1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM lượt lý THUYẾT về mối QUAN hệ GIỮA nợ CÔNG và sự TĂNG TRƯỞNG KINH tế

22 695 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang, Phạm Thị Kim Hòa, Cao Thị Tuyết Nhung, Võ Hồng Sơn, Nguyễn Hà Vinh
Người hướng dẫn GVHD: Trương Minh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 473 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI

QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ SỰ

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

GVHD : Trương Minh Tuấn LỚP : VB2K15KT02

Tp Hồ Chí Minh - 11/2012

Trang 3

Nợ Chính phủ: là khoản nợ được kí kết phát hành nhân danh nhà

nước hoặc chính phủ, các khoản nợ do Bộ tài chính kí kết, phát hànhhoặc uỷ quyền phát hành, không bao gồm các khoản nợ do ngânhàng nhà nước Việt Nam phát hành nhẳm thực hiện mục tiêu chínhsách tiền tệ trong từng thời kì

Nợ chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài

chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do UBND tỉnh-tp trực

thuộc TW kí kết hoặc uỷ quyền phát hành

Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ(trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh

tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công Việc đivay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợchính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hìnhdung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng baonhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

b) Theo Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) thì nợ công:

Theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm: các nghĩa vụ nợ

của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung

Trang 4

ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nướcquyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ

nợ nhà nước phải trả nợ thay)

Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương,

các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chínhphủ bảo lãnh thanh toán

Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khi chi tiêu củaChính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được thì Chính phủ phải đi vay tronghoặc ngoài nước với các phương thức khác nhau để trang trải cho các khoảnthâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn,Chính phủ sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp hoặc đi vay thêm một khoản khác

để trả các khoản nợ đáo hạn này Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện việc đầu tưcủa mình để có thể bù đắp lại phần nào các khoản thâm hụt ngân sách, thông quacác doanh nghiệp quốc doanh

2 NỢ CÔNG TRÊN GDP ? CON SỐ BIẾT NÓI ?

Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản

nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Vậy nợ công chưa đụng trần thì chưa cần lo ?

Chưa hẳn, vì tuy các con số về tỷ lệ nợ công trên GDP dù khác nhau nhưngvẫn chỉ là một chỉ số về quy mô của nợ công chứ không phải là một thước đo tốt

về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Bởi vì, nợ công khoảng 100% GDP

đủ để Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi nợ công lên tới 200% GDPcủa Nhật Bản vẫn được coi là an toàn Nếu dùng con số 50% GDP để coi là mứctrần ở nước này thì ở nước khác người ta có thể sử dụng con số 80% Như vậy,mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợtrên GDP, mà quan trọng hơn là vào một số chỉ số khác như xu hướng của tỷ lệnày, hiệu quả sử dụng nợ, hay rộng hơn là tình trạng sức khỏe của nền kinh tế

Trang 5

3 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM

Theo Luật Quản lý nợ công thì nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và vay nợ của chính quyền địa phương. Trong 10năm qua, tỷ lệ nợ công của Việt Nam so với GDP ngày càng có xu hướng gia tăng Tổng số dư nợ công tính đến năm 2011 bằng 54,6% GDP Trong cơ cấu

nợ công thì nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chínhphủ bảo lãnh Quy mô nợ của chính quyền địa phương chiếm tỷ trọng tương đốithấp, dưới 1% GDP Như vậy, các hệ số an toàn của nợ công Việt Nam tuy vẫncòn trong giới hạn nhưng đã tiệm cận ở mức cao

Nợ của Chính phủ Việt Nam đang chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng mởrộng đáng kể trong những năm gần đây Năm 2011, dư nợ Chính phủ bằngkhoảng 43,6% GDP, giảm so với con số 45,7% của năm 2010 nhưng chủ yếu là

do GDP danh nghĩa của năm 2011 tăng cao so với năm 2010 nên các hệ số nợkhi so với GDP danh nghĩa năm 2011 có xu hướng giảm nhẹ Mặc dù vẫn tronggiới hạn cho phép và tỷ trọng của dư nợ chính phủ so với tổng mức nợ công có

xu hướng giảm dần, nhưng tỷ trọng của nợ chính phủ so với GDP lại có xuhướng tăng trong suốt thập niên 2000

Trong dư nợ nước ngoài của Chính phủ, khoản vay ODA là lớn nhất Tuynhiên, cần hiểu rằng khi Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trungbình thì các điều kiện cho vay sẽ trở nên kém ưu đãi hơn và chi phí trả lãi vayhằng năm sẽ ngày càng tăng

Việc duy trì chi đầu tư từ ngân sách nhà nước ở mức cao trong giai đoạnvừa qua đã làm gia tăng bội chi ngân sách Bội chi ngân sách ở Việt Nam tăng ởmức trung bình 4,0% GDP giai đoạn 1996 - 2000 lên 4,9% giai đoạn 2001 -

2005 và 5,5% giai đoạn 2006 - 2011 Năm 2011, bội chi đã giảm xuống mứcthấp nhất trong 3 năm qua là nhờ kết quả của việc thực hiện Nghị quyết 11 vềnhững giải pháp chủ yếu ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 6

Bội chi ngân sách kéo theo hệ quả trực tiếp là dư nợ công tăng và làm tăngchi phí vay nợ của Chính phủ Thêm vào đó, nguồn trái phiếu chính phủ huyđộng để đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng và dự án phát triển cũng đãgóp phần làm tăng nợ công Do nằm ngoài dự toán, nên số nợ chính phủ thực tếgia tăng trong thời gian qua luôn lớn hơn số cần có để bù đắp cho thâm hụt ngânsách Đây cũng là lý do về việc số bội chi ngân sách của Việt Nam khác so vớitính toán của các tổ chức tài chính quốc tế.

Nợ của Chính phủ bảo lãnh cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trongviệc thực hiện các dự án phát triển (đầu tư công) chiếm một tỷ trọng khá lớntrong tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vừa qua và có xu hướngtăng lên, từ 4% tổng dư nợ công năm 2001 lên 10% năm 2005 và đến nay là18,6% năm, tương đương 11,6% GDP

Nợ chính quyền địa phương chủ yếu là vay nợ để đầu tư xây dựng cơ bảntheo Luật Ngân sách nhà nước 2002 Mức dư nợ phát hành trái phiếu của chínhquyền địa phương hiện nay vẫn ở mức thấp, hiện khoảng 0,6% GDP Mức dư nợcủa chính quyền địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật Ngânsách nhà nước, không quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản trong nước củacác địa phương

Như vậy, nhìn chung nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh trong bốicảnh thâm hụt ngân sách Về nguyên tắc, nợ công của ngày hôm nay phải đượctrả bằng thặng dư ngân sách của ngày mai Do đó, dường như Việt Nam đang viphạm nguyên tắc quản lý nợ công bền vững

Trang 7

II ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào

sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy

cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó.

1. Quan điểm :

Theo quan điểm của Folorunso S Ayadi và Felix O Ayadi (2008)

+ Nợ là một trong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ mộtnền kinh tế nào, đặc biệt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc ChâuPhi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ khôngthỏa đáng, do đó, luôn gặp phải vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếunguồn vốn đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹthuật, rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là tiết kiệm cũng thấp và tiếp tục quaylại với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn V́ vậy, lúc này, những kiến thức thuộc vềchuyên môn, bộ máy quản lư tài chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính từ nhữngnước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lực là điều trở nên rất cầnthiết

+ Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu đến cấu trúcvốn của những quốc gia đang phát triển Trong hầu hết các trường hợp, nợ dồntích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, do đó, nợ dầntrở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đấtnước đang phát triển trong dài hạn Phát triển những ý tưởng trên:

Theo Elmendorf và Mankiw (1999), nợ công có ảnh hưởng quan trọngđến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâmhụt) có thể kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung

Trang 8

cấp cho nền kinh tế tăng cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân

và tổ chức trong nền kinh tế, nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượngtrong dài hạn Nợ công cao có thể ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăngtrưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tươnglai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn về các triển vọng và chínhsách

Trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế bởicung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của quốcgia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiệntrong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăngtrưởng kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp vàhữu hiệu

Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.

Theo M Reinhart và S Rogoff , hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên

cứu lĩnh vực nợ công, đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh

tế với các mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mớinổi, dựa trên chuỗi số liệu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kếtquả tác động phi tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu gầnđây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quanđơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ tăng trưởng GDP thực

Trang 9

dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển4 trải dài khoảng hai thế kỷ (1790 –2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường mới nổi 5 giai đoạn 1946-2009 nhậnthấy rằng: (i) mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ

số nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăngtrưởng giảm đáng kể

Reinhart và Rogoff (2010) đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan

hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP và các mức nợ khác nhau của 20 nước phát triểntrong khoảng thời gian 1946-2009 Nhóm này gồm Úc, Áo, Bỉ, Canada, ĐanMạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, NewZealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh và Mỹ Quan sáthàng năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ trên GDP trong suốt phạm

vi quan sát, cụ thể như: những năm khi nợ/GDP dưới 30% (nợ thấp), những năm

mà Nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60-90% (nợ cao), và trên90% (rất cao) Có tổng cộng 1180 quan sát với 443 quan sát cho Nợ công/GDPdưới 30%, 442 cho Nợ công/GDP từ 30-60%, 199 cho Nợ công/GDP từ 60-90%, và 96 cho Nợ công/GDP trên 90% (những quan sát này thuộc về Bỉ, HyLạp, Ý và Nhật Bản)

Trang 10

Các cột trên hình cho thấy tăng trưởng GDP trung bình và trung vị chomỗi trong 4 nhóm kể trên Từ hình này, chúng ta thấy rằng không có sự kết nối

rõ ràng nào giữa nợ và tăng trưởng cho đến khi nợ công chạm đến ngưỡng 90%.Những quan sát Nợ/GDP trên 90% có tăng trưởng trung vị thấp hơn gần 1% sovới nhóm nợ cao, đạt mức dưới 4,5% và mức tăng trưởng bình quân thấp hơngần 4% so với nhóm nợ cao, đạt giá trị âm Như vậy, đối với nhóm quốc giaphát triển, ngưỡng nợ 90% GDP đã hạn chế tăng trưởng kinh tế trung bình củacác nước Vậy thì đối với nhóm nước đang phát triển, liệu ngưỡng nợ này có chiphối tăng trưởng kinh tế các nước này không, hay một tỷ lệ nợ nào khác

Trang 11

Chúng tôi xem xét tỷ lệ nợ của 24 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn1946-2009 và phân loại nhóm nợ như khi ta tiến hành đối với những nền kinh tếphát triển 24 nước trong mẫu là Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc,Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Nigeria,Peru, Philippines, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, and Venezuela.

Có tổng số 1142 quan sát hàng năm, cụ thể là: 502 quan sát cho Nợ/GDP dưới30%, 385 cho Nợ/GDP từ 30-60%, 145 cho Nợ/GDP từ 60-90%, và 110 choNợ/GDP trên 90%.12 Đáng ngạc nhiên là mối quan hệ giữa nợ công và tăngtrưởng thì tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị trường mới nổi lẫnnhững nền kinh tế phát triển Trong giai đoạn 1946-2009, tốc độ tăng trưởngtrung vị và bình quân xấp xỉ khoảng 4-4,5% cho tất cả những mức độ nợ khoảng90% GDP Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP trung vị giảm mạnh còn 2,9%đối với tỉ lệ nợ trên 90%, sự sụt giảm này còn lớn hơn khi xét đến tốc độ tăngtrưởng bình quân, giảm chỉ còn 1% Như vậy, đối với những nước mới nổi, tỷ lệ

nợ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhiều nhất cũng được tìm thấy là mức90% GDP

Do đó, có thể nói, mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung đến tăngtrưởng kinh tế của tất cả các nhóm nước

• Nợ công, tính trung bình, là có hại cho tăng trưởng kinh tế đối với mẫu đã thuthập, sự thay đổi hàng năm trong tỷ lệ nợ công/GDP có quan hệ nghịch biến vớităng trưởng bình quân đầu người

• Và sự tác động này liên quan đến một điểm ngoặt hay còn gọi là ngưỡng nợ ởmức xấp xỉ 90-100% GDP tính trung bình cho cả mẫu

Như vậy, chúng ta đều biết mức nợ kìm hãm tăng trưởng kinh tế cho hầu hết cácnước trên thế giới đều ở ngưỡng 90 – 100% GDP Vậy khi đặt ngưỡng nợ trong

Trang 12

vấn đề quản lý nợ công thì liệu các quốc gia sẽ quản lý nợ dựa trên ngưỡng nợnày để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tối ưu? Phương pháp quản lý nợ này

là tốt nhất cho các quốc gia

Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đưa lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989) đã xem xét tácđộng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tốđóng vai trò quan trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở nhữngnền kinh tế đang phát triển Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giảthuyết "số dư nợ quá mức" – một tình huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợcủa một quốc gia là quá nặng đến nỗi một phần sản lượng lớn phải tích lũy chocác chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên sự không khuyến khích đầu tư Cũng

theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et al (2003) 6, gánh nặng nợ nướcngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh

tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng

và phát triển kinh tế Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và càng cao, những engại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia khác tiến hànhthẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều khoảnkhắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc.Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư pháttriển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynhhướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Các cột trên hình cho thấy tăng trưởng GDP trung bình và trung vị cho mỗi trong 4 nhóm kể trên - TÓM lượt lý THUYẾT về mối QUAN hệ GIỮA nợ CÔNG và sự TĂNG TRƯỞNG KINH tế
c cột trên hình cho thấy tăng trưởng GDP trung bình và trung vị cho mỗi trong 4 nhóm kể trên (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w