1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự trình hiện nhân vật nữ trong cánh đồng bất tận từ truyện ngắn đến điện ảnh

107 74 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Nghệ thuật điện ảnh Dẫn luận giáo trình chuyên ngành điện ảnh của tác giả David Bordwell, Kristin Thompson cung cấp những khái niệm cơ bản nhất về điện ảnh, cách đọc ý nghĩa t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Tôi cũng vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè Đó chính

là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi vô cùng tri ân sự hướng dẫn tận tình và theo dõi sát sao đầy tinh thần trách nhiệm của tiến sĩ Nguyễn Thị Minh trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn bộ quý thầy cô của khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã có vai trò rất lớn trong suốt quá trình tôi theo học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 4

Mục lục

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: Khái niệm sự trình hiện của Stuart Hall và phương pháp phân tích sự trình hiện trong các loại văn bản 22

1.1 Khái niệm sự trình hiện 22

1.1.1 Công cụ phân tích sự trình hiện 22

1.1.2 Quá trình tạo nên sự trình hiện 30

1.2 Sự dịch chuyển kí hiệu từ văn bản ngôn từ đến điện ảnh 38

1.2.1 Cơ sở diễn giải hệ thống kí hiệu trong tác phẩm điện ảnh cải biên 38

1.2.2 Những khái niệm cần lưu ý trong diễn giải kí hiệu tác phẩm điện ảnh 40

Chương 2: Sự trình hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” 42

2.1 Nụ cười và nước mắt trong cuộc đời nhân vật Sương 43

2.1.1 Nụ cười của Sương 43

2.1.2 Nước mắt của Sương 60

2.2 Sự trình hiện nụ cười và nước mắt trong cuộc đời nhân vật Nương 63

2.2.1 Nụ cười của Nương 63

2.2.2 Nước mắt của Nương 68

Chương 3: Sự trình hiện nhân vật nữ trong phim điện ảnh “Cánh đồng bất tận” 72

3.1 Nhân vật Sương trong không gian chiếc ghe và cánh đồng 72

3.1.1 Nhân vật Sương trong không gian chiếc ghe 73

3.1.2 Nhân vật Sương trong không gian cánh đồng 85

3.2 Nhân vật Nương trong không gian chiếc ghe và cánh đồng 89

3.2.1 Nhân vật Nương trong không gian chiếc ghe 90

3.2.2 Nhân vật Nương trong không gian cánh đồng 94

KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong nghiên cứu văn hóa, sự trình hiện là yếu tố quan trọng để hiểu về đời sống tinh thần của một cá nhân và tập thể Chúng ta tư duy, nghi vấn và khám phá thế giới bằng kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình tiếp xúc với các loại văn bản

Ta dần chấp nhận sự trình hiện như một phần tất yếu của nhận thức mà thiếu tính đối thoại về nó Bất cứ một sự trình hiện nào, dù là khách quan nhất: bản tin thời sự,

kí sự, phim tài liệu… vẫn có sự sắp đặt của người khác Hình ảnh được trình hiện không bao giờ là hiện thực tuyệt đối Vì thế, nghiên cứu về sự trình hiện không đơn thuần chỉ là miêu tả, dựng lại cấu trúc của đối tượng mà còn phát hiện ý nghĩa văn hóa, mang lại diễn giải mới về đối tượng

Đồng bằng Tây Nam Bộ có nhiều tác giả trẻ Văn học gắn bó mật thiết với thiên nhiên và con người Nhắc đến Tây Nam Bộ, ta thường hình dung ngay đến những

con người chân chất, mộc mạc, yêu nước: người chiến sĩ trong “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, người thanh niên trẻ theo tiếng gọi cách mạng trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi Đến thời kì hiện đại, Nguyễn Ngọc

Tư là cây bút phác họa lên một góc nhìn khác trong cuộc sống đời thường ở miền Tây Nam Bộ Chân dung những người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư mang lại những diễn giải mới về con người

Trong các bài phê bình và nghiên cứu về nhân vật nữ trong “Cánh đồng bất tận”, người phụ nữ thường được nhận định sống trong bi kịch vì nỗi cô đơn, tình yêu đơn phương, chấp nhận nỗi đau như một thói quen Nhưng liệu họ có thực sự đau khổ vì chính tình yêu thương của mình hay không, hay còn vì một điều gì khác? Tập truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” được nhận giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam

2006, giải thưởng Văn học ASEAN năm 2008 và Literaturpreis do Litprom - Hiệp hội quảng bá văn học châu Á năm 2018 Bộ phim “Cánh đồng bất tận” nhận được nhiều giải thưởng giá trị như giải Cánh diều vàng 2010 cho hạng mục phim truyện nhựa xuất sắc nhất, đạo diễn phim xuất sắc nhất, nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và

Trang 6

hạng mục do báo chí bình chọn Những thành công ấy phần nào thể hiện giá trị về nhân vật trung tâm là người phụ nữ trong cả hai tác phẩm Với một tác phẩm có sức lan tỏa đến độc giả trong thời gian dài, có sức ảnh hưởng đến công chúng quốc tế, liệu có đủ thỏa mãn khi chỉ chỉ dừng lại ở một cách diễn giải đơn giản hay không? Khám phá ý nghĩa về người phụ nữ cần có thêm một lăng kính mới để khơi gợi tiềm năng nghệ thuật trong hai tác phẩm truyện ngắn và phim điện ảnh Thế giới nội tâm

và uẩn khúc trong quá khứ của mỗi nhân vật được Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Phan Quang Bình trình hiện như thế nào? Trong sự khác biệt về chất liệu, ý nghĩa của nhân vật liệu có thay đổi hay không? Tác phẩm điện ảnh có phải là một sản phẩm thứ cấp của văn học? Bằng việc khám phá sự trình hiện nhân vật nữ, chân dung các nhân vật một lần nữa được hiện lên rõ ràng và ý nghĩa mới được tạo nên trong sự đối sánh của phương pháp phân tích trình hiện theo Stuart Hall Đây là hướng nghiên cứu khác với các phương pháp nghiên cứu trước đó là phân tích, phân loại các chi tiết về nhân vật theo các tiêu chí của khung lí thuyết rồi khái quát thành đặc điểm Kí hiệu về người phụ nữ cần được đặt trong mối quan hệ tương đồng và đối lập với các nhân vật khác trong cùng hệ thống để khám phá nhiều ý nghĩa hơn nữa

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về nghệ thuật cải biên và phân tích sự trình hiện nghệ thuật bằng kí hiệu

2.1.1 Các nghiên cứu quốc tế

a Nghiên cứu của người viết tham khảo 4 cuốn sách quan trọng về phân tích sự trình hiện nghệ thuật bằng kí hiệu:

Cuốn sách Representation: Cultural Representation and Signifying Practices của

tác giả Stuart Hall viết năm 1997 là hướng nghiên cứu về sự trình hiện hình ảnh được đề cập và giảng dạy lần đầu tiên tại Mĩ Đó là một trong những hướng nghiên cứu thực hành kí hiệu học được phát triển bởi Stuart Hall Những bài giảng của tác giả Stuart Hall về sự trình hiện tập hợp thành 5 chương bao gồm cả lí thuyết và các thực hành về sự trình hiện Bằng các khái niệm công cụ liên quan đến phương pháp

Trang 7

phân tích kí hiệu và diễn ngôn, tác giả đã làm rõ những định kiến về sự trình hiện người da đen trên các phương tiện truyền thông tại Mỹ và Anh Đó là quá trình truyền thông kiến tạo nên ý nghĩa cho một đối tượng và xây dựng nên một thế giới

có ý nghĩa theo một trật tự mới Sự trình hiện có liên hệ mật thiết với ngôn ngữ, là công cụ mạnh mẽ giúp trí tuệ con người thực hiện mong muốn tạo ra thế giới với đầy đủ ý nghĩa Lí thuyết về sự trình hiện trong bài luận chủ yếu được đúc kết từ lí thuyết của Staurt Hall Và hướng tiếp cận sự trình hiện cũng đi theo phương pháp

của Staurt Hall vận dụng trong chương 4: “Cảnh tượng của ‘Tha thể’” (The spectacle of the ‘Other’) Tác giả khai thác các đặc trưng để tìm ra sự khác biệt

trong những trình hiện tưởng chừng như rập khuôn và được sắp xếp có chủ ý Đồng thời, tác giả lí giải về cách ta “nhìn” những kiểu mẫu và vai trò của chúng trong quá trình diễn giải của con người

Flim Studies the Basic của Amy Villarejo là cuốn sách được xuất bản ở nhiều

trường đại học liên quan đến nghiên cứu điện ảnh tại Mỹ và Canada Nội dung trình bày khái quát các khái niệm về điện ảnh Điện ảnh là một hệ thống kí hiệu chuyên

biệt dùng sự liên tục của hình ảnh để truyền tải nội dung Chương 2 “Ngôn ngữ của điện ảnh” (The language of flim) cung cấp những khái niệm cơ bản trong kết cấu

một bộ phim và cũng là cách thức để người xem tiếp cận đến nội dung của bất kì tác phẩm điện ảnh nào Trong sự trình hiện một khái niệm lên màn ảnh phải là sự kết hợp tổng hòa từ các yếu tố: dựng cảnh, khung hình, ánh sáng, phục trang, kĩ thuật quay phim… Đọc được ngôn ngữ của hình ảnh chính là cách thức giúp ta tư duy sâu hơn bên trong thế giới phim ảnh và hiểu được tầng sâu văn hóa mà bộ phim muốn truyền tải

Tokyo in transit: Japan Culture on the Rails and Road của tác giả Alisa Freedman

là nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản thông qua phương tiện giao thông công cộng tàu điện, xe buýt Trong chương 4, tác giả khám phá hình tượng những cô gái xe buýt như là biểu tượng văn hóa về những tác động nhanh chóng của công nghệ hiện đại hóa Ý nghĩa của những cô gái được những hành khách mà họ gặp nhìn nhận không giống nhau Tác giả đi sâu vào khai thác trong thực hành trình hiện cụ thể trong ba diễn ngôn văn hóa hóa là tác phẩm truyện “Người đưa xác chết” (Shitai Shokainin)

Trang 8

của Kawabata Yasunari năm 1929, “Cuộc chạy tiếp sức giết người” (Murder Relay) (Satsujin rire) năm 1934 của Yumeno Kyusaku (1889-1993) và “Nàng Okoma” (Okoma-san) của Ibuse Masuji (1898-1936) vào năm 1940 Tác giả sử dụng ý nghĩa

về sự trình hiện của các cô gái trong so sánh tương đồng và khác biệt để nâng lên tính khái quát về giá trị sống của một giai đoạn xã hội Bài viết thể hiện những điểm nhìn khác nhau (chủ yếu là các tác giả nam) về người phụ nữ gắn với sự nghèo hèn, nhỏ bé và là đối tượng của ham muốn Các cô nhân viên nữ lần đầu tiên được trình hiện ra trước công chúng giống như một hình thức phục vụ của ‘geisha’ Đây là một nghiên cứu về sự trình hiện người phụ nữ sử dụng lí thuyết nghiên cứu văn hóa (cultural studies)

Cuốn sách Nghệ thuật điện ảnh (Dẫn luận giáo trình chuyên ngành điện ảnh)

của tác giả David Bordwell, Kristin Thompson cung cấp những khái niệm cơ bản nhất về điện ảnh, cách đọc ý nghĩa trong một khung hình hay một cảnh quay Trong

chương 2 “Ý nghĩa của hình thức phim”, cuốn sách trình bày cách hiểu của các nhà

làm phim trong cách dùng hình ảnh như một hình thức chứ không phải chất liệu –

“Kịch bản điện ảnh là một cấu trúc” (William Goldman, nhà biên kịch phim “Butch

Cassidy and the Sundance”) Cuốn sách phủ nhận quan điểm hình thức đối lập với

nội dung phim mà khẳng định mọi yếu tố bên trong hay bên ngoài đều có “chức năng như phần toàn bộ của khuôn mẫu” [4] Cuốn sách đề xuất cách phân tích phim

thông qua kí hiệu hình ảnh đặc thù hay những qui ước mang tính cố định thường được sử dụng trong các bộ phim kinh điển

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Chân trời của hình ảnh từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurowasa Akira của tác giả Đào Lê Na, có vai trò như một nền tảng lí thuyết vững chắc cho

nghiên cứu nội dung và hình thức cải biên tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh Trong đó, cơ sở của việc xem tác phẩm cải biên như một tác phẩm nghệ thuật độc lập và hoàn chình là điều trọng tâm nhất Sự phức hợp của nhiều lí thuyết như: liên văn bản (Bakhtin), phiên dịch (James S.Holmes), văn hóa (hiểu theo quan niệm của phương Tây và trường phái thực hành trình hiện của Mĩ với đại diện là Stuart Hall), giải kiến tạo (Bakhtin) Các lí thuyết ấy là mắt xích quan trọng, làm tiền đề tiến

Trang 9

hành thâm nhập vào thế giới của bất kì tác phẩm cải biên nào Cải biên không phải

là sự chuyển đổi hệ thống kí hiệu một cách võ đoán mà sự sắp đặt có tính toán của người nghệ sĩ để tạo nên một thế giới nghệ thuật hoàn toàn mới

2.2 Các nghiên cứu về tác giả Nguyễn Ngọc Tư và sáng tác của cô

2.2.1 Về phong cách tác giả Nguyễn Ngọc Tư

Luận văn “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của tác giả Nguyễn Thành

Ngọc Bảo đã khái quát những nét nổi bật trong sáng tác tự sự Nguyễn Ngọc Tư dưới góc độ thi pháp truyện ngắn truyền thống (cảm hứng sáng tác, hệ thống nhân vật) và thi pháp văn xuôi hiện đại (đặc điểm thi pháp trần thuật và thi pháp ngôn từ)

Tác giả luận văn nhận định: “Cánh đồng bất tận là một ngã rẽ bất ngờ để thách thức và làm mới bản thân tác giả, thấy những mặt đen tối xấu xa, dữ dằn của nông thôn Nam Bộ” [2]

Theo tác giả, nhân vật được khái quát trong tính từ “cô đơn” “Cô đơn là nỗi đau, là

bi kịch tinh thần lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm thấy rõ niềm cô đơn mà không bi quan, tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức

về nỗi cô đơn Họ chấp nhận bởi họ cảm thấy nỗi đau ấy là lẽ sống Và, từ nỗi đau

ấy họ vươn lên, làm người Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái đẹp, cái thiện” [2] Nhân vật được xây dựng là nhân vật điển hình có

tầm nhìn rộng, tầm vóc ngang bằng hoặc cao hơn so với nguyên mẫu đời sống Nguyễn Ngọc Tư ít chịu ảnh hưởng của trào lưu văn chương thế giới, tác phẩm chưa mang hơi thở của thời đại Luận văn phân tích tác phẩm theo hướng làm rõ nội dung, có tính toàn diện trên nhiều khía cạnh, chia đối tượng theo nhóm ngành nghề Đặc điểm truyện phân tích theo thi pháp truyền thống: cốt truyện, chi tiết, tình huống

Đối với công chúng lúc bấy giờ, phong cách Nguyễn Ngọc Tư đã gắn bó với sự

mộc mạc, giản dị của làng quê qua các sáng tác: “Ngọn đèn không tắt, Ông ngoại, Biển người mênh mông” Đến “Cánh đồng bất tận” là một sự thay đổi phong cách sáng tác đầy bất ngờ Trong bài báo "Tiếng thở dài với Cánh đồng bất tận", tác giả

Đỗ Hồng Ngọc không giấu nỗi sự thất vọng khi nhà văn miền Tây Nam Bộ dần mất

Trang 10

đi chất mộc mạc Người viết cho rằng, Nguyễn Ngọc Tư đã quá chạy theo cái mới, theo khuynh hướng văn học phương Tây mà quay lưng lại với cốt cách "đồng nội" Nguyễn Ngọc Tư thay đổi văn phong của mình, một phần cũng vì chạy theo thị hiếu

độc giả, "sợ người ta đã ngán ngẩm mình, chán nản minh nên phải làm mới" [17]

Người viết không phủ nhận thành công và tầm ảnh hưởng của "Cánh đồng bất tận"

nhưng lại "hụt hẫng như đánh mất một đức tin" vì sự thay đổi phong cách sáng tác

của tác giả

2.2.2 Về một số đặc trưng trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Trong bài viết “Thân phận cô đơn của người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, tác giả Lê Thị Kim Liên khẳng định: “Nhân vật nữ cô đơn là nét tiêu biểu” [12] Bài viết lí giải nguyên nhân của nỗi cô đơn ấy và giải thích nguyên nhân

vì sao điều đó trở thành bản chất của nhân vật Truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” được nhắc đến ba lần với sự minh họa cho hầu hết sắc thái cô đơn Người vợ Út Vũ

là người phụ nữ cô đơn trong tình yêu Nương là người phụ nữ cô đơn giữa hận thù

và cũng cô đơn trong chính hình hài hiện sinh (nhân vật Nương luôn day dứt về thân thể của mình, về một hình hài giống với mẹ) Tác giả lí giải dựa trên thống kê các chi tiết về hành động và cảm xúc biểu hiện sự cô đơn của nhân vật

Hướng nghiên cứu của luận văn “Ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của Từ Thị Mỹ Hạnh lấy cơ sở là ngôn ngữ học tri nhận Đó là con đường ý

niệm hóa về sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan thông qua các từ ngữ gắn liền với văn hóa dân tộc Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khái quát những ẩn

dụ tri nhận trong hơn 70 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và khái quát tư duy của người bản địa về ngôn ngữ Tác giả lựa chọn tìm hiểu về ẩn dụ trong ngôn ngữ bởi

đó là công cụ tạo nghĩa cho khái niệm mới Cơ sở xác lập nghĩa dựa trên hai yếu tố

là văn hóa địa phương và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn Luận văn có đóng góp cho sự phát triển từ ngữ trong văn học, đặc biệt là văn học vùng Tây Nam Bộ Đồng thời, luận văn mở ra cách hiểu mới về con người và văn hóa Nam Bộ, phù hợp với dòng phát triển tri nhận của nhân loại

Trang 11

Trong luận văn “Truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư – một cái nhìn so sánh”,

tác giả Mai Nguyễn Bích Thuận đã so sánh phong cách sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư trên hai thể loại là truyện ngắn và tản văn Tác giả đưa ra được những định nghĩa xác đáng về thể loại “tản văn”, đang là khái niệm khá mơ hồ trong công chúng Đồng thời trong truyện ngắn, tác giả cũng tập trung làm rõ sự khác biệt với tản văn trên hai phương diện là nội dung cảm hứng và phương thức tự sự Đối với nhân vật người phụ nữ, luận văn có những phát hiện độc đáo về giọng điệu trần thuật Mượn điểm nhìn trần thuật của Nương, nhà văn thể hiện thái độ thương xót cho thân phận những cô gái điếm bán thân mưu sinh và mơ ước gia đình với họ là điều xa xỉ

Trong luận văn “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ cấu trúc trần thuật”, tác giả Đinh Thị Kiều Oanh trình bày khái niệm về cấu trúc trần thuật của tác phẩm tự sự nói chung là “Đơn vị của cấu trúc trần thuật là cấu hình cảnh và cấu hình diễn ngôn” [21] Luận văn làm rõ mối quan hệ giữa câu chuyện (sự kiện

được liệt kê theo trình tự thời gian) và nghệ thuật trần thuật Trong đó, hành vi kể được xem là yếu tố quan trọng, cấu tạo nên tác phẩm và thể hiện quan niệm của tác giả Luận văn chỉ ra sự khác nhau trong phối cảnh trần thuật và phối cảnh điện ảnh Phương pháp phân tích cảnh gồm sự phối hợp các thao tác phân tích hình tượng và ngôn ngữ: phân tách cảnh, sắp xếp mô hình và trật tự, lập mô hình cảnh, đối chiếu cảnh trước và cảnh sau để tái hiện lại mô hình cốt truyện Tuy nhiên sự phân tách này chỉ nhằm đối chiếu giữa truyện và truyện, chưa mở rộng trong lĩnh vực điện ảnh Luận văn có đề cập đến một số điểm lí thuyết trong việc phân chia cảnh và diễn ngôn ứng dụng từ lí thuyết trong lĩnh vực điện ảnh của tác giả Lotman Phối

cảnh điện ảnh là “trật tự sắp xếp các sự kiện quan điểm nhân sinh, ấn tượng chủ quan (nội dung chính) của truyện chưa phác họa được mối quan hệ giữa cảnh và nhân vật Cảnh lấy nhân tố chính là sự kiện – thời gian (không gian ít được chú trọng nhưng điều này thể hiện rõ trong điện ảnh)” [21] Ngôi kể trong thể loại truyện ngắn và điện ảnh đều xuất phát từ nhân vật thể hiện được chiều sâu nội tâm Luận văn phân tích yếu tố này có quan hệ chặt chẽ trong việc thể hiện các diễn ngôn, đối thoại Phân tích cấu hình cảnh trong truyện, luận văn phát hiện được kĩ xảo chêm xen (cũng là kĩ xảo thông dụng trong điện ảnh) dừng lại miêu tả tạo độ ngừng nghỉ, đồng thời tăng thêm mức độ chi tiết cho bối cảnh sự việc

Trang 12

2.2.3 Một số khía cạnh trong tác phẩm “Cánh đồng bất tận”

Bài báo "Cảm quan Phật giáo trong Cánh đồng bất tận" của Phan Thị Thu Hiền lí

giải tính cách, hành động của nhân vật ông Vũ, Nương, Điền và Sương bằng quan niệm Phật giáo Quan niệm này được Nguyễn Ngọc Tư nhắc đến trước đó trong

đoạn văn ngắn dẫn trước truyện: "Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương" [8] Từ

không gian nghệ thuật là không gian tâm lí, tác giả bài viết đã khái quát thành hình tượng nghệ thuật là "sa mạc thù hận" Thời gian nghệ thuật là "chuỗi dài của sự trừng phạt" Sự đau khổ mà các nhân vật phải trải qua là hệ quả tất yếu, "nhân" từ những "quả" đã gieo nên trước đó Bài viết đã đóng góp sự diễn giải ý nghĩa hình ảnh các nhân vật dưới góc nhìn tôn giáo Phật giáo Tác giả sử dụng thao tác quy chiếu tương đồng những hình ảnh, chi tiết hành động trong tác phẩm đến những khái niệm trong tín ngưỡng Phật giáo để lí giải mối quan hệ giữa tính cách và hành động của nhân vật

Trong “Những bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận”, tác giả Bùi Tùng Ảnh

đánh giá Nguyễn Ngọc Tư là người dự báo những vui buồn trong cuộc sống, dựng

nên được nhân vật điển hình của thời đại “Nhân vật Nguyễn Ngọc Tư thường bị nhấn chìm trong nỗi sợ hãi, hoặc “câm nín”, hoặc “nhẫn nhịn” (đúng hơn là nhẫn nhục), “chấp nhận” (khi chấp nhận cũng là một thói quen, mà đạo đức chính là một thói quen) Nhân vật bị dìm vào tình thế “xé toạc”, “đau đớn” Con người bị nhốt trong bi kịch gia đình, bi kịch xã hội” [1] Bài báo còn thể hiện đóng góp của

Nguyễn Ngọc Tư trong việc tạo nên phong vị Nam Bộ ở khía cạnh ngôn ngữ và tình cách con người

Đối thoại với những luận điểm trong “Những bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận”, bài báo “Môi trường và nhân tính tự sự của Nguyễn Ngọc Tư”, tác giả Đoàn

Ánh Dương làm rõ hơn ý nghĩa tác phẩm trong mối quan hệ giữa hệ thống biểu tượng trong tên gọi và số phận của nhân vật Ý nghĩa nhân vật không chỉ thể hiện bằng hệ thống hành động, lời nói, như tác giả Bùi Tùng Ảnh đã dẫn, mà còn phụ thuộc vào mối liên hệ trong cách đặt tên và các hình ảnh ẩn dụ quy chiếu đến nhân vật Bài viết khái quát cách xây dựng biểu tượng dựa trên sự song trùng đặc điểm, tính chất của tên truyện và tên nhân vật Cụ thể, nhân vật Điền gắn với tên yêu

Trang 13

thương, chở che, trở thành biểu tượng của tác phẩm, sự quy chiếu của các biểu tượng thành tố lên biểu tượng mang ý trội trong hệ thống Mối quan hệ giữa Điền và cánh đồng thể hiện trong hai nét nghĩa Nghĩa thứ nhất là tình yêu thương Nghĩa thứ hai là những khiếm khuyết, né tránh nỗi đau, sự kìm hãm ham muốn thể xác nhưng thực chất lại ẩn sâu khao khát giữ được giá trị con người, chống lại sự tha hóa Cốt truyện phân rã, cốt truyện tâm lí là chủ đạo thể hiện cảm thức lưu lạc của con người Nam Bộ Ngôn ngữ gắn liền với cảm xúc, sự hồi nguyên cảm xúc từ lâu

đã lắng đọng trong lòng

Trong bài báo "Cánh đồng bất tận: Dữ dội và nhân tính", nhà văn Nguyễn Khắc

Phê khẳng định tầm ảnh hưởng của tác phẩm khi tạo nên một làn sóng dư luận sôi động quanh sự tiếp nhận của văn bản Nhà văn thành công trong việc tạo nên được một thế giới nghệ thuật riêng là những cánh đồng và những phận người trôi nổi Tác giả đã chạm được vào những tầng vỉa sâu kín của cuộc sống con người, những góc khuất ít được phơi bày và chú ý

Trong bài viết “Tìm về với mẹ thiên nhiên: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc

Tư từ cách nhìn nữ quyền luận sinh thái”, tác giả Phạm Ngọc Lan có những lí giải mới lạ về hình tượng nhân vật nữ Tác giả nhìn nhận nhân vật nữ dưới lí thuyết nữ quyền luận sinh thái, gắn người phụ nữ với các yếu tố thiên nhiên trong tác phẩm như bầy vịt, dòng sông, cánh đồng Các nhân vật nữ được đồng nhất với hình ảnh

mẹ thiên nhiên, bao dung, nhân từ và đầy ắp tình yêu thương Biểu tượng không gian chứa đựng người phụ nữ đều là những nơi đáng mơ ước với hai đứa trẻ Nương

và Điền bởi chúng khát khao được nối lại với cuộc sống của con người bình thường Bài viết làm nổi bật mối quan hệ của các nhân vật với môi trường tự nhiên đặc biệt

là hình tượng nhân vật nữ gắn với nước và mẹ thiên nhiên

Trong bài báo khoa học “Biểu tượng cánh đồng trong Cánh đồng bất tận của

Nguyễn Ngọc Tư”, Lê Thị Thùy Vinh phân tích ý nghĩa biểu tượng cánh đồng dựa trên lí thuyết về biểu tượng Hình tượng cánh đồng được lí giải qua nhiều tầng ý nghĩa: mang tính chất não nề, cô đơn, ẩn dụ cho nỗi đau; chứa đựng nỗi đau của con người; biểu tượng của tình yêu thương; biểu tượng của niềm thương nỗi nhớ và thời

Trang 14

gian Bài viết phân tích theo quan niệm của kí hiệu học, căn cứ vào hệ thống biểu đạt trong nội tại tác phẩm để lí giải ý nghĩa của biểu tượng

Trong "Thân phận các nhân vật chính trong Cánh đồng bất tận nhìn từ lí thuyết

chấn thương", Đặng Hoàng Oanh giải thích nỗi đau và lối ứng xử của các nhân vật chính ông Vũ, Điền và Nương là sự tái hiện những nỗi đau trong quá khứ Trong hành trình bất tận của các nhân vật trên dòng sông cuộc đời, nỗi đau về sự phản bội của người mẹ ám ảnh lên suy nghĩ của ba nhân vật Ông Vũ mang nỗi đau nhuốm

màu phái tính, “cảm giác nhục nhã, ê chề của người đàn ông bị người đàn bà của anh ta phụ tình" [20] Nỗi đau của ông là những uẩn ức chìm sâu giết chết mọi cảm

xúc và khả năng yêu thương Nhân vật Điền mang nặng tâm lí “hậu chấn thương” tự trói mình vào cô đơn, từ bỏ sự phát triển như một con người bình thường Nương đi đến tận cùng nỗi đau để chính bản thân mình trải nghiệm nỗi đau trong quá khứ của người mẹ Bài báo đã góp phần diễn giải tâm lí, hành vi của nhân vật với sợi dây liên kết là sự phản bội của người mẹ Mỗi nhân vật mang trong mình những vết thương lòng riêng biệt nhưng tất cả đều chung một nguồn gốc là sự phản bội

Trong bài viết “Biểu đạt giới trong Cánh đồng bất tận và Chúa đất – những gặp gỡ

thú vị”, tác giả Hoàng Đăng Khoa tìm hiểu về điểm giao trong tư tưởng của hai tác giả khi xây dựng kiểu nhân vật nữ bi kịch Họ là những người chịu đựng nỗi khổ của đàn ông Mà nỗi khổ ấy mặc nhiên không bao giờ được coi là bắt nguồn từ họ Người phụ nữ có thiên phú sắc đẹp nhưng không giúp họ vơi bớt khổ đau Phận người đàn bà trong “Cánh đồng bất tận” bạc như vôi, đều “đau đớn thay” Nhân vật

nữ với vẻ đẹp tận thiện, tận mĩ và vẻ đẹp của thiên tính nữ Bài viết đứng trên lập trường phân tích theo cảm tính là chủ yếu, chưa dựa trên một lí thuyết văn học cụ thể nào Sự khác và giống nhau giữa hai nhân vật nữ thuộc hai nền văn hóa tương đối khác nhau có thể là sự ngẫu nhiên, tác giả bài viết chưa thể hiện được mối liên

hệ, mạch ngầm kết nối những biểu hiện ấy

Khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Nguyễn Thị Dung, trường Đại học Tây

Bắc: "Phức cảm mẹ trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư" nghiên cứu

hình ảnh người mẹ trong việc hình thành nhân vật Điền và Nương từ phương diện phân tâm học Hệ thống các chi tiết liên quan đến tính dục chi là yếu tố nền tảng để

Trang 15

thực hành lí thuyết nhằm lí giải về tương đồng và khác biệt giữa Nương, Điền và người mẹ Mở đầu tác phẩm là nỗi nhớ mênh mang của những đứa trẻ về hình ảnh người mẹ và kết thúc cũng là những cảm nhận của Nương về mẹ trong quá khứ Tưởng tượng về mẹ, về tình yêu xoa dịu tâm hồn của hai đứa trẻ trong cuộc sống khắc nghiệt với người cha Tác giả luận văn khẳng định, mạch chính nối kết các nhân vật là tính dục và đó cũng là nguồn gốc lí giải tâm lí, hành vi và ý nghĩa của hình tượng nhân vật

Tóm lại, nhân vật nữ trong “Cánh đồng bất tận” là một vấn đề văn học được nhiều tác giả quan tâm Trong đó, nhân vật người phụ nữ được khai thác chủ yếu trong niềm bi kịch về hạnh phúc Các nghiên cứu đã lí giải mối quan hệ giữa tính cách nhân vật đến hành động, lời nói bằng nhiều lí thuyết khác nhau, như khía cạnh tôn giáo, phê bình sinh thái, phê bình giới… tạo nên môi trường diễn giải phong phú, đa dạng về ý nghĩa Các nghiên cứu đa số hướng đến ý nghĩa bi kịch cô đơn của người phụ nữ từ nguyên nhân là người đàn ông Phương pháp của các tác giả chủ yếu là phân tích, hệ thống chi tiết có liên quan đến nhân vật và khái quát thành đặc điểm của nhân vật ấy Luận văn tiếp tục phát triển kết quả của các nghiên cứu trước về nội dung nhân vật là bi kịch tình yêu và nỗi cô đơn nhưng theo một hướng diễn giải mới Nhân vật nữ cần được đặt trong hệ thống các chi tiết có cấu trúc tương tự ở các nhân vật khác để tạo nên ý nghĩa Nội dung được sản xuất dựa trên mối quan hệ tương đồng và khác biệt giữa nhân vật nữ và các nhân vật cùng hệ thống Với phương pháp diễn giải mới, diễn giải về trình hiện nhân vật nữ trở nên phong phú hơn, tiếp nối và đối thoại với các kết quả nghiên cứu trước đó

2.2 Những tài liệu liên quan đến phê bình điện ảnh Cánh đồng bất tận

2.2.1 Những phê bình điện ảnh trong nước

Bộ phim “Cánh đồng bất tận” được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình khởi quay

từ tháng 11 năm 2009 và công chiếu vào tháng 10 năm 2010 dựa trên truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Bộ phim nhận được nhiều giải thưởng nghệ thuật về điện ảnh như giải Cánh diều vàng cho nhiều hạng mục: nữ diễn viên chính xuất sắc, nam phụ xuất sắc, nhạc phim xuất sắc, phim truyện nhựa và giải thưởng do

Trang 16

báo chí bình chọn Những giải thưởng ấy cũng phần nào phản ánh được thành công của bộ phim đối với khán giả trong nước Đó là tiền đề tìm hiểu dư luận xoay quanh

bộ phim, những ý kiến đánh giá của người có chuyên môn và người trực tiếp tham gia quá trình làm phim

Trong bài báo “Mỗi người một Cánh đồng bất tận đăng trên tuoitre.vn ngày

27/10/2010, tác giả Phạm Xuân Nguyên nhận xét phim “Cánh đồng bất tận” là sự chuyển thể khá tốt tác phẩm gốc theo đúng công thức làm phim của Hollywood Bài báo đề cập đến doanh thu ấn tượng của bộ phim trong bốn ngày đầu công chiếu là 3,8 tỷ đồng Đó là con số đáng ngưỡng mộ cho dòng phim điện ảnh chiếu rạp lúc bấy giờ

Bên cạnh những thành công, tác giả cũng chỉ ra hạn chế của phim khi có những đoạn chưa bám sát nguyên tác và kết thúc phim khiên cưỡng Hình ảnh của phim đẹp nhưng quá nhiều, trôi qua trong đầu khán giả mà không thật ấn tượng, chưa đạt được một ý nghĩa biểu tượng cụ thể nào Tác giả Phạm Xuân Nguyên chỉ ra sự hấp dẫn của bộ phim đến từ ảnh hưởng của tác phẩm gốc và dàn diễn viên tài năng chứ chưa thực sự đến từ nghệ thuật quay phim Theo ông, cảnh quay tốt nhất là khi Nương bị hiếp đầy gợi cảm nhưng vẫn đúng mực, vừa phải Đánh giá của bài báo phần nào cho thấy cách nhìn nhận của công chúng đối với hình tượng người phụ nữ nói riêng là Nương và những yếu tố đáng chú ý mà bộ phim mang lại

Bài viết “Hành trình mênh mang của Cánh đồng bất tận” đăng trên vnexpress.vn

27/10/2010, tác giả Nguyên Minh đã tóm tắt lại mạch truyện trong phim đồng thời

có những nhận xét xác đáng trong diễn xuất của các nhân vật Nhân vật Nương là cô gái ăn sương có tâm hồn thanh cao nhưng giọng địa phương của diễn viên Hải Yến chưa phù hợp với nhân vật Sương Thành công nhất là nhân vật Nương với nét diễn

tự nhiên, mộc mạc Bài viết cũng so sánh một số chi tiết chưa khớp hoặc chưa đạt được độ biểu cảm như nguyên tác như cảnh Sương cùng ông Vũ quan hệ thân xác, Sương lựa chọn ra đi

Trang 17

2.2.2 Những bài viết phê bình điện ảnh quốc tế

Bộ phim “Cánh đồng bất tận” được công chiếu vào năm 2010 và tạo được tiếng vang trong cộng đồng phê bình điện ảnh trên thế giới Phim được công chiếu tại nước ngoài dưới tên khác “Floating Lives” (Những cuộc đời trôi nổi) Nhiều trang web nổi tiếng về phim như IMDb, Asianonfilm, Hollywood… đăng tải bài viết đánh giá về nội dung và nghệ thuật quay phim của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình Trong đó có nhiều ý kiến đáng chú ý về sự phát hiện điểm sáng trong tác phẩm điện ảnh này Mặc dù những nhà phê bình ngoại quốc này có thể chưa từng tiếp xúc với tác phẩm nguồn, đối tượng của họ chủ yếu là tác phẩm điện ảnh nhưng đánh giá của

họ rất cụ thể, chất lượng và khách quan

Mục Film Review của trang Hollywoodreporter nhận xét “Floating Lives” là một bộ

phim cuốn hút về đề tài những người nông dân du cư ở vùng đồng bằng châu thổ sông Mê Kông Bộ phim chú ý khai thác hai khía cạnh là nỗi đau khổ, bất hạnh của con người và niềm hạnh phúc, hi vọng nhỏ nhoi thoáng qua trong cuộc đời các nhân vật Bài viết đánh giá cao cách kể chuyện sáng tạo lồng ghép giữa hiện thực và quá khứ của đạo diễn Đồng thời điểm sáng đáng chú ý là sự phát hiện trong những hình

ảnh biểu tượng về tuổi dậy thì mà Sương đã chỉ cho Nương “Nhân vật chính là hai người phụ nữ gắn bó với nhau vượt lên cả huyết thống để trao cho nhau tình yêu thương và niềm hi vọng về hạnh phúc giản đơn” [33]

Bài đánh giá của trang Asianonfilm đánh giá cao “Floating Lives” trong phần xử lí hình ảnh và nhạc điệu gợi nên cuộc sống chân thực của con người vùng nông thôn sông Mê Kông Diễn xuất tinh tế của diễn viên đã mang lại sức sống cho nhân vật, đặc biệt là Đỗ Thị Hải Yến thể hiện nhân vật Sương vừa mạnh mẽ nhưng cũng rất yếu đuối khi mang trong mình thân phận của cô gái điếm Bài viết chú ý đến hai chi tiết khi Vũ trả tiền cho Nương trước mặt những đứa trẻ và cảnh Sương nhiều lần ngoái lại mong chờ sự níu kéo từ Vũ khi cô phải đi làm “nhiệm vụ” của mình Đó là hai khoảnh khắc mà người phụ nữ mạnh mẽ ấy từ bỏ mọi hi vọng về cuộc sống bình thường mà cô mơ ước trở về Bài viết cũng thể hiện điểm nhìn tinh tế về nhân vật

Vũ, ông là người đàn ông đáng thương hơn đáng giận bởi trong con người ông có

sự đấu tranh để thay đổi, cũng từng mơ ước về hạnh phúc, sự tử tế và tình yêu

Trang 18

Nhưng tất cả đã bị nỗi cay đắng nhấn chìm vì cuộc đời ông bị ruồng rẫy bởi hai người phụ nữ là vợ và sau đó là Sương

Trong phần giới thiệu phim trên kênh đánh giá phim quốc tế IMDb, Nguyễn Phan Quang Bình tự viết lời giới thiệu cho tác phẩm của mình Bộ phim được đánh giá 7.1/10 với 281 lượt đánh giá tính đến ngày 2/10/2019 Tác giả khẳng định bộ phim mang hơi hướng hiện đại với những mối quan hệ phức tạp về tình cảm vợ chồng, dục vọng, mối quan hệ cha con, chị em Đó là câu chuyện về một gia đình như bao gia đình khác tìm kiếm lại sức mạnh và phương hướng những điều mà con người cần thiết để tồn tại Với lời giới thiệu như vậy, rõ ràng tác giả đang muốn người đọc hướng tới không chỉ tri nhận bộ phim như thước phim tài liệu về cuộc sống nông thôn Tây Nam Bộ mà còn là những giá trị nhân văn, giá trị khái quát triết học về sự tồn tại của con người

Các bài báo, phỏng vấn về bộ phim “Cánh đồng bất tận” lại được nhiều phản hồi tốt

từ phía khán giả Bộ phim được đánh giá là vẫn giữ khá trọn vẹn tinh thần của văn bản nguồn - truyện ngắn cùng tên của tác giả Nguyễn Ngọc Tư Các diễn viên được lựa chọn kĩ lưỡng và đủ kĩ năng để thấu hiểu và trình hiện được nhân vật của mình Tóm lại, các bài biết đánh giá về phim điện ảnh “Cánh đồng bất tận” chỉ dừng lại ở mức độ cảm nhận, đánh giá chủ quan, chưa có cơ sở từ lí thuyết phân tích trình hiện trong văn bản điện ảnh Các tác giả chưa làm rõ được sự khác biệt trong tinh thần của văn bản điện ảnh so với tác phẩm nguồn là truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”

Từ cơ sở đó, người viết làm rõ trong luận văn mối quan hệ của kí hiệu trình hiện người phụ nữ trong hai tác phẩm truyện ngắn và điện ảnh “Cánh đồng bất tận” bằng phương pháp phân tích sự trình hiện của Stuart Hall Các cảnh quay về người phụ

nữ cần được đặt song hành để làm rõ mối quan hệ đối lập hay tương đồng Trình tự

kể chuyện của phim có nhiều thay đổi so với tác phẩm nguồn và trường đoạn cảnh quay kết phim là một sáng tạo lớn Điều đó chứng tỏ điện ảnh không phải là “bản sao trung thành của văn học” Nên người viết không đồng ý với ý kiến của tác giả

Phạm Xuân Nguyên và Nguyên Minh vì “Không thể xem tác phẩm điện ảnh cải biên thuộc hàng hai bởi ngay chính bản thân tác phẩm văn học mà nó cải biên không phải là tác phẩm gốc mà là cải biên, chuyển vị từ vô số hệ thống kí hiệu

Trang 19

khác” [17, tr.34] Kí hiệu về người phụ nữ cần được đặt trong sự đối sánh giữa chất

liệu ngôn từ và hình ảnh để khám phá những ý nghĩa mới chứ không phải phán xét

về tính trung thành

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là phân tích ý nghĩa của sự trình hiện nhân vật nhân vật nữ trong tác phẩm truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” và phim điện ảnh

“Cánh đồng bất tận”, vận dụng các phương pháp phân tích sự trình hiện bằng phương pháp kí hiệu học để phân tích các tầng ý nghĩa Thông qua đó, người viết đề xuất một cách đọc mới về sự thể hiện nhân vật so với các nghiên cứu trước đó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự trình hiện về người phụ nữ trong truyện

ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm điện ảnh được cải

biên từ truyện ngắn cùng tên của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình Phạm vi nghiên cứu là chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động, trạng thái, không gian, màu sắc… là yếu tố để tạo nên sự trình hiện của các nhân vật nữ và tìm hiểu mối tương quan giữa những chi tiết ấy Dữ liệu nghiên cứu của luận văn là tác phẩm truyện

ngắn “Cánh đồng bất tận” là truyện ngắn cuối cùng trong tập truyện ngắn gồm 14

truyện của tác giả Nguyễn Ngọc Tư, được nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2014

Về tác phẩm điện ảnh, tôi chủ yếu dựa vào bản điện ảnh “Cánh đồng bất tận” do Vietnam Studio Mega Media sản xuất, hãng Vietnam Media Corporationphát hành ngày 22 tháng 10 năm 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp cơ bản của luận văn là phương pháp phân tích sự trình hiện nhân vật trong các kiểu loại văn bản của Stuart Hall theo phương pháp kí hiệu học Phù hợp với đối tượng nghiên cứu là nhân vật trong văn bản văn học và văn bản điện ảnh, các khái niệm công cụ phục vụ cho nghiên cứu này là kí hiệu Người viết sẽ phân tích mối quan hệ trong hệ thống kí hiệu nội tại của tác phẩm để diễn giải ý nghĩa đối tượng là sự trình hiện về người phụ nữ

Trang 20

6 Những đóng góp của luận văn

Về mặt lí thuyết, luận văn giới thiệu về lí thuyết trình hiện của Stuart Hall với bản chất của sự trình hiện và cách thức để tạo nên sự trình hiện trên các phương tiện truyền thông Đây là hướng nghiên cứu triển vọng nối kết được hình ảnh văn hóa trên các ấn phẩm truyền thông với văn hóa để khám phá nhiều hơn ý nghĩa trong tác phẩm

Về mặt thực hành, luận văn đóng góp về sự thực hành phương pháp diễn giải trình hiện nhân vật nữ bằng phương pháp phân tích sự trình hiện của Stuart Hall Bài viết thể hiện các tầng ý nghĩa văn hóa trong cách trình hiện nhân vật nữ từ văn học đến điện ảnh thông qua cách hệ thống và phân tích kí hiệu nghệ thuật đặc thù Phương pháp phân tích giúp mở rộng thông điệp của văn bản, mở ra nhiều hướng phát triển

và cải biên cho các văn bản nguồn là tác phẩm văn chương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Khái niệm sự trình hiện của Stuart Hall và phương pháp phân tích sự trình hiện trong các loại văn bản Đây là chương có ý nghĩa trình bày khái niệm sự trình hiện và những khái niệm công cụ, phương pháp thực hành sự trình hiện của Stuart Hall trong các loại văn bản khác nhau Người viết trình bày những khái niệm

cơ bản trong phân tích điện ảnh Cơ sở diễn giải ý nghĩa là hệ thống kí hiệu của văn bản

Chương 2: Sự trình hiện nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” Đây là chương phân tích sự trình hiện về nhân vật nữ trong tác phẩm truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư qua hệ thống kí hiệu nụ cười và nước mắt Nội dung chương không chỉ tái hiện, sắp xếp, phân loại kí hiệu về những nhân vật nữ mà phân tích để hiểu được ý nghĩa, thông điệp tác giả gửi gắm qua nhân vật Đồng thời, ý nghĩa tự thân của nhân vật cũng được bộc lộ trong hệ thống tương đồng và đối lập kí hiệu với các nhân vật khác

Trang 21

Chương 3: Sự trình hiện nhân vật nữ trong phim điện ảnh “Cánh đồng bất tận” Đây

là chương phân tích sự trình hiện về nhân vật nữ trong bản cải biên điện ảnh “Cánh đồng bất tận” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình qua hệ thống kí hiệu không gian con thuyền và cánh đồng Nội dung chương miêu tả lại cách hình dung của người đạo diễn, biên kịch và diễn viên về nhân vật người phụ nữ Đây là bộ phim nặng về tâm lí các cảnh quay nhân vật gắn liền với yếu tố không gian Khung hình xuất hiện nhân vật nữ đặt trong quan hệ song hành hoặc nối tiếp để khái quát sự phản chiếu ý nghĩa trong tương quan với không gian và các nhân vật khác

Trang 22

Chương 1: Khái niệm sự trình hiện của Stuart Hall và phương pháp phân tích sự trình hiện trong các loại văn bản

1.1 Khái niệm sự trình hiện

1.1.1 Công cụ phân tích sự trình hiện

Sự trình hiện (representation) là khái niệm chủ chốt trong nghiên cứu của văn hóa (cultural studies) Mối quan hệ giữa sự trình hiện với nền văn hóa được làm rõ trong

chương 1 và chương 4 của nghiên cứu Representation: Cutural Representation and signifying practices (Sự trình hiện: Trình hiện văn hóa và thực hành biểu đạt) của

tác giả người Anh – Stuart Hall

Sự trình hiện là một quá trình tạo nên ý nghĩa và truyền tải những ý nghĩa ấy giữa các thành viên trong một nền văn hóa Sự trình hiện là một quá trình nối kết ba yếu

tố: ngôn ngữ, ý nghĩa và văn hóa “Sự trình hiện là một phần thiết yếu của quá trình sản xuất và trao đổi ý nghĩa giữa các thành viên của một nền văn hóa Quá trình ấy bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu và hình ảnh để đại diện hay thể hiện” (Representation is an essential part of the process by which meaning is produce and exchanged between members of a culture It does involve the use of language, of sign and images which stand for or represent) [34, tr.1] Sự trình hiện sử dụng chất

liệu là ngôn ngữ để gợi nên những khái niệm đã tồn tại trong đầu người bản ngữ Sự trình hiện nốt kết kinh nghiệm của cá nhân đến những trải nghiệm thực tiễn để nhận thức về thế giới Văn chương trình hiện đối tượng bằng chất liệu ngôn từ, xâm nhập vào trí tưởng tượng của ta để tạo nên một khái niệm về đối tượng Điện ảnh khiến ta phải trải nghiệm nhiều thực tại bằng sự kết hợp thính giác, thị giác Sự trình hiện trên nhiều chất liệu văn bản khiến đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, giàu trải nghiệm, liên tưởng Dù ta chưa bao giờ gặp được một nhân vật nào giống với tác phẩm văn học hay tác phẩm điện ảnh trong đời thực nhưng ta vẫn có thể đồng cảm, suy nghĩ cùng của họ Những ấn tượng ấy chính là kết quả của sự trình hiện trên các sáng tác nghệ thuật

Trong thực tế, quá trình ấy diễn ra phức tạp hơn thế, sự trình hiện có thể được lí giải

theo ba hướng lí thuyết Thuyết thứ nhất là thuyết phản ánh – reflective, là khi ta

Trang 23

dùng ngôn ngữ để tái hiện lại một thế giới đã có sẵn, tồn tại khách quan Thế giới ấy không bị chi phối bởi suy nghĩ chủ quan của con người Lí thuyết này giống như sự vận hành của chiếc gương phẳng, bất cứ thứ gì được phản chiếu mang tính khách

quan và trung thực Lí thuyết thứ hai là thuyết mục đích– intentional, hướng lí

thuyết này không quan tâm đến chất liệu và hình thức tạo nên quá trình mà hướng đến mục đích của người nói, hay người sáng tạo Cách diễn giải sự trình hiện theo hướng lí thuyết này bị chi phối chủ yếu bởi tính chủ quan tuyệt đối của tác giả, hạn chế khả năng can thiệp vào ý nghĩa của người đọc Hướng lí thuyết thứ ba là thuyết

kiến tạo - contructionist, cho rằng cấu trúc của ngôn ngữ tạo nên ý nghĩa Trong

nghiên cứu này, tôi lựa chọn theo hướng lí thuyết cấu trúc luận, cũng là hướng nghiên cứu chủ yếu của Stuart Hall trong toàn bộ cuốn sách của ông

Thuyết kiến tạo về sự trình hiện gồm hai mô hình nghiên cứu sự trình hiện là: mô hình theo phương pháp kí hiệu học với đại diện là Ferdinand de Saussure và mô hình diễn ngôn với đại diện là Michel Foucault Trong công trình nghiên cứu của Hall, ông lựa chọn diễn giải sự trình hiện bằng cả hai mô hình để công chúng có nhiều cơ hội thể hiện cách hiểu của mình về lĩnh vực phân tích khác nhau Tuy nhiên, trong dung lượng có hạn của nghiên cứu, người viết tập trung vào mô hình thứ nhất của Saussure với nền tảng là nghiên cứu kí hiệu học

1.1.1.1 Bản chất của sự trình hiện

Sự trình hiện được định nghĩa theo “Shorter Oxford English Dictionary” gồm hai cấp độ Ở cấp độ thứ nhất, sự trình hiện là sự mô phỏng lại những gì được gợi lên

trong tâm trí của người nói – mental representation Đối tượng được trình hiện có

thể rất cụ thể, tồn tại trong thế giới thực, trong khoảng thời gian đang được nhắc đến Nhưng đối tượng cũng có thể là những điều trừu tượng, mơ hồ, dự đoán Ở cấp

độ thứ hai, sự trình hiện có khả năng đại diện, biểu tượng cho một ý nghĩa cố định nào đó Sự trình hiện ấy phải được đặt trong không gian văn hóa Ví dụ, trong một triển lãm nghệ thuật đa quốc gia, chiếc áo dài là biểu tượng cho trang phục truyền thống người phụ nữ Việt Nam Hay trong trường phổ thông, áo dài trắng là biểu tượng trang phục của nữ sinh

Trang 24

Sự trình hiện là tất cả những gì được gợi lên bằng hình ảnh, khái niệm trong tâm trí

con người khi ta tiếp xúc với một dấu hiệu của vật đó “Sự trình hiện là quá trình tạo nên ý nghĩa của khái niệm trong tinh thần thông qua ngôn ngữ” (Representation is the produce of the meaning of the concept in our minds through language) [34, tr.2] Những khái niệm đã tồn tại sẵn trong đầu óc của mỗi cá nhân

nên khi nhắc đến những dấu hiệu quen thuộc, ta vẫn nhận ra người đối thoại đang miêu tả điều gì Trong bài viết, Stuart Hall dùng ví dụ về cái cây Khi ta nhìn thấy cái cây, khái niệm về cái cây được lưu trữ trong tâm trí ta Dù sau đó, không nhìn thấy cái cây trong thực tế nữa nhưng khi nhắc đến khái niệm “cây”, trong đầu ta lập tức hiện lên hình ảnh một thực thể có thân gỗ lớn, được bao quanh trên cao bằng những tán lá xòe rộng xung quanh Tất nhiên, cây trong cuộc sống có rất nhiều loại

và không phải cây nào cũng là thân gỗ, có cây thân leo, thân trữ nước, thân mềm… Nhưng trong tâm trí ta sẽ thường hình dung về một cái cây tiêu biểu nhất, đại diện cho tất cả các loại cây Vậy ấn tượng hiện lên trong đầu ta chính là yếu tố của sự trình hiện

Khái niệm công cụ để phân tích sự trình hiện là kí hiệu (sign) Sự trình hiện là quá trình nối kết các yếu tố khái niệm thuộc một nền văn hóa trong hệ thống kí hiệu để thể hiện một ý nghĩa nào đó Ý nghĩa của sự trình hiện không phụ thuộc hoàn toàn vào ý niệm của tác giả Sự trình hiện phải được tạo nên từ những khái niệm về ý nghĩa đã tồn tại trước trong đầu những người bản xứ Vì thế, sự trình hiện phải được nối kết giữa khái niệm và ngôn ngữ để đại diện cho thế giới khách quan và chủ quan của con người

1.1.1.2 Khái niệm công cụ phân tích sự trình hiện

Kí hiệu là công cụ chủ yếu trong tiến trình phân tích sự trình hiện Nhưng để tạo nên một hệ thống kí hiệu toàn vẹn và thống nhất, có thể vận hành trong đời sống xã hội thì kí hiệu ấy phải chịu sự chi phối của nhiều yếu tố Trong đó, mật thiết nhất để tạo nên một kí hiệu là bản đồ khái niệm (conceptual maps) và ý nghĩa (meanings)

Trang 25

Bản đồ khái niệm

Yếu tố đầu tiên là khái niệm (concept), đây là yếu tố sinh ra từ tính chất võ đoán

của văn hóa và ngôn ngữ “Khái niệm được sinh ra trong cấu trúc của tâm trí như một hệ thống trình hiện trong tâm trí với cách sắp đặt và tổ chức thế giới trong ý nghĩa của nó” (The concepts which are formed in the mind function as a system of mental representation which classifies and organizes the word into meaningful categories) [34, tr.14] Có khái niệm về thế giới, con người mới có thể nói ra những

điều có ý nghĩa Nhưng nó không thể vận hành được nếu thiếu đi phương tiện để giao tiếp với người khác là ngôn ngữ - chất liệu của kí hiệu

Bản đồ khái niệm (conceptual maps) là một “danh sách” tổng hợp những hiểu biết, hình dung của người bản xứ về đối tượng Đó là sự trình hiện tự nhiên trong tâm trí con người Mỗi khi tiếp xúc với một đối tượng, sự kiện trong cuộc sống thực, con người thường “dán nhãn” để phân biệt chúng với những đối tượng khác Và mỗi khi

từ ngữ được nhắc lại, hình ảnh về vật thể ấy lại được tái hiện sống động trong tâm trí ta Sự tích lũy về khái niệm không ngừng tăng lên nhờ trải nghiệm của con người với cuộc sống khách quan Những thành viên trong cùng một nền văn hóa sẽ có thể giao tiếp với nhau dựa trên sự tương đồng về bản đồ khái niệm ấy Giới hạn của bản

đồ khái niệm không chỉ dừng lại trong đối tượng ở thực tại mà còn thể hiện những điều trừu tượng hay thế giới giả tưởng Bản đồ khái niệm mang tính cộng đồng, ý nghĩa được thiết lập bằng sự võ đoán của ngôn ngữ Văn hóa được xác định trong quá trình những thành viên cùng chia sẻ với nhau bản đồ khái niệm trong giao tiếp, sáng tác để truyền tải suy nghĩ, cảm xúc, quan niệm cá nhân

Kí hiệu

Yếu tố thứ hai là kí hiệu (sign) “Kí hiệu được tổ chức trong ngôn ngữ và chính sự hiện hữu của ngôn ngữ chung là điều cho phép chúng ta phiên dịch suy nghĩ (khái niệm) thành từ ngữ, âm thanh hay hình ảnh, sau đó việc sử dụng những yếu tố này, vận hành như một ngôn ngữ, để thể hiện ý nghĩa và truyền đạt suy nghĩ với những người khác.” (Sign are organized into language and it is the existence of common languages which enable us to translate our thoughts (concepts) into words, sounds

Trang 26

or images, and then to use these, operating as a language, to express meanings and communicate thoughts to other people) [34, tr.4] Kí hiệu là khái niệm công cụ

trong nghiên cứu ngôn ngữ học, theo trường phái cấu trúc của nhà ngôn ngữ học Saussure Trong phân tích sự trình hiện văn hóa, kí hiệu chứa đựng cách hiểu của tất

cả cá nhân trong cùng nền văn hóa về một khái niệm nào đó Kí hiệu có mối quan

hệ mật thiết với ngôn ngữ Trong kí hiệu phải dung hòa cả hai hệ thống nền tảng của sự trình hiện, là nối kết được ba yếu tố: khái niệm, kí hiệu và ý nghĩa

Bản chất của kí hiệu là giá trị nhị nguyên đến từ hai mặt đối lập nhưng không thể tách rời: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified)

Trong bài viết “Về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của kí hiệu”, tác giả Nguyễn

Thị Minh phân tích khái niệm cái biểu đạt trong kí hiệu học là: “Cái biểu đạt không phải âm vật chất mà là vết tâm lí, biểu tượng mà giác quan cung cấp” Cái biểu đạt xuất phát trong văn bản, không đơn giản chỉ là kí hiệu chữ viết hay âm đọc mà là

“hình ảnh âm học vật chất trong sự suy nghĩ, tưởng tượng của con người, mang yếu

tố tâm lí” [15] Cái biểu đạt không phải là sự sáng tạo mang tính cá nhân mà là quy

ước chung được cộng đồng chấp nhận

Do đó, trong sáng tạo nghệ thuật, tác giả có thể tạo nên một cái biểu đạt khác với

hình dung của công chúng về đối tượng đó “Không phải đối tượng có trước quan điểm mà dường như chính quan điểm tạo ra đối tượng” (Saussure) [15] Nghĩa là,

khái niệm của tác giả về hiện tại sẽ khác với hiện tại đó trong hình dung của những người khác Nên khi tái diễn lại hiện tại là tác giả đang diễn giải khái niệm của hiện tại ấy trong tâm trí mình, từ đó cho ra một kí hiệu hay cái biểu đạt Trong tác phẩm văn học, thực tại đời sống được khúc xạ qua “đôi mắt” của một cá nhân – tác giả -

đã khác biệt rất nhiều so với sự kiện ấy từng diễn ra trong đời sống Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều chịu ảnh hưởng đậm nét về thời đại, phong cách và kinh nghiệm của tác giả Đặc biệt trong cải biên phim, người sản xuất là một tập thể, những kí hiệu trong văn học được “giải mã” nhiều lần và tạo nên một hệ thống kí hiệu mới

Một điều cần lưu ý trong khái niệm “cái biểu đạt” là “kí hiệu là hình thức, không phải chất liệu” [15] Khi tiếp xúc với một kí hiệu, chất liệu không phải là yếu tố làm

Trang 27

nên bản chất của đối tượng Từ văn học đến điện ảnh là chặng đường dài trong chuyển đổi chất liệu vì mỗi thể loại phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù của chính nó Từ đó, ta không thể đánh giá tác phẩm được thể hiện trên chất liệu nào là hay hơn, vượt trội hơn bản kia mà phải có tính độc lập giữa hai văn bản Tuy nhiên,

ta có thể xem xét kí hiệu trong cách kết cấu bởi đó là phần có sự tương tác mạnh mẽ nhất với nhau dù tác phẩm có được thể hiện bằng bất kì hình thức nào

Bên dưới sự thể hiện một kí hiệu bao giờ cũng là “cách thức theo đó cộng đồng người chia cắt, kiến tạo hiện thực, áp đặt cấu trúc tư duy của mình lên khối hỗn mang, mờ đục, liên tục, vô định hình thể của các thể liên tục âm thanh và tư tưởng”

[14] Điều đó là quy luật tất yếu trong hình thành ngôn ngữ con người, và đối với những nhà nghệ thuật có cá tính, việc kiến tạo lại thế giới hiện thực và tổ chức lại ngôn ngữ lại càng phức tạp và phong phú hơn bao giờ hết Cho nên, việc bình luận

về sự thể hiện kí hiệu trong sự chuyển đổi từ văn bản văn học sang văn bản điện ảnh trong sự hơn thua, khiếm khuyết là không cần thiết Điều cần tập trung là sự tương tác qua lại giữa các kí hiệu này trong hai môi trường văn bản khác nhau, sự khác biệt và gặp gỡ tạo nên một tác động nghệ thuật khiến người tiếp nhận có được những ấn tượng riêng biệt “Độ chênh” trong tiếp nhận hay giải mã kí hiệu cũng là sức hút của tác phẩm “cải biên” Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục trong vòng tròn tạo nên ý nghĩa của biểu tượng

Trong bài viết “Những ngộ nhân trong cách hiểu bản chất “kí hiệu” của tác giả “Từ

kí hiệu học đến thi pháp học”, tác giả Nguyễn Thị Minh nhận định ra bản chất của

kí hiệu, hay chính cái được biểu đạt: “Kí hiệu phải có khả năng gợi ra một cái gì nằm bên ngoài nó, nghĩa là tính đại diện của kí hiệu” [15] Tác giả đưa ví dụ về

hình ảnh những cái lon trong phòng trưng bày, chúng tồn tại trong đầu óc của con

người là một kí hiệu, một loại thể “Bên ngoài kí hiệu không có hiệu thực, mà cái người ta tưởng là hiện thực phải qua trung gian của hệ thống kí hiệu” [15] Vậy cái

lon trong phòng trưng bày không đồng nhất với chiếc lon trong thực tế ta thường sử dụng để đựng nước Cái lon trong phòng trưng bày không có tác dụng thực tiễn ấy

mà chỉ gợi ra cho ta ý nghĩ về lon hay khái niệm về cái lon trong tâm trí

Trang 28

Cái được biểu đạt của kí hiệu không chỉ đơn thuần là một bảng danh từ được ghép

với những sự vật tồn tại trong hiện thực “Nghĩa sở biểu (connotation) mới đúng là thành phần quan trọng trong cái được biểu đạt của từ” [14] Trong thực tại khách

quan không tồn tại sẵn ngôn ngữ mà được tạo nên qua quá trình phạm trù hóa, khái niệm hóa của một cộng đồng theo thời gian

Saussure quan niệm ngôn ngữ giống như hai mặt của một tờ giấy đối lập và thống nhất với nhau bởi cái biểu đạt và cái được biểu đạt Mỗi nhân tố trong hệ thống ngôn ngữ được xác định bằng mối quan hệ của nó đối với những yếu tố còn lại trong cùng hệ thống Vì thế, cái biểu đạt không tự nhiên sinh ra, không sẵn có trong môi trường tự nhiên mà là sự tư duy của con người Con người tạo nên cái được biểu đạt bằng cách tư duy nhị nguyên Con người luôn tìm kiếm sự khác biệt trong những khái niệm và qui chúng vào những lĩnh vực khác nhau Lúc đầu đó là những quy ước được nhiều người thừa nhận và rồi trở thành một phần như là văn hóa và tập quán Cái biểu đạt của ngôn ngữ đời sống tồn tại bên trong đầu người bản xứ và thoát ra một cách tự nhiên Ví dụ, ta hoàn toàn có thể phân biệt được “trăng” và

“trắng”, trước khi cả ta liên kết ý nghĩa của nó đến những vật có thật như “trăng” là vật tròn phát sáng trên trời vào buổi tối và “trắng” là màu sắc Tư duy nhị nguyên giúp ngôn ngữ trở nên hệ thống và ý nghĩa được tạo nên từ những “hệ thống của những khác biệt” (a system of differences)

Vậy kí hiệu là quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện khái niệm, ý niệm và cảm xúc của cá nhân theo cách khiến cho người khác có thể giải mã được tương tự như cách mà ta thể hiện Kí hiệu hình thành giá trị cố định của một nền văn hóa và sự độc đáo trong sáng tác nghệ thuật

Trang 29

của nhà ngôn ngữ học Saussure, điều này được phát triển trong phần 2.2 “Phê phán

mô hình của Saussure” (Critique of Saussure’s mode) [34, tr.34]

Điều thứ nhất, Stuart Hall không tập trung vào việc ngôn ngữ đã chi phối như thế nào trong cách nhìn của con người về thế giới thực tại, mà làm rõ cách mà ngôn ngữ thực hiện điều đó Làm cách nào ngôn ngữ duy trì được sự gắn kết giữa cái biểu đạt

và cái được biểu đạt không thay đổi qua thời gian? Đó chính là đưa ngôn ngữ vào

sự thực hành – “Ý nghĩa được tạo ra từ sự thực hành, ‘một tác phẩm’, của sự trình hiện Nó được cấu trúc thông qua quá trình biểu đạt – ý nghĩa – thực hành” (Meaning is produced by the practice, the ‘work’, of representation It is contructed through signifying – meaning – producing – practices) [34, tr.14] Sự thực hành

ngôn ngữ bằng sản phẩm hữu hình chính là sự trình hiện Ông không quan tâm đến mối liên hệ gắn kết giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mà chỉ quan tâm hai yếu

tố ấy đóng góp như thế nào trong sự qui chiếu (reference) – cách ta hiện thực hóa

khái niệm về thế giới trong đầu mình thành điều gì đó “thực” Giống như việc ta chơi trò đoán chữ, từ ngữ nằm trên mảnh giấy là “sách”, ta liên tưởng ngay rằng đó

là vật ghi chép kiến thức Từ ngữ nằm trên giấy và suy nghĩ lập tức hiện lên trong đầu ta là ngôn ngữ Còn sự trình hiện là cách ta giúp đồng đội của mình cùng nghĩ

về khái niệm ấy bằng hình ảnh trực quan Ta có thể dùng ngôn ngữ để nói ngay

“sách”, nhưng thường không ai làm như vậy Ta có thể làm động tác ghi chép, chỉ vào ngay một chồng sách đặt trên bàn ngay lúc đó và thế là ý nghĩa được truyền đi Điều thứ hai, Stuart Hall tập trung vào ý nghĩa của sự trình hiện là ngữ cảnh, trong khi Saussure nhấn mạnh đến hình thức hay cách mà ngôn ngữ vận hành Sự trình hiện khiến ngôn ngữ không còn thông suốt, mạch lạc như cấu trúc mà các nhà ngôn ngữ học đang cố khái quát nó thành ngữ pháp Ngôn ngữ được thực hành trong hội thoại Chúng bị chi phối bởi ngữ cảnh, người nói và người nghe Một vị thế người giao tiếp thay đổi, bối cảnh giao tiếp thay đổi cũng khiến cho ý nghĩa được tạo nên

từ sự trình hiện rất khác nhau Ý nghĩa ấy được liên tục sản sinh và đôi khi vượt qua

cả sự tính toán của người tạo ra chúng Điều này đã khẳng định sự trường tồn của các tác phẩm văn hóa có giá trị Lý thuyết về tiếp nhận góp phần giải mã về sự sản sinh vô cùng về ý nghĩa của sự trình hiện

Trang 30

Ý nghĩa của sự trình hiện là điều vượt lên cả cái được biểu đạt của ngôn ngữ Cái biểu đạt được tạo nên từ quy ước của xã hội Ý nghĩa của sự trình hiện phát triển từ những ước lệ ấy nhưng có sự mở rộng, sáng tạo của người nghệ sĩ Ý nghĩa ngày càng mở rộng khi sản phẩm trình hiện trải qua sự tiếp nhận và giải mã của cá nhân Cuối cùng, khi sự diễn giải đạt đến cao trào, có tính lặp lại và phổ biến, ý nghĩa trở thành biểu tượng, định hình tư duy của con người

1.1.2 Quá trình tạo nên sự trình hiện

Stuart Hall đã chia quá trình trình hiện hóa một khái niệm thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu tiên là tập hợp tất cả sự trình hiện vật lí mà mỗi cá nhân hình thành trong đầu Ta tập hợp tất cả những thông tin, ý niệm được định sẵn cho vật đó trong tâm trí như một hệ thống có trật tự và dễ triển khai nhất Giai đoạn hai là liên kết khái niệm với hình thức và cấu trúc kí hiệu phù hợp, làm sống dậy những khái niệm ấy trong môi trường văn hóa cụ thể

Trong quá trình giao tiếp xã hội, con người không ngừng bổ sung vào “bản đồ khái niệm” của mình những hình ảnh gắn với khái niệm mới (có thể là những khái niệm mang tính cá nhân hóa) từ đời sống thực Những khái niệm và hình thức của ngôn ngữ được dung nạp trong tâm trí mỗi người là khác nhau, vậy câu hỏi đặt ra là khi ta thể hiện khái niệm đó ra bên ngoài một lần nữa thì cơ sở nào giúp những người khác cùng hiểu giống như ta? Sự di chuyển kí hiệu từ cá nhân này đến cá nhân khác

đã đòi hỏi một thách thức lớn, và xa hơn nữa là sự chia sẻ trong một cộng đồng với hàng triệu cá nhân Vai trò của sự giải mã cần được nhấn mạnh trong quá trình hoàn tất sự trình hiện Quá trình này không kiến tạo nên sự trình hiện nhưng là quan trọng

để diễn giải mối yếu tố trong đó Những người cùng dùng chung một ngôn ngữ cùng nhau chia sẻ một “bản đồ khái niệm” (conceptal maps) Đó là lí do khi học ngôn ngữ nước ngoài, ta không chỉ học cách vận hành của nó trong ngữ pháp và từ vựng mà còn phải học cả văn hóa để hiểu sâu hơn kí hiệu trong nền văn hóa của người bản địa

Trang 31

1.1.2.1 Thực hành sự trình hiện trên các loại văn bản

Văn bản báo chí và quảng cáo

Hình 1.1: Hình ảnh vận động viên da đen đầu tiên nhận huy chương Vàng Thế vận hội năm 1988, nguồn: trang bìa báo Sunday Times, nguồn: Sunday Times, số ra ngày 9 tháng 10 năm 1988

Trong chương 4 “The spectacle of ‘the Other’”, Stuart Hall đã trình bày về cách

phân tích sự trình hiện về người da đen trong những văn bản phi hư cấu là báo chí

và quảng cáo Đối tượng người da đen thường bị những người da trắng nhìn nhận với chiều hướng tiêu cực Vì thế, khi người da trắng thể hiện khái niệm ‘người da đen’ trên các ấn phẩm văn hóa thường mang yếu tố bài trừ, chế giễu và kì thị sắc tộc Tác giả đã sử dụng những kí hiệu được lặp lại trong thời gian dài mà các ấn phẩm được phát hành Tác giả phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố kí hiệu để thể hiện một ý nghĩa trọn vẹn về người da đen Ví dụ Stuart Hall đưa ra là tiêu đề và hình ảnh của một bài báo về thế vận hội Olympic năm 1998 Ảnh chụp một người đàn ông da màu chiến thắng khi vượt qua vạch đích trên đường đua điền kinh với

dòng chữ “Người anh hùng và kẻ gian lận?” (Heroes and Villians?) Từ đó ông

phân tích ý nghĩa của sự trình hiện khi kết hợp hình ảnh của vận động viên da đen với dòng chữ đính kèm Trong xã hội phương Tây thời điểm xuất bản tờ báo đó,

Trang 32

người da đen vẫn đang bị xem là người có vị thế thấp kém trong xã hội Chiến thắng của vận động viên điền kinh da màu là bước ngoặt lịch sử khi khả năng của họ được công nhận Vận động viên Ben Jonhson đã giành huy chương vàng đầu tiên cho người da màu trong lịch sử tham gia thi đấu thể thao Olympic Thế nhưng, dòng chữ đính kèm khiến người xem bị cố định vào suy nghĩ tiêu cực nhiều hơn là tích cực Kì thế vận hội ấy được gọi là “Chemiscal Olympic” (Kì vận hội của hóa chất) khi nhiều vận động viên đã dùng chất kích thích để chiến thắng Với tiêu đề như thế, nhiều người đọc sẽ tiếp nhận sự trình hiện về người da đen theo hai chiều hướng Hoặc anh ta là một anh hùng thực sự, hoặc anh ta là người gian lận để có được chiến thắng Và dường như cả người viết cũng đang ngụ ý nghi ngờ về chiến thắng ấy khi đặt tiêu đề như thế cùng hình ảnh chiến thắng của vận động viên người

Trang 33

đến XX, khi người châu Âu tiến hành các cuộc viễn chinh khám phá thế giới và xâm lược thuộc địa, họ đã đến châu Phi và bắt rất nhiều người ở đó làm nô lệ Và từ

đó các ấn phẩm văn hóa bắt đầu xuất hiện người da đen Mẫu quảng cáo xà phòng của hãng Pear có hai mặt Xà phòng lần đầu tiên được bán ở thị trường châu Phi và được xem là một vật “thần thánh” có chức năng thanh tẩy và mang lại sự tinh khiết (hơn là các hình thức vệ sinh trước đó người da đen sử dụng) Mặt trước in hình một người đàn ông da trắng đang chế tác xà phòng và dưới góc bên phải là hình ảnh người da đen đang quỳ và nâng hai tay nhận lấy một món quà từ người da trắng đội nón và mặc áo khoác dài Mặt sau là hai hình ảnh về cô bé da trắng mang tạp dề và chăm sóc tắm rửa và chơi cùng một em bé da đen Tấm quảng cáo ấy, nếu xét đơn giản về mặt chất liệu thì chỉ là những hình ảnh khuyến khích người da đen hãy sử dụng xà phòng để tắm rửa Nhưng còn về ý nghĩa, nó hàm chứa định kiến về sắc tộc Thực tế, người da trắng chỉ xem người da đen là người làm thuê, là công cụ hay

một hàng hóa Nhưng trên mẫu quảng cáo của mình họ lại nói “The white man’s burden” (Gánh nặng của người da trắng) và hình ảnh chăm sóc em bé da đen như

một sứ mệnh của họ Người châu Âu đã mang khái niệm khai hóa đến châu Phi và

áp đặt nền văn hóa của mình là sự văn minh vượt trội Trong nhiều thế kỉ, người da trắng luôn có khái niệm về người da đen là man rợ, lạc hậu và cần sự dẫn dắt của người da trắng Những quảng cáo này có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách thức trình hiện người da đen trong các sản phẩm của người da trắng thời gian dài Người

da đen đã bị ép vào những khuôn mẫu diễn ngôn cứng nhắc và khác hẳn hoàn toàn với bản chất của họ trong thực tế Người da đen luôn phải chịu sự ban ơn của người

da trắng và việc tẩy rửa màu da của họ để trắng sáng lên là một cách thức giúp họ hòa nhập với cuộc sống văn minh thay vì cuộc sống man rợ, phóng túng và hoang dại

Cách thức tạo nên sự trình hiện cũng là cách con người áp đặt quyền lực của mình lên một biểu tượng nào đó Stuart Hall đã dẫn ra những ý niệm cộng đồng khác nhau trong nguồn thông tin mà ta tiếp nhận hằng ngày Đặc biệt là về vấn đề người

da đen, sự trình hiện không tương đồng với bản chất của họ Sự trình hiện ấy khiến

ta có tư kiến, thậm chí là nhận định sai lầm khi tiếp xúc với người da đen trong thực

tế Thế nhưng, ý nghĩa không bao giờ là cố định và đi đến diễn giải cuối cùng Cách

Trang 34

thức trình hiện khái niệm trở nên thật phong phú và tạo thành một quá trình riêng, không phụ thuộc hoàn toàn vào người sáng tạo nên chúng

Văn bản điện ảnh

Stuart Hall đã phân tích sự trình hiện của các nhân vật da đen trên phim ảnh của Mỹ vào những thập niên 80 – 90 của thế kỉ XX Sự trình hiện nhân vật người da đen trong những phim điện ảnh Mỹ vào năm mươi thập kỉ sau của thế kỉ XX mang tính điển hình cao Những kí hiệu được lặp lại và giới phê bình lấy đó là cơ sở phân tích đặc trưng văn hóa của người da đen

Stuart Hall phân biệt sự trình hiện người da đen bằng những kí hiệu được lặp lại trong các ấn phẩm điện ảnh Ông thống kê, phân chia các kiểu nhân vật người da đen có sự tương đồng với nhau thành một nhóm để tìm ra sự thống nhất trong ý nghĩa văn hóa về trình hiện người da đen Sự thống nhất trong cách thức trình hiện tạo thành ý nghĩa về người da đen Từ đó, dấu vết tâm lí được sinh ra khi người ta nghĩ về người da đen hay đánh giá về những người da đen trong thực tế Sau cuộc nội chiến ở nước Mĩ, người da đen được giải phóng khỏi những đồn điền, công xưởng của người da trắng Trong thực tế, người da đen có được tự do hơn, nhưng trên phim ảnh thì họ không được như thế Người da đen thường xuất hiện trong các

ấn phẩm truyền thông như tranh vẽ, quảng cáo, tờ rơi dưới ánh nhìn thương cảm hay khinh miệt của người da trắng Và ngay cả sau nội chiến giải phóng cuộc sống

nô lệ cho người da đen thì họ vẫn được trình hiện không đúng với bản chất của họ Những người da đen được xem là "hạnh phúc" khi họ trình diễn những trò tiêu khiển cho người khác, phải làm trò hề suốt ngày, và họ rất hợp với công việc kể chuyện phiếm Văn hóa của người da đen gắn liền với tính nguyên sơ trong văn hóa

và tính chất đen tự nhiên Những thuộc tính ấy được xem là bản chất của người da đen Trong bài giảng "Representation and the Media - part 1", ông đã trình bày những trình hiện tiêu biểu về người da đen được xây dựng bởi những nhà đạo diễn

da trắng Những người da đen thường được đặt trong vai trò những người phục vụ,

ở vị trí thấp kém Họ nói ngọng, mắt trợn trừng, nói chuyện tục một cách rất thuần thục và bước đi phải giống như đang lướt Giá trị của người da đen bị quyết định là

"thấp kém" hay "cao quý" phụ thuộc vào gia đình người da trắng mà họ phục vụ

Trang 35

trong phim “Uncle's Tom Cabin" trình hiện nhân vật người vú nuôi là người da đen

và những người làm công khác Bộ phim được Hollywood thực hiện và công chiếu năm 1987 Đây là một bộ phim cải biên từ tiểu thuyết cùng tên của Harriet Beecher Stowe Người vú nuôi da đen được trình hiện là một người da đen có những tính chất như là người phụ nữ tần tảo, luôn gắn bó với gian bếp, chịu nhiều thiệt thòi Bà nhận được sự thương cảm từ mọi người vì là người ở tầng lớp thấp nhất trong xã hội Nhân vật Remus cũng là người da đen nhưng anh ta tạo ra ấn tượng về sự giải trí thấp kém Anh ta diễn trò hát rong, nhảy nhót và đùa nghịch, dùng những mánh khóe lừa đảo xảo trá để tránh phải lao động nặng nhọc Staurl Hall kết luận về đặc điểm sự trình hiện người da đen từ những bộ phim nổi bật về người da đen là sự lười biếng, lòng trung thành mù quáng, đầu óc "chậm phát triển", lừa đảo, tính cách trẻ con được xem là tiêu biểu của người da đen

Stuart Hall đã rút ra kết luận trong sự phát triển trình hiện của người da đen trong các bộ phim và năm bài viết nghiên cứu và phê bình từ những năm 1973 đến 1978

là bản chất của họ luôn bị bóp méo để tạo nên cảm xúc đáng thương hay xem thường nơi người xem Họ luôn trình hiện trong sự đối lập với những người da trắng Người da trắng là những người ban ơn, mang đến hạnh phúc về vật chất cho người da đen Người da trắng luôn nghiêm túc và được trình hiện với phẩm chất tốt đẹp, còn người da màu đôi khi là sự tham lam, quá khích, dễ nóng nảy Những người da trắng sỡ hữu những nô lệ da đen thường luôn áp đặt nhiều luật lệ lên họ để buộc họ phải có trách nhiệm với chủ nhân, và thậm chí là đối xử với họ nghiêm khắc như những đứa trẻ Sự trình hiện về người da đen lặp lại những yếu tố mà ông gọi là "cấu trúc của sự trình hiện" Những hình ảnh trong thời kì ấy về người da đen trẻ tuổi là những kẻ "thấp hèn", "lạm dụng chất kích thích", tính cách "đỏng đảnh" Thông điệp tác giả Stuart Hall thể hiện trong nghiên cứu về sự trình hiện người da đen trong phim điện ảnh là sự phá bỏ lối suy nghĩ phiến diện khi chưa hiểu rõ bản chất của đối tượng ấy Mọi nền văn hóa đều có bản sắc riêng đáng được trân trọng

Ở phần cuối chương 4 “The spectacle of ‘the Other”, tác giả phân tích bối cảnh văn hóa tạo nên bản sắc riêng của người da đen, như văn hóa phồn thực, ý thức hệ, truyền thống văn hóa Tóm lại, để phân tích sự thực hành quá trình trình hiện nhân

Trang 36

vật trong văn bản điện ảnh, tác giả đã sử dụng mô hình của Saussure trong việc phân tích, sắp xếp các kiểu mẫu giống nhau và tìm kiếm sự vận hành của chúng bằng các thao tác: tìm bản chất, đơn giản hóa, phân tích bối cảnh và đối lập nhị nguyên

Văn bản văn học

Phương pháp diễn giải sự trình hiện thông qua hệ thống kí hiệu trong văn học không được Stuart Hall đề cập trong nghiên cứu Tuy nhiên, người viết phân tích một ví dụ trong trình hiện văn học để làm rõ cách thức vận hành tạo nên ý nghĩa của kí hiệu Ngôn từ là chất liệu cơ bản của văn học Nền tảng của ngôn từ cũng chính là ngôn ngữ đời sống Tác giả sáng tác phải có sẵn trong một bản đồ khái niệm chung phụ thuộc vào nền văn hóa mà tác giả sinh sống Trình hiện đối tượng nghệ thuật là vận dụng những khái niệm có sẵn ấy để tạo nên điều gì đó mâu thuẫn với khái niệm của người đọc Trong sự đối thoại và lí giải những kí hiệu mới, ý nghĩa được tạo ra Cùng là kí hiệu "bướm" và "hoa" trong những hệ thống kí hiệu khác nhau sẽ tạo nên những ý nghĩa khác nhau Trong thực hành ngôn ngữ đời thường, bướm và hoa là hình ảnh của thiên nhiên tươi đẹp, của khu vườn tràn ngập hương sắc Trong văn học dân gian, kí hiệu "bướm và hoa" thể hiện cho tình yêu nam nữ phù phiếm, dễ

tan vỡ: "Bướm vàng đậu đọt mù u/ Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn" (Ca

dao) Trong văn học viết, hình ảnh "bướm và hoa" mang sắc thái nghĩa tiêu cực

trong tình yêu: "Thiếp như hoa đã lìa cành/ Chàng như con bướm lượn vành mà chơi" (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Hình ảnh "hoa" là kí hiệu truyền thống thể hiện

người phụ nữ đẹp nhưng trắc trở trong tình duyên Hình ảnh "bướm" là những người đàn ông quen thói trăng hoa, trong tình yêu không chung thủy Trong Thơ Mới, kí hiệu "bướm" và "hoa" được sáng tạo thêm nét nghĩa mới trong "Tương tư"

của Nguyễn Bính: "Bao giờ bến mới gặp đò/ Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau" Kí hiệu "bướm" và "hoa" không còn mang ý nghĩa về tình yêu phù phiếm

mà đã trở thành một mối tình đẹp đầy nhớ mong, xao xuyến Đây là kiểu mối tình đáng mơ ước với thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Nét nghĩa mới được sáng tạo trong

kí hiệu bởi mối quan hệ của nó với các yếu tố khác cùng hệ thống Ý nghĩa của

"bướm" và "hoa" khi đặt song hành cùng kí hiệu "bến" và "đò" mang nét nghĩa liên

Trang 37

tưởng về tình yêu thủy chung lí tưởng Nét nghĩa tiêu cực đã biến mất và ý nghĩa mới về tình yêu được định nghĩa lại trong tác phẩm văn học

Bằng phương pháp phân tích sự trình hiện kí hiệu văn học, người viết thực hiện các thao tác tương tự như Stuart Hall dùng phân tích ý nghĩa về trình hiện người da đen Các thao tác gồm có: hệ thống các tác phẩm có xuất hiện kí hiệu, phân loại và xác định ý nghĩa của từng nhóm kí hiệu Sau đó, người viết kết luận về những tầng ý nghĩa tồn tại xung quanh kí hiệu “bướm” và “hoa”, đối chiếu với bản chất của đối tượng trong thực tế và quan niệm truyền thống về kí hiệu Ý nghĩa mới được tạo nên trong sự thực hành với giá trị biểu đạt phong phú, không bị áp đặt bởi quan niệm truyền thống

1.1.2.2 Vai trò của sự trình hiện

Sự trình hiện ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người Từ bản tin thời sự đến sáng tác nghệ thuật, mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày, đều có sự sắp đặt trình hiện của người tạo ra chúng Các tác giả trình hiện một khái niệm nào đó trong đầu óc của họ bằng các hình ảnh, đoạn nhạc, đoạn phim… để tác động đến nhận thức và cách hiểu của người khác Xã hội không thể vận hành tốt khi mỗi cá nhân đều có những bảng mã văn hóa riêng vì khi giao tiếp họ không thể hiểu được khái niệm mà người khác đang muốn truyền tải Chính vì thế, sự trình hiện có tính ổn định sẽ tạo nên cách hiểu tương tự nhau của các cá nhân trong cùng một nền văn hóa

Sự trình hiện giải thoát khái niệm trong đầu tác giả thành những yếu tố trực quan có thể tri nhận được như hình ảnh, âm thanh, đoạn phim… và khi đến với người xem,

họ sẽ giải mã những kí hiệu ấy để tạo nên thế giới khái niệm của riêng mình Khái niệm mới được sản sinh không đối nghịch hay quá khác biệt với khái niệm xuất phát từ tác giả mà sẽ được phát triển dựa trên cơ sở tương đồng văn hóa giữa tác giả

và người tiếp nhận

Sự trình hiện giúp xã hội vận hành và không ngừng sáng tạo Ngôn ngữ giúp sự trình hiện được thực hành và ý nghĩa được truyền tải đến các cá nhân Mỗi ngày, chúng ta đều tiếp xúc với những hệ thống trình hiện khác nhau vì mỗi lĩnh vực đời sống đều có một ngôn ngữ riêng Trong ngành thời trang, quần áo, phụ kiện là ngôn

Trang 38

ngữ riêng; trong giao thông, xanh-đỏ-vàng là hệ thống ngôn ngữ của đèn tín hiệu; chấm nhỏ kĩ thuật số nhiều màu là hệ thống kí hiệu của màn hình tivi Và không phải hệ thống kí hiệu nào cũng mang ý nghĩa đặc biệt để người tiếp nhận phải dụng tâm giải mã Ta không thể làm việc với những chất liệu tự nhiên ấy mà điều quan trọng là cấu trúc bên trong chúng, điều cần thiết để tạo nên những phép ẩn dụ Kí hiệu phải là phương tiện thể hiện khái niệm, ý niệm và cảm nhận (concepts, ideas and feelings) mà những người khác có thể đọc, giải mã và thể hiện ý nghĩa của chúng theo một cách tương tự như cách mà người ta sáng tạo ra chúng

Sự trình hiện là thực hành kí hiệu ngôn ngữ trong đời sống để tạo nên sự tương đồng về cách hiểu của mỗi cá nhân trong xã hội Công nghệ phát triển khiến các hình thức của ngôn ngữ ngày càng mở rộng Ngôn ngữ không còn chỉ là chữ viết, số đếm được in ấn trong giấy mà được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú Đặc biệt, điện ảnh được xem là một loại hình nghệ thuật tổng hợp nhiều hình thái của ngôn ngữ: hình ảnh, âm nhạc, góc quay của máy, biểu cảm gương mặt và cử chỉ của diễn viên… Tổng hòa mối quan hệ của các yếu tố trình hiện ấy trong hệ thống của một bộ phim cũng là khi ý nghĩa được sinh ra

1.2 Sự dịch chuyển kí hiệu từ văn bản ngôn từ đến điện ảnh

1.2.1 Cơ sở diễn giải hệ thống kí hiệu trong tác phẩm điện ảnh cải biên

Để phân tích sự trình hiện trong các kiểu loại văn bản, ta cần khái quát được hệ thống kí hiệu nội tại trong văn bản ấy Kí hiệu có thể chuyển dịch trong những chất liệu khác nhau với khả năng sáng tạo to lớn Thông điệp giới hạn về hình thức nhưng không giới hạn về chất liệu Hình thức là mối quan hệ ràng buộc tạo nên ý nghĩa cho hệ thống kí hiệu, còn chất liệu là phương tiện tạo thông điệp Việc này giống như bạn chụp một bức ảnh Khi bạn thay đổi điểm nhìn, ánh sáng, khung cảnh thì thông điệp trong tấm ảnh sẽ thay đổi chứ nó không phụ thuộc vào việc bạn dùng loại phim hay loại máy chụp ảnh nào Nhưng đối với hai hệ thống kí hiệu ngôn từ và điện ảnh, sự khác biệt không chỉ như thế Nhà phê bình điện ảnh Pháp

Jean Miltry nhận định: “Tiểu thuyết là một chuyện kể tự cấu tạo mình trong thế giới, còn điện ảnh là một thế giới tự cấu tạo mình thành chuyện kể” [4, tr.69] Nghĩa là

nhân vật văn học có đời sống riêng trong tưởng tượng của độc giả còn các yếu tố

Trang 39

trong điện ảnh như âm thành, hình ảnh được kết hợp theo một ý nghĩa nhất định, tồn tại trong một thế giới riêng Người làm phim muốn kể một câu chuyện nghĩa là phải vận dụng “thế giới ấy” [4, tr.69]

Trong cuốn “Chân trời của hình ảnh”, tác giả Đào Lê Na đã chỉ ra những điểm đặc

thù trong việc cải biên tác phẩm văn học từ trường hợp đạo diễn Kurosawa Akira

Cơ sở của việc cải biên tác phẩm văn học là dựa vào sự phức hợp của bốn lí thuyết: liên văn bản, phiên dịch học, văn hóa học, giải kiến tạo Trong đó, kết hợp với lí thuyết được nêu ra trong chương 1 của luận văn, chương 3 của luận văn sẽ làm rõ

sự dịch chuyển các kí hiệu từ truyện ngắn đến điện ảnh thông qua lí thuyết văn hóa học về sự trình hiện Ở khía cạnh này, văn hóa chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác

nghệ thuật “Văn hóa không phải là cái gì bất biến nên văn hóa có thể bị các quyền lực và chính trị chi phối để phục vụ cho các nhóm xã hội bên lề” [17, tr.60] Ý

nghĩa trong một văn bản bị tác động không phải một chiều, mà là trong sự tương tác qua lại giữa văn bản và người đọc Trong tác phẩm cải biên, yếu tố văn hóa được cụ

thể là “mục đích của đạo diễn, tác giả điện ảnh không bao giờ là trung lập hoặc khách quan” [17, tr.87] Vậy có thể kết luận rằng, bản thân hệ thống kí hiệu trong

cải biên không phải là một hệ thống khép kín mà chịu sự chi phối của rất nhiều yếu

tố xã hội Trong văn học, đó là tư tưởng hệ, quan niệm xã hội, nền tảng đạo đức mà tác giả chịu ảnh hưởng Trong điện ảnh, đó là sự trung hòa ý tưởng của cả một nhóm tác giả, từ đạo diễn, diễn viên, hóa trang, quay phim, âm thanh… Những yếu

tố này chi phối mạnh mẽ đến sự trình hiện nhân vật trong tác phẩm điện ảnh

Khi phân tích kí hiệu trong điện ảnh, ta cũng cần lưu ý đến những đặc thù trong

hình thức của thể loại này Trong cuốn “Nghệ thuật điện ảnh”, tác giả David Bordwell và Kristin Thompson đã trình bày “Hình thức nghệ thuật là tìm hiểu trật

tự, ý nghĩa, trải nghiệm thế giới bằng cách tách nó thành những kiểu mẫu quen thuộc Các yếu tố trong phim không phải là những yếu tố ngẫu nhiên mà phải là tổng thể các mối quan hệ giữa các yếu tố” [4, tr.68] Hình thức của phim chính là

sức sống của bộ phim đó Nó mang lại cho người xem sự thách thức những kinh nghiệm quen thuộc Đạo diễn William Goldman (nhà biên kịch phim “Butch

Cassidy” và “Sundance”) nhận xét: “Kịch bản điện ảnh là một cấu trúc” [4, tr.69]

Trang 40

Hình thức phim là hệ thống kí hiệu độc lập so với hệ thống kí hiệu trong tác phẩm

văn học Trong cuốn sách “Chân trời của hình ảnh”, tác giả Đào Lê Na đặt ra khái niệm về cải biên “bao hàm trong nó ý nghĩa về sự thay đổi, viết lại nên nó thể hiện được sự sáng tạo của nhà làm phim… Tác phẩm cải biên là cách đọc khác của các nhà làm phim đối với tác phẩm văn học và là sự đồng sáng tạo, tái sáng tạo trong dòng chảy vô cùng vô tận của liên văn bản.” [17, tr.104] Vì thế, tác giả bác bỏ luận

điểm tiểu thuyết hay hơn phim, vì so sánh ấy không thể thực hiện khi đối tượng thuộc về hai chất liệu và hình thức khác nhau Tác phẩm truyện hay tác phẩm điện ảnh dưới lí thuyết giải cấu trúc đã trở nên đồng đẳng hơn khi những giá trị nhị nguyên đã được tháo bỏ Mỗi hệ thống kí hiệu đều có sự liên kết trong chính bản thân nó để mang đến cho người đọc một điểm nhìn khác hơn đối với những kinh nghiệm sống mà bản thân tích lũy

1.2.2 Những khái niệm cần lưu ý trong diễn giải kí hiệu tác phẩm điện ảnh

Thuật ngữ cơ bản về điện ảnh được người viết dựa trên cuốn sách “Flims Studies The Basic” của tác giả Amy Villarejo và cuốn “Nghệ thuật điện ảnh” của David

Bordwell và Kristin Thompson Tác giả đã trình bày về nghệ thuật điện ảnh như một hệ thống ngôn ngữ độc lập

“Phim được cấu trúc như một ngôn ngữ Phim được cấu thành bởi các đơn vị cơ bản, được gọi là các cảnh quay (shot), phim phụ thuộc vào dựng phim (edits) để kết hợp các cảnh quay lại thành một chuỗi lớn hơn gọi là các trường đoạn (sequences) (một loạt các cảnh quay được thống nhất với nhau trong không gian và thời gian), giống như các từ trở thành câu.” (Amy Villarejo) [31, tr.24]

Khái niệm dàn cảnh (mise-en-scène) là cách sắp xếp những cảnh quay theo một trật

tự nhất định nhằm thể hiện ý nghĩa nào đó “Dàn cảnh là yếu tố chủ yếu tạo nên

“thế giới của phim”, nó tạo nên cảm giác của ta đối với chi tiết” (Amy Villarejo)

[31, tr.24] Trong dàn cảnh có rất nhiều yếu tố tạo nên ý nghĩa phim, mỗi yếu tố giống như một kí tự trong ngôn ngữ Khi đứng riêng lẽ, chúng chưa thể tạo nên ý nghĩa, nhưng khi kết hợp trong cùng một hệ thống, những kí tự sẽ trở thành kí hiệu, mang đến một thông điệp Các yếu tố được chú trọng trong phân tích dàn cảnh là: khung cảnh, màu sắc, âm thanh…

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w