1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới cỏ cây trong thơ nôm nguyễn trãi dưới góc nhìn phê bình sinh thái

110 99 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy giá trị và ý nghĩa nhiều mặt của cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi thực hiện đề tài này hy vọng góp thêm một cái nhìn mới về thế giới

Trang 1

Vũ Thu Thảo

THẾ GIỚI CỎ CÂY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019

Trang 2

Vũ Thu Thảo

THẾ GIỚI CỎ CÂY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI

DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã ngành : 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐOÀN THỊ THU VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

TP Tây Ninh, ngày 29 tháng 3 năm 2019

Tác giả

Vũ Thu Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân, người đã hết lòng giúp đỡ và tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong thời gian đào tạo vừa qua

Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Ngữ văn, các thầy cô Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, tạo điều kiện cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã yêu quý, luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn

TP Tây Ninh, ngày 29 tháng 3 năm 2019

Tác giả

Vũ Thu Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Nguyễn Trãi và thơ chữ Nôm 14

1.1.1 Thời đại 14

1.1.2 Con người - cuộc đời 15

1.1.3 Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi 17

1.2 Tiền đề triết học về mối quan hệ thiên – nhân và hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam 20

1.2.1 Triết học tam giáo trong quan hệ giữa con người và tự nhiên 20

1.2.2 Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam 22

1.3 Lý luận về phê bình sinh thái trong văn học 28

1.3.1 Khái lược lý luận phê bình sinh thái 29

1.3.2 Phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và sự liên quan với đề tài 36

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 THẾ GIỚI CỎ CÂY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA THẨM MỸ SINH THÁI 42

2.1 Cỏ cây với vẻ đẹp tự nhiên, đa dạng 42

2.1.1 Vẻ đẹp khỏe khoắn, tràn đầy sức sống 42

2.2.2 Vẻ đẹp giản dị, gần gũi 48

2.2 Cỏ cây với vẻ đẹp tương tác, hài hòa trong một chỉnh thể thống nhất 58

2.2.1 Vẻ đẹp bình đẳng, không phân biệt 58

2.2.2 Vẻ đẹp thân thiện, hòa hợp 62

Trang 6

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 THẾ GIỚI CỎ CÂY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ MỐI TƯƠNG GIAO VỚI CHỦ THỂ TRỮ TÌNH 70

3.1 Thế giới cỏ cây trong thái độ ứng xử với tự nhiên 70

3.1.1 Cách sống giản dị, thanh nhàn, hòa mình vào vạn vật 71

3.1.2 Tình cảm trìu mến, yêu thương, trân trọng thiên nhiên 77

3.2 Thế giới cỏ cây là “quê nhà” để trở về 82

3.2.1 Điểm tựa tinh thần của nhà thơ 83

3.2.2 Cội nguồn minh triết trong cuộc sống 88

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê về tần số xuất hiện của nhóm cây cao quý 54 Bảng 2.2 Thống kê tần số xuất hiện của nhóm cây bình dị, đời thường 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam thế kỷ XXI nở rộ với nhiều khuynh hướng văn học góp phần làm mở rộng và đa dạng hơn nguồn đề tài cho văn học và nghiên cứu văn học thời kì mới Cùng với lý thuyết phê bình nữ quyền, phê bình sinh thái ở Việt Nam dần trở thành một trào lưu phê bình năng động, tiến bộ, nhất là trong giai đoạn xã hội hiện đại khi mà con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái – nguồn gốc của mọi sự biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường Trước tình trạng thế giới

tự nhiên ngày một xấu đi, phê bình sinh thái đã làm đúng vai trò và nhiệm vụ của

nó, làm cho con người phải nhìn nhận lại cách sống của mình, từ đó hình thành một lối ứng xử hài hòa, gần gũi với tự nhiên

Thái độ sống chan hòa, trân trọng tự nhiên từ lâu đã xuất hiện trong đời sống văn hóa của người xưa và được biểu hiện cụ thể qua các tác phẩm của họ Trong số các nhà thơ trung đại, Nguyễn Trãi được xem là một tác gia nổi bật hơn cả Các tác phẩm của ông đều có một vị trí quan trọng và giá trị to lớn trong nền văn học nước nhà Bên cạnh mảng thơ về lòng ưu ái, Nguyễn Trãi còn viết nhiều và viết hay về mảng thơ thiên nhiên Thiên nhiên hiện ra trong thơ ông ẩn chứa nét đẹp tự nhiên, hài hòa, đầy sức sống đặc biệt là những vần thơ về các loài thảo mộc Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ Nôm, ông dành ra hẳn một mục để nói về cỏ cây đồng thời cũng cho chúng xuất hiện rải rác trong các bài thơ của những mục khác Tình cảm với cỏ cây đã đại diện cho tấm lòng trân quý, yêu mến thiên nhiên, tạo vật của Nguyễn Trãi Đó cũng chính là tinh thần mà phê bình sinh thái nỗ lực tìm kiếm và khám phá

Cỏ cây dù chỉ là một phần của thiên nhiên nhưng thông qua đó, người đọc thấy được tâm hồn tinh tế và cao thượng của Ức Trai Tuy xuất hiện khá nhiều trong thơ Nôm nhưng hiện nay vẫn chưa có các công trình nghiên cứu riêng biệt về cỏ cây đồng thời nhìn chúng dưới lý thuyết phê bình sinh thái Nhận thấy giá trị và ý nghĩa nhiều mặt của cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi thực hiện đề tài này hy vọng góp thêm một cái nhìn mới về thế giới tự nhiên trong thơ Nguyễn Trãi Sau nữa, với đề tài này, chúng tôi cũng muốn đề xuất

Trang 9

một “cảm quan nhìn lại” về thế giới tự nhiên trong văn chương trung đại để thấy được giá trị nhân văn cao đẹp trong văn hóa ứng xử với tự nhiên của người xưa Dù chưa nhận thức được sự quan trọng của tự nhiên, nhưng lối sống yêu thương, hòa mình vào vạn vật của tác giả dường như đã trở thành một trong những phương hướng giúp con người ngày nay bồi dưỡng thêm tình thương đối với thế giới tự nhiên

2 Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sinh thái cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hoặc bài viết nào chuyên biệt Tuy nhiên, các vấn đề nghiên cứu về lý thuyết phê bình sinh thái và hình ảnh cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi lại được nghiên cứu khá nhiều Về lý thuyết phê bình sinh thái, hiện nay có nhiều công trình dịch thuật và nghiên cứu lý luận được đăng trên các tạp chí khoa học, trong đó có ba công trình nghiên cứu nổi bật được in thành sách và xuất bản tại Việt Nam Về hình ảnh cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi lại được nhắc đến nhiều qua các đề tài viết về thiên nhiên trong thơ

Nguyễn Trãi, về Quốc âm thi tập, về con người Nguyễn Trãi trong thơ Nôm, bên

cạnh đó hình ảnh cỏ cây còn xuất hiện trong những bài cảm nhận riêng biệt của các nhà nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ cho công việc giảng dạy và cảm thụ tác phẩm

2.1 Lịch sử nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam

Phê bình sinh thái mang đến luồng gió mới trong văn học nước nhà Từ sau

bài phát biểu của Karen Thronber tại Hội thảo quốc tế 2011 Tiếp cận văn học châu

Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội,

phê bình sinh thái bắt đầu được giới nghiên cứu Việt Nam chú ý, tiếp cận qua các công trình dịch thuật và nghiên cứu lý luận Tuy nhiên các bài viết này vẫn còn khá khiêm tốn, lẻ tẻ

Các công trình dịch thuật về phê bình sinh thái bước đầu đã định hình được

khuynh hướng này Bản dịch Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển của Đỗ

Văn Hiểu cho rằng nguồn gốc của phê bình sinh thái bắt đầu từ tiền đề của tư tưởng

triết học sinh thái và nói đến nhiệm vụ của nó là “thông qua văn học để thẩm định

Trang 10

lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người” (Đỗ Văn Hiểu, 2012) Bên cạnh đó, bản dịch còn

giới thiệu quá trình phát triển của phê bình sinh thái qua việc liệt kê các phong trào phê bình sinh thái trên thế giới đến khi thống nhất thành khuynh hướng phê bình sinh thái chung

Bài Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của Karen Thornber

do tác giả Hải Ngọc dịch đã đem đến một cách nhìn mới cho phong trào này Karen Thornber trong công trình nghiên cứu của mình đã sáng tạo ra khái niệm

ecoambiguity (sự mơ hồ sinh thái) và xem nó như khái niệm phản ánh đặc trưng cho

các diễn ngôn về môi trường, tự nhiên trong văn hóa Đông Á Theo bà, văn hóa Đông Á vốn có tư tưởng gắn bó với tự nhiên, nhưng chính tư tưởng này một phần nào đó đã mang đến sự ngộ nhận trong ý thức và cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên dẫn tới sự bất công môi trường Qua đó, nhân loại cần phải nhận thức rõ hơn

về sự phức tạp trong mối quan hệ giữa con người và môi trường ở các nền văn hóa

Bà cũng đề nghị khi tìm hiểu phê bình sinh thái, người nghiên cứu cần phải nắm rõ

ý thức hành tinh (planet consciousness) – là một ý niệm chỉ không gian rộng nhất,

ko bị chia cắt, chiếm dụng “bao trùm cả sự sống con người và cả sự sống của các

thành tố vô nhân (nonhuman)” (Hải Ngọc, 2013) – để có thể hiểu hơn về tinh thần

sinh thái

Bản dịch Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường của

Cheryll Glotfelty do Trần Thị Ánh Nguyệt dịch đã đề cập đến tầm quan trọng của phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học Cuối thế kỷ XX, khi sự sống Trái đất đang bị đe dọa thì sự ra đời của ngành nghiên cứu văn học sinh thái đã trở thành vấn

đề cấp thiết Trong gợi dẫn, Cheryll Glofelty đã diễn giải định nghĩa phê bình sinh thái và quá trình hình thành phê bình sinh thái ở Mĩ Ngoài ra, bà còn cho rằng phê

bình đang trở thành một khuynh hướng nghiên cứu“liên ngành, đa văn hóa và

mang tính quốc tế” (Trần Thị Ánh Nguyệt, 2014), góp phần tạo nên sự kết nối

mạnh mẽ giữa môi trường và sự công bằng xã hội

Chuyên luận Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên (2017) là

một công trình dịch thuật lớn, tổng thuật các bài viết của các nhà phê bình sinh thái

Trang 11

nổi tiếng trên thế giới như Karen Thornber, Kate Rigby, Peter Barry Các bài dịch đều đề cập đến những vấn đề quan trọng của phê bình sinh thái, chủ yếu tập trung đến các khía cạnh: khái niệm phê bình sinh thái, sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái, những biểu hiện sinh thái trong tác phẩm của các nền văn hóa Công trình trên đã góp phần làm cho khuynh hướng phê bình sinh thái Việt Nam đến gần hơn với phê bình sinh thái trên thế giới và khơi gợi sự hứng thú cho giới nghiên cứu văn học nước nhà

Bên cạnh các công trình dịch thuật, phê bình sinh thái cũng được các học giả

đi vào nghiên cứu chuyên sâu và tìm hiểu rất nhiều Bài viết Phê bình sinh thái –

Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân của Đỗ Văn Hiểu đã làm

sáng tỏ một số cách tân về bản chất của phê bình sinh thái so với các khuynh hướng văn học khác Phê bình sinh thái với sứ mệnh chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái đã lấy tư tưởng sinh thái làm trung tâm; xem sự hài hòa, thống nhất giữa con người và tự nhiên làm nguyên tắc mỹ học; xác lập đối tượng và phạm vi nghiên cứu là văn học sinh thái hay mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học “đông tây kim cổ” Theo tác giả, phê bình sinh thái đem đến sự

mới mẻ cho văn học vì nó “góp phần bổ sung cho những khuyết thiếu trong lịch sử

nghiên cứu văn học nhân loại.” (Đỗ Văn Hiểu, 2014) nhưng cũng mang đến nhiều

khó khăn cho giới nghiên cứu văn học khi muốn áp dụng khuynh hướng này

Bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay của

Trần Đình Sử lại chú trọng đến khía cạnh sinh thái học tinh thần Theo ông, sinh

thái học tinh thần không xét đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên mà “tập

trung vào mối quan hệ giữa văn học và môi trường sinh thái tinh thần Nó tồn tại bên cạnh sinh thái học tự nhiên và sinh thái học xã hội Lý giải ra, phê bình sinh thái tinh thần là kiểu phê bình văn học lấy tư tưởng sinh thái làm trung tâm, xem đời sống tinh thần xã hội là bối cảnh của sáng tạo văn học.” (Trần Đình Sử, 2015)

Phê bình sinh thái tinh thần liên quan đến các phạm trù tinh thần, môi trường sinh thái tinh thần, sự sáng tạo của con người Cả ba phạm trù này đều có quan hệ mật thiết tạo nên sinh thái tinh thần cho sáng tác văn nghệ vì văn học bao giờ cũng là

Trang 12

sản phẩm của môi trường sinh thái tinh thần nên văn học nhất thiết cần phải quan tâm đến vấn đề văn hóa xã hội, đặc biệt là vấn đề sinh thái tinh thần của con người

Tác giả Đỗ Văn Hiểu trong một bài viết khác là Tính “khả dụng” của phê

bình sinh thái một lần nữa lại nhấn mạnh sự hài hòa giữa con người và tự nhiên,

xem đó là cơ sở lý luận của phê bình sinh thái, tuy nhiên “không nên cực đoan đề

cao lợi ích sinh thái cũng như không nên cực đoan đề cao lợi ích của con người bất chấp nguy cơ sinh thái, và cần phải chú ý đến lợi ích của con người đồng thời chú ý đến lợi ích của chỉnh thể sinh thái, tiến tới xác lập quan niệm thống nhất hữu cơ giữa lợi ích của nhân loại và lợi ích của chỉnh thể sinh thái.” (Đỗ Văn Hiểu, 2016)

đồng thời ông cũng cho rằng cần phải kết hợp phương pháp nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu nội tại khi khảo sát văn bản văn học để đảm bảo tính thực tiễn và tính thẩm mĩ

Công trình nghiên cứu Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau

năm 1975 dưới góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt và Lê Lưu

Oanh được xem là chuyên luận phê bình sinh thái đầu tiên được xác nhận một cách thuyết phục Trong công trình, các tác giả đã giới thiệu rất cụ thể về lý thuyết phê bình sinh thái trên thế giới và Việt Nam từ khái niệm đến các tiêu chí của phê bình văn học sinh thái, diễn giải cụ thể mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học từ xưa tới nay làm tiền đề cho sự phát triển của nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam Ngoài ra, khi đi sâu vào phân tích nhiều tác phẩm cụ thể, cả hai tác giả đều thấy được một cảm hứng phê phán từ điểm nhìn sinh thái qua các khía cạnh ý thức về con người tội đồ, con người nạn nhân, con người tha hóa và nỗi bất an sinh thái Thông qua cảm hứng phê phán, các tác giả đã nêu ra vấn đề xây dựng lại cảm quan đạo đức sinh thái cho con người hiện đại từ việc kế thừa các diễn ngôn lãng mạn về tự nhiên và nhận diện mẫu hình nhân cách mới cho chủ nghĩa nhân văn sinh

thái Con người phải “biết thương yêu loài vật để gìn giữ nhân tính, biết lắng nghe

tiếng muôn vật để đối thoại với nó… từ đó tạo ra một môi trường sinh thái nhân văn làm nền tảng cho sự sống nhân loại Tôn trọng quy luật tự nhiên, đó là một vấn đề trang nghiêm vĩnh cửu mà con người không được lãng quên.” (Trần Thị Ánh

Nguyệt, Lê Lưu Oanh, 2016)

Trang 13

Nguyễn Thị Tịnh Thy trong chuyên luận Rừng khô, suối cạn, biển độc và

văn chương đã tập trung giới thiệu các khái niệm tiền đề như Sinh thái học, Luân lý học tôn trọng sinh mệnh, Mỹ học sinh thái ; lý thuyết và thành tựu của Văn học sinh thái và Phê bình sinh thái đồng thời đưa ra những bài thực hành nghiên cứu mà

tác giả đã khảo sát qua một số tác phẩm văn học sinh thái nổi bật của Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc Từ việc dẫn ra những định nghĩa phê bình sinh thái của các học giả Âu – Mĩ – Á, tác giả qua việc liệt kê những ưu và nhược điểm của các

định nghĩa trên, đã đề xuất định nghĩa phê bình thái: “Phê bình sinh thái là phê bình

văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm.” (Nguyễn Thị

Tịnh Thy, 2017) Chuyên luận của tác giả không chỉ mang đến tính chân thực cho lý thuyết phê bình sinh thái, mà còn mang đến sức hấp dẫn cho giới nghiên cứu văn học nước nhà

Ứng dụng phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học cho đến nay phần lớn thường thấy được khảo sát qua tác phẩm hiện đại, rất ít những công trình nghiên cứu phê bình sinh thái về các tác phẩm trung đại, nhất là trong thơ Nguyễn Trãi lại càng hiếm hoi hơn nữa Có hai công trình đã vận dụng phê bình sinh thái nghiên cứu thơ Nguyễn Trãi mà chúng tôi tìm được, đó là:

Luận văn Thạc sĩ Tìm hiểu thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi

tập của Nguyễn Trãi từ góc nhìn sinh thái của Lê Thị Thảo (2015) đã xem thiên

nhiên trong thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi như một môi trường sống lý tưởng của tác giả Cái môi trường ấy không chỉ chứa đựng một hệ sinh vật phong phú, một sự chuyển vận của thế giới tự nhiên mà còn là nơi chốn tìm về của tác giả trong những lúc bĩ cực Ngoài ra, tác giả còn thấy rằng, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi cũng mang đậm tính triết lý qua các khía cạnh như: một môi sinh thuần khiết, lý tưởng; chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ; đối tượng tụng ca, thưởng ngoạn Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu này, người viết tuy vận dụng góc nhìn sinh thái để nhìn thiên nhiên như là “môi sinh” của tác giả nhưng chưa đề cập

Trang 14

đến mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người theo như tinh thần của phê bình sinh thái

Tác giả Trần Thị Kim Phướng trong công trình nghiên cứu Con người và

thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới góc nhìn sinh thái đã

nhìn thấy sự phong phú, đa dạng của động, thực vật trong trang thơ chữ Hán và chữ Nôm của hai ông Đó là một hệ sinh thái gồm những “cây” và những “con” được miêu tả chân thực, sinh động như chính bản tính tự nhiên của nó Không chỉ thế,

chúng còn “xuất hiện với mật độ có khi rậm rạp, đông đúc, có khi thưa thớt, ít ỏi

giống như sự phân bố thực tại của chúng trong hệ sinh thái tự nhiên” (Trần Thị

Kim Phướng, 2017) Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy một mối liên hệ sâu sắc giữa con người và tự nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm Đối với họ, thiên nhiên đã trở thành bạn bè, người thân, hàng xóm… cùng chung sống hòa hợp, gắn bó với nhau Chính trong cách ứng xử với tự nhiên, người viết không chỉ thấy được thái độ trân trọng, trìu mến vạn vật mà còn rút ra được thông điệp về sự tôn trọng, bình đẳng với thế giới tự nhiên của hai nhà thơ

2.2 Cỏ cây trong các công trình nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Trãi

Cỏ cây được nhắc đến rất nhiều trong các bài viết về đề tài thiên nhiên, về

Quốc âm thi tập, về con người Nguyễn Trãi qua thơ Nôm Những bài viết này đều

được chúng tôi tìm hiểu trong công trình nghiên cứu Nguyễn Trãi, về tác gia và tác

phẩm của tác giả Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn và giới thiệu), tái bản lần thứ hai

năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội

Nhà nghiên cứu Mai Trân trong bài viết Tình yêu thiên nhiên trong thơ

Nguyễn Trãi đã mang đến cái nhìn chung về thiên nhiên trong thơ chữ Hán và chữ

Nôm Khi nói về thiên nhiên trong thơ Nôm, tác giả khẳng định rằng: Thiên nhiên

với nhà thơ đã trở thành thầy trò, bạn bè, “rõ ràng trúc, mai, mây, gió, chim, bướm,

suối, thông, hoa, trăng, hồ, đá, là những người bạn nhỏ của nhà thơ, chúng bao vây, chúng xoắn vó, chúng quấn quýt lấy nhà thơ” (Mai Trân, 1962) Như vậy,

trong cái nhìn về thiên nhiên, tác giả đã đưa ra được cách cảm nhận về thiên nhiên của Nguyễn Trãi Đó là một thiên nhiên nồng hậu, đầy sức sức sống, phong tình dí dỏm, qua đó cũng thể hiện tình cảm trân trọng, trìu mến thiên nhiên của nhà thơ

Trang 15

Cùng hướng về đề tài thiên nhiên, bài viết Thiên nhiên trong thơ Nguyễn

Trãi của Nguyễn Thiên Thụ, lại được nhắc đến khá nhiều về hình ảnh cỏ cây Hòa

nhịp với cách cảm nhận về thiên nhiên, cỏ cây cũng mang biểu tượng của chân thiện mỹ: bóng dáng người quân tử qua tùng, trúc, mai, sen; người ẩn dật qua hoa cúc; cỏ cây còn mang bản sắc triết lý của Đạo gia qua củ hoàng tinh, cây thiên tuế, cây hòe;

của Phật giáo qua hoa bông bụt Bên cạnh đó“cỏ cây còn có sự thay đổi theo thời

gian của từng mùa, từng tháng” (Nguyễn Thiên Thụ, 1973) Ngoài ra, tác giả còn

nói đến mối liên hệ giữa Nguyễn Trãi và tự nhiên qua việc nhận định nhà thơ hiểu

rõ quan niệm “thiên nhân tương dữ”, “vạn vật đồng nhất thể” và so sánh với con người hiện nay không thể hiểu và yêu thiên nhiên như con người Nguyễn Trãi

Nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê trong bài viết Nguyễn Trãi và đề tài thiên

nhiên trong dòng văn học yêu nước nhận thấy rằng: cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn

Trãi mang đậm phong vị làng quê, đó là những loại cây cỏ nhỏ bé đã được thuần hóa để phục vụ đời sống vật chất và tinh thần con người Và qua việc xây dựng hệ thống hình ảnh những cây mía, cây chuối, cây đa già, cây dâm bụt bên cạnh

những tùng, cúc, trúc, mai , tác giả cho thấy “mối quan hệ giàu giá trị nhân văn

chủ nghĩa giữa thiên nhiên và lao động sản xuất của con người.” (Đặng Thanh Lê,

1980) Nhà nghiên cứu còn phát hiện rằng những bài thơ nói về cây cỏ còn mang ý nghĩa ẩn dụ cho tuổi xanh, tình yêu, tài năng, khí tiết con người, hoặc triết lý Nho, Phật

Với bài viết Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ quốc ngữ Việt Nam,

tác giả Xuân Diệu đã phát hiện rằng Nguyễn Trãi khác hẳn với các nhà Nho xưa

“khi miêu tả sinh động và thắm thiết những loại rau cỏ sản vật của quê hương mình.” (Xuân Diệu, 1980) Trong khi đó, nhà phê bình Hoài Thanh trong bài viết Một vài nét về con người Nguyễn Trãi lại nhận định rằng: “Nguyễn Trãi không phải

vì chán đời mới quay ra yêu cỏ cây, sông núi mà ở ông, tình cảm trìu mến, yêu cỏ cây sông núi cùng với yêu đời xét cho cùng vẫn là một.” (Hoài Thanh, 1980)

Bài viết Địa vị của Nguyễn Trãi trong quá trình phát triển của lịch sử văn

học Việt Nam của Nguyễn Văn Hoàn đã nhận thấy: Nguyễn Trãi đã đưa những từ

ngữ “tầm thường” – tên của các loại cỏ cây như xoan, chuối, muống, mùng, mía, đa,

Trang 16

niềng niễng… đã chịu vắng bóng khá lâu trong văn học, khoảng bốn trăm năm sau khi ông mất thì những hình ảnh này mới xuất hiện trong thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương và tiêu biểu nhất là trong thơ ca nói về đời sống thực

Điều này cho thấy Nguyễn Trãi đã “thoát khỏi những thi liệu cao quý trong văn học

cổ để rồi đưa những cây cỏ - những sản vật quê hương bình thường của cuộc sống vào trong thơ một cách hiền hòa nhưng vẫn phảng phất thi vị” (Nguyễn Văn Hoàn,

1980)

Với bài viết Về con người cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi, tác giả Nguyễn

Hữu Sơn nhận thấy các bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật trong thơ Nôm là sự chiếu ứng

với khí tiết của người quân tử Và trong những bài thơ này “hình bóng tác giả chỉ

được cảm nhận trong tương quan với đối tượng diễn tả” (Nguyễn Hữu Sơn, 1995)

Cùng nói về con người cá nhân nhưng nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết

Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi đã đưa ra sự mâu thuẫn giữa tinh

thần “đại dụng” và thế “vô dụng” trong những vần thơ về cỏ cây Ông nói rằng:

“Chữ nhàn có thể làm cho ông hòa đồng với cây cỏ, vô danh, vô kỷ, vô ngã, êm đềm nhưng lại đặt ông vào thế vô dụng! Mong được đại dụng mới là lý tưởng lớn của cá nhân ông.” (Trần Đình Sử, 1997) Như vậy, theo tác giả, những bài thơ viết về cỏ

cây không chỉ thể hiện cách thức sống nhàn của Nguyễn Trãi mà còn thấy được tấm lòng muốn cống hiến sức lực cho dân cho nước của nhà thơ Đồng quan điểm với

hai tác giả trên, học giả Trần Ngọc Vương trong bài viết Nhà tư tưởng và nhà nghệ

sĩ trong Quốc âm thi tập cũng cho rằng: “Phẩm chất của những loại thảo mộc như mai, tùng, cúc, trúc, thông, sen, lan, quỳ, lựu, chè tương xứng với phẩm chất nào đó

mà người quân tử muốn đạt tới hay là những người nô bộc, tôi tớ chân thành, tâm phúc Đó là xu hướng cảm quan hóa tự nhiên mà tác giả phát hiện trong các bài thơ

về cỏ cây.” (Trần Ngọc Vương, 1997)

Bài viết Quốc âm thi tập của Phạm Thế Ngũ nói nhiều đến “tâm sự u hoài

của Nguyễn Trãi và cỏ cây cũng chính là đối tượng thể hiện nhân cách thanh cao, tấm lòng vì dân vì nước” (Phạm Thế Ngũ, 1997) của nhà thơ: cái kiêu hãnh của hoa

sen ở chỗ bụi lầm mà vẫn vươn lên tỏa hương thơm thanh cao của người quân tử, và không bị vướng mắc vào thế sự buộc bện, đầy oán hận; cái chí khí điềm tĩnh, gắng

Trang 17

gỏi của trúc cũng là một biểu tượng để suy tư Bài viết này dù chỉ điểm qua về cỏ cây nhưng đã cho người đọc thấy được tấm lòng và tâm sự u hoài của Nguyễn Trãi được biểu lộ qua cỏ cây

Trong Luận văn Tiến sĩ Thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi – Quan

niệm thẩm mỹ và phương thức nghệ thuật của Phạm Thị Ngọc Hoa, tác giả đã đưa

ra một cái nhìn sâu sắc về phương diện cái đẹp trong thơ Nguyễn Trãi và xem đó là thẩm mỹ quan của Nguyễn Trãi khi nhà thơ nhìn về thiên nhiên Trong cảm quan chung với thiên nhiên, cỏ cây được tác giả nhắc đến khá nhiều bởi chúng không chỉ

có vẻ đẹp khác nhau mà còn có “mối quan hệ thân thiết và cảm động” (Phạm Thị

Ngọc Hoa, 2012) với nhà thơ Dù cuộc đời của Nguyễn Trãi gặp nhiều điều bất như

ý nhưng tuyệt nhiên trong thơ ông không có cảnh buồn tê tái Qua công trình, tác giả đã lí giải sâu sắc về quan niệm thẩm mỹ và phương thức nghệ thuật để từ đó có được cái nhìn tổng quan hơn về cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi

Ngoài các công trình nghiên cứu trên, cỏ cây còn xuất hiện trong các bài cảm nhận riêng biệt nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy trong nhà trường hoặc bổ trợ cách cảm thụ thơ Nguyễn Trãi cho người đọc Chúng tôi khảo sát và tìm hiểu những

bài viết này qua hai tập sách là: Nguyễn Trãi, nhà văn và tác phẩm trong trường

phổ thông của tác giả Lê Bảo, xuất bản năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục và Tiếp cận thơ văn Nguyễn Trãi của tác giả Đoàn Thị Thu Vân, xuất bản năm 2001, Nhà

xuất bản trẻ, Hội nghiên cứu và giảng day văn học TP HCM

Các bài viết trong hai cuốn sách trên thường nói về một loại cây trong số các loại cỏ cây hoặc đặt cỏ cây ấy trong cái nhìn với mùa xuân, với tình yêu hoặc trong

ý vị thiền Có các bài như: Một bài thơ của Nguyễn Trãi: Ba tiêu của Xuân Diệu (1980), Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi của Nguyễn Hữu Sơn (1985), Một bài thơ tình của Nguyễn Trãi của Cao Hữu Lạng (1985), Cây chuối của Nguyễn Đình Chú (1991), Thơ Nguyễn Trãi – mùa xuân và hoa của Cao Hữu Lạng (1994), Trúc của Bùi Văn Nguyên (1994), Tùng của Lê Trí Viễn và Đoàn Thu Vân (1994), Tùng – Một bài thơ tâm huyết của Nguyễn Trãi của Trần Đình Sử (1995),

Tìm hiểu ý vị thiền trong bài thơ cây chuối của Nguyễn Trãi của Phạm Tú Châu

(1998) Những bài viết trên của các tác giả đã đi sâu vào việc phân tích ý nghĩa cỏ

Trang 18

cây và có sự gặp gỡ nhau trong việc nhận thấy cỏ cây không chỉ mang nét đẹp tự nhiên mà còn mang nét đẹp kín đáo ở phẩm chất và khí tiết hữu dụng vì nước, vì dân, qua đó có thể thấy được cái đẹp tâm hồn nhà thơ Bên cạnh đó, trong cách nhìn

về thiên thiên, các tác giả còn nhận thấy thơ viết về các loại thảo mộc trong mùa xuân khá nhiều, trong số đó, có thể nói độc đáo và cũng là riêng biệt nhất chính là cây chuối Nó không chỉ thể hiện ý vị tình yêu nồng hậu mà còn chứa đựng hơi hướng Thiền tông nhẹ nhàng

Như vậy, các công trình và bài viết về hình ảnh cỏ cây vừa khảo sát ở trên,

có điểm giống nhau trong việc nhận định cỏ cây không chỉ thể hiện cho vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo hóa mà còn có mối giao hòa sâu sắc với nhà thơ Các công trình nghiên cứu trên tuy có điểm qua một vài nét về cỏ cây nhưng do ý định, mục đích nghiên cứu đề ra nên cỏ cây chưa được tiếp cận với tư cách là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt và chưa được soi chiếu dưới góc nhìn phê bình sinh thái Tuy nhiên, các bài viết và chuyên luận trên đã cho chúng tôi một cái nhìn tổng quan về lý thuyết phê bình sinh thái đồng thời ứng dụng lý thuyết này để phân tích các tác phẩm thơ viết về cỏ cây, từ đó đi đến việc xác lập ý nghĩa cỏ cây và kiến giải sự tương giao của chúng với con người nhà thơ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là thế giới cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi được nhà thơ đề cập rải rác trong các bài thơ khác nhau hoặc xuất hiện một cách riêng biệt Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích thế giới cỏ cây dưới góc nhìn phê bình sinh thái

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi, gồm 254 bài thơ viết bằng chữ Nôm Với tập thơ Nôm này, chúng tôi xin lấy

bản dịch do Nguyễn Thạch Giang phiên khảo và chú giải, được Nhà xuất bản Thuận

Hóa Huế in năm 2000 để làm tư liệu khảo sát và trích dẫn

Trang 19

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: với phương pháp này chúng tôi sẽ tiến

hành phân tích những đặc điểm của cỏ cây với tư cách là một biểu hiện thẩm mỹ quan của Nguyễn Trãi, từ đó tổng hợp lại để thấy được ý thức sinh thái và giá trị nhân văn cao đẹp trong tư tưởng, quan niệm sống cũng như nhân cách con người nhà thơ

Phương pháp lịch sử - xã hội: nói đến thơ, nhất là thơ xưa, bao giờ cũng hàm

chứa bối cảnh thời đại xã hội mà nhà văn, nhà thơ sinh sống Vì thế, khi nhắc đến mối tương giao giữa cỏ cây với nhà thơ cần phải sử dụng phương pháp này để thấy được lý do vì sao tác giả lại gắn bó với thế giới giới tự nhiên như vậy

Phương pháp tiểu sử - thực chứng: phương pháp này giúp chúng tôi dùng

những yếu tố về cuộc đời con người của Nguyễn Trãi để giải thích những ảnh hưởng của chúng đến thơ của Nguyễn Trãi

Phương pháp phê bình sinh thái: đây là phương pháp nghiên cứu mới, chúng

tôi sẽ tham chiếu vào việc khảo sát các bài thơ xuất hiện hình ảnh cỏ cây để có được một góc nhìn mới thế giới tự nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các thao tác thống kê, phân loại để giúp

các ý kiến phân tích, nhận định đủ cơ sở thực tế và sức thuyết phục

Hơn nữa, với công trình nghiên cứu này, chúng tôi cũng muốn đề xuất một thái độ sống hòa hợp, gần gũi với tự nhiên như cách mà Nguyễn Trãi đã thể hiện qua tác phẩm của mình Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng có biểu hiện xa

Trang 20

cách và tách rời với tự nhiên, ít có hoặc không có tình cảm thân thiết, hài hoà với tự nhiên như Nguyễn Trãi và con người thời đại ông Như vậy, thông qua cách sống của nhà thơ, con người ngày nay cần tiếp nối truyền thống tốt đẹp ấy và bồi dưỡng cho mình văn hóa ứng xử với tự nhiên theo một cách trân trọng và phù hợp nhất

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Trong chương này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu những vấn đề chung về thời đại, cuộc đời – con người và tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đưa ra những nét khái quát về lý luận phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và trong sự liên quan với đề tài của mình

Chương 2 Thế giới cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và những biểu hiện của thẩm mỹ sinh thái

Ở chương này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu vẻ đẹp cỏ cây – biểu hiện của thẩm mỹ sinh thái qua các khía cạnh vẻ đẹp tự nhiên, đa dạng và vẻ đẹp tương tác, hài hòa trong một chỉnh thể thống nhất

Chương 3 Thế giới cỏ cây trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và mối tương giao với chủ thể trữ tình

Với chương này, chúng tôi đi vào tìm hiểu sự tương giao giữa cỏ cây với con người Nguyễn Trãi, để qua đó thấy cỏ cây không chỉ thể hiện thái độ sống hòa mình với vạn vật, yêu thương và trân trọng tự nhiên của tác giả mà cỏ cây còn là “quê nhà” để nhà thơ trở về như một điểm tựa tinh thần và cội nguồn minh triết trong

cuộc sống

Trang 21

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Nguyễn Trãi và thơ chữ Nôm

1.1.1 Thời đại

Nguyễn Trãi sống trong thời đại cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV Đây

là thời đại diễn ra sự suy thoái của hai nhà Trần, Hồ và sự phát triển đến đỉnh cao của nhà Hậu Lê

Cuối thế kỷ XIV, giai cấp phong kiến nhà Trần bước vào giai đoạn suy yếu Các vị vua cuối triều Trần từ Trần Nghệ Tông đến Trần Thiếu Đế đều là những vị vua bạc nhược, u mê và không có tài cầm quyền Tất cả quyền lực triều chính đều nằm trong tay Hồ Quý Ly Sau khi Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly đã giết vua Thuận Tông và ép vua Trần Thiếu Đế (con vua Trần Thuận Tông, cháu nội vua Trần Nghệ Tông, cháu ngoại Hồ Quý Ly) nhường ngôi cho mình Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, lập ra nhà Hồ, niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, nhưng ngay sau đó lại nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương và lên làm Thái Thượng Hoàng

Là vị vua đầu tiên của triều đại mới, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách các lĩnh vực hành chính, kinh tế, quân sự đồng thời dời đô từ kinh thành Thăng Long về Thanh Hóa Trong khoảng thời gian trị vì, ông còn đem quân đánh Chiêm Thành và chiếm được nhiều châu huyện lúc bấy giờ Thế nhưng, nhà Hồ chưa được thành lập bao lâu, giặc Minh thừa dịp tình thế xã hội nước ta có nhiều xáo trộn biến đổi làm cho lòng dân li tán, thế nước không yên đã viện cớ “phù Trần diệt Hồ” nhằm xua quân sang xâm lược Năm 1406, tướng Trương Phụ của nhà Minh chỉ huy mở cuộc xâm lược vào nước ta Quân nhà Hồ tích cực chống cự nhưng nhanh chóng gặp thất bại Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly và các triều thần nhà Hồ đều bị quân Minh bắt

và đưa về Trung Quốc

Dưới ách cai trị của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt liên tiếp nổ ra ở khắp cả nước Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa này chỉ duy trì trong thời gian ngắn rồi lại bị quân Minh đàn áp và thất bại

Trang 22

Năm 1416, Lê Lợi tổ chức Hội thề Lũng Nhai để tập hợp người hiền, kẻ sĩ có tài nhằm chuẩn bị khởi nghĩa Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương Nghĩa quân Lam Sơn thời gian đầu mới thành lập ở vùng núi Thanh Hóa luôn gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều tổn thất khi phải hứng chịu những cuộc truy quét của quân Minh và quân Ai Lao Quân Lam Sơn phải tiến quân ra Nghệ An xây dựng căn cứ địa, sau nhiều trận đánh với quân Minh, quân Lam Sơn đã giải phóng liên tiếp hầu hết các vùng từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa Sau đó, Lê Lợi tiến quân ra Bắc, bao vây quân Minh tại thành Đông Quan, Vương Thông xin giảng hòa để ngầm sai người về nước xin viện binh Cuối năm 1427, nhà Minh cử Liễu Thăng, Mộc Thạnh mang mười lăm vạn quân sang viện trợ Vương Thông nhưng mau chóng bị nghĩa quân đánh bại và tiêu diệt Vương Thông cùng đường phải giảng hòa và được Lê Lợi “mở đường hiếu sinh” cho phép rút quân về nước

Sau mười năm kháng chiến kiên trì gian khổ (từ năm 1417 đến năm 1427), nghĩa quân Lam Sơn đã đuổi sạch giặc Minh, đưa đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, độc lập

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, thi hành nhiều chính sách mới và đạt được nhiều thành tựu Vương triều nhà Lê không chỉ kế thừa thành tựu của thời Lý Trần mà còn phát triển thêm hướng đi mới

phù hợp với tình hình đất nước, lựa chọn “hệ tư tưởng Nho gia kết hợp với tinh thần

tự cường dân tộc làm nền tảng để xây dựng một thể chế nhà nước phong kiến hiệu quả nhất trong việc nội trị cũng như ngoại giao, nhằm phát huy nội lực và đưa đất nước đi đến cường thịnh, có vị thế cao trong khu vực.” (Đoàn Thị Thu Vân chủ

biên, 2009) Có thể nói, thế kỷ XV là giai đoạn mà chế độ phong kiến Đại Việt đạt đến sự cường thịnh, phát triển đáng tự hào của dân tộc

1.1.2 Con người - cuộc đời

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Hải Dương (sau dời về Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây) Cha là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, làm quan dưới triều nhà Hồ Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán – tôn thất nhà Trần Nguyễn Trãi từ nhỏ đã được bồi dưỡng “truyền

Trang 23

thống yêu nước thương dân và tình cảm nhân hậu rộng mở” từ cha và ông ngoại Tư tưởng này theo suốt cuộc đời Nguyễn Trãi và được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm của ông

Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi sống với mẹ và ông ngoại ở dinh quan Tư đồ, sau dời về Côn Sơn Khi mẹ và ông ngoại đều mất, ông về sống với cha ở Nhị Khê Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh và cùng cha ra làm quan dưới triều Hồ, phụ giúp Hồ Quý Ly thi hành cải cách về kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm đưa đất nước phát triển hơn

Năm 1407, nhà Minh cướp nước ta, Nguyễn Phi Khanh cũng nằm trong số quan lại bị giặc bắt mang sang Trung Quốc Nguyễn Trãi cùng em trai đi theo với ý định sang bên kia biên giới để chăm sóc cha trong khoảng thời gian bị cầm tù Khi đến biên ải, nghe lời cha khuyên dạy, ông ở lại “đền nợ nước, báo thù nhà”, nhưng lại bị giặc Minh bắt giữ và giam lỏng tại thành Đông Quan Sau đó, ông tìm cách thoát ra và đi nhiều nơi để tìm kiếm vị minh chủ phò tá diệt giặc Năm 1418, Lê Lợi

khởi nghĩa tại Lam Sơn, Nguyễn Trãi tìm gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách Ông

theo Lê Lợi kháng chiến, giữ nhiều chức vụ quan trọng, được Lê Lợi tin tưởng cho làm quân sư và thảo những thư từ, mệnh lệnh quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn

Năm 1427, giặc Minh rút về nước Năm 1428, nhà Lê được thành lập Nguyễn Trãi bắt đầu thực hiện lý tưởng xây dựng đất nước nhưng chưa được bao lâu thì bị nghi oan và bị bắt giam, sau đó lại được thả nhưng không được tin dùng như trước Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, vua Lê Thái Tông lên ngôi tuổi còn non trẻ, bọn gian thần luôn đặt điều gièm pha ông với vua Đau buồn vì thói đời cay đắng và cũng vì lý tưởng không thể tiếp tục được thực hiện, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn (năm 1437, 1438)

Nguyễn Trãi là một con người có lòng “ưu dân ái quốc” sâu đậm Tuy về Côn Sơn sống thanh nhàn, hướng lòng về cuộc sống chân quê, nhưng càng gần gũi với nhân dân, ông càng thấm thía hơn ai hết cuộc sống cơ cực, vất vả của họ, đồng thời cảm thông, gắn bó sẻ chia với những con người cơ cực ấy Không chỉ lo dân, ông còn hướng lòng về đất nước Nỗi niềm canh cánh về “việc nước” luôn theo suốt

Trang 24

cuộc đời Nguyễn Trãi Đa số các bài thơ Nôm trong thời kỳ ở ẩn của ông đều toát lên niềm ưu hoài dân nước đến “cuồn cuộn”

Năm 1440, Lê Thái Tông sau khi đã trừ khử những thế lực bất chính, nắm lại quyền hành, chấn chỉnh triều đình đã mời Nguyễn Trãi trở ra làm quan, ông nghe lệnh vua và bắt tay thực hiện hoài bão trị nước an dân Nhưng chưa được bao lâu thì

sự biến Lệ Chi viên xảy ra, vua Lê Thái Tông mất sau khi ghé thăm ông và nghỉ đêm tại Trại Vải trên đường về kinh Bọn gian thần vịn vào cớ đó mà kết tội ông mưu giết vua và tru di ba họ Nỗi oan khiên thảm khốc ấy kéo dài mãi đến năm

1464 mới được Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan, truy phục tước phong và cho sưu tầm thơ văn của ông

Cuộc đời Nguyễn Trãi dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng ở ông, nổi bật lên trên tất cả vẫn là hình ảnh của một con người “lo đời, đau đời”, suốt đời luôn trăn trở, lo âu cho “dân, nước”, mang trong mình chí hướng sắt son và một tâm hồn, một nhân cách thanh cao trong sáng:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước nước triều Đông

(Thuật hứng, bài 5)

Nguyễn Trãi không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao tài ba

mà còn là nhà văn hóa tư tưởng lớn, một tác gia văn học lớn Các sáng tác của ông cho đến nay vẫn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong nền thơ ca dân tộc Ông để lại một số lượng lớn các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị to lớn trong nền văn học nước nhà

1.1.3 Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi

Trong suốt cuộc đời sáng tác, Nguyễn Trãi đã để lại một số lượng lớn các tác

phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị Riêng bộ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

được giới nghiên cứu đánh giá là tác phẩm xưa nhất bằng tiếng Việt còn giữ được đến ngày nay Tập thơ là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu ngôn ngữ và văn học dân tộc

Việc sưu tầm văn bản thơ Nôm Nguyễn Trãi cho đến nay đã dần hoàn thiện

Từ sau vụ thảm án Lệ Chi Viên, số lượng thơ của Nguyễn Trãi bao gồm cả Quốc

Trang 25

âm thi tập cũng bị tiêu hủy và thất lạc rất nhiều Đến năm Quang Thuận thứ tám,

vua Lê Thánh Tông sau khi giải oan và khôi phục cho ông đã hạ chỉ cho Trần Khắc Kiệm sưu tầm lại những di cảo thơ văn của ông Tiếp theo đến mấy trăm năm thăng trầm của lịch sử từ nhà Lê cho đến đầu nhà Nguyễn, bản sưu tầm thơ ông của Nguyễn Khắc Kiệm cũng bị thất lạc Mãi đến thời vua Minh Mạng, Tự Đức, các nhà Nho như Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngô Thế Vinh cùng chung sức

tìm kiếm và sưu tập, lại đem khắc ván in Bộ sách có tên chung là Ức trai thi tập gồm 7 quyển Quốc âm thi tập nằm trong quyển thứ bảy

Một điều cần lưu ý là tập thơ Quốc âm thi tập sưu tầm được không phải là

nguyên bản của Nguyễn Trãi mà là do người đời sau chép lại, theo bản cũ đã nát mà chép hoặc do người đọc cho mà chép, cứ như thế qua nhiều thời kỳ khác nhau được chép đi chép lại cho nên có nhiều dị bản chưa thống nhất với nhau về mặt từ ngữ

Không chỉ thế, khi sưu tầm, khảo đính Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, các nhà

nghiên cứu còn nhận thấy có sự nhập nhằng bởi có một số bài thơ Nôm của Nguyễn

Trãi xuất hiện trong tập thơ Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong bản chép tay Bạch Vân thi tập gồm 100 bài thì có đến 20 bài có chép trong Quốc âm thi

tập, bản in của Nguyễn Trãi; các bài ở hai bên giống hệt nhau, có khi khác một hay

nhiều câu, có khi chỉ khác đôi chữ Theo các học giả sưu tầm thì bản in có trước bản chép tay nên có thể người sưu tầm thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn đưa thêm tác phẩm của người khác vào để thêm số trang cho tập sách chứ không phải là nguyên bản của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mất từ lâu

Năm 1956, nhà xuất bản Văn Sử Địa đã in bản sách Quốc âm thi tập do cụ

Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm phiên âm ra quốc ngữ và chú giải Bản sách dù không có nguyên tác bằng chữ Nôm nhưng đã giúp những người khảo cứu rất nhiều trong việc biên soạn lại thơ Nôm Nguyễn Trãi Sau bản phiên âm chú giải trên, đã

có khá nhiều bản phiên âm, chú giải Quốc âm thi tập của các nhà nghiên cứu khác

Từ các bản sưu tầm và các bản phiên âm, chú giải, có thể thấy rằng: Quốc

âm thi tập là tập thơ viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi được phát hiện trong bộ

Ức Trai di tập, quyển thứ bảy Đa số những bài này được ông sáng tác khi đã về ở

ẩn tại Côn Sơn những năm 1437,1438

Trang 26

Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ được chia làm 4 chủ đề, trong mỗi chủ đề

có các mục bài khác nhau

Phần Vô đề (các đề tài về bày tỏ chí hướng, thuật lại những chuyện tản mạn,

tự răn mình, răn con cháu về các bài học đạo đức) có 192 bài thơ gồm: Thủ vĩ ngâm,

Ngôn chí (21 bài), Mạn thuật (14 bài), Trần tình (9 bài), Thuật hứng (25 bài), Tự thán (41 bài), Tự thuật (11 bài), Tức sự (4 bài), Tự giới, Bảo kính cảnh giới (61 bài), Qui Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác, Giới sắc, Giới nộ, Huấn nam tử

Phần Thời lệnh môn (đề tài về thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa) có 21 bài thơ gồm: Tảo xuân đắc ý, Trừ tịch, Vãn xuân, Xuân hoa tuyệt cú, Hạ cảnh tuyệt cú,

Thu nguyệt tuyệt cú, Tích cảnh (13 bài), Thủy trung nguyệt, Thủy thiên nhất sắc

Phần Hoa mộc môn (đề tài về các loại hoa lá, cỏ cây) có 34 bài thơ gồm:

Mai, Lão mai, Cúc, Hồng cúc, Tùng (3 bài), Trúc (3 bài), Mai (3 bài), Đào hoa (6

bài), Mẫu đơn hoa, Hoàng tinh, Thiên tuế thụ, Ba tiêu, Mộc cận, Giá, Lão dung,

Cúc, Mộc hoa, Mạt lị, Liên hoa, Hòe, Cam đường, Trường yên hoa, Dương

Phần Cầm thú môn (đề tài về các loài con vật) gồm 7 bài thơ: Lão hạc, Nhạn

trận, Điệp trận, Miêu, Trư, Thái cầu, Nghiễn trung ngưu

Quốc âm thi tập có giá trị to lớn trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam Về nội

dung, tập thơ thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, nếp cảm nếp nghĩ về thiên nhiên, đất nước, con người của nhà thơ như lòng tha thiết yêu thiên nhiên, ca tụng cảnh đời thái bình an lạc, lòng yêu chân thành đối với dân với nước, sự quan tâm đến nền đạo đức luân lý và khai thác các giá trị của dân tộc Về nghệ thuật, Nguyễn Trãi sử dụng chữ Nôm và thể thơ thất ngôn xen lục ngôn phù hợp với tình điệu tâm hồn dân tộc (hơi giống với thơ tự do), có bài thất ngôn bát cú, có bài thất ngôn tứ tuyệt; bên cạnh đó, việc sử dụng những thi liệu dân gian cùng với từ ngữ Việt hóa, giọng điệu hài hước, hóm hỉnh cũng đã góp phần làm cho tập thơ có sức sống lâu bền và ảnh hưởng mạnh mẽ về sau

Với Quốc âm thi tập, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã nhận định rằng

“Nguyễn Trãi được xem như nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng

là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều nhất trong nền thơ ca cổ điển dân tộc.” (Nguyễn Hữu Sơn, 2001)

Trang 27

1.2 Tiền đề triết học về mối quan hệ thiên – nhân và hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam

1.2.1 Triết học tam giáo trong quan hệ giữa con người và tự nhiên

Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên không phải mới xuất hiện khi phê bình sinh thái được manh nha, mà nó đã có cách đây hàng trăm năm trong các nền văn hóa phương Đông và phương Tây qua triết học, mĩ học và văn chương Trong văn hóa Đông phương, nhất là ở Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được thể hiện sâu sắc và rõ rệt nhất qua ba tư tưởng triết học Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Ba nền tư tưởng này bao hàm triết lý phong phú mang quan điểm sinh thái đặc trưng Dù cách thức thể hiện khác nhau nhưng tựu trung, lại có sự gặp gỡ trong thái độ trân trọng và hài hòa với tự nhiên, mang đến giá trị, ý nghĩa to lớn trong việc hình thành và xây dựng cơ sở lý luận cho tư tưởng sinh thái hiện đại

Nho gia vốn là học thuyết chính trị theo quan điểm “con người là trung tâm”, hạt nhân quan trọng của triết học Nho gia là “nhân” – “nhân giả ái nhân” Chữ nhân

từ yêu người đến yêu vạn vật trong tự nhiên và trở thành hành vi đạo đức Trí tuệ sinh thái Nho học là một thứ trí tuệ nhập thế Nó nhận thấy con người và tự nhiên

có mối tương cảm, giao hòa với nhau “thiên nhân hợp nhất” (trời và người hợp nhất), “thiên nhân tương dữ” (trời và người liên quan mật thiết với nhau), “thiên nhân tương cảm” (trời và người cảm ứng với nhau) Nho gia đặt con người ở địa vị trung tâm không phải để thống trị, bóc lột tự nhiên mà là thiết lập niềm tin đối với lương tri của con người trong việc ý thức họ là một phần của tự nhiên, thống nhất cùng một thể Có thể thấy Nho gia đã chú ý đến tinh thần và tình cảm nhân ái đối với vạn vật Đó chính là biểu hiện của sự theo đuổi đạo đức nhân ái của Nho gia

Bên cạnh đó, tư tưởng “dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục” (dưỡng tâm không có gì

tốt hơn là ít dục) của Nho gia đã khuyên con người nuôi dưỡng lòng thiện, từ bỏ dục vọng hay vật chất, quyền lợi Con người cần biết sống và nắm bắt quy luật tự nhiên của sinh thái, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên tự nhiên, đảm bảo sự tuần hoàn của giới tự nhiên Khổng Tử yêu cầu không được đốn cây lớn, bắt cá phải dùng mắt lưới

to, có như vậy thì tự nhiên mới trường tồn bền vững theo quy luật Như vậy, trí tuệ sinh thái Nho gia thích hợp với yêu cầu thực tế, giúp nhân loại phát triển bền vững

Trang 28

Triết học Đạo gia được đánh giá là học thuyết có trí tuệ sinh thái sâu sắc và hoàn thiện nhất Đạo gia rất chú trọng đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Đó là thứ “trí tuệ sinh thái xuất thế”(Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017) Nó tìm hiểu các mối quan hệ con người – xã hội – tự nhiên Các quan niệm, triết lý của Đạo gia đều

có ý nghĩa trong việc xây dựng tư tưởng sinh thái hiện đại, giải quyết nguy cơ sinh

thái mà con người phải đối mặt Lão Tử quan niệm “nhân pháp địa, địa pháp thiên,

thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (người theo lẽ đất, đất theo lẽ trời, trời theo lẽ

đạo, đạo theo lẽ tự nhiên) và “vô vi nhi vô bất vi” (không làm nhưng không gì là

không làm) Triết lý “vô vi” của Lão Tử không phải là không làm gì mà là không làm gì trái với tự nhiên, khuyên con người sống thuận theo tự nhiên, đi theo quy luật mà nó vốn có, để sự vật phát sinh theo sự hòa hợp với Đạo “Vô vi” là thuận theo tự nhiên, lấy “vô vi” để thay cho cái “hữu vi”, ngăn chặn những sự tiến hành trái quy luật tự nhiên vì mục đích cá nhân của “nhân vi”, nhằm bảo vệ trạng thái thống nhất hài hòa của tự nhiên Lão Tử còn chủ trương con người và vạn vật bình

đẳng “thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất” (trời đất cùng sinh ra với

ta, vạn vật với ta là một) Quan niệm này được học trò của ông – Trang Tử phát triển lên, hy vọng con người trở về với nhân tính tự nhiên, làm cho sinh mệnh của mình hòa hợp với tự nhiên Trang Tử là một người thích ngao du, có “thiên tâm” gần gũi với tự nhiên Ông thích sự hài hòa vốn có của vạn vật nhất thể chưa bị phân chia và chú trọng cái “chân” của bản tính, phản đối những hành vi làm hại bản tính Bởi sống thuận theo tự nhiên là “thiện”, làm thay đổi bản tính là “ác” Như vậy, tư tưởng sinh thái Đạo gia qua thái độ tôn trọng tự nhiên, theo đuổi vô vi, thuận theo bản tính của vạn vật đã mang đến giá trị và ý nghĩa quan trọng đối với thời hiện đại trong việc khai thác và bảo vệ tự nhiên theo quy luật sinh thái

Trí tuệ sinh thái Phật giáo là kiểu trí tuệ xuất thế, xem con người là một bộ phận của tự nhiên Từ mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa vạn vật trong tự nhiên theo sự giác ngộ về “duyên khởi” của đức Phật, Phật giáo đề xuất cái nhìn bình đẳng đối với vạn vật “vạn vật giai hữu Phật tính” (vạn vật đều có Phật tính) Con người và vạn vật vốn cùng một bản thể, cùng mang Phật tính như nhau – tức cái

Trang 29

tính giác ngộ, hồn nhiên, trong sáng, cùng tồn tại mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau trong cùng một chỉnh thể thống nhất

Hơn nữa, Phật giáo răn dạy con người cần phải có lòng từ bi với vạn vật Đó

là thái độ từ ái, thương xót đối với vạn vật chúng sinh Phải có đức hiếu sinh đối với vạn vật, tôn trọng sinh mệnh của tự nhiên, không được tàn sát muôn loài một cách

vô lý, phải biết yêu thương, trân trọng tất cả sinh vật trong môi trường sống tự nhiên gồm cả vật “hữu tri hữu giác” hay “vô tri vô giác” Thế giới tự nhiên là một môi trường không chỉ giúp vạn vật sinh sôi mà còn là nơi nuôi sống muôn loài Vì vậy, con người – với tư cách của loài có trí tuệ, cần phải thực hiện đạo đức hiếu sinh để bảo vệ sự sống của muôn loài trong tự nhiên và cũng như là bảo vệ sự sống của chính mình Ngay cả Đức Phật Thích Ca trước khi trở thành đấng Giác Ngộ cũng đã luân chuyển, đầu thai qua nhiều kiếp số từ con người, thần linh đến các loài vật như

cỏ cây, muông thú chỉ với mục đích thấu hiểu nhân sinh của muôn loài trong thế giới tự nhiên Đây là một cái nhìn nhân đạo trong triết thuyết của Phật giáo và thích hợp trong việc định hướng đạo đức sinh thái của con người thời hiện đại

Như vậy, với những triết lý sâu sắc trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, cả ba hệ tư tưởng Nho, Đạo, Phật tuy khác nhau trong quan niệm về vị trí của con người trong vũ trụ và quan niệm ứng xử với cuộc đời nhưng đều gặp nhau trong việc xem con người là bộ phận của tự nhiên, chú trọng lối sống hài hòa với tự nhiên, xem đó là yêu cầu đạo đức của con người Những tư tưởng này đã đi sâu vào đời sống tâm linh, văn hóa, xã hội của con người, nhất là người Việt xưa tạo thành một thế giới quan chi phối mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm và được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học Việt Nam thời kỳ trung đại Những mối quan hệ của phê bình sinh thái với tư tưởng phương Đông đã trở thành những nội dung quan trọng cho việc hoàn thiện lý luận phê bình sinh thái hiện đại

1.2.2 Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam

Thiên nhiên trong thơ ca từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng quen thuộc và dường như không thể vắng bóng trong các sáng tác của thi nhân Chịu ảnh hưởng của thi pháp trung đại, thiên nhiên chưa được nhìn nhận như một đối tượng thẩm

mỹ độc lập, riêng biệt mà chỉ được xem như là một phương tiện, công cụ để con

Trang 30

người bày tỏ tâm sự hoặc thể hiện chí hướng, hay triết lý đạo đức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng, ngay cả khi thiên nhiên chưa được nhìn nhận là một thực thể sinh mệnh độc lập thì con người trung đại cũng đã

có một mối liên kết mật thiết với môi trường tự nhiên

Triết học Nho, Phật, Đạo trong suốt thời kỳ trung đại đã trở thành một hệ tư tưởng không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Đại Việt xưa, nhất là trong giai đoạn văn học thời Lý Trần – khi mà chủ trương tam giáo đồng nguyên với Phật giáo Thiền tông chiếm ưu thế, đã ảnh hưởng đến sáng tác của một bộ phận văn học vốn vừa là thi sĩ vừa là thiền sư Những bài học triết lý uyên áo, vi diệu của những học thuyết này đã chi phối rất nhiều đến thế giới quan của thi nhân xưa và được biểu hiện cụ thể qua tác phẩm viết về thiên nhiên Vì thế, hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại trước hết mang ý nghĩa biểu tượng cho triết lý Thiền tông Thiên nhiên giờ đây trở thành nơi chuyển tải những bài học đạo đức về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp:

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

ánh chớp, có rồi lại mất Từ việc “hiểu rõ quy luật sinh – trụ – dị – diệt của thế

giới tự nhiên và sinh – lão –bệnh – tử của đời người, con người không còn bị cầm

tù trong những vòng dây của đau buồn, lo sợ, tiếc nuối về chuyện thịnh suy, được mất.” (Đoàn Thị Thu Vân chủ biên, 2009) Khi ý thức được con người và vũ trụ

vốn cùng một bản thể, biết được thế giới hiện tại chỉ là vô thường, đầy biến động, không ngừng đổi thay sinh diệt thì con người hãy luôn giữ vững tâm an nhiên, đừng

lo sợ chuyện được mất ở đời mà hãy sống thanh thản, hòa nhịp cùng quy luật của tự

Trang 31

nhiên, trân trọng những phút giây hiện tại để không phải nuối tiếc những gì thuộc về quá khứ

Nếu như ở thời Lý, thiên nhiên là phương tiên để trực tiếp chuyển tải những yếu chỉ Thiền tông thì đến đời Trần, thiên nhiên đã được miêu tả cụ thể và sinh

động hơn “Thơ Thiền đời Trần ít triết lý trực tiếp, nó thường miêu tả thiên nhiên,

ngoại vật và tâm trạng, cảm xúc mang ý vị thiền của nhà thơ Và thông điệp mà nó muốn truyền đạt đến người đọc rất tinh vi trong các hình ảnh biểu tượng, từ đó thấu nhập vào người đọc một cách tự nhiên sâu sắc qua con đường cảm xúc.” (Đoàn Thị

Thu Vân, 1996).Vì thế, người đọc khi tiếp xúc thơ Thiền đời Trần, nếu không chú ý

kỹ thì sẽ không thấy được ý vị Thiền cất giấu trong thơ, mà chỉ thấy được bức tranh thiên nhiên hài hòa, tinh tế qua từng đường nét khắc họa:

Dạ khí phân lương nhập họa bình Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh

Trúc đường vong thích hương sơ tận Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh

(Tảo thu, Huyền Quang)

(Khí đêm tỏa hơi thơm mát thấm vào bức bình phong vẽ Cây trước sân xào xạc báo âm thanh mùa thu

Dưới mái tranh quên bẵng hương vừa tắt Mấy khóm cây cành giăng lưới ánh sáng trăng

(Thu sớm)

Mùa thu đến trong sự cảm nhận của nhà thơ bắt đầu từ khí đêm mát lạnh, tiếng cây xào xạc trong đêm Hơi đêm và tiếng cây xào xạc gợi nhắc con người về thời gian hiện tại, nhưng những hình ảnh này lại đối lập với hình ảnh nén hương vừa tắt – thời gian mới qua Động thái “quên” bẵng nén hương vừa tắt của nhà thơ được diễn tả rất nhẹ nhàng không chỉ thể hiện một sự hòa nhập tuyệt đối giữa tâm hồn thi sĩ với trăng sáng đêm thu mà còn khiến cho thời gian hiện thực ngưng đọng, thời gian vĩnh cữu xuất hiện Đó là hình ảnh của một con người vô ngã quên đi bản thân để hòa nhập làm một với cái “đại ngã” tự nhiên, vũ trụ Giây phút ấy, nhà thơ không còn là mình nữa mà đã hòa tan vào lưới trăng sáng trong đêm thu sớm Ý thơ

Trang 32

vừa mang đậm chất thơ, vừa toát lên ý vị Thiền mạnh mẽ Tinh thần vô ngã với trạng thái quên không phải là phủ nhận con người mà là giúp con người đạt đến sự

tự do tuyệt đối trong tâm hồn, từ đó đạt đến tâm bình đẳng và cái nhìn yêu thương với vạn vật

Bên cạnh đó, thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam còn là “thế giới tinh thần”, là ký hiệu để thi nhân xưa giãi bày tâm trạng Thời xưa, khi ý thức cá nhân chưa được biểu hiện một cách mạnh mẽ thì con người chỉ biết gửi gắm tâm trạng, nỗi niềm của mình vào thiên nhiên, nhờ vào chúng để giải tỏa tâm trạng Theo đó, thiên nhiên trở thành đối tượng thể hiện đặc trưng nhân cách và thế giới nội tâm con người

Nhà Nho là một bộ phận sáng tác văn học đông đảo, đóng góp không ít những bài thơ có giá trị vào kho tàng văn học dân tộc Phần lớn nhà Nho bao giờ cũng thường trực một chí hướng giúp nước cứu đời, cái chí hướng ấy không thể san

sẻ cùng ai mà chỉ có thể được gửi gắm qua hình ảnh thiên nhiên:

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày

Có thuốc trường sinh càng khỏe thay

Hổ phách, phục linh nhìn mới biết Dành còn để trợ dân này

(Tùng – bài 3, Nguyễn Trãi)

Hình ảnh cây tùng xuất hiện trong bài thơ không chỉ mang lại sự vững chãi, kiên cố ở bề ngoài mà còn có sự kiên định, bền bỉ ở bên trong Nó cũng chính là đại diện cho chí hướng, năng lực và phẩm chất của nhà thơ, dẫu có trải qua nhiều mùa sương giá thì càng sản sinh thêm nhiều “thuốc trường sinh”- vị thuốc quý báu cống hiến cho đời Ở Nguyễn Trãi, thuốc trường sinh chính là cái lý tưởng, cái khát vọng phục vụ đất nước, nhân dân và theo thời gian, nó trở thành “hổ phách, phục linh”, cái chất tinh túy sản sinh từ quá trình gian lao rèn luyện đã giúp ông vượt lên nghịch cảnh Bài thơ vừa thể hiện chí hướng cứu nước, giúp đời vừa diễn tả sâu sắc vẻ đẹp nội tại, kín đáo trong con người nhà thơ

Trang 33

Trong một số bài thơ, thiên nhiên đôi khi còn thể hiện cho triết lý sống nhàn của các nhà Nho ẩn dật, trở thành một thái độ đối lập với cái nhơ nhuốc, rối ren của

xã hội bên ngoài:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Nguyễn Bỉnh Khiêm đề xuất cho mình một triết lý sống nhàn riêng, đó là sống thuận theo tự nhiên và có đôi nét giống với tinh thần của triết học Lão – Trang Sống nhàn đối với ông là sống theo quy luật tự nhiên, mùa nào thức nấy, không cưỡng cầu những gì trái với tự nhiên Đó là cuộc sống giản dị và thanh cao hơn bao giờ hết Sự đạm bạc trong thức ăn hằng ngày như măng trức, giá đỗ có thể tìm thấy

ở bất cứ nơi đâu trong nếp nhà của người dân Không cầu cạnh những thứ xa hoa, nhà thơ luôn tự hài lòng với lối sống tự cung tự cấp, hòa mình vào tự nhiên để đổi lấy cuộc sống thanh cao và bức tranh về cuộc sống thanh nhàn tưởng như đạm bạc

ấy lại trở nên có màu sắc, có hương vị hơn

Trong xu hướng miêu tả thiên nhiên, thơ ca không chỉ bày tỏ chí hướng, thể hiện phẩm chất con người mà còn đi sâu vào miêu tả, bộc bạch thế giới nội tâm của người xưa Đó đôi khi là tâm trạng cô đơn, thoáng nét bi quan đến tột cùng của một

vị danh nho thời nhà Nguyễn: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng

giữa trời mà reo/ Lưng trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông

(Vịnh cây thông, Nguyễn Công Trứ); nhưng cũng đồng thời là tâm trạng thấp thỏm,

lo âu của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến phương xa, không biết bao giờ mới có thể gặp lại Thiên nhiên ấy giờ đây tràn ngập một nỗi thương chờ, một tấm lòng khát khao đến cùng cực và một sự uẩn ức trong tâm hồn:

Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,

Nọ loài chim chắp cánh cùng bay

Liễu sen là thức cỏ cây, Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền

Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây

(Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn)

Trang 34

Lo lắng, thấp thỏm cho tình cảnh của người chồng nơi phương xa, người chinh phụ tìm kiếm sự an ủi trong căn phòng của hai vợ chồng nhưng chỉ thấy sự lẻ loi, cô độc Phóng tầm mắt ra xa, người chinh phụ lại càng đau đớn hơn khi nhìn những loài vật có đôi có cặp còn mình mình thì đơn bóng Càng tìm kiếm sự an ủi thì lại càng thất vọng Hạnh phúc giờ đây đối với nàng chỉ là khoảng không vô tận,

mờ mịt Qua việc miêu tả tình cảnh của người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã đi sâu vào những ngóc ngách, tâm tư của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến để họ cất lên tiếng nói cá nhân, khát vọng tình yêu đôi lứa vì xã hội phong kiến thời bấy giờ không cho phép con người bộc bạch nỗi niềm riêng, nhất là những người phụ nữ

Ngoài ra, thiên nhiên trong thơ ca trung đại còn là nguyên tắc thẩm mỹ được

sử dụng để miêu tả cái đẹp của con người Trong tác phẩm Truyện Kiều, nếu Thúy

Vân được Nguyễn Du miêu tả với sắc vóc đoan trang, được thiên nhiên ưu ái,

nhường nhịn, báo hiệu một cuộc đời bình an: “Vân xem trang trọng khác vời/

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” thì vẻ đẹp của Thúy Kiều lại được khắc họa một

cách tinh tế, sắc sảo nhưng vẻ đẹp ấy bị hoa ghen, liễu hờn, báo hiệu cuộc đời thăng trầm, sóng gió:

Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Với bút pháp ước lệ tượng trưng, thiên nhiên không chỉ được Nguyễn Du dùng để miêu tả tài sắc của Thúy Kiều, Thúy Vân mà còn được sử dụng như một điềm báo số mệnh cho cuộc đời của hai chị em nàng

Đôi khi thiên nhiên cũng được các nhà thơ sử dụng như một phương tiện để miêu tả bước đi của thời gian qua các mùa xuân, hạ, thu, đông Trong tác phẩm

Truyện Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả thời gian của bốn mùa rất tinh tế, trong đó mùa

hạ và mùa đông là đặc sắc hơn cả Mùa hạ hiện ra với hình ảnh hoa lựu nở rộ và

tiếng chim quyên kêu dưới đêm trăng: “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa

lựu lập lòe đơm bông” Mùa đông lại được nhà thơ miêu tả qua dấu hiệu của hình

Trang 35

ảnh sen tàn, cúc nở và quy luật tự nhiên tháng mười ngày ngắn hơn đêm: “Sen tàn

cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”

Thiên nhiên trong thơ ca trung đại còn là đối tượng để nói về khí tiết, phẩm chất của con người trong xã hội xưa Người phương Đông thường đưa ra quan niệm rằng: tất cả mọi vật trên đời đều có linh hồn – “vạn vật hữu linh” hay “vạn vật chi tố linh” Vì thế mà khi miêu tả thiên nhiên, người ta không chú trọng vẻ bề ngoài mà

chú ý đến phần bên trong Đó là “cách nhìn sự vật thiên nhiên không tự bản thân sự

vật mà nhìn xuyên qua bề ngoài đạt tới cái linh hồn của sự vật.” (Đoàn Thị Thu

Vân chủ biên, 2009) Nhìn tùng, trúc, mai người ta thấy được phẩm chất, cái khí tiết thanh cao của người quân tử, nhìn cỏ dại người ta thấy sự xấu xa, cái thấp hèn của hạng tiểu nhân

Phượng những tiếc cao diều hãy lượn Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi

(Tự thuật – bài 9, Nguyễn Trãi)

Như vậy, thông qua hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam, có thể thấy rằng trong xu hướng thâm nhập thiên nhiên, con người nhận thấy bản thân mình là một tiểu vũ trụ trong cái đại vũ trụ, là một bộ phận của tự nhiên, có mối quan hệ dung hòa và mật thiết với nhau Sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo cũng như truyền thống gắn bó với tự nhiên từ lâu đời của ông cha đã hình thành một thế giới quan chi phối đến tư tưởng, văn hóa, văn học của người trung đại Như vậy, thiên nhiên trong thơ ca trung đại vừa biểu tượng cho triết lý Thiền tông, vừa là nơi con người bộc lộ tâm sự, gửi gắm nỗi niềm chí hướng, và cũng vừa

là nguyên tắc thẩm mỹ để miêu tả vẻ đẹp cũng như phẩm chất con người Theo đó, khi soi chiếu dưới góc nhìn phê bình sinh thái, các tác phẩm viết về thiên nhiên dù chưa đúng nghĩa với văn học sinh thái hiện đại nhưng ý thức sinh thái đã được tồn tại trong tư tưởng người viết đương thời Chính điều này đã góp phần thể hiện cho khuynh hướng phê bình sinh thái ngày nay càng được hoàn thiện và mở rộng hơn

1.3 Lý luận về phê bình sinh thái trong văn học

Trong xã hội hiện đại, khi mà con người dần bước đến những thành tựu vượt trội của khoa học kỹ thuật thì cũng là lúc họ phải đối mặt với nhiều vấn nạn đến từ

Trang 36

tự nhiên Hiện tượng trái đất nóng lên, băng tan ở hai cực, núi lửa, sóng thần… đã trở thành những cảnh báo từ thế giới tự nhiên Chúng không còn là vấn đề của một khu vực, một quốc gia nữa mà đã trở thành một vấn đề lớn của thế giới Đứng trước tình trạng trên, phê bình sinh thái ra đời không chỉ “thiết lập lại” vị trí của môi trường tự nhiên mà còn đề xuất một thái độ sống hòa hợp, gắn gó giữa con người và

tự nhiên trong xã hội hiện đại, góp phần làm giảm thiểu nguy cơ sinh thái

1.3.1 Khái lược lý luận phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái xuất hiện vào cuối thế kỷ XX, được “khởi phát ở Mĩ vào

thập niên 80, ở Anh vào thập niên 90” (Hoàng Tố Mai chủ biên, 2017) Khuynh

hướng nghiên cứu này vốn được manh nha từ thời kỳ chủ nghĩa tư bản – khi mà con người bắt đầu tàn phá môi trường tự nhiên để phục vụ cho những lợi ích của mình Những dấu hiệu về nguy cơ sinh thái được nhắc đến khá nhiều qua các diễn ngôn lãng mạn trong văn học của một số nước Như vậy, theo sự thúc đẩy phát triển của của thời đại và tính cấp thiết của môi trường tự nhiên, phê bình sinh thái từ một phong trào lẻ tẻ, rời rạc đã dần thống nhất trở thành khuynh hướng nghiên cứu văn học và lan rộng ra nhiều nước trên thế giới

Phê bình sinh thái (Ecocriticism) còn được các nhà nghiên cứu định danh

với nhiều tên gọi khác như: Phê bình văn hóa xanh (Green cultural studies), Phê

bình xanh (Green studies), Phê bình văn học và môi trường (Enviromental literary

criticism), Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and eviroment),

Thi pháp sinh thái (Ecopoetics), Sinh thái học văn học (Literary ecology) Tuy

nhiên, dù được gọi với nhiều tên khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu vẫn ưa chuộng tên “phê bình sinh thái” hơn Theo Cheryll Glotfelty, thuật ngữ “phê bình sinh thái” sở dĩ được yêu thích bởi vì nó ngắn gọn và dễ tạo thành hai dạng thức

khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritic (nhà phê bình sinh

thái) Bên cạnh đó, các nhà phê bình cũng quan tâm nhiều hơn đến tiền tố “eco-” (sinh thái) hơn tiền tố “eviro-” (môi trường), bởi vì xét theo nghĩa rộng, tiền tố

“eco-” (sinh thái) mang ý nghĩa vạn vật trong cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một hệ thống hòa hợp, gắn bó mật thiết với nhau Ngược lại, tiền tố “enviro-”

Trang 37

(môi trường) lại mang quan điểm nhị nguyên, chia rõ con người là trung tâm, còn tất cả mọi thứ xung quanh là môi trường

Trên thế giới, có rất nhiều học giả đã đưa ra định nghĩa phê bình sinh thái Ở châu Âu và châu Mỹ có năm định nghĩa của các học giả James S Hans, Scott Slovic, Cheryll Glotfelty, William Howarth, Lawrence Buell có ảnh hướng lớn tới giới phê bình sinh thái Trong số các giới định trên, thì định nghĩa của Cheryll Glotfelty được chú ý và tiếp nhận nhiều hơn cả bởi nó không chỉ dễ hiểu mà còn tóm lược được phần lớn nội dung phê bình sinh thái, có tính hòa hợp về tư tưởng rất

mạnh Theo bà “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn

học và môi trường tự nhiên”, “Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” Cũng trong định nghĩa này, Cheryll Glotfelty còn bổ sung: “Phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm (earth-centered)” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017)

Theo định nghĩa này, có thể thấy Cheryll Glotfelty đã vạch ra sứ mệnh quan trọng của phê bình sinh thái là tiến hành xem xét mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên với mục đích thẩm định lại văn hóa nhân loại, truy tìm nguồn gốc phê phán văn hóa, tư tưởng dẫn tới nguy cơ sinh thái Bên cạnh đó, khi nghiên cứu các văn bản văn học, phê bình sinh thái phải đặt chúng trong hệ thống sinh thái để thấy được tính thẩm mỹ và tính nghệ thuật Ngoài ra, định nghĩa của bà còn chú trọng đến tư tưởng chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái và thẩm mỹ sinh thái với vai trò làm hài hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Dù bao hàm được tính lý luận nhưng định nghĩa của Cheryll Glotfelty còn tồn tại sự nhập nhằng giữa các giới thuyết “sinh thái” – “môi trường”, “một chân ở văn học” – “một chân ở trái đất”, khiến cho nhiều học giả còn mơ hồ về phương pháp nghiên cứu

Phê bình sinh thái không chỉ được các nhà nghiên cứu phê bình Âu Mỹ định nghĩa mà ở Châu Á, học giả Vương Nặc (Trung Quốc) cũng đưa ra định nghĩa:

“Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh

Trang 38

thể sinh thái Nó phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017) Định

nghĩa của Vương Nặc được phát triển từ năm định nghĩa của các học giả Âu, Mỹ Song khi so với định nghĩa của Cheryll Glotfelty thì chúng tôi thấy được vài nét giống nhau Thứ nhất, cả hai định nghĩa đều vạch rõ sứ mệnh quan trọng của phê bình sinh thái là xem xét mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên, thông qua văn học

để thẩm định lại văn hóa, tư tưởng nhân loại, chỉ ra căn nguyên dẫn đến nguy cơ sinh thái Thứ hai, phê bình sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng cốt lõi, chuyển hướng nghiên cứu “con người làm trung tâm” sang “sinh thái làm trung tâm” Cuối cùng, phê bình sinh thái chú trọng đến đặc trưng thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm

Tuy nhiên, dù giống nhau về mặt lý thuyết nhưng cả hai định nghĩa có sự khác biệt Dù đã tổng hợp những ưu điểm và hạn chế trong định nghĩa của các nhà nghiên cứu Âu Mỹ, nhưng định nghĩa của Vương Nặc vẫn có chỗ thiếu sót vì nó chỉ

“phơi bày nguy cơ sinh thái trong tác phẩm văn học” còn những tác phẩm không

chứa nguy cơ sinh thái thì không cần khảo sát Điều này đã khuôn hẹp đối tượng nghiên cứu của phê bình sinh thái và bỏ qua những thành tựu lớn Bởi đối tượng nghiên cứu của phê bình sinh thái không chỉ tác phẩm văn học sinh thái mà là toàn

bộ các tác phẩm văn học Đông Tây kim cổ

Như vậy, thông qua định nghĩa của Cheryll Glofelty và Vương Nặc về phê bình sinh thái có thể thấy rằng: dù tồn tại tại những mặt hạn chế trong lý luận nhưng phải thừa nhận được sự nỗ lực trong việc tìm kiếm một định nghĩa khái quát và chính xác về phê bình sinh thái của hai học giả, giúp cho lý thuyết phê bình sinh thái bước đầu được hoàn thiện Về vai trò, phê bình sinh thái phân tích chỉ ra căn nguyên về văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Về tư tưởng, phê bình sinh thái lấy tư tưởng “sinh thái làm trung tâm” Về nguyên tắc thẩm mỹ, phê bình sinh thái chú trọng đến sự thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người và

xã hội Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phê bình sinh thái có thể khảo sát những tác phẩm văn học sinh thái và những tác phẩm văn học Đông Tây kim cổ

Trang 39

Phê bình sinh thái có hai hướng nghiên cứu là phê bình sinh thái tự nhiên và phê bình sinh thái tinh thần Nếu phê bình sinh thái tự nhiên nghiên cứu mối quan hệ

giữa văn học và tự nhiên thì phê bình sinh thái tinh thần lại chú trọng đến “mối

quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trung vào quan hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ” (Trần Đình Sử, 2015) Phê bình

sinh thái khi nghiên cứu văn bản văn học, bao giờ cũng chú ý đến cảm hứng phê

phán và cảm hứng ngợi ca Cảm hứng ngợi ca được thể hiện qua việc“ngợi ca vẻ

đẹp của tự nhiên, ngợi ca quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên”, còn cảm

hứng phê phán lại được biểu hiện qua việc “mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên,

và thường là thông qua phản tư và phê phán quan hệ mâu thuẫn này để thức tỉnh ý thức sinh thái, chỉ ra nguy cơ của việc con người chiếm đoạt tự nhiên, khai thác vô

độ tự nhiên chính là tự đào huyệt chôn mình” (Đỗ Văn Hiểu, 2016) Theo đó, việc

tìm ra những biểu hiện này đã trở thành cơ sở xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên cho nhân loại

Ngoài ra, phê bình sinh thái còn tồn tại hai đặc trưng cần lưu ý là đạo đức sinh thái và thẩm mỹ sinh thái Đạo đức sinh thái là một nội dung quan trọng tạo nên tính nhân văn của khuynh hướng phê bình sinh thái Bởi nó không chỉ hướng con người đến với tự nhiên mà còn xây dựng một ý thức về “môi trường”, ý thức sinh thái, tinh thần sinh thái cho con người thời hiện đại Trong bối cảnh sự sống của Trái đất đang bị đe dọa một cách trầm trọng, thì việc xây dựng ý thức sinh thái

đã trở thành giải pháp tối ưu góp phần làm giảm thiểu những nguy cơ sinh thái bởi xét đến cùng, mục tiêu của phê bình sinh thái chính là xây dựng ý thức sinh thái

Trong công trình Xây dựng đạo đức sinh thái, một trách nhiệm xã hội của

con người với tự nhiên, học giả Phạm Thị Ngọc Trầm (2002) đã đề xuất khái niệm

về ý thức sinh thái mới:

Ý thức sinh thái mới là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (các yếu tố cả tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai

Trang 40

trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa

vụ của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó

hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên

Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với tự nhiên, trước hết ở việc xem tự nhiên là một đối tượng có sinh mệnh độc lập, có tình cảm, cảm xúc và cùng tồn tại trong một chỉnh thể tự nhiên hài hòa,

thống nhất với con người:“Bất cứ sinh mệnh nào cũng có giá trị tồn tại bình đẳng

nhưng chỉ có con người mới có thể gánh vác trách nhiệm đạo đức tôn trọng sinh mệnh.” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017) Bên cạnh đó, phê bình sinh thái nhấn mạnh

con người và tất cả mọi sinh mệnh khác trong tự nhiên đều là những thành viên bình đẳng trong hệ thống tự nhiên Con người không phải là chủ thể, là đấng sáng tạo của

tự nhiên, cũng như thiên nhiên không phải là khách thể, là nô lệ phục vụ con người Quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ phát triển hài hòa, cộng sinh Con người và tự nhiên là mỗi yếu tố trong hệ thống, nếu thay đổi hay tác động vào một yếu tố sẽ dẫn đến việc mất cân đối trong hệ thống chỉnh thể sinh thái Vì vậy, khi tìm hiểu các văn bản sinh thái, người phê bình phải nhìn thế giới tự nhiên bằng ý thức sinh thái chứ không phải bằng ý thức thẩm mỹ thông thường vốn xem thiên nhiên là đối tượng nghiên cứu của văn học, là khách thể của văn chương Con người không thể cứ mãi theo lối sống “ngộ nhận” mặc sức cải tạo thiên nhiên, phá hoại tự nhiên để phục vụ cho những ích lợi, những ham muốn thực dụng của bản thân mà quên đi giá trị của nó là nuôi dưỡng sự sống cho muôn loài, trong đó có cả con người Phê bình sinh thái đề cao tư tưởng sinh thái là trung tâm nhưng không có nghĩa là hạ thấp con người, mà là đề xuất thái độ sống gần gũi, gắn bó với tự nhiên, tôn trọng bất cứ sinh vật nào từ con người đến các loài động, thực vật Con người nhất thiết cần phải hình thành ý thức sinh thái trong định hướng đạo đức sinh thái,

vì chỉ có như thế, tự nhiên mới được bảo vệ trường tồn và nhân loại có thể tránh được những nguy cơ sinh thái Như vậy, qua việc định hướng đạo đức sinh thái từ

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w