1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Quản lý tài chính công – Bài 1: Tổng quan về tài chính công

17 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 686,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mời các bạn cùng tham khảo Bài giảng Quản lý tài chính công – Bài 1: Tổng quan về tài chính công để nắm chi tiết các kiến thức về những vấn đề chung về tài chính công; vai trò của chính phủ và tài chính công.

Trang 1

BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH CÔNG

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

1 Kinh tế học công cộng, NXBKHKT, 1995 (tác giả Joseph E.Stiglitz)

2 Giáo trình Quản lý tài chính công, NXB tài chính – Hà nội 2005

3 Giáo trình Quản lý thuế, Nguyễn thị Bất, NXB Thống kê 2002

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

 Những vấn đề chung về tài chính công;

 Vai trò của chính phủ và tài chính công

Mục tiêu

Mục tiêu của bài nhằm cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản về tài chính công với các nội dung chủ yếu như quan niệm về tài chính công, nội dung và các lĩnh vực về tài chính công, đặc điểm của tài chính công Ngoài ra, sinh viên cũng hiểu được vai trò của chính phủ trong việc thực hiện các chức năng của tài chính công Sau bài này, sinh viên sẽ nhận biết vị trí quan trọng của tài chính công trong cấu trúc hệ thống tài chính, phân biệt được tài chính công với các hoạt động tài chính khác

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Một vài số liệu về nợ công ở Việt Nam

Tính đến ngày (24/3/2014), nợ công Việt Nam ở mức 80.092.622.951 USD, và với dân số 90.525.901 người, hiện tại, mỗi người dân Việt Nam đang gánh 886,59 USD nợ công (khoảng 18,6 triệu đồng) Nợ công cả nước đã tăng 11,2% so với năm 2013 và chiếm 48% GDP

1 Nợ công từ đâu mà xuất hiện?

2 Nguồn nào sẽ chi trả cho khoản nợ của quốc gia này?

3 Những ảnh hưởng tác động của nợ công này đến nền kinh tế?

Trang 3

1.1 Những vấn đề chung về tài chính công

1.1.1 Quan niệm về tài chính công

Quan niệm về tài chính công có quan hệ chặt chẽ với khu vực công và được sử dụng

để đối lập với khái niệm tài chính tư

Theo dòng thời gian, sự tiếp cận khái niệm tài chính công cũng có sự khác nhau giữa các nhà kinh tế, sở dĩ như vậy, là vì bối cảnh kinh tế xã hội đã làm thay đổi quan niệm

về vai trò của nhà nước

Quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển (Adam Smith - cha đẻ của kinh tế thị trường) cho

rằng: tài chính công là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho các khoản chi tiêu công

Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, Giáo sư Harvey Rosen cho rằng tài chính công là

“lĩnh vực kinh tế học phân tích thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ” Với cách

tiếp cận này, tài chính công không những là khoa học nghiên cứu việc sử dụng các công cụ tài chính để tài trợ chi tiêu công, mà còn phân tích các chính sách thu công, chi tiêu công nhằm mục đích thực hiện vai trò can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế (đây là quan điểm tổng quát hơn)

Như vậy, cho dù có những cách tiếp cận khác nhau,

nhưng điểm chung của các nhà kinh tế khi định nghĩa

phạm trù này là: tài chính công là một nhánh của kinh

tế học nghiên cứu vai trò của chính phủ thông qua

phân tích tác động thu, chi ngân sách đến các hoạt

động kinh tế xã hội Hay nói cách khác, tài chính công

cũng được hiểu như kinh tế học của khu vực công hay

kinh tế công, chủ yếu đề cập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu của chính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việc phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập

Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về tài chính công như sau:

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội

1.1.2 Nội dung và các lĩnh vực thuộc tài chính công

Nội dung của tài chính công rất phong phú, đa dạng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, sự phong phú, đa dạng của tài chính công ngày càng tiến triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn Tùy theo yêu cầu quản lý, người ta có thể phân chia nội dung của tài chính công theo các tiêu thức khác nhau

1.1.2.1 Theo chủ thể quản lý trực tiếp

Nếu dựa trên giác độ chủ thể trực tiếp quản lý các quỹ tiền tệ của nhà nước có thể chia

tài chính công thành các bộ phận: tài chính công tổng hợp; tài chính của các cơ quan

hành chính nhà nước; tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập

 Tài chính công tổng hợp

Tài chính công tổng hợp tồn tại và hoạt động gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các

Trang 4

chức năng kinh tế, xã hội của nhà nước Theo tính chất của các quỹ tiền tệ, tài chính công tổng hợp bao gồm các bộ phận: ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước

Chủ thể trực tiếp quản lý ngân sách nhà nước là nhà nước (chính phủ Trung ương

và chính quyền địa phương các cấp) thông qua các cơ quan chức năng của nhà nước (cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước…)

Chủ thể trực tiếp quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước là các cơ quan nhà nước được nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức và quản lý từng quỹ

đó (quỹ Dự trữ nhà nước; quỹ Bảo hiểm xã hội…)

 Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước

Bộ máy nhà nước được tổ chức bao gồm 3 hệ thống: các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp và các cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương Các cơ quan hành chính thuộc bộ phận thứ 2 trong hệ thống kể trên

Tuy nhiên, do hoạt động của các cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp cũng mang tính chất “hành chính” như các cơ quan hành chính, đồng thời chúng cũng

có những đặc điểm tương đồng về nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động và yêu cầu sử dụng kinh phí Do đó, trong lĩnh vực quản lý tài chính, 3 loại cơ quan kể trên được xếp vào cùng một dạng là các cơ quan hành chính

Các cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ hành chính công cho xã hội

Các cơ quan này được phép thu một số khoản thu

về phí và lệ phí nhưng số thu đó là không đáng kể

Do đó, nguồn tài chính đảm bảo cho các cơ quan hành chính hoạt động gần như do ngân sách nhà nước cấp toàn bộ Nguồn tài chính ở đây được sử dụng để duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước và thực hiện các nghiệp vụ hành chính, cung cấp các dịch vụ hành chính công thuộc chức năng của cơ quan

Chủ thể trực tiếp quản lý tài chính các cơ quan hành chính nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước

 Tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập

Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Hoạt động của các đơn vị này không nhằm mục tiêu lợi nhuận

mà chủ yếu mang tính chất phục vụ Với cách phân loại của GFS, thì các đơn vị sự nghiệp công lập chính là các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường Các đơn vị này tham gia hoạt động ở tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Trong quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta, người ta thường gọi tắt là các đơn vị sự nghiệp Văn - Xã và các đơn vị sự nghiệp kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, thuỷ lợi…)

Do hoạt động mang tính chất phục vụ là chủ yếu, ở các đơn vị sự nghiệp công lập số thu thường không lớn, không ổn định, hoặc không có thu Do đó, sự hình

Trang 5

thành nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp công lập thường có sự xuất hiện của các nguồn:

o Ngân sách nhà nước;

o Đơn vị tự thu;

o Nguồn khác

Cá biệt, có một số đơn vị sự nghiệp có số thu khá lớn, nhà nước có thể cho các đơn

vị này áp dụng chế độ tài chính riêng Với các dịch vụ kể trên, chi tiêu của các đơn

vị này chính là nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của nhà nước

Chủ thể trực tiếp quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập là thủ trưởng các đơn vị đó

Việc phân loại tài chính công theo chủ thể trực tiếp quản lý có thể phát huy tác dụng trên các giác độ sau:

o Giúp cho người đọc có thể dễ dàng nhận thấy các cơ quan/đơn vị thuộc phạm vi của tài chính công và các cơ quan/đơn vị đó phải có trách nhiệm thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý tài chính công trong phạm vi được phân cấp;

o Giúp người đọc tiếp cận với tài chính công một cách trực quan- là các pháp nhân đang hiện hữu tồn tại và hoạt động ngay trong đời sống kinh tế, xã hội hàng ngày, xóa đi cái cảm giác quá trừu tượng của tài chính công như diễn giải về lý thuyết;

o Giúp cho “người sản xuất” và “người tiêu dùng” các hàng hóa công cộng nhận

ra nhau dễ hơn, góp phần thúc đẩy sự phát huy quyền và nghĩa vụ của mỗi bên ngày một nâng cao

1.1.2.2 Theo nội dung quản lý

Nếu phân loại tài chính công theo nội dung quản lý, thì có thể chia tài chính công thành các bộ phận: ngân sách nhà nước; tín dụng nhà nước; và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước

 Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là mắt khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong tài chính công Thu của ngân sách nhà nước được lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu Chi tiêu của ngân sách nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại hoạt động của bộ máy nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước Ngân sách nhà nước là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách phù hợp với hệ thống chính quyền nhà nước các cấp Tương ứng với các cấp ngân sách, quỹ ngân sách nhà nước được chia thành: quỹ ngân sách của chính phủ Trung ương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp xã và tương đương Phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước các cấp, quỹ ngân sách lại được chia thành nhiều phần nhỏ để sử dụng cho các lĩnh vực khác nhau, như: phần dùng cho phát triển kinh tế; phần dùng cho phát triển văn

Trang 6

hoá, giáo dục, y tế; phần dùng cho hoạt động của các lĩnh vực xã hội, an ninh, quốc phòng…

Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước và không mang tính hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

 Tín dụng nhà nước

Tín dụng nhà nước bao gồm cả hoạt động đi vay và cho vay của Nhà nước Tín dụng nhà nước thường được sử dụng để hỗ trợ ngân sách nhà nước trong các trường hợp cần thiết Thông qua hình thức tín dụng nhà nước, nhà nước động viên các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính của các cấp chính quyền nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, chủ yếu là thông qua việc cấp vốn thực hiện các chương trình cho vay dài hạn Việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi qua con đường tín dụng nhà nước được thực hiện bằng cách phát hành Trái phiếu chính phủ như: tín phiếu kho bạc nhà nước; trái phiếu kho bạc nhà nước; trái phiếu công trình (ở Việt

Nam hiện có hình thức trái phiếu đô thị); công trái quốc gia (ở Việt Nam là công trái xây dựng Tổ quốc) trên thị trường tài chính

Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và

sử dụng quỹ tiền tệ qua hình thức tín dụng nhà nước là mang tính tự nguyện và có hoàn trả

 Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước (gọi tắt là các quỹ ngoài

ngân sách) Các quỹ ngoài ngân sách là các quỹ tiền tệ tập trung do nhà nước thành lập, quản

lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến động bất thường trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và để hỗ trợ thêm cho ngân sách nhà nước trong trường hợp khó khăn về nguồn tài chính

Sự hình thành và phát triển các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là nhu cầu cần thiết khách quan bắt nguồn từ chính yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô nền kinh tế

Sự ra đời và tồn tại của từng loại quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách tuỳ thuộc vào sự tồn tại các tình huống, các sự kiện kinh tế, xã hội Khi các tình huống, sự kiện đó được giải quyết dứt điểm, trở lại trạng thái bình thường thì cũng là lúc từng loại quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách để giải quyết các tình huống, sự kiện đó cũng sẽ không còn lý do để tồn tại Hiện nay ở Việt Nam hệ thống các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đang được sắp xếp lại và bao gồm các quỹ chủ yếu sau:

o Quỹ Dự trữ nhà nước (dưới hình thức hiện vật);

o Quỹ Dự trữ tài chính ;

o Quỹ Dự trữ ngoại hối (do ngân hàng nhà nước quản lý);

o Quỹ Tích luỹ trả nợ nước ngoài;

Trang 7

o Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm và quỹ Tín dụng đào tạo (hiện nay 2 quỹ này

đã được sáp nhập vào ngân hàng chính sách xã hội);

o Quỹ Phòng chống ma tuý;

o Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam;

o Quỹ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (7 địa phương);

o Quỹ Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả quỹ Bảo hiểm y tế đã được sáp nhập);

o Và một số quỹ khác

Ở các quốc gia khác nhau và ngay ở trong một quốc gia, trong các thời kỳ phát triển khác nhau, việc tổ chức bao nhiêu quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước là không giống nhau Điều đó phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế –

xã hội, trình độ quản lý tài chính công của các quốc gia trong các thời kỳ lịch sử nhất định

Việc tổ chức các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công theo cơ chế nhiều quỹ thành quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách là phù hợp với việc thực hiện phân cấp, phân công quản lý kinh tế – xã hội của nhà nước Điều đó đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của các địa phương, các ngành, các đơn vị trong quản lý kinh

tế, xã hội và là điều kiện thực hiện chuyên môn hoá lao động trong quản lý tài chính công đảm bảo cho việc quản lý đó được chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng:

o Do nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đều

có nguồn gốc (ít, hoặc nhiều) từ ngân sách nhà nước; nên tổ chức sao cho hợp

lý số lượng và quy mô các quỹ ngoài ngân sách là điều cần được tính toán, cân nhắc nhằm tránh phân tán nguồn lực của tài chính công

o Các quỹ ngoài ngân sách không chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Ngân sách nhà nước mà được quản lý theo các quy định riêng vừa gây ra khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các quỹ, làm hạn chế tính đầy đủ, chính xác của việc phân tích đánh giá chi tiêu công, hạn chế tính minh bạch của ngân sách; vừa khó tránh khỏi sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của quỹ làm suy yếu tính hiệu quả của hệ thống quỹ trong việc phối hợp các quỹ ngoài ngân sách nhằm hỗ trợ ngân sách nhà nước giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô Do đó, vấn đề xây dựng một hệ thống khung pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động của các quỹ ngoài ngân sách trở thành đòi hỏi cần thiết và cấp bách

1.1.3 Đặc điểm của tài chính công

 Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước

Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ ngân sách nhà nước Các quyết định của nhà nước được thể chế bằng luật do cơ quan quyền lực cao nhất phê chuẩn Việc tạo lập và sử dụng

Trang 8

quỹ công phụ thuộc vào quan điểm của nhà nước và các mục tiêu kinh tế - xã hội quốc gia đặt ra trong từng thời kì

 Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng

Tài chính công phản ánh quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính quốc gia nên hoạt động tài chính công phản ánh các quan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong đó lợi ích tổng thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các quan hệ lợi ích khác

 Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được

Chủ yếu mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu quả một cách cụ thể, chính xác Tuy nhiên, hiệu quả của tài chính công có thể xác định một cách tương đối thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, hộ nghèo, tỷ lệ thất học

 Phạm vi hoạt động rộng

Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Hoạt động thu chi tài chính công có tác động đến thu nhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay tiêu dùng Tuy nhiên, phạm vi và mức độ tác động tuỳ thuộc vào chính sách tài chính công,

bối cảnh kinh tế - xã hội quốc gia trong từng thời kì và tuỳ thuộc vào từng chủ thể

1.1.4 Hệ thống quản lý tài chính công

 Theo nghĩa hẹp: Bao gồm các cơ quan tài chính chuyên môn nhà nước

 Theo nghĩa rộng: Bao gồm có các cơ quan tài chính chuyên ngành + tất cả các cơ quan sử dụng nguồn kinh phí nhà nước

1.2 Vai trò của chính phủ và tài chính công

1.2.1 Chính phủ với việc phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô

Bình đẳng trong thu nhập là sự phân phối công bằng thu nhập cho mọi thành viên trong xã hội, đây là mục tiêu của phân phối xã hội chủ nghĩa Phân phối công bằng là nói đến việc “người lao động có thể tham gia cạnh tranh với điều kiện và quy tắc công bằng cao nhất (thu nhập nhiều hay ít tương xứng với sự đóng góp lao động nhiều hay ít)

sự khác biệt của kết quả phân phối cần được duy trì trong giới hạn mà xã hội có thể chấp nhận được Nói một cách cụ thể, đó chính là sự

thống nhất giữa công bằng và hiệu quả Điều kiện tiền

đề cho các thành viên xã hội tham gia vào cạnh tranh là

sự phân phối giữa tư chất bẩm sinh hay năng lực của

con người đại thể phải bằng nhau, cơ hội và quyền lợi

về giáo dục, việc làm, đầu tư và sản xuất kinh doanh…

ngang nhau

Bất bình đẳng là không bình đẳng, tức là có sự phân

phối thu nhập tạo nên khoảng cách lớn cho các thành

viên trong xã hội

Ở bất kỳ nơi đâu cũng luôn

có sự bất bình đẳng về phân phối thu nhập

Trang 9

Chính phủ với việc phân phối lại thu nhập là việc chính phủ phải tác động vào

nhằm mục tiêu giảm khoảng cách giàu nghèo cho nền kinh tế bằng các phân phối lại thu nhập dựa vào nguồn gốc của sự chênh lệch

Ví dụ: Chênh lệch do lao động và tài năng

Trong giai đoạn từ 1993 đến 2008, 1% số người giàu của Mỹ nắm giữ tới 52% tổng thu nhập quốc gia

Cần phải biết cách đo lường để định lượng và đưa ra chính sách khắc phục việc phân hóa giàu nghèo

Cách 1: Sử dụng đường cong Lorenz

Đường cong Lorenz là một loại đồ thị dùng để biểu diễn mức độ bất bình đẳng trong phân phối Nó được phát triển bởi Max.O.Lorenz từ năm 1905 để thể hiện sự phân phối thu nhập

Cách 2: Sử dụng hệ số Gini

Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Nó có giá trị

từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý Corrado Gini và được chính thức công

bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên "Variabilità e mutabilità" Chỉ số

Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính

bằng hệ số Gini nhân với 100

Chênh lệch giàu nghèo tạo ra:

 Tính phi hiệu quả các nguồn lực: lãng phí của

người giàu

 Về chính trị: khủng bố, đảo chính

 Về xã hội: đời sống chênh lệch, biểu tình…

Chính phủ phân phối lại thu nhập có thể thực hiện

bằng nhiều cách:

 Thứ nhất, thông qua chính sách thuế Rõ nhất là thuế thu nhập cá nhân và thuế

tiêu thụ đặc biệt Thuế thu nhập cá nhân động viên thu nhập của những người có

thu nhập ở một mức khá cao so với mặt bằng xã hội (hiện nay mức giảm trừ cho người nộp thuế là 9 triệu đồng, mức giảm trừ cho người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/người) Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào người mua sắm, sử dụng một số hàng hóa, dịch vụ thuộc diện xa xỉ Trong lúc toàn xã hội đang triệt để tiết kiệm thì

có thể tính đến việc tăng loại thuế này đồng thời giảm một số loại thuế khác

 Thứ hai, thông qua các chính sách an sinh xã hội vĩ mô Bằng luật pháp và các

chính sách cụ thể khác, nhà nước có thể tạo ra cơ chế, hành lang pháp luật để thực hiện các sự chăm lo, hỗ trợ các đối tượng đặc biệt trong xã hội, như trẻ em, người già yếu, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, bà con vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn… Chẳng hạn, chính sách về y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội… mặc dù luôn đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi thành phần trong xã hội nhưng thường có xu hướng ưu tiên cho những người khó khăn

 Thứ ba, thông qua các cuộc vận động, các phong trào hỗ trợ Các phong trào

“toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “vì người nghèo”, các hoạt động

Trang 10

xã hội, từ thiện… một mặt thể hiện tinh thần nhân ái, đoàn kết, giúp đỡ nhau của các tầng lớp nhân dân đồng thời cũng là sự phân chia lại thu nhập Những khoản giúp đỡ người khó khăn của các doanh nghiệp thường được tính vào chi phí để giảm thuế, coi như là một sự khuyến khích của nhà nước đối với việc làm này

 Thứ tư, thông qua việc hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn, thuộc diện chính

sách Thời gian qua, việc miễn, giảm phí khám

chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi hay hỗ trợ cho người già từ 80 tuổi trở lên; miễn, giảm học phí cho con em các hộ gia đình thuộc diện nghèo,

hộ gia đình các xã đặc biệt khó khăn, kể cả việc

hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo, trợ cấp cho các đối tượng khó khăn… là những chính sách

an sinh xã hội có ý nghĩa thiết thực, có tác dụng

an dân sâu sắc Trong điều kiện hiện nay, có thể mở rộng các đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội, cả thường xuyên và đột xuất, đồng thời tăng mức chi cho các

đối tượng này

1.2.2 Chính phủ với việc khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn nhân

lực công cộng

 Hiệu quả Pareto

Hiệu quả là gì?

Hiệu quả là đưa ra một kết quả mong muốn với chi phí hoặc nỗ lực tối thiểu Nói cách khác, không có nỗ lực hoặc chi phí nào bỏ ra một cách lãng phí, không mang lại kết quả hữu ích gì

Hiệu quả Pareto?

Một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không phải làm thiệt hại đến bất kì ai khác

Điều kiện đạt hiệu quả Pareto:

MB = MC hoặc MBC = MSC MB: Lợi ích biên

MC: Chi phí biên MSB: Lợi ích biên của xã hội MSC: Chi phí biên của xã hội

 Hoàn thiện Pareto

Nếu còn tồn tại một cách phân bổ lại các nguồn lực làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không làm thiệt hại đến ai khác thì cách phân bổ lại các nguồn lực đó là hoàn thiện Pareto so với cách phân bổ ban đầu

Nghĩa là:

Với nguồn lực có hạn và điều kiện công nghệ khoa học kĩ thuật cho trước

Nếu ta tránh được lãng phí → Tăng thêm sản phẩm xã hôi → Có người được tiêu dùng thêm mà không ảnh hưởng đến người khác → Quá trình này dừng lại khi không còn sự lãng phí → tận dụng được tối đa nguồn lực

Ngày đăng: 01/12/2020, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w