứng thú nghề nghiệp với 78 câu hỏi, cùng thời điểm đó nhiều nhà khoa học ở Liên Xô

cũ xem “Tam giác hướng nghiệp” của K.K Platonov là yêu cầu chuẩn xác cho việcchọn ngành nghề Tác giả của tam giác hướng nghiệp vạch ra 3 yếu tố cơ bản: Đặcđiểm cá nhân, tính chất nghề nghiệp và nhu cầu xã hội [20]

Trang 18

Một số nhà Tâm lý học Xô Viết khác như Ph.B Beredin, V.A Xmirnop nghiên cứukhía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; Ph.E Vasiluc, N.D Levitov, G.M.Anderiep nghiên cứu sự thích ứng xã hội của thanh niên với nghề nghiệp [5].

Như vậy, điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới, cho ta thấy hướng nghiệpđòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cáchtương lai ĐHN cho học sinh, sinh viên là một xu thế tất yếu của mỗi thời đại Đồng thời,

từ những lý luận trên ta có thể thấy được đa số các nước trên thế giới có sự quan tâm, chútrọng và đầu tư rất khoa học và nghiêm túc trong việc ĐHN cho mỗi cá nhân

1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu ĐHN ở Việt Nam theo các chuyên gia đã có những bước phát triểnmạnh mẽ vào những năm 1970, 1980, tiếp thu những thành tựu của thế giới và thựctiễn nghiên cứu trong nước

Từ những năm 1994-1995, Trần Thị Minh Đức với đề tài cấp bộ về “Định hướngnghề nghiệp của SV và HS ở một số trường THPT và ĐH ở Hà Nội”, mã số B94; 0507

đã mở ra một xu hướng nghiên cứu ĐHN cụ thể, thực tế và bám sát những đối tượng

mà xã hội lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm Cũng trong năm 1994, Viện nghiên cứu Pháttriển Giáo dục đã tiến hành nghiên cứu “Một số đặc điểm xu hướng nghề nghiệp của

SV trong sự chuyển đổi kinh tế-xã hội mới” do Trần Ninh Giang làm chủ nhiệm Kếtquả phản ánh tình hình KT-XH chi phối mạnh mẽ đến việc chọn nghề của SV, từ đóphát triển xu hướng lựa chọn nghề nghiệp thiên về kinh tế và công nghiệp ở SV [20]

Từ năm 1991-1995, nhiều đề tài KX thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước đã tiếpcận: “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến việc hình thành và phát triển nhân cách conngười Việt Nam” mã số KX-07-10 do Thái Duy Duyên làm chủ nhiệm, đã khảo sát trêncác đối tượng thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức và chủ doanhnghiệp trẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Nghệ An, Hồ Chí Minh về “Nhu cầu, nguyệnvọng của thanh niên và định hướng giá trị của thanh niên” nội dung nghiên cứu tập trungvào xem xét các vấn đề lý tưởng, niềm tin của thanh niên, việc làm, nghề nghiệp, rènluyện, bồi dưỡng tài năng, tình yêu hôn nhân và gia đình Năm 1989, Lê Quang Sơn trongluận án tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của

Trang 19

thanh niên Việt Nam hiện đại” đã xem định hướng giá trị như là những thái độ củanhân cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấutrúc lại trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách [5].

Hướng nghiệp ở Việt Nam đã có những phát triển mãnh mẽ vào thập niên 70 của thế

kỷ XX, đặc biệt là vào năm 1977 với các nghiên cứu đầu tiên về HN do các chuyên giatâm lý như Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong…tiến hành Trong công trình nghiên cứucủa mình, tác giả Phạm Tất Dong với hai cuốn sách “Giúp bạn chọn nghề” và “Hướngnghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới mới” số 91/1994 đã đề cập một cách

hệ thống về hứng thú nghề nghiệp cũng như những vấn đề cơ bản về nội dung, phươngpháp HN cho HS Theo ông, hứng thú môn học, hứng thú nghề nghiệp có tác dụngthúc đẩy việc chọn nghề và thực hiện khả năng của mình là động cơ mạnh nhất, quantrọng nhất của việc lựa chọn nghề nghiệp của HS Bên cạnh đó, có các công trìnhnghiên cứu khác của ông như “Hướng nghiệp cho nữ sinh phổ thông trung học”(1973), “Phụ nữ và nghề nghiệp” (1978)…cũng đã đóng góp to lớn trong ĐHN tại ViệtNam [30] Theo tổng cục dạy nghề, viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã cho xuấtbản cuốn sách “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” năm 1986 đã nói về việc hướng nghiệp chotuổi trẻ, sách giúp cho học sinh trung học phổ thông tìm hiểu về nghề nghiệp

Tác giả Chu Văn Thảo với công trình “Nghiên cứu giải pháp quản lý nhằm đẩymạnh công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh tại các trung tâm KTTH HN ở tỉnhBắc Ninh” đã nhấn mạnh rằng đa số học sinh trung học trước khi chọn nghề chưa hiểuhết ý nghĩa và tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học, các em chưa hiểu

rõ về nghề nghiệp chưa đánh giá đúng năng lực bản thân, sự hiểu biết về nghề của các

em còn đơn giản, nghèo nàn so với thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú, đa dạng.Thiếu thông tin về thị trường lao động đã làm các em lúng túng khó khăn khi chọnnghề Nhìn chung, nhận thức của HS về nghề nghiệp còn chung chung [18]

Năm 2008, tác giả Trần Đình Chiến với công trình nghiên cứu “Xu hướng chọn nghềcủa học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” đã phản ánhthực trạng chọn nghề của HS nơi đây HS chọn nghề theo địa vị, danh tiếng trong xã hội,chưa quan tâm đến sự phù hợp giữa nghề với bản thân mình Tác giả Nguyễn

Trang 20

Quang Uẩn cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu về đặc điểm xu hướng nghề của học sinhthành phố theo các chỉ số: mức độ nhận thức nghề, tính ổn định của thái độ đới vớinghề, qua đó cho thấy đặc điểm chung về xu hướng nghề của HS trung học, xác địnhđược nghề mà học sinh biết nhiều nhất cũng như thái độ đánh giá của học sinh về cácnghề [36].

Năm 2009, với cuốn “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên các chuyên ngànhthuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin” được xuất bản cũng đề cập đến vấn đề ĐHN cho các

SV chuyên ngành, kết luận cho thấy tự bản thân SV chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc vềđặc trưng của các nghề thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin [12] Từ đó, ta thấy vấn đề ĐHNcho SV được nghiên cứu rộng trên nhiều lĩnh vực rất cần thiết và quan trọng

Bên cạnh đó cũng có những đề tài luận văn, khóa luận nghiên cứu về ĐHN Cụ thể như

“Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật VĩnhLong” của tác giả Lê Thị Ngọc Giàu (2015) kết luận: Định hướng giá trị nghề nghiệp củasinh viên trường ĐH SPKT Vĩnh Long chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nhà trường cao nhất Từ

đó, đòi hỏi nhà trường phải có những biện pháp đúng đắn để giúp cho sinh viên địnhhướng tốt nghề của mình [14] Tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Trúc với đề tài “Định hướnggiá trị nghề của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Nha Trang (2015)

[32]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Dương Liễu (2014) là “Định hướng nghề

nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học ở một số trường Đại học tại tp HCM” kếtluận: Định hướng ngành học và nghề nghiệp của sinh viên còn chủ quan, cảm tính, chưadựa trên cơ sở khoa học sự phù hợp về tính cách năng lực của bản thân với ngành nghềtheo học [20] Đề tài của Phạm Thị Thúy Hằng “Định hướng nghề của sinh viên ngànhTâm lý học-Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM, kết luận: Sinh viên chuyên ngành tâm lý

có định hướng nghề ở mức khá tốt [15] Nhìn chung, các tác giả có nghiên cứu về địnhhướng nghề cho HS, SV nói chung Nhưng cũng chưa có ai đi sâu vào để tìm hiểu vànghiên cứu về vấn đề ĐHN cho SV năm 4 ngành Tâm lý học, đặc biệt đây là giai đoạn mà

SV chuẩn bị ra trường, chuẩn bị bước vào môi trường công việc theo hướng mình chọn

Để đáp ứng nhu cầu mà xã hội đặt ra cho SV, thì mỗi SV cần phải định

Trang 21

hướng như thế nào, cần phải trang bị những gì? Vì vậy, đây cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài này để đi sâu vào tìm hiểu.

2. Lý luận về định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

2.1. Khái niệm định hướng

Theo từ điển Tiếng Việt, định hướng là “xác định phương hướng” [24]

Theo từ điển Hán Việt, định trong từ “定” phiên âm tiếng La Tinh là “dìng” đượchiểu là xác định, chắc chắn đã được xác định Hướng trong từ “定” phiên âm tiếng LaTinh là “xiàng” được hiểu là chí hướng, hướng về, nhìn về, hướng động tác nhằm, về,đến [33]

Theo từ điển Tiếng Anh, định hướng trong từ “Orientation” là những hoạt động cụthể có tính mục đích nhằm hướng đến những đối tượng cụ thể [38]

Định hướng theo cách hiểu thông thường nghĩa là sự lựa chọn, là xác định cho mìnhmột lối đi một cách làm hay rộng hơn là hành động, lối cư xử sao cho phù hợp với bảnthân và với sự tồn tại xung quanh

Theo tác giả Phạm Thị Thúy Hằng định hướng là hành động xác định một hướng đi

cụ thể cho hoạt động nào đó trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc

kỹ những đặc điểm từng đối tượng sao cho phù hợp nhất với mọi điều kiện khách quan

và chủ quan của chủ thể [15]

Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (Viện KHXHVN), năm 2008, định hướng làkhuynh hướng của một hoạt động cụ thể, thể hiện sự am hiểu thông thạo vấn đề và gắnliền với những kỹ năng nắm bắt làm chủ trong một hoàn cảnh hay bối cảnh nào đó [10]

Từ việc học hỏi và xem xét kinh nghiệm của các tác giả đi trước, người nghiên cứunhận thấy đồng quan điểm với tác giả Phạm Thị Thúy Hằng về khái niệm định hướng

Từ đó, người nghiên cứu đưa ra quan niệm về định hướng trong đề tài này như sau:

Định hướng là hành động để xác định, đưa ra một hướng đi cụ thể cho một hoạt động nào đó dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc kỹ đặc

Trang 22

điểm của từng đối tượng có liên quan nhằm lựa chọn được một hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể.

Theo tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Giúp bạn chọn nghề”, thì nghề là nhómnhững chuyên môn gần nhau Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp,trong đó, con người bằng sức mạnh thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trịvật chất hoặc những giá trị tinh thần [8]

Theo từ điển Tâm lý học, nghề được trình bày là “công việc chuyên làm theo sựphân công của xã hội” Nghề không chỉ là một hoạt động tạo ra của cải vật chất phục

vụ cho xã hội mà nghề còn phục vụ cho nhu cầu của bản thân người lao động Đókhông chỉ là những nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần [31]

Theo tác giả E.A.Klimov, nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất vàtinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân cônglao động mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của mình để thulấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển [36]

Tóm lại: Người nghiên cứu quan niệm về nghề trong đề tài này như sau:

Trang 23

Nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những năng lực và phẩm chất nhất định phù hợp với yêu cầu của từng dạng lao động, từ đó con người có thể tạo ra được các sản phẩm về vật chất cũng như tinh thần đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển.

2.2.2 Đặc điểm

- Một nghề trong xã hội là công việc chuyên môn trong một lĩnh vực hoạt độngnhất định, nó đòi hỏi người làm việc phải có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các phẩmchất đạo đức

- Hoạt động nghề có mục đích rõ ràng, không những mang lại lợi ích cho xã hội

mà còn cho nhu cầu của con người

- Là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của

- Nghề nghiệp trong toàn cầu rất đa dạng, người ta ước tính vào năm 2012 trênthế giới có hơn 2000 nghề với hành chục nghìn chuyên môn khác nhau Ở Mỹ có khoảng 40.000 chuyên môn trong xã hội [5] Hiện nay có tới 70.000 nghề và hàng chục nghìn chuyên môn (2017) Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới

500 nghề bị đào thải, khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệtrường (dạy nghề TCCN, CĐ, ĐH) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìnchuyên môn khác nhau Do đó, có nhiều cách phân loại để tạo thành những nghề vànhóm nghề nhất định [15]

- Theo tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Tư vấn hướng nghiệp”(2002) có 7 loạinghề : Nghề tiếp xúc với con người, nghề kỹ thuật, nghề thợ, nghề trong lĩnh vực văn

Trang 24

học nghệ thuật, nghề tiếp xúc với thiên nhiên, nghề con người với dấu hiệu và nghề hành chính.

- Căn cứ vào mối quan hệ giữa con người và đối tượng lao động E.A.Klimov chorằng có 5 nhóm nghề: Nghề tiếp xúc với con người, nghề kỹ thuật, nghề trong lĩnh vựcvăn học nghệ thuật, nghề tiếp xúc với thiên nhiên và nghề con người với dấu hiệu.Cách phân loại như trên không phải chia các nghề theo ngành kinh tế mà theo nhữngđặc điểm tâm lý gần hoặc giống nhau được xếp vào một nhóm sao cho dễ lựa chọn [9]

2.2.4 Một số lĩnh vực nghề nghiệp chính trong Tâm lý học.

hội Ở Việt Nam, do chỉ mới được thành lập vào những năm của thế kỷ XX, số lượngđội ngũ cán bộ chưa nhiều, uy tín nghề chưa cao vì thế chưa được phổ biến trong xã hội.Nghề tâm lý học có đặc điểm là bao gồm các tri thức, kỹ năng và phẩm chất chuyên ngành

mà người học tiếp thu và rèn luyện được trong quá trình đào tạo theo chuyên ngành Tâm

lý học cho phép bản thân họ có thể tiến hành hoạt động trong lĩnh vực tâm

lý và được pháp luật thừa nhận

Thế giới: các lĩnh vực nghề nghiệp trong TLH trên thế giới rất phong phú và đa

dạng Những lĩnh vực được đề cập sau đây là những lĩnh vực chính đã tồn tại và đangtiếp tục phát triển ở các nước trên thế giới (Nghiên cứu và lược dịch từ tài liệu củaAPA - Career in Psychology - 2011) [15] Gồm có:

1/ Lĩnh vực Tâm lý Lâm Sàng (Clinical Pychology)

Các nhà TLH lâm sàng khám và điều trị các rối loạn cảm xúc và tâm thần Họ có thểlàm việc ở các học viện, bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng

Trang 25

hoặc hành nghề tư và thường chuyên sâu vào một rối loạn hay bệnh nào đó Cử nhân

và thạc sĩ tâm lý không được phép hành nghề độc lập nhưng họ có thể làm việc dưới

sự giám sát và hướng dẫn của các học vị tiến sĩ

2/ Tâm lý học Cộng Đồng (Community Psychology)

Các nhà TLH cộng đồng quan tâm đến những hành vi trong đời sống hằng ngàytrong môi trường gia đình, khu dân cư công sở Công việc chính của họ là tìm hiểunhững nhân tố tạo ra những hành vi bình thường và bất thường trong những môitrường ấy cùng với việc chăm sóc sức khỏe tinh thần và ngăn chặn những rối loạn

3/ Tâm lý học Tham Vấn (Counseling Psychology)

Các nhà tham vấn tâm lý giúp thân chủ tháo gỡ, ra quyết định và ứng phó với áp lựctrong cuộc sống Họ thường làm việc ở các học viện, ngày nay các nhà tham vấnthường có xu hướng làm việc trong các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần, bệnhviện, bệnh viện quân y và các phòng khám tư nhân

4/ Tâm lý học Phát Triển (Developmental Psychology)

Các nhà TLH phát triển nghiên cứu sự phát triển về mặt tâm lý của con người từ lúc

sơ sinh cho đến lúc tuổi già Họ mô tả, đo lường, giải thích những thay đổi về hành viliên quan đến độ tuổi, sự phát triển cảm xúc, những đặc trưng tâm lý của từng độ tuổi

và sự phát triển tâm lý bất bình thường Nhiều người có học vị tiến sĩ làm trong cáchọc viện, nghiên cứu các đề tài khoa học, làm cố vấn chương trình cho các trung tâmchăm sóc sức khỏe, trường học bệnh viện, các phòng khám nhi Ngoài ra, họ còn quantâm đến vấn đề lão hóa và làm việc với đối tượng người già

5/ Tâm lý học Giáo Dục (Educational Psychology)

Các nhà TLH Giáo Dục nghiên cứu vấn đề học tập của con người, thiết kế các tàiliệu phương pháp hỗ trợ cho người học ở mọi lứa tuổi Nhiều người làm việc trong môitrường đại học, một số khác ngiên cứu về những đề tài liên quan về vấn đề học tập nhưđọc, viết, toán học và khoa học Ngoài ra, họ còn làm việc trong các cơ quan trongchính phủ hay trong lĩnh vực kinh doanh, thiết kế và thực thi các chương trình huấnluyện Tất cả họ phải có học vị tiến sĩ

6/ Tâm lý học Thực Nghiệm (Experimental Psychology)

Trang 26

Nhà TLH thực nghiệm là một nhóm các nhà tâm lý học nghiên cứu và giảng dạy vềnhững tiến trình hành vi cơ bản Những tiến trình này bao gồm học tập, nhận thức,năng lực, con người, động cơ, trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp và các quá trình sinh

lý cơ bản của hành vi như: ăn uống, đọc, hiểu và giải quyết vấn đề Ngoài ra, họ cũngnghiên cứu trên động vật để hiểu hơn về hành vi con người Hầu hết họ làm việc tạicác học viện giảng dạy, hướng dẫn và giám sát sinh viên nghiên cứu đề tài Họ cũnglàm việc tại các viện nghiên cứu ngành kinh tế, công nghiệp và làm cho chính phủ Đòihỏi tất cả họ phải có học vị tiến sĩ trở lên

7/ Tâm lý học Tổ Chức/Công Nghiệp (Industrial - Organizational Psychology)

Các nhà TLH Tổ Chức/Công Nghiệp nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và côngviệc, cụ thể là cấu trúc và sự thay đổi của tổ chức, năng suất lao động của công nhân, sựhài lòng về công việc, tuyển chọn, luân chuyển, huấn luyện và phát triển nguồn nhân lực,mối quan hệ giữa con người và máy móc Trong môi trường kinh doanh, công nghiệp haychính phủ, họ thiết kế công việc theo dây chuyền, đề xuất những thay đổi để giảm tínhđơn điệu trong công việc và tăng cường trách nhiệm cho công nhân, đưa ra những khuyếncáo với các phương pháp quản trị,…Họ phải có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ

8/ Tâm lý học Thần Kinh (Neuro Psychology)

Họ nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ chế sinh học cụ thể trong não bộ và hành vi mốiquan hệ giữa cấu trúc não bộ với chức năng và những thay đổi về vật lý, hóa học khichúng ta trải qua những cảm xúc khác nhau Họ làm việc ở các khoa thần kinh học,khoa giải phẫu thần kinh, khoa tâm thần và khoa nhi trong các bệnh viện hay phòngkhám Để hành nghề đòi hỏi họ phải có học vị tiến sĩ, nhiều vị trí khác bắt buộc phải

Trang 27

trình máy tính, thống kê và công nghệ nên có thể hỗ trợ người nghiên cứu TLH và cáclĩnh vực khác thiết kế và đọc kết quả Học vị tiến sĩ làm việc tại các trường ĐH, các cơquan chính phủ, thạc sĩ làm việc cho các công ty trắc nhiệm và nghiên cứu tư nhân.

10/ Tâm Lý Học Đường (School Psychology)

Họ giúp đỡ các nhà giáo dục đẩy mạnh sự phát triển tri thức, xã hội và cảm xúc củahọc sinh, xây dựng những môi trường thuận lợi cho việc học và sức khỏe tâm thần Họ

có thể đánh giá và thiết kế chương trình cho những học sinh cá biệt hay giải quyếtnhững vấn đề nảy sinh trong lớp học Đôi khi họ cũng tham vấn cho giáo viên và thamkhảo ý kiến của phụ huynh cũng như giáo viên để giúp các em học sinh

11/ Tâm lý học Xã Hội (Social Psychology)

Các nhà TLH Xã Hội họ nghiên cứu cách thức tương tác của con người với nhau vàtìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với cá nhân Họ nghiên cứu cả cánhân và nhóm, những hành vi có thể quan sát hay những suy nghĩ thầm kín Họ thườngnghiên cứu các lý thuyết về nhân cách, sự hình thành và thay đổi thái độ, sự tương tácgiữa người với người…

12/ Tâm lý học Gia Đình (Family Psychology)

Các nhà TLH Gia Đình nghiên cứu, giáo dục, ngăn chặn những xung đột trong giađình, điều chỉnh những vấn đề trong hôn nhân và giúp đỡ gia đình phát triển bình thường.Với tư cách nhà cung cấp dịch vụ, họ thiết kế những chương trình hỗ trợ hôn nhân, chuẩn

bị tiền hôn nhân, cải thiệm mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giúp đỡ cha mẹ có con cáiđặc biệt Hầu hết họ được đào tạo về tham vấn và lâm sàng Họ làm việc trong các trường

y khoa, bệnh viện hành nghề tư nhân, học viện và các tổ chức cộng đồng

13/ Tâm lý học Sức Khỏe (Health Psychology)

Họ quan tâm nghiên cứu những ảnh hưởng tâm lý đối với sức khỏe của con người vàđiều trị bệnh tật Với tư cách là nhà TLH ứng dụng hoặc lâm sàng, họ thiết kế và thực hiệnnhững chương trình giúp bệnh nhân bỏ thuốc lá, giảm cân, giảm áp lực và bảo vệ cơ thể.Với tư cách là nhà nghiên cứu họ tìm hiểu những điều kiện và thực tiễn gắn liền với bệnhtật và sức khỏe Hầu hết họ lấy văn bằng từ các lĩnh vực khác của TLH như

Trang 28

lâm sàng hoặc tham vấn nhưng họ quan tâm nghiên cứu chính và thực hành trong lĩnhvực TLH về sức khỏe.

14/ Tâm lý học Lão Hóa (Geropsychology)

Họ quan tâm đến những vấn đề xã hội học, sinh lý học, nghiên cứu sự phát triển củangười cao tuổi và sự lão hóa Họ giải quyết những vấn đề an sinh xã hội trong tâm lýngười già Họ làm việc tại các học viện, trung tâm nghiên cứu, các tố chức chăm sócsức khỏe, phòng khám tâm thần hoặc những cơ quan dịch vụ dành cho người già

15/ Tâm lý học Pháp Lý (Forensic Psychology)

Họ quan tâm đến pháp lý dưới góc nhìn của TLH và những câu hỏi về TLH trongnhững bối cảnh pháp lý Họ giúp đỡ các thẩm phán quyết định cha hay mẹ có quyềnchăm sóc con cái, đánh giá nạn nhân của các vụ tai nạn để xem xét người đó có vấn đề

về sức khỏe tâm thần hay tâm lý không Họ đánh giá khả năng tâm thần của bị cáo,tham vấn cho tù nhân, nạn nhân của tội ác, giúp đỡ họ đương dầu với cuộc sống bìnhthường Một số người có cả học vị tiến sĩ về tâm lý và pháp luật Người có học vị tiến

sĩ có thể làm tại các khoa TLH, các trường luật, các tố chức nghiên cứu, cơ quan chămsóc sức khỏe cộng đồng, tòa án, cơ quan luật

16/ Tâm lý học Phụ Nữ và Nam Giới (Psychology of Women and Men)

Họ nghiên cứu những nhân tố xã hội và tâm lý ảnh hưởng đến sự phát triển giới tính

và hành vi, mối quan hệ giữa hoocmone giới tính và hành vi, sự phát triển và vai tròcủa giới tính, tình dục và sự lạm dụng, những phản ứng khi bị hãm hiếp…Họ thườnglàm việc ở những viện điều dưỡng, trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồngcác trường đại học các khoa tâm thần cũng như các trung tâm công tác xã hội

17/ Tâm lý học Thể Thao (Sport Psychology)

Là lĩnh vực ứng dụng các nguyên tắc tâm lý nhằm cải thiện quá trình thi đấu thểthao và tạo sự thích thú cho người tham gia thể thao Tại Olympics năm 1996, hơn 20nhà TLH thể thao làm việc với các vận động viên và huấn luyện viên của Mỹ Có thểnói đây là mảnh đất giàu tiềm năng, các nhà TLH cần khai phá

18/ Tâm lý học Xuyên Văn hóa (Cultural Cross Psychology)

Trang 29

TLH Xuyên Văn Hóa tìm hiểu vai trò của yếu tố văn hóa trong việc hiểu hành visuy nghĩ và cảm xúc Các nhà TLH Xuyên Văn Hóa so sánh bản chất của các quá trìnhtâm lý ở nền văn hóa khác nhau, đặc biệt quan tâm đến những hiện tượng tâm lý mangtính phổ biến toàn cầu hay mang đặc trưng của từng nền văn hóa.

19/ Tâm lý học Phục Hồi Chức Năng (Rehabilitation Psychology)

Họ làm việc với các nạn nhân của các vụ tai nạn và đột quỵ, những người có cáckhuyết tật về phát triển gây ra bởi chứng bại não, động kinh và tự kỷ Họ giúp thân chủthích ứng với những tình huống và phát triển, giải quyết vấn đề liên quan đến sự thíchứng của cá nhân, quản lý các mối quan hện nhân cách Họ làm việc với các chuyên giasức khỏe nhằm ngăn ngừa tình trạng khuyết tật, gồm cả vấn đề được tạo ra bởi bạo lực

và lạm dụng chất Họ cũng làm việc trong tòa án như những chuyên gia làm chứng vềnhững ảnh hưởng của khuyết tật và những nhu cầu phục hồi chức năng

20/ Tâm lý học Tiến Hóa (Evolutionary Psychology)

Họ thường hứng thú với những nghịch lý và những vấn đề về tiến hóa Chẳng hạn một

số hành vi thích ứng cao trong sự tiến hóa của con người trong quá khứ không còn thíchhợp với thế giới hiện đại Họ nghiên cứu cách thức tác động của các nguyên lý tiến hóanhư sự biến đổi, thích ứng và sự chọn lọc ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc và hành

vi của con người Ngoài ra, họ còn tập trung nghiên cứu mẫu hành vi di truyền có tácđộng đến những cơ hội sống sót, nghiên cứu về sự giao cấu, hành vi gây hấn, giúp đỡ

và giao tiếp [15]

Việt Nam:

Theo danh mục nghề tổng cục thống kê đã ban hành năm 2010, nghề nghiệp thuộcchuyên ngành Tâm lý học tại Việt Nam là những nghề mang tính đặc thù cao NghềTLH ở Việt Nam là nhóm nghề có mã số 2445 (nghề chuyên môn kỹ thuật bậc cao)thuộc nhóm nghề KHXH [48]

Tâm lý học ngày nay, càng ngày càng được xã hội biết đến nhiều hơn vì nhu cầungày càng bức thiết hơn, nên các SV sau khi tốt nghiệp hệ cử nhân ra trường có thểđảm nhận và đủ khả năng thực hiện các công việc theo các nhóm nghề chính sau (dựatrên mục tiêu đào tạo hiện nay (2017) tại 3 trường ĐH KHXH&NV, ĐHSP TPHCM,

và ĐHVH (Phụ lục 2, 3, 4, 5):

Trang 30

1/ Nhóm nghề Tham vấn - Trị liệu tâm lý

2/ Nhóm nghề Quản lý - Tổ chức nhân sự

3/ Nhóm nghề khác có ứng dụng về tâm lý

4/ Nhóm nghề Giảng dạy về tâm lý

5/ Nhóm nghề Nghiên cứu khoa học tâm lý

Họ có thể làm việc tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học trên cả nước.Nghiên cứu tại các Viện nghiên cứu về tâm lý, con người…Tham vấn và trị liệu tâm lýtại các bện viện, hay trung tâm Làm việc trong các công ty, tổ chức phi chính phủ nhưnghiên cứu thị trường, quản lý nhân sự, nhân viên Marketing…Làm việc cho các đàitruyền hình, truyền thông - quảng cáo, viết chương trình, tổ chức sự kiện hay làm việccho các tổ chức bảo vệ bà mẹ trẻ em, trại cai nghiện và phục hồi nhân phẩm,…

2.3 Khái niệm định hướng nghề

Theo Nguyễn Văn Hộ, ĐHN là một quá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặtchẽ theo một logic hợp lý về không gian, thời gian về nguồn lực tương ứng với những

gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghềnghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó [9]

Theo từ điển Tâm lý học, của tác giả Nguyễn Văn Lũy - Lê Quang Sơn, định hướngnghề nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp thanh thiếu niên làm quen với thế giớinghề nghiệp Định hướng nghề nghiêp tạo điều kiện cho việc chọn nghề phù hợp vớinăng lực và thiên hướng cá nhân cũng như với những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho conngười [22]

Theo nhà TLH xô viết E.A Klimov, sự định hướng vào việc hình thành phong cách

cá nhân của hoạt động Ông thừa nhận nguyên tắc thống nhất giữa ý thức - hoạt động:1/ Thừa nhận có những phẩm chất tâm lý cá nhân không được giáo dục vẫn giúp chothực hiện kết quả hoạt động nào đó

2/ Có những phương án theo cách thức khác nhau nhưng ngang bằng hiệu quả (sảnphẩm lao động) phù hợp với những điều kiện hoạt động nghề nghiệp

Trang 31

3/ Có những khả năng rộng lớn để khắc phục những biểu hiện yếu của từng năng lựcriêng khi chú ý luyện tập chúng hoặc bù trừ bằng phương tiện của các năng lực khácnhau hay cách thức làm việc

4/ Sự hình thành những năng lực cần thiết có tính đến những đặc trưng riêng của nhâncách nghĩa là tính đến những điều kiện bên trong của sự phát triển cũng như nhữngđiều kiện bên ngoài [15]

Từ việc học hỏi và rút kinh nghiệm của các tác giả đi trước cũng như kết hợp vớikhái niệm về định hướng và khái niệm về nghề, người nghiên cứu quan niệm ĐHNtrong đề tài này như sau:

Định hướng nghề là hành động xác định một hướng đi cụ thể cho hoạt động lao động dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc kỹ những đặc điểm liên quan đến nghề sao cho phù hợp nhất với mọi điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể.

Như vậy, ta có thể hiểu ĐHN gồm:

1/ Xác định hướng đi trong nghề dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực

và cân nhắc kỹ những đặc điểm của đối tượng liên quan đến nghề

2/ Xem xét và so sánh với điều kiện và hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thểsao cho phù hợp nhất

Các tín hiệu cơ bản cần cho việc ĐHN

- Phải đảm bảo cung cấp hệ thống thông tin đa diện về con người, thế giới nghềnghiệp và nghiên cứu xã hội đối với nghề

- Định hướng nghề có mục đích là hướng vào việc lựa chọn nghề một cách phùhợp, có nghĩa là tìm hiểu thông tin liên quan đến nghề và những gì liên quan nhằm quyết định đúng đắn nghề mà mình chọn

Đặc điểm định hướng nghề

Định hướng nghề là một thành phần quan trọng của công tác hướng nghiệp Vì vậy,

để có một cái nhìn tổng thể và rõ ràng hơn, sau đây tác giả đưa vào một số đặc điểm vềcông tác hướng nghiệp nói chung

Trang 32

Công tác hướng nghiệp đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin sau cho

SV ra trường: Tri thức về hệ thống các nghề thuộc chuyên ngành mà SV đã chọn học,yêu cầu đặc điểm cụ thể của từng nghề; tri thức về nhu cầu lao động của xã hội đối với

hệ thống các nghề thuộc chuyên ngành; những hiểu biết về nhân cách đặc biệt là nănglực của bản thân SV

Để thực hiện 3 nội dung trên, công tác hướng nghiệp có các hình thức sau: Giáo dụcnghề nghiệp và tuyên truyển nghề nghiệp:

- Nhiệm vụ của giáo dục nghề nghiệp:

đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển các nghề nghiệp cùng với những yêu cầu tâm lý donghề nghiệp đó đặt ra cho người lao động

o Tạo điều kiện ban đầu để SV phát triển năng lực tương ứng với hứng thú nghềnghiệp đã hình thành

o Giáo dục SV thái độ lao động đúng đắn, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong

dự định nghề của SV

o Làm cho SV chú ý đến những nghề nghiệp đang phát triển thuộc ngành học và

có nhu cầu cấp thiết về nhân lực trong xã hội

o Giới thiệu các gương lao động sáng tạo, thành công nghề nghiệp và đời sống xãhội, qua đó điều chỉnh động cơ, hứng thú chọn nghề của SV

Như vậy, ĐHN nằm trong hướng nghiệp, ĐHN tập trung vào quá trình nhận thức vềnghề để từ đó, chủ thể có những thái độ và hành vi tích cực hướng đến nghề lựa chọn.Bên cạnh đó, ĐHN cũng là quá trình mà cá nhân chủ thể tìm hiểu về bản thân trong sựtương thích với nghề, từ đó chủ thể có sự trau dồi và rèn luyện hướng đến việc đáp ứngcác yêu cầu về nghề và sự phát triển nghề trong tương lai

Quá trình ĐHN của SV trải qua 4 giai đoạn như sau:

- GĐ1: Trước khi bước vào trường, đây là giai đoạn hình thành ĐHN trong quá

trình học tập ở phổ thông và làm quen với thế giới nghề nghiệp, xác định nghề tươnglai

Trang 33

- GĐ2: Những học kỳ đầu tiên tại trường ĐH, CĐ, là giai đoạn đào tạo nghề, hình

thành và điều chỉnh ĐHN, phát triển kỹ năng, kỹ xảo về nghề, phẩm chất cần thiết

- GĐ3: Học kỳ cuối của khóa học tại trường CĐ, ĐH, là giai đoạn SV tham gia

vào thực tập nghề, thâm nhập nhân cách vào lao động nhằm hình thành phát triển toàn diện với nghề được chọn

- GĐ4: Sau khi tốt nghiệp ĐH CĐ, là giai đoạn SV tích cực tham gia chủ động vào

hoạt động nghề nghiệp, học hỏi và lĩnh hội những gì liên quan đến nghề nhằm đạtđược sự cân bằng và gắn bó lâu dài với nghề [20]

ĐHN cũng là quá trình hình thành nhân cách nghề của chủ thể Nó được diễn ratheo các hướng cơ bản sau:

1/ Xu hướng nghề và các năng lực cần thiết của nghề được hình thành, củng cố vàphát triển;

2/ Hoạt động nhận thức, đặc biệt là quá trình nhận thức được “nghề nghiệp hóa”; kìvọng đối với nghề nghiệp được phát triển; khả năng tự giáo dục, tu dưỡng được nângcao;

3/ Tính độc lập và tâm thế sẵn sàng đối với nghề nghiệp được củng cố

Quá trình này diễn ra trong suốt quá trình học tập từ năm nhất đến năm cuối ởtrường nghề [35]

Trong quá trình ĐHN để giúp SV có sự sẵn sàng về mặt tâm lý bước vào nghề, theotác giả Phạm Tất Dong cần có sự chuẩn bị như sau:

- Xây dựng chương trình tìm hiểu nghề thông qua các phương tiện khác nhau

trong tương lai

- Xây dựng kỹ thuật nâng cao năng lực kỹ thuật thông qua việc hỏi và thực hành

kỹ thuật Cần kết hợp chặt giữa việc nâng cao lý luận và thực hành kỹ năng

- Phải có kế hoạch tự giáo dục, tu dưỡng bản thân [22]

Sự phù hợp nghề dưới góc độ tâm lý

Trang 34

Phù hợp nghề được xem là sự hài hòa, sự ăn khớp hay sự tương xứng trong cặp người

- nghề, là sự tương ứng giữa những phẩm chất đạo đức, năng lực với những yêu cầu cụthể của công việc trong nghề đối với người lao động

Theo tác giả, sự phù hợp nghề có nhiều mức độ như sau:

- Không phù hợp: không có phẩm chất và năng lực nào phù hợp với nghề chuyên

môn

- Phù hợp một phần: Nhiều phẩm chất không đáp ứng được hay những năng lực

đáp ứng cho nghề là rất ít

- Phù hợp phần lớn: Những phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của cá

nhân đáp ứng hầu hết các yêu cầu cơ bản của nghề

- Phù hợp hoàn toàn: Con người có sự hài hòa với nghề và đáp ứng được tất cả

những yêu cầu chuyên môn của nghề đặt ra

Sự phù hợp nghề sẽ là chỉ báo cho biết cá nhân ấy có phù hợp với nghề hay không.Một người được xem là phù hợp với nghề nào đó, nếu họ có những phẩm chất hay khảnăng đáp ứng cao những yêu cầu của nghề nghiệp

Sự phù hợp nghề cũng thể hiện ở các dấu hiệu sau: Tốc độ làm việc, sự chính xáccủa công việc và mức độ tổn hại bản thân bởi nghề

2.4 Khái niệm sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ La Tinh là “Studens”, nghĩa là người làmviệc, người tìm kiếm, khai thác tri thức của nhân loại Sinh viên là những người đangchuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội [16].Khái niệm này được dùng tương đương với “Student” trong tiếng Anh, “Etudiant”trong tiếng Pháp để chỉ những người theo học ở bậc Đại học, Cao đẳng được phân biệtvới HS đang theo học phổ thông

Thông thường sinh viên được hiểu là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng,trung cấp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị chocông việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt đượctrong và sau quá trình học

Trang 35

X.L.Rubinstein, ông quan niệm SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đượcđào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sảnxuất vật chất hay tinh thần cho xã hội Nhóm SV này rất cơ động được tổ chức theomột mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độnghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội, SV là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tríthức được đào tạo trở thành những lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xãhội tích cực [20].

Tóm lại: Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất hay tinh thấn cho xã hội.

2.5 Một số đặc điểm của sinh viên

Đặc điểm sinh lý

Về tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17-25 tuổi, một số ít

có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành vềgiải phẩu và sinh lý của tuổi thanh niên là đặc trưng cho lứa tuổi sinh viên [16] Tronggiai đoạn này có sự chín muồi về giới tính, các SV đều phát triển đến một trình độ về

hệ cơ xương, thần kinh, sinh dục và tuyến nội tiết Đây là thời kỳ hình thành rõ nét vềbên ngoài, chiều cao, tầm vóc cũng dần vào ổn định và hoàn thiện

Khả năng tự đánh giá bản thân: Sinh viên khao khát muốn biết họ là ai, là ngườinhư thế nào, có năng lực gì Tự đánh giá của sinh viên có 4 đặc điểm sau:

Trang 36

1/ Tự đánh giá của sinh viên có chủ kiến rõ ràng và đã có sự đối chiếu với các chuẩnchung của xã hội Sinh viên, khi đánh giá bản thân thường chủ yếu dựa vào nhận thứccủa mình.

2/ Sự phản tỉnh về các phẩm chất tâm lý của mình là một trong những đặc trưngđiển hình Phản tỉnh là sự quay vào bên trong bản thân của ý thức, làm cho các phẩmchất tâm lý của cá nhân được phản ánh rõ nét hơn

3/ Tự đánh giá của sinh viên có chiều sâu và khái quát hơn Sinh viên không chỉ ý thức

và đánh giá về cái tôi hiện thực, mà còn đánh giá cái tôi lý tưởng, cái tôi năng động

4/ Sự tự đánh giá của sinh viên được thực hiện theo hai cách Cách thứ nhất, so sánhmức độ kỳ vọng, mong muốn của mình với kết quả đạt được

Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi sinh viên là hoạt động chuẩn bị nghề nghiệp ở sinhviên thường đặt ra cho mình các câu hỏi: Mình học ngành này liệu đã hợp với mìnhhay chưa? Sẽ trở thành con người như thế nào về phương diện lựa chọn ngành nghềtương lai? Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức, trítuệ và thẫm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Trong giai đoạn này sinhviên có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang và định hướng giá trị xã hội có liênquan đến nghề nghiệp, đồng thời bắt đầu thể nghiệm mình trong các lĩnh vực hoạtđộng khác nhau Mặc dù nhân cách được hình thành và phát triển trong suốt cả đờingười, nhưng trong thời kỳ học nghề là gia đoạn hình thành mạnh mẽ nhất về xuhướng nhân cách người lao động [16] Hạn chế của SV là sự thiếu chín chắn trong suynghĩ và hành động, đặc biệt trong việc tiếp thu những cái mới Đôi khi tính nhạy cảm,

ưa thích cái mới, lạ kết hợp với sự bồng bột của tuổi trẻ sẽ làm cho SV gặp khó khăntrong việc lựa chọn và quyết định nghề cho bản thân

Như vậy, SV có những nét tâm lý điển hình là: Tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp,

có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển, có nhu cầu khát vọng thành đạt, dám đối mặt vớinhững thách thức, có nhiều ước mơ và trải nghiệm mới SV có hạn chế trong việc chọn lọc

và tiếp thu kiến thức, cái mới Những yếu tố này có ảnh hưởng đến việc chọn nghề và họctập của SV Hoạt động chủ đạo của họ là học tập để tiếp thu kiến thức chuẩn bị cho nghềnghiệp trong tương lai Trong giai đoạn này, sinh viên trực tiếp tham gia vào việc trảinghiệm các công việc cụ thể của nghề Đây cũng là giai đoạn cá nhân

Trang 37

tiếp tục tích lũy kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các yếu tố tâm lý phù hợp với công việccủa nghề trong tương lai Vì vậy, tiếp tục hướng nghiệp cho sinh viên là điều rất cầnthiết để tạo sự ổn định tâm lý và tâm thế tích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồngmáy sản xuất của xã hội.

Chung quy lại, đặc điểm của lứa tuổi này rất phong phú và phức tạp SV năm 4chuyên ngành Tâm lý học tích cực tham gia thực tập nghề nghiệp, thâm nhập nhâncách vào lao động nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp vớingành nghề thuộc chuyên ngành Tâm lý học

2.6 Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

Lựa chọn nghề là công việc quan trọng và hết sức ý nghĩa đối với mỗi sinh viên.Quyết định chọn nghề hay ĐHN phải là sản phẩm của quá trình tư duy của cá nhân vàkết hợp với nhiều yếu tố khác

Sinh viên năm 4 là những sinh viên đang ở trong giai đoạn 3 và chuẩn bị cho giaiđoạn 4, họ chuẩn bị kết thúc học kỳ cuối tại các trường, họ tham gia vào thực tập nghề,thâm nhập nhân cách vào lao động nhằm hình thành và phát triển toàn diện với nghềđược chọn Như vậy, theo tác giả, quá trình ĐHN của cá nhân tập trung chủ yếu vàogiai đoạn 2 và 3 Với nhà trường việc hướng dẫn cho SV của mình định hướng nghềtương lai là nhiệm vụ quan trọng Chính định hướng này sẽ là động cơ thúc đẩy từng

SV tích cực học tập các môn liên quan với nghề đã chọn Vì vậy, phải khuyến khích,động viên SV nói lên dự định nghề tương lai của mình

Sinh viên năm 4 trực tiếp tham gia vào việc học nghề và trải nghiệm các công việc

cụ thể của từng nghề Đây là giai đoạn cá nhân vừa tích lũy kiến thức, hình thành kỹnăng, và các yếu tố tâm lý phù hợp với các công việc của nghề trong tương lai vừatham gia thực tập nghề nghiệp Mặc dù đang học và thực tập nghề nhưng trong giaiđoạn này tâm lý nghề của cá nhân thường không ổn định, hay dao động Vì vậy, tiếptục hướng nghiệp cho sinh viên là điều cần thiết để tạo ra sự ổn định tâm lý và tâm thếtích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội

Trang 38

Năm 4 cũng là lúc mà SV phải trang bị đầy đủ để chuẩn bị ra trường bước vào ngànhnghề chính thức Sự chuẩn bị này nhằm tạo ra một tâm trạng, một sự định hướng, một tâmthế đối với công việc sắp làm Trạng thái tâm lý ấy được gọi là sự sẵn sàng về mặt tâm lý

đi vào lao động nghề nghiệp Trạng thái ấy thường thể hiện ở các mặt sau đây:

của nghề mà mình yêu thích, mình định chọn Nắm được những tri thức cần thiết để theo chọn nghề đó

- Có hứng thú học tập những môn học liên quan mật thiết với nghề tương lai

- Có một số kỹ năng, kỹ xảo lao động chân tay và lao động trí óc đối với việc sửdụng những công cụ lao động phổ biến nhất trong nghề mình chọn

- Có một số phẩm chất nhân cách cần thiết cho công việc lao động nghề nghiệp: Những phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật

2.6.1 Nội dung định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học

ĐHN của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học được biểu hiện ở nhiều mặt gồm: Nhận thức, Thái độ và Hành vi của cá nhân đối với bản thân và đối với nghề thông qua

dự định ban đầu về nghề, cũng như định hướng về việc duy trì, phát triển nghề tương lai thuộc chuyên ngành Tâm lý học Có thể trình bày một cách khái quát như sau:

1/ Nhận thức của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học về bản thân và nghề

Nhận thức về bản thân

Nhận thức về những phẩm chất và năng lực hiện có của bản thân

Sinh viên nhận thức về những điều kiện chủ quan của bản thân vốn có Dựa trên cácyếu tố về cấu trúc nhân cách như sở thích, hứng thú, nhu cầu, tính cách, khí chất, nănglực và một số yếu tố khác như ngoại hình, sức khỏe tâm lý

Nhận thức về nghề

Trang 39

Nhận thức đúng về nghề làm cơ sở cho tình cảm, ý chí nảy sinh từ đó có quan điểm,lập trường tư tưởng và hành động đúng đắn trong quá trình định hướng nghề Nghề làmột lĩnh vực khách quan, muốn chiếm lĩnh nó trước hết phải hiểu biết về nó Nhậnthức về nghề là quá trình cá nhân tìm tòi, khám phá những tri thức, kỹ năng, kỹ xảotrong nghề Vì vậy, để ĐHN được tốt SV phải có nhận thức đúng và đủ về ngành nghề

mà mình chọn

Trong nghiên cứu này tác giả quan niệm, nhận thức về nghề là quá trình cá nhân tìmtòi phát hiện và phản ánh những đặc trưng cơ bản của nghề, những yêu cầu của xã hộiđối với nghề nghiệp, những yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người hành nghề.Sinh viên có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về thuận lợi và khó khăn, tầm quan trọng,nội dung và tính chất của nghề

Nhận thức về nghề bao gồm:

- Mục đích, ý nghĩa của nghề, đối tượng nghề hướng đến, công cụ và phương tiện

sử dụng, sản phẩm của nghề, thời gian và không gian thực hiện, yêu cầu của nghề vàcác lĩnh vực ứng dụng khác…

- Nhận thức về mức độ tương hợp hay sự phù hợp nghề giữa phẩm chất và nănglực bản thân có với những phẩm chất và năng lực cần thiết trong nghề

- Nhận thức về sự đáp ứng nhu cầu của xã hội: Vị thế của nghề trong xã hội hiện nay, sự phân công lao động và mức độ cần thiết của nghề đối với xã hội

2/ Thái độ của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học về ĐHN

Thái độ là một bộ phận cấu thành một thuộc tính toàn vẹn của ý thức tạo ra trạngthái tâm lý sẵn sàng phản ứng lại các tác động khách quan sẵn sàng hành động với đốitượng theo một hướng nhất định Được biểu hiện ra ở quá trình nhận thức, từ việc nhậnthức được đối tượng ngành nghề mà mình chọn, SV có thái độ tích cực, phù hợp vớingành nghề ấy

Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu về thái độ tức là nghiên cứu về xúc cảm –tình cảm.Thông qua nghiên cứu sự yêu mến, hài lòng, dễ chịu, đồng cảm, mừng rỡ hoặc khó chịu,uất ức, đối với những khía cạnh có liên quan đến quá trình ĐHN, tức là có tình cảm haykhông có tình cảm đối với đối tượng nghề tương lai và ở sự rung động quan tâm, chú ýđến các đối tượng nghề như thế nào Thái độ biểu hiện ở việc thể hiện về mặt

Trang 40

cảm xúc thích hay không thích, yêu hay ghét, thái độ tích cực là mức độ ảnh hưởngcủa thái độ với tính tích cực của cá nhân và biểu hiện của nó trong tính tích cực này.Mức độ tích cực của thái độ được xem xét, thông qua các phản ứng cảm xúc đơn giảnhoặc trong các hành vi tích cực cụ thể hướng vào sự thay đổi môi trường xung quanh.

3/ Hành vi của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học trong quá trình ĐHN

Trên cơ sở sự hiểu biết đã được hình thành, sinh viên có được những thái độ tíchcực đối với hoạt động ĐHN để sẵn sàng tham gia hoạt động nghề sau khi ra trườngmột cách nghiêm túc SV cũng phải thể hiện tính tích cực, tự giác vượt qua những khókhăn nhất định trong quá trình hình thành thái độ cần thiết với hoạt động Như vậy, khi

SV ý thức được đầy đủ khó khăn, tầm quan trọng ý nghĩa của hoạt động ĐHN, từ đó

có thái độ đúng đắn, tự giác tham gia các hoạt động đồng thời thực hiện các hành vitương ứng trong quá trình ĐHN

Trong đề tài này hành vi ĐHN của sinh viên được thể hiện thông qua quá trình cânnhắc kỹ càng, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức và năng lực cần thiết đáp ứngcho việc định hướng nghề tương lai cho bản thân

Hành vi chọn nghề của sinh viên cũng phải dựa trên sự xem xét, phân tích thật cẩnthận và chu đáo Thể hiện qua việc ham học hỏi thêm kiến thức cho bản thân, thườngxuyện tự kiểm điểm và tự đánh giá, tự tu dưỡng, giáo dục lại bản thân để xem mìnhtiến bộ được bao nhiêu, từ đó ra kế hoạch cho việc tự tu dưỡng, rèn luyện kế tiếp đểđáp ứng cho những yêu cầu mà nghề tương lai đặt ra

2.6.2 Tiêu chí đánh giá ĐHN của sinh viên năm 4 chuyên ngành TLH

Trong đề tài này, để xây dựng tiêu chí đánh giá ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lýhọc, người nghiên cứu dựa trên các cơ sở:

o Phác họa họa đồ nghề tâm lý (Phụ lục 2) [27]

o Chương trình đào tạo (Phụ lục 3, 4,5)

Từ đó, người nghiên cứu xây dựng lên các tiêu chí đánh giá ĐHN của SV năm 4chuyên ngành Tâm lý học tại Tp HCM như sau:

Ngày đăng: 02/12/2020, 07:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w