1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng môn Bảo hiểm – Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại

32 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng môn Bảo hiểm – Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại với các nội dung nguồn gốc của bảo hiểm thương mại; khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại; các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm thương mại; các loại bảo hiểm thương mại; giới thiệu về ngành kinh doanh bảo hiểm.

Trang 1

BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

Hướng dẫn học

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu: Giáo trình Bảo hiểm, PGS TS Nguyễn Văn Định chủ biên, NXB Đại học KTQD

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Trang Web môn học

Nội dung

Bài 1 trình bày các vấn đề có tính nguyên lý về bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương mại nói riêng Đây là bài dẫn nhập, trình bày các khái niệm và nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong bảo hiểm thương mại để hỗ trợ cho nghiên cứu, tìm hiểu các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại cụ thể ở bài tiếp theo Trong bài sẽ tập trung vào:

 Nguồn gốc của bảo hiểm thương mại;

 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại;

 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm thương mại;

 Các loại bảo hiểm thương mại;

 Giới thiệu về ngành kinh doanh bảo hiểm

Mục tiêu

Sau khi học xong bài này, sinh viên cần:

 Hiểu được khái niệm về rủi ro và các loại rủi ro;

 Nắm vững các biện pháp xử lý rủi ro của các cá nhân và tổ chức trong xã hội;

 Hiểu được khái niệm và bản chất của bảo hiểm, bảo hiểm thương mại;

 Hiểu và biết vận dụng các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thương mại;

 Nắm vững cách phân loại bảo hiểm thương mại theo các tiêu thức khác nhau;

 Hiểu rõ các đặc điểm cơ bản trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, vàbảo hiểm con người;

 Hiểu biết về ngành kinh doanh bảo hiểm từ góc độ thị trường bảo hiểm và các thành tốtrong thị trường bảo hiểm như DNBH, sản phẩm bảo hiểm, khách hàng bảo hiểm;

 Hiểu được các vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Bảo hiểm tình yêu?

vụ bảo hiểm tình yêu của Công ty Marketting Mặt trời Việt – Sunvico:

Một số cựu sinh viên thế hệ 8X của Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra một ý tưởng táo bạo là cung cấp "Dịch vụ bảo hiểm tình yêu":

 Không giống như các loại hình dịch vụ bảo hiểm rủi ro khác, "bảo hiểm tình yêu" không phải

là dịch vụ bồi thường cho các thành viên tham gia mà chỉ là nơi tiếp nhận tình cảm và nâng

 Để tham gia dịch vụ bảo hiểm tình yêu, điều kiện đầu tiên là phải có người yêu Phí cho dịch

vụ này vào khoảng 600.000 đồng đến 3 triệu đồng, tùy theo mức độ chắc chắn của tình cảm Người tham gia phải cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản như tên, tuổi, ảnh (riêng và chung của hai người), địa chỉ, email, điện thoại Ba gói dịch vụ tương ứng với giá trị và độ bền chắc của tình yêu là 600.000 đồng, 1,2 triệu đồng và 3 triệu đồng Mức phí chỉ đóng một lần

và duy nhất vào thời điểm ký hợp đồng

 Trong một năm sẽ có một buổi để các đôi nhìn nhận, đánh giá lại tình cảm của mình Các đôi yêu nhau sẽ được:

 Chăm sóc vào những ngày đặc biệt trong năm bằng thiệp mừng, hoa hồng Áo đôi cho ngày sinh nhật, chocolate và hoa hồng cho ngày Valentine;

 Tham gia các bữa tiệc kỷ niệm ngày tình yêu;

 Một chuyến du lịch hàng năm (trong nước hoặc nước ngoài) tương ứng với giá trị gói hợp đồng

Các dịch vụ chăm sóc này chỉ được dừng lại khi hai người yêu nhau tay trong tay đến nhận quà tại công ty vào những ngày đặc biệt hoặc đã cưới nhau

Đã có trên 50 cặp tình nhân đăng ký sử dụng dịch vụ bảo hiểm tình yêu của Sunvico với đủ mọi lứa tuổi từ học sinh, sinh viên đến những người ra trường đi làm ở độ tuổi 25 – 28

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin–tuc/doanh–nghiep/ dich–vu–bao–hiem–tinh–yeu–2697386.html 28/3/2009

Liệu Sunvico có thể kinh doanh bảo hiểm tình yêu như trên hay không? Tại sao?

Trang 3

1.1 Nguồn gốc của bảo hiểm thương mại

1.1.1 Rủi ro và biện pháp xử lý rủi ro

1.1.1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro

Khái niệm rủi ro

Môi trường hoạt động và tồn tại của chúng ta luôn ẩn

chứa các biến cố, các sự kiện nằm ngoài dự kiến Có

những sự kiện ngoài dự kiến mang lại những tốt đẹp,

thuận lợi cho cuộc sống con người Tuy nhiên, có

không ít biến cố mà không ai mong muốn vì kết cục

đi kèm là các thiệt hại hay thương tổn mà con người

phải gánh chịu Hiểu theo cách thông thường, các

biến cố không mong đợi đó được gọi là rủi ro Dù mức độ thiệt hại gánh chịu nặng hay nhẹ, nhưng nhìn chung rủi ro thường khiến cho chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn so với khi không có rủi ro

Khi nghiên cứu về rủi ro, trong từng hoàn cảnh, từ các góc độ khác nhau, rủi ro có thể

 Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất;

 Rủi ro là một giá trị dự tính về một kết cục;

 Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ; hay

 Rủi ro là sự biến động xảy ra quanh một giá trị đã dự tính

Có thể thấy có 2 quan điểm Quan điểm thứ nhất coi rủi ro là sự kiện bất lợi, gắn với việc có tổn thất Quan điểm thứ hai hiểu rủi ro rộng hơn một chút, coi rủi ro sự chệch

ra khỏi kết quả dự kiến nào đó Nếu hiểu rủi ro theo quan điểm thứ hai này thì “rủi ro” không chỉ là mang lại kết cục bất lợi mà “giá trị thực tế chệch ra khỏi giá trị dự kiến

(hay kỳ vọng)” cũng có thể là tích cực Theo các nhà bảo hiểm, rủi ro là sự cố không

may bất ngờ xảy ra gây thiệt hại về người hoặc tài sản

Đặc điểm liên hệ rõ ràng nhất giữa các định nghĩa về rủi ro mà chúng ta vừa nhắc tới

là sự không chắc chắn, hay còn gọi là tính bất định, của một biến cố nào đó

 Không chắc chắn về khả năng xảy ra rủi ro Khả năng xảy ra một rủi ro nào đó

được đo lường qua xác suất của nó Khả năng một ngôi nhà nằm cạnh một xưởng hóa chất bị cháy sẽ là một xác suất nào đó nằm từ 0 đến 1, tức là nằm trong dải từ

“không cháy” đến “cháy”

 Không chắc chắn về thời điểm xảy ra rủi ro Chẳng hạn, không thể chắc chắn được

chiếc ô tô để trong một khu sân vào ban đêm không có người trông coi có bị mất hay không và vào lúc nào

 Không chắc chắn về mức độ của rủi ro Mức độ rủi ro là sự kết hợp của tần suất

và tính khốc liệt của rủi ro Sự kết hợp này được có thể biểu diễn như các đường cong trong Hình 1.1 Mỗi một điểm trên đường kết hợp giữa tần suất và tính khốc liệt của rủi ro thể hiện một kết cục có thể xảy ra của một biến cố Rủi ro có thể xảy

ra với tần suất không đáng kể và mức độ thiệt hại không đáng kể (như ở những điểm đầu của các đường kết hợp) Có những rủi ro xảy ra với tần suất thấp nhưng

Trang 4

mức độ nghiêm trọng của tổn thất thì rất lớn và ngược lại, có những rủi ro có tần suất cao nhưng mức độ nghiêm trọng lại không lớn

Hình 1.1: Sự kết hợp giữa tần suất và tính khốc liệt của rủi ro

Phân biệt rủi ro, nguy cơ, hiểm họa để làm rõ khái niệm rủi ro:

 Rủi ro là từ chung để chỉ một biến cố gây ra tổn thất Ví dụ, một ngôi nhà nằm

cạnh một xưởng hóa chất bị cháy và gây tổn thất cho chủ ngôi nhà

 Hiểm họa (peril) là nguyên nhân chính gây tổn thất Ở đây, “cháy” được coi là

hiểm họa

 Nguy cơ (hazard) là (tập hợp) nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất hậu quả Bản thân

nguy cơ không phải là nguyên nhân gây tổn thất nhưng có thể làm tăng hoặc giảm khả năng tổn thất khi hiểm họa xảy ra Việc “nằm cạnh xưởng hóa chất” là một nguy cơ gây ra rủi ro cháy xưởng hóa chất Nguy cơ thường có nguy cơ vật chất và nguy cơ đạo đức Chẳng hạn, nguy cơ đối với một tổn thất do cháy nhà có thể liên quan đến kết cấu ngôi nhà (nguy cơ vật chất), nhưng cũng có thể là nguy cơ liên quan đến ý thức trách nhiệm của chủ nhà trong việc lắp hệ thống phun nước tự động phòng chống cháy (nguy cơ đạo đức)

Phân loại rủi ro

 Căn cứ vào vào khả năng kiếm lời trong kết cục của rủi ro: rủi ro thuần và rủi ro

đầu cơ 1

dụ một người nào đó có thể bị tàn tật, và vì thế người đó có thể phải bỏ ra các khoản chi phí y tế phát sinh và chịu các tổn thất về thu nhập do không thể làm việc được nữa Ngược lại, nếu không bị tàn tật thì sẽ không bị tổn thất do rủi ro

đó gây ra

thay đổi Ví dụ: rủi ro từ việc mua cổ phiếu là rủi ro đầu cơ Ở đây, rủi ro đầu

cơ vì người mua cổ phiếu có thể lời, lỗ hoặc không bị mất tiền nhưng cũng chẳng kiếm được khoản lời nào từ việc mua cổ phiếu đó

1

Một số tài liệu dịch sang tiếng Việt sử dụng thuật ngữ rủi ro suy đoán thay cho thuật ngữ rủi ro đầu cơ

Trang 5

 Căn cứ vào việc đo lường hậu quả của rủi ro: rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính

thành tiền

thước đo tài chính mà theo các tiêu chí liên quan đến tâm sinh lý con người Chẳng hạn, việc vào ăn một nhà hàng mới khai trương được coi là tình huống

có yếu tố rủi ro Và rủi ro ở đây là cảm giác bực bội khó chịu về phong cách phục vụ của một nhà hàng mới chưa chuyên nghiệp mà nhẽ ra có được nếu trước đó đi vào một nhà hàng ngon quen thuộc

 Căn cứ vào cả nguyên nhân và hậu quả của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của con người và gây ảnh hưởng đến số đông người Nhìn chung, nguyên nhân dẫn đến các rủi ro cơ bản thường do thiên nhiên

Ví dụ như, động đất, hạn hán, bão lụt,…Một

số loại rủi ro cơ bản do các biến động trong môi trường kinh tế – chính trị – xã hội Ví dụ như thất nghiệp,…

hay một tổ chức Trong một cộng đồng hẹp, rủi ro riêng biệt có thể xảy ra đối với người này mà không xảy ra với người kia Các rủi ro như tai nạn giao thông hay tai nạn lao động là những ví dụ điển hình về rủi ro riêng biệt

1.1.1.2 Các biện pháp xử lý rủi ro

Rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào Cuộc sống con người luôn đối mặt với các biến cố bất ngờ gây tổn thất khôn lường và nhiều mặt Các tổn thất có thể là những mất mát, thiệt hại về tài chính như nhà cửa bị phá hủy; tài sản bị mất; phải bỏ ra một khoản tiền ngoài dự tính để trang trải cho các chi phí y tế do ốm đau, tai nạn; hoặc đơn giản là một khoản tiền buộc phải bỏ ra để đền bù tổn thất của người khác do lỗi của mình gây nên Các tổn thất có lúc không thể đong đếm được bằng tiền nhưng gây ra rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Đó là các tổn thất về tinh thần, tổn thất về mặt xã hội như sự chia lìa tình cảm gia đình, đôi lứa; những mất mát

về niềm tin;… Bởi vậy, tìm ra các biện pháp để đối phó với rủi ro, hay bao trùm hơn

là để xử lý các rủi ro luôn được đặt ra trong bất kỳ xã hội nào Đối với các doanh nghiệp, trong một nền kinh tế thị trường và có tính toàn cầu, nhận thức và xác định các biện pháp quản lý rủi ro thích hợp là yếu tố then chốt để quản lý vốn một cách có hiệu quả và đạt được thành công

Từ góc độ quản trị rủi ro, có thể phân loại các biện pháp xử lý rủi ro theo một số tiêu thức khác nhau Dựa vào mục đích, các biện pháp xử lý rủi ro có thể xếp thành nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm biện pháp tài trợ rủi ro Nếu nhóm thứ nhất tập

trung vào kết quả xử lý rủi ro là ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tổn

thất (như tránh né rủi ro, đề phòng hạn chế rủi ro) thì nhóm thứ hai chủ yếu thực hiện

để giải quyết, khắc phục hậu quả của rủi ro, nhất là các hậu quả tính được thành tiền

Trang 6

(ví dụ như như chấp nhận rủi ro và bảo hiểm) Tuy nhiên, cách phân loại này cũng có tính tương đối Vì thực tế, trong biện pháp bảo hiểm, các biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro tổn thất luôn được thực hiện lồng ghép để biện pháp bảo hiểm có hiệu quả hơn Một cách phân loại khác là dựa vào phương thức thực hiện biện pháp xử lý rủi ro, theo

đó có các biện pháp không thực hiện chuyển giao rủi ro, ví dụ như tiết kiệm, né tránh rủi ro, đề phòng hạn chế tổn thất; và có các biện pháp thực hiện qua cơ chế chuyển giao rủi ro như bảo hiểm, …

Tránh né rủi ro

Là biện pháp nhằm loại trừ các cơ hội có thể dẫn đến

tổn thất, không tham gia vào các hoạt động có thể gây

ra tổn thất Chẳng hạn, để tránh dịch bệnh đậu mùa, rất

nhiều người lựa chọn bỏ quê hương bản quán để đến

vùng khác, tránh dịch bệnh có thể lây sang mình

Tuy nhiên, rủi ro xảy ra nhiều khi không do hoạt động

của chính bản thân con người mà do tác động ngẫu

nhiên bên ngoài, và trong cuộc sống không phải bao

giờ cũng né tránh được rủi ro Hơn thế nữa, nhiều hoạt

động trong đời sống có rủi ro nhưng cũng gắn liền với

các lợi ích Do đó, né tránh rủi ro bằng cách không

tham gia vào hoạt động đó không phải là lựa chọn

mong muốn

Đề phòng hạn chế tổn thất

Đề phòng hạn chế tổn thất là sự kết hợp hai hoạt động gồm là phòng ngừa rủi ro và giảm thiểu tổn thất

 Phòng ngừa rủi ro là biện pháp đưa ra các hành động nhằm làm giảm tần suất

xảy ra rủi ro gây tổn thất hoặc trong chừng mực có thể, nhằm triệt tiêu khả năng xảy ra rủi ro Ví dụ như trang bị và diễn tập phòng cháy chữa cháy, tập dượt cứu

hộ, dựng các biển báo nguy hiểm, tổ chức các khoá học về an toàn lao động, tuyên truyền an toàn giao thông,

 Giảm thiểu tổn thất là biện pháp kiểm soát tổn thất bằng cách làm giảm/hạn chế

giá trị thiệt hại nếu rủi ro xảy ra, nói cách khác là nhằm giảm mức độ thiệt hại có

thể phải gánh chịu (tính khốc liệt) Chẳng hạn, các biện pháp cứu các tài sản còn

có giá trị khi có hoả hoạn xảy ra; đưa ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu

và điều trị; lắp thêm các túi khí trong ô tô;

Nếu xem xét đến khía cạnh thời gian thì một biện pháp kiểm soát tổn thất có thể là hoạt động được thực hiện trước khi có tổn thất xảy ra; có thể là hoạt động đồng thời khi có tổn thất; hoặc là hoạt động được thực hiện sau khi tổn thất đã xảy ra Các hoạt động phòng ngừa rủi ro và một vài hoạt động giảm thiểu tổn thất (chẳng hạn như việc lắp các túi khí trong xe ô tô) là hoạt động trước khi có tổn thất Hoạt động tự động phun nước của hệ thống sprinkler khi có dấu hiệu hỏa hoạn trong một tòa nhà là hoạt động kiểm soát tổn thất thực hiện cùng lúc với thời điểm xảy ra rủi ro Hệ thống này không thể kích hoạt trước hay sau khi cháy Các hoạt động có mục đích chính là giảm thiểu tổn thất thường là các hoạt động thực hiện cùng hoặc sau khi có tổn thất xảy ra

Trang 7

Có thể thấy, các biện pháp kiểm soát rủi ro mang tính chủ động và có tác động rất tốt trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro tổn thất Nhưng thực tế, rủi ro vẫn luôn xảy ra dù đã thực hiện các biện pháp né tránh hay phòng ngừa Và khi rủi ro đã xảy ra, con người vẫn không thể lường hết được hậu quả do rủi ro gây ra Một vấn đề nữa được đặt ra ở đây là cần phải chi bao nhiêu cho việc thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất Đối với một số rủi ro, khoản chi này là không nhiều so với lợi ích đáng kể từ việc giảm thiểu được khả năng tổn thất Nhưng đôi khi, chi phí cho việc thực hiện các hoạt động này không nằm trong khả năng tài chính của một người hay một doanh nghiệp Lúc này việc bỏ ra một khoản tiền để đề phòng hạn chế tổn thất có thể xảy ra lại không phải là một quyết định đúng đắn

Chấp nhận rủi ro

Chấp nhận rủi ro còn được gọi là giữ lại rủi ro

 Chấp nhận rủi ro thụ động là cách quản lý rủi ro gắn liền với thái độ không có

sự chuẩn bị trước hoặc chuẩn bị không đầy đủ cho việc khắc phục hậu quả rủi ro Nhìn chung, thái độ này có thể là do chủ thể gặp rủi ro có nhận thức rất hạn chế về rủi ro và quản trị rủi ro; hoặc có thể do khả năng tài chính không đủ để thực hiện các biện pháp khác tốt hơn Chấp nhận rủi ro thụ động thường thể hiện qua việc tham gia cách có ý thức vào một hoạt động nhưng không nhận thức được hoạt động đó có thể gặp rủi ro; hoặc tin tưởng một cách thiếu hiểu biết là hoạt động đó không có rủi ro; hoặc đôi khi có nhận thức được rủi ro từ hoạt động nhưng lại đánh giá quá thấp mức độ tổn thất có thể đối mặt

Ví dụ: Công ty dược phẩm A sản xuất ra một

loại thuốc và cũng nhận thấy rằng họ có thể đối mặt với rủi ro phải bồi thường cho những bệnh nhân dùng loại thuốc này do tác dụng phụ quá mức so với cảnh báo Tuy nhiên, họ lại đánh giá

là số trường hợp khiếu kiện trách nhiệm sẽ không nhiều và dự tính mức tổn thất phải bồi thường cho những bệnh nhân khiếu kiện là không đáng kể Do đó, khi mua bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm họ chỉ mua với mức phí tương ứng với mức tổn thất trách nhiệm mà họ dự tính phải đền bù Khi xảy ra khiếu kiện về trách nhiệm sản phẩm, mức phán quyết bồi thường của tòa án lớn hơn nhiều so với mức mà công ty dược phẩm này đánh giá Công ty bảo hiểm chỉ đảm nhận bồi thường tương ứng với phần tổn thất trách nhiệm mà công ty dược này đã ước tính và mua bảo hiểm Còn phần vượt quá chính là phần rủi ro mà họ giữ lại một cách thụ động vì không chuẩn bị ngân quỹ để bổi thường cho các tổn thất trách nhiệm vượt quá này Khi chấp nhận rủi ro thụ động, cách tài trợ tổn thất thường thấy là dựa vào cứu trợ, giúp đỡ tài chính hoặc đi vay mượn Đối với các doanh nghiệp, đôi khi họ lấy từ chính doanh thu hiện tại để bù đắp cho tổn thất giữ lại thụ động và sẽ làm giảm lợi nhuận trong năm có tổn thất

Chấp nhận rủi ro một cách thụ động rõ ràng không phải là biện pháp tốt ngay từ bản chất “thụ động” của nó Một khi tổn thất đã xảy ra thì người gánh chịu tổn thất cần có ngay một khoản tiền để bù đắp và khắc phục khó khăn tài chính, và thậm

Trang 8

chí để hạn chế được các tổn thất có thể phát sinh thêm Song, việc đi vay mượn hay chờ nhận cứu trợ khó có thể đáp ứng được điều này Hơn thế nữa, các khoản tiền đi vay mượn hay nhận được từ cứu trợ trong nhiều trường hợp không thể trang trải, bù đắp được cho tổn thất phải gánh chịu Bởi vì, vay mượn, theo một cách nào

đó được coi là chuyển giao rủi ro từ một người sang một người khác hoặc sang một nhóm nhỏ chưa đủ đảm bảo số lớn Còn cứu trợ chỉ là nguồn tài chính được huy động dựa vào sự hảo tâm của người khác nên khoản tiền có được có đủ bù đắp tổn thất mà một người phải gánh chịu hay không là không chắc chắn

 Chấp nhận rủi ro chủ động là trường hợp nhận thức được rủi ro có thể xảy ra

nhưng chấp nhận tham gia vào hoạt động, môi trường có thể gặp rủi ro và có kế hoạch khắc phục hậu quả khi tổn thất xảy ra Các biện pháp chấp nhận rủi ro một cách chủ động có thể kể đến là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình; lập quỹ dự trữ

dự phòng của các tổ chức, các doanh nghiệp; lập công ty bảo hiểm nội bộ; tự bảo hiểm; lập hội chung để cùng gánh chịu rủi ro Các biện pháp này được đánh giá cao hơn nhiều so với chấp nhận rủi ro thụ động Tuy nhiên, khi sử dụng các biện pháp này, nguồn vốn bị coi là không được sử dụng một cách tối ưu; các quĩ tự lập

có thể không đảm bảo đủ để bù đắp thiệt hại có thể phải gánh chịu

Chuyển giao rủi ro không qua bảo hiểm

Sự hình thành của các công cụ tài chính phái sinh

đã cung cấp cho nền kinh tế thêm các biện pháp để

quản lý rủi ro, về cơ bản thường có: các hợp đồng

giao sau, các hoán đổi lãi suất, và các quyền chọn

Các công cụ tài chính phái sinh là biện pháp chuyển

giao rủi ro phi bảo hiểm, được dùng để đầu tư tự

bảo vệ (hedging) trước các rủi ro liên quan đến các thay đổi bất lợi có thể có về giá một mặt hàng nào đấy Thường những doanh nghiệp hay cá nhân có các giao dịch thương mại có thể lo ngại có những biến động giá liên quan đến mặt hàng mà họ muốn mua/bán vào một thời điểm nào đó trong tương lai Những người này cần sử dụng các công cụ phái sinh để chốt mức giá mà họ mong muốn và tin là tốt nhất cho việc mua/bán của họ so với mức giá trên thị trường hàng hóa đó trong tương lai Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ phù hợp ở những thị trường tài chính phát triển

Ví dụ, về việc chuyển giao rủi ro bằng một hợp đồng giao sau (là các thỏa thuận buộc người chủ hợp đồng này phải mua hay bán tài sản ở mức giá cụ thể vào một thời điểm

cụ thể trong tương lai): Vào đầu năm, một người nông dân bán lúa theo một hợp đồng giao sau với mức giá chốt là 5,2 triệu đồng/tấn vì sợ rằng thời gian tới giá lúa có thể giảm Hợp đồng này thỏa thuận sẽ giao bán lúa vào khoảng tháng 9 cho một công ty nông sản Nếu vào tháng 9, giá lúa thực tế trên thị trường là 4,8 triệu đồng/tấn thì hợp đồng mua bán nông sản này vẫn thực hiện với mức giá là 5,2 triệu đồng/tấn Như vậy, với hợp đồng giao sau, người nông dân này đã chuyển rủi ro qua cho công ty nông sản

Bảo hiểm

Bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro dựa vào lý thuyết tương hỗ và lý thuyết

phân tán rủi ro Về mặt kỹ thuật, bảo hiểm được hiểu là một hoạt động (hay một cơ

Trang 9

chế) qua đó nhiều người có mong muốn nhu cầu được bảo vệ trước cùng một rủi ro, một nguy cơ nào đó đã đóng góp lập nên một quỹ chung để từ quỹ chung này bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra cho một hoặc một số ít thành viên trong cộng đồng những người đã đóng góp Theo cơ chế này, tổn thất của một hoặc một số thành viên đã được

dàn mỏng cho số đông tất cả các thành viên trong cộng đồng Như vậy, dựa trên cơ sở

số lớn, rủi ro đã được chuyển giao và phân tán, việc gánh chịu thiệt hại đối với một hoặc một vài cá nhân trở nên dễ dàng hơn, việc khắc phục hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra bởi vậy cũng nhanh chóng và tốt hơn

Đặc điểm (kỹ thuật) phân tán rủi ro cho số đông người cùng gánh chịu làm cho bảo hiểm thể hiện được tính ưu việt nổi trội hơn so với các biện pháp quản lý rủi ro khác

đã bàn luận ở trên Thêm vào đó, thực tiễn cho thấy các tổ chức bảo hiểm luôn thực hiện lồng ghép cả biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro trong quá trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các cá nhân và tổ chức khác trong nền kinh tế Lúc này, đề phòng hạn chế rủi ro tổn thất vừa mang tính khuyến khích vừa mang tính bắt buộc đối với những người tham gia bảo hiểm, giúp cho các tổ chức bảo hiểm quản lý rủi ro mà họ đã nhận bảo hiểm một cách có hiệu quả hơn (Xem thêm vai trò đề phòng hạn chế rủi ro của bảo hiểm ở Chương 1) Lợi ích “hai trong một” này của bảo hiểm càng làm rõ thêm vị trí và tầm quan trọng của bảo hiểm trong đời sống kinh tế xã hội Cho đến nay, bảo hiểm vẫn luôn được coi là lựa chọn tối ưu trong tập hợp các biện pháp quản lý rủi ro đối với các cá nhân, các tổ chức trong nền kinh tế

Lĩnh vực bảo hiểm trong nền kinh tế bao gồm hai lĩnh vực (mảng) nhỏ, đó là bảo hiểm

xã hội (BHXH) và bảo hiểm thương mại (BHTM) Phân biệt một cách đơn giản, BHXH là bảo hiểm do nhà nước cung cấp, nhằm bảo vệ cho người lao động và gia đình họ trước các biến cố gây mất/giảm thu nhập theo lao động Các biến cố này là thất nghiệp, ốm đau, thai sản, tuổi già, tử vong, tàn tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,… Trong khi đó, BHTM là các hoạt động bảo hiểm do các doanh nghiệp thực hiện, theo cơ chế thị trường, cung cấp sự bảo đảm bồi thường hay chi trả một khoản tiền nhằm khắc phục, ổn định tài chính cho các cá nhân và tổ chức có nhu cầu được bảo vệ trong xã hội

1.1.2 Bản chất và vai trò của bảo hiểm thương mại

1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại

Có thể tiếp cận khái niệm BHTM từ nhiều góc độ

khác nhau dựa trên khái niệm về bảo hiểm Tuy

vậy, để nhìn nhận BHTM đúng như một hoạt động

kinh doanh gắn với việc lựa chọn quản lý rủi ro của

các cá nhân và tổ chức trong xã hội, chúng ta có thể

hiểu bảo hiểm thương mại là hoạt động theo

nguyên tắc số đông bù số ít qua đó người bảo hiểm

cam kết bồi thường/chi trả bảo hiểm cho bên được

bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra với điều kiện bên được bảo hiểm cam kết trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm

Trang 10

Theo cách hiểu này, BHTM là một cam kết giữa hai bên trên cơ sở hợp đồng (hợp đồng bảo hiểm) giữa bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm Bên bảo hiểm (hay còn gọi

là người bảo hiểm) có thể là một DNBH hoặc một hội tương hỗ bảo hiểm – là người cung cấp sự bảo đảm sẽ chi trả/ bồi thường nếu sự kiện (hay rủi ro) được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm Bên được bảo hiểm là bên nhận được

sự bảo đảm từ người bảo hiểm và đổi lại phải đóng phí bảo hiểm Đây là một khái niệm chung để chỉ đối tác của người bảo hiểm trong cam kết bảo hiểm Thực chất, sẽ

có ba chủ thể hiện diện khi nói đến bên được bảo hiểm, đó là người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm

 Người tham gia bảo hiểm là tổ chức hoặc cá nhân tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm, chịu trách nhiệm khai báo rủi ro và đóng phí bảo hiểm

 Người được bảo hiểm là tổ chức hoặc cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, hoặc tính mạng, tình trạng sức khỏe được bảo đảm trong hợp đồng bảo hiểm

 Người thụ hưởng (quyền lợi bảo hiểm) là tổ chức hoặc cá nhân được chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm sẽ được nhận tiền bồi thường/chi trả từ người bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Cam kết bảo hiểm được thực hiện dựa trên nguyên

tắc số đông bù số ít, nghĩa là việc bồi thường/chi trả

của người bảo hiểm phải dựa vào một quỹ tài chính

được hình thành từ các khoản phí bảo hiểm đã được

nộp (quỹ bảo hiểm) bởi rất nhiều người tham gia

bảo hiểm

Bản chất kinh tế của BHTM là quá trình phân phối

lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người được bảo hiểm Phân phối thu nhập trong BHTM thường là phân phối không mang tính bồi hoàn Dù

có tham gia đóng góp nhưng nếu không thoả mãn các điều kiện để được bồi thường hay chi trả thì sẽ hoạt động phân phối không diễn ra (không có sự bồi hoàn đối với các khoản đã đóng góp) Tuy vậy, vẫn có ngoại lệ với các bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm

1.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm thương mại

Sự ra đời và phát triển của BHTM ngày càng cho thấy rõ vai trò kinh tế xã hội

vô cùng to lớn mà hoạt động này mang lại cho mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và cho toàn

xã hội

 Góp phần ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm, từ đó ổn dịnh đời sống

và hoạt động sản xuất kinh doanh Việc bồi thường chi trả đúng lúc, đúng mức cho bên được bảo hiểm khi không may gặp rủi ro đã giúp cho họ khắc phục được hậu quả rủi ro một cách nhanh chóng và hiệu quả Bồi thường/chi trả bảo hiểm giúp cho bên được bảo hiểm có thể bảo toàn vốn và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp người được bảo hiểm hồi phục sức khoẻ và khả năng lao động; …

 Góp phần đề phòng, hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn,

xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Vai trò này thể

Trang 11

hiện rõ qua việc các DNBH thực hiện đề phòng hạn chế tổn thất (ví dụ như hỗ trợ tài chính cho mở đường lánh nạn, phối hợp mở các đợt hội thao PCCC, tham gia công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ thuỷ thủ, thuyền viên ) đồng thời có các khuyến khích đối với người tham gia bảo hiểm để họ chủ động tích cực thực hiện đề phòng hạn chế tổn thất (ví dụ như việc sử dụng các khuyến khích tài chính qua phí bảo hiểm, qua các quà tặng các khác hàng không gặp rủi ro trong những năm tham gia bảo hiểm)

 Góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước qua cơ chế tăng tích luỹ và tiết kiệm chi cho ngân sách Nhà nước

o Tăng tích luỹ Hàng năm các công ty bảo hiểm đều phải thực hiện nghĩa vụ

đóng thuế với Nhà nước

o Tiết kiệm chi Khi có rủi ro bất thường xảy ra gây thiệt hại lớn, trên diện rộng

cho con người và tài sản thì đã có quĩ bảo hiểm sẵn sàng chi trả Điều này giúp cho ngân sách Nhà nước đỡ bị động với những khoản chi lớn bất thường để khắc phục thiệt hại nhưng lại gây ảnh hưởng đến kế hoạch chi hàng năm Ví dụ như Nhà nước sẽ không phải chi (hoặc chi ít) các khoản hỗ trợ nông nghiệp sau nhưng cơn bão, lũ lụt lớn gây thiệt hại diện rộng và sâu sắc cho người dân nông thôn nếu như bảo hiểm nông nghiệp được triển khai có hiệu quả

 Góp phần phát triển thị trường tài chính, phát

triển sản xuất ở các lĩnh vực khác của nền kinh

tế Hoạt động bảo hiểm đã huy động được một lượng tiền vốn rất lớn vẫn nằm rải rác, phân tán trong dân cư Số tiền này trong thời gian tạm thời “nhàn rỗi” sẽ được đem đầu tư Có thể nói, quĩ bảo hiểm đã cung cấp một nguồn vốn đáng

kể cho hoạt động đầu tư trong nền kinh tế

 Góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp, cả thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp trá hình Đặc trưng kinh doanh của ngành bảo hiểm gắn với việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm qua các kênh trung gian như đại lý, môi giới Với việc tuyển dụng các đại lý bảo hiểm, đặc biệt là các đại lý cá nhân, để đưa sản phẩm bảo hiểm đến tay khách hàng, bảo hiểm đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động trong nền kinh tế

Tóm lại, với một giá khiêm tốn (phí bảo hiểm), bảo hiểm có thể giúp đỡ các cá nhân, các gia đình, các tổ chức khắc phục hậu quả trước những rủi ro khôn lường Hoạt động kinh doanh của các DNBH, bởi vậy còn mang đến là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đã có nhiều chính khách cũng như những nhà kinh doanh thành đạt thừa nhận vai trò quan trọng của BHTM không thể thiếu được trong đời sống con người Wiston Churchill (cựu Thủ tướng Anh): "Nếu có thể, tôi sẽ viết từ "BẢO HIỂM" trong mỗi nhà và trên trán mỗi người Càng ngày tôi càng tin chắc rằng, với một giá khiêm tốn bảo hiểm có thể giải phóng các gia đình ra khỏi thảm hoạ không lường trước được”

Trang 12

Henry Ford (người sáng lập ra hãng xe hơi nổi tiếng): “New York không phải là nơi sinh ra loài người nhưng lại là nơi sinh ra các nhà bảo hiểm Không có bảo hiểm, sẽ không có các toà nhà chọc trời bởi không có một công nhân nào sẽ chấp nhận làm với

độ cao như vậy vì có nguy cơ bị rơi xuống chết để lại gia đình khốn khổ Không có bảo hiểm, sẽ không có nhà đầu tư nào dám đầu tư hàng triệu USD để xây dựng các toà nhà lớn, bởi 1 tàn thuốc lá cũng có thể biến toà nhà ấy thành tro dễ dàng Không có bảo hiểm, không ai dám lái xe hơi qua các phố Một lái xe giỏi vẫn ý thức được rằng, anh ta có thể đâm vào người đi bộ vào bất kỳ lúc nào”

1.2 Các nguyên tắc chung bảo hiểm thương mại

Với tính chất của một hoạt động kinh doanh, BHTM một mặt là đáp ứng cho các nhu cầu an toàn của con người nhưng đồng thời phải đạt được mục tiêu lợi nhuận Bởi vậy, việc tiến hành hoạt động BHTM phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản Ngoài các nguyên tắc này, trong mỗi một loại hình BHTM sẽ có thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại: Nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc thế quyền hợp pháp, nguyên tắc khoán,

1.2.1 Nguyên tắc Số đông bù số ít

Theo Nguyên tắc số đông bù số ít, hậu quả của rủi

ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được

bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều

người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy Thông

qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết

chi trả, bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra

trong cộng đồng những người tham gia bảo hiểm,

DNBH đang thực hiện việc bù trừ rủi ro theo qui

luật số lớn Theo nguyên tắc số đông bù số ít, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quĩ bảo hiểm tích tụ được càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn Đây là nguyên tắc căn bản hình thành nên bất kỳ một nghiệp vụ BHTM nào

Thông thường, một nghiệp vụ bảo hiểm chỉ có thể được triển khai khi trên thị trường bảo hiểm có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm Mặc dù vậy, vẫn có một số trường hợp ngoại lệ Đó là khi có sự hấp dẫn lớn về lợi nhuận trong việc cung cấp một bảo hiểm nào đó trên thị trường, dù cho không có đủ số đông người tham gia bảo hiểm

đó Lúc này, DNBH vừa phải đánh giá được rằng xác suất xảy ra rủi ro được bảo hiểm

là không cao, vừa phải cân nhắc đến năng lực tài chính của chính doanh nghiệp và đảm bảo thực hiện được nguyên tắc phân tán rủi ro một cách triệt để Bảo hiểm vệ tinh

ở thị trường bảo hiểm Việt Nam là một ví dụ điển hình của ngoại lệ này Gói bảo hiểm

vệ tinh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam cung cấp sự bảo vệ cho người được bảo hiểm khi có (1) các tổn thất vật chất của vệ tinh trong quá trình phóng và vận hành trên quỹ đạo; (2) các tổn thất của bên thứ ba do hoạt động của vệ tinh gây ra; và (3) các tổn thất về doanh thu do vệ tinh bị thiệt hại Cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam chỉ mới có 2 vệ tinh địa tĩnh là VINASAT 1 (phóng thành công năm 2008) và VINASAT 2 (phóng thành công năm 2012) Do đó bảo hiểm vệ tinh ở Việt Nam hiển

Trang 13

nhiên là chỉ có được 2 hợp đồng bảo hiểm mỗi năm, không thể đảm bảo đủ số lớn để hình thành một nghiệp vụ bảo hiểm trên thị trường Tuy nhiên, với sức hấp dẫn của khoản doanh thu phí không hề nhỏ từ bảo hiểm này, với tính toán xác suất rủi ro được bảo hiểm và việc thực hiện phân tán rủi ro qua cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm, bảo hiểm vệ tinh được liên doanh bảo hiểm gốc là Công ty bảo hiểm cổ phần Bưu điện (PTI) và Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo hiểm Bảo việt) thực hiện cung cấp trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

1.2.2 Nguyên tắc lựa chọn rủi ro

Hoạt động BHTM cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp, DNBH đều chấp nhận các yêu cầu bảo đảm Hiếm có DNBH nào đồng ý thoả thuận bồi thường cho các trường hợp tổn thất gây ra do sự cố ý của người được bảo hiểm Cũng vậy, DNBH thật khó chấp nhận bảo đảm cho những thiệt hại vật chất của một chiếc xe ôtô ở trong tình trạng không an toàn về kỹ thuật hay không được phép lưu hành

Đây là một nguyên tắc không thể thiếu được trong hoạt

động kinh doanh của các DNBH Theo nguyên tắc này,

các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn

sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm: hao mòn vật chất tự

nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạm

nghiêm trọng luật giao thông, Nói cách khác, những

rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi ro bất

ngờ, không lường trước được Với rủi ro bị chết là rủi

ro chắc chắn xảy ra thì yếu tố ngẫu nhiên được xem

xét để bảo hiểm là thời điểm chết Thêm vào đó,

nguyên nhân gây ra rủi ro có thể được bảo hiểm phải là

nguyên nhân khách quan, không cố ý Tính đồng nhất của rủi ro là một yếu tố khác giúp DNBH có thể xem xét rủi ro có thể được bảo hiểm hay không Trên cơ sở tính đồng nhất của rủi ro DNBH có thể tính toán được phí bảo hiểm một cách chính xác và khoa học dựa vào các phương pháp toán học

Để bảo đảm nguyên tắc này, trong đơn bảo hiểm luôn có các rủi ro loại trừ tuỳ thuộc vào từng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau Đối với các rủi ro được nhận bảo hiểm lại có thể xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác nhau (nếu cần thiết) và áp dụng các mức phí thích hợp Đối với các rủi ro có xác suất xảy ra lớn hơn thì mức phí phải nộp cao hơn Chẳng hạn trong bảo hiểm nhân thọ (BHNT), những người không ở cùng độ tuổi sẽ có xác suất tử vong khác nhau do đó phải đóng mức phí khác nhau Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra đối với người tham gia bảo hiểm là phải trung thực tuyệt đối khi khai báo rủi ro để DNBH có thể xác định chính xác rằng rủi ro đó có thể chấp nhận bảo hiểm hay không, nếu có thì với mức phí như thế nào

Nguyên tắc rủi ro có thể bảo hiểm nhằm tránh cho DNBH phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản Đồng thời nguyên tắc này cũng giúp các DNBH có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quĩ bảo hiểm đầy đủ để bảo đảm cho công tác bồi thường Không chỉ bảo đảm quyền lợi cho các DNBH mà ngay chính những người tham gia bảo hiểm cũng thấy công bằng hơn khi nguyên tắc này được áp dụng

Trang 14

1.2.3 Nguyên tắc Phân tán rủi ro

Là người nhận các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm

lúc này sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra

Mặc dù quĩ bảo hiểm là một quĩ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của nhiều

người theo nguyên tắc số đông và như vậy, với tư cách là người huy động và quản lý

quĩ, các DNBH có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế,

không phải lúc nào DNBH cũng luôn đảm bảo được khả năng này Điều này có thể

thấy rất rõ với những trường hợp quĩ bảo hiểm huy động được còn chưa nhiều (DNBH

mới thành lập hoặc DNBH có qui mô nhỏ) trong khi đó giá trị bảo hiểm lại rất lớn

hoặc với những trường hợp có rủi ro liên tiếp xảy ra gây tổn thất lớn

Hình 1.2 Đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm

lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty Tuy nhiên, để tránh được điều tối kị là

phải từ chối bảo hiểm đồng thời vẫn bảo đảm được hoạt động kinh doanh, các DNBH

áp dụng nguyên tắc phân tán rủi ro Có hai phương thức phân tán rủi ro được sử dụng:

đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Nếu trong đồng bảo hiểm, nhiều nhà bảo hiểm cùng

nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn thì tái bảo hiểm lại là phương thức trong đó, một nhà

bảo hiểm nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho

một hoặc nhiều nhà bảo hiểm khác Hình 1.2 mô tả trực quan hai biện pháp phân tán

rủi ro này

1.2.4 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc này được thể hiện ngay từ khi DNBH nghiên cứu để soạn thảo một HĐBH

đến khi phát hành, khai thác bảo hiểm và thực hiện giao dịch kinh doanh với khách

hàng (người tham gia bảo hiểm)

 Nguyên tắc này đặt ra một yêu cầu với người tham gia bảo hiểm là phải tuyệt đối

trung thực khi khai báo rủi ro khi tham gia bảo hiểm để giúp DNBH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận Thêm vào đó, các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khai báo các thiệt hại để đòi bồi thường (khai báo lớn hơn thiệt hại thực tế; sửa chữa ngày tháng của HĐBH ) sẽ được xử lý theo pháp luật

 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi DNBH phải có trách nhiệm cân nhắc các

điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảm cho quyền lợi của hai bên

Sản phẩm cung cấp của nhà bảo hiểm là sản phẩm dịch vụ nên khi mua, người tham

Trang 15

gia bảo hiểm không thể cầm nắm nó trong tay như các sản phẩm vật chất khác để đánh giá chất lượng và giá cả mà chỉ có thể có được một hợp đồng hứa sẽ bảo đảm Chất lượng sản phẩm bảo hiểm có bảo đảm hay không, giá cả (phí bảo hiểm)

có hợp lý hay không, quyền lợi của người được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ, công bằng hay không đều chủ yếu dựa vào sự trung thực của phía DNBH

1.2.5 Nguyên tắc Quyền lợi có thể được bảo hiểm

Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác, người tham gia bảo hiểm phải

có một số quan hệ với đối tượng được bảo hiểm và được pháp luật công nhận Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm Cần chú ý rằng khi quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tài sản được bảo hiểm thuộc hai chủ thể khác nhau thì vấn dề sẽ phức tạp hơn Trong trường hợp này, cả chủ

sở hữu và chủ sử dụng đều có quyền lợi được bảo hiểm Chẳng hạn, chủ xưởng sửa chữa ôtô có quyền hợp pháp khi tham gia bảo hiểm cho chiếc xe ôtô mà anh ta đang đảm nhận sửa chữa Đó là quyền chiếm hữu Đồng thời chủ xe ôtô cũng có thể tham gia bảo hiểm cho chiếc xe này Nguyên tắc về quyền lợi có thể được bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng bảo hiểm cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm

1.2.6 Nguyên tắc về nguyên nhân gần

Một tài sản đã được bảo hiểm bị tổn thất có thể do rủi ro được bảo hiểm; có thể do rủi

ro không được bảo hiểm; hoặc có thể do một chuỗi các sự kiện hay một chuỗi các rủi

ro bao gồm cả rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm Trong chuỗi các rủi ro gây ra tổn thất cho tài sản đã được bảo hiểm đó, rủi ro được bảo hiểm có thể xảy

ra (hoạt động) đồng thời với rủi ro không được bảo hiểm Cũng có thể, rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm tạo ra một chuỗi nguyên nhân liên tiếp gây ra tổn thất Học thuyết về nguyên nhân gần cho rằng, các tổn thất của tài sản chỉ được bồi

thường nếu đó là tổn thất trực tiếp do rủi ro được bảo hiểm gây ra Theo định nghĩa

động tạo thành chuỗi các sự kiện dẫn đến một hậu quả mà không cần có sự can thiệp của bất kỳ một lực nào được bắt đầu và hoạt động chủ động từ một nguồn mới và độc

thiết gần nhất về mặt thời gian (Bland, 1993) giải thích, nguyên nhân gần không nhất thiết là nguyên nhân đầu tiên hay là nguyên nhân cuối cùng mà chỉ cần là nguyên nhân chi phối (nguyên nhân chủ động)

Trang 16

Nguyên tắc gần được cụ thể hóa thành các trường hợp4:

(1) Nếu rủi ro được bảo hiểm và các rủi ro không được bảo hiểm (tức là các rủi ro

không được nhắc đến) hoạt động đồng thời, thì rủi ro được bảo hiểm là nguyên

nhân gần;

(2) Nếu rủi ro được bảo hiểm hoạt động đồng thời với một rủi ro bị loại trừ và tác

động của cả hai rủi ro đó không thể tách bạch được với nhau thì rủi ro loại trừ

được coi là nguyên nhân gần;

(3) Nếu tổn thất phát sinh từ một loạt các rủi ro liên tiếp, rủi ro cuối cùng là nguyên nhân gần trừ phi nguyên nhân trước đó thiết lập một chuỗi trực tiếp các hậu quả trong đó nguyên nhân cuối cùng chỉ là ngẫu nhiên bất ngờ và kết cục có thể xảy ra đương nhiên là do nguyên nhân trước đó Nếu nguyên nhân trước đó là một rủi ro

bị loại trừ thì bảo hiểm không có trách nhiệm Nếu nguyên nhân trước là một rủi

ro được bảo hiểm và không có sự gián đoạn trong chuỗi các sự kiện thì người bảo hiểm sẽ phải có trách nhiệm vì rủi ro được bảo hiểm sẽ là “có tác động hiệu lực gần nhất” Lúc này, rủi ro “gần” về mặt thời gian không có ý nghĩa quyết định

Ví dụ, tổn thất trực tiếp do cháy bao gồm cả các thiệt hại về tài sản do nước hoặc do hóa chất mà đã được sử dụng để dập lửa Vì trong trường hợp này, mặc dù tổn thất phát sinh từ tác động của nước hay hóa chất dập lửa nhưng tổn thất đó bắt đầu bởi cháy, với chuỗi kéo theo là nước và hóa chất Cháy là nguyên nhân có tác động chi phối nhất, tác động có hiệu lực nhất (dù không phải là nguyên nhân gần về mặt thời gian) Như vậy, tổn thất do hóa chất hoặc nước dùng để cứu hỏa cũng sẽ được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm cháy căn cứ vào học thuyết nguyên nhân gần

Một ví dụ khác, theo vụ xử kiện giữa Marsden và City and County Insurance Co

(1866), đơn bảo hiểm các tấm kính mỏng có loại trừ tổn thất do cháy Kính vỡ do một đám đông lộn xộn ồn ào đang xem một đám cháy ở một khu vực kế bên cạnh Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm vẫn phải bồi thường tổn thất vì đây không phải là tổn thất loại trừ (vì không phải do cháy) Tai nạn hoặc sự kiện tạo thuận lợi dẫn đến tổn thất (đám cháy) phải được phân biệt với tai nạn hoặc sự kiện gây ra tổn thất (hành động của đám đông) Cháy là không phải là nguyên nhân gần gây tổn thất

1.3 Phân loại bảo hiểm thương mại

Hoạt động BHTM cung cấp các sản phẩm bảo hiểm

khá đa dạng đáp ứng cho nhu cầu của các cá nhân

và các tổ chức trong nền kinh tế Trên thị trường

bảo hiểm thế giới cũng như ở Việt Nam, các sản

phẩm này thường được phân loại dựa vào các tiêu

thức khác nhau Việc phân loại như vậy vừa có lợi

cho DNBH, vừa góp phần phát triển thị trường Thứ

nhất, phân loại BHTM sẽ thuận lợi hơn cho công tác nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bảo hiểm khác nhau Thứ hai, việc tập hợp các sản phẩm BHTM thành từng

4

(Bennett, 1992)

Ngày đăng: 01/12/2020, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w