1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lựa chọn văn bản thông tin sử dụng trong phần đọc hiểu của đề thi tuyển sinh lớp 10 môn ngữ văn tại thành phố hồ chí minh​

143 62 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi hướng đến việc khảo sát những VB này từ một số yêu cầu về ngữ liệu ĐH như đề tài của VB, độ dài của VB, nguồn trích dẫn của VB, các phương tiện thể hiện của VB và trên cơ sở đố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  

Vũ Ngọc Mai

LỰA CHỌN VĂN BẢN THÔNG TIN

SỬ DỤNG TRONG PHẦN ĐỌC HIỂU CỦA ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

TP HỒ CHÍ MINH – 07/2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Vũ Ngọc Mai

LỰA CHỌN VĂN BẢN THÔNG TIN

SỬ DỤNG TRONG PHẦN ĐỌC HIỂU CỦA ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

ThS Nguyễn Phước Bảo Khôi

TP HỒ CHÍ MINH – 07/2020

Trang 3

Đề tài “LỰA CHỌN VĂN BẢN THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG PHẦN ĐỌC HIỂU CỦA ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” là nội dung em chọn để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp sau 4 năm theo

học chương trình Đại học, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn tại trường Đại học Sư phạm Tp.HCM

Để hoàn thành và hoàn thiện đề tài luận văn này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Phước Bảo Khôi, giảng viên Tổ Lý luận và Phương pháp giảng dạy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để kiến thức của em ngày một càng hoàn thiện hơn

Nhân dịp này, em cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy/Cô giảng viên tại Khoa Ngữ văn nói chung và Tổ Lý luận và Phương pháp giảng dạy nói riêng đã truyền dạy những kiến thức quý báu trong suốt 4 năm theo học tại khoa

Đồng thời xin gửi lời cám ơn đến quý Thầy/Cô Giáo viên Ngữ văn lớp 9 tại Tp.HCM đã tận tình tham gia trả lời bảng hỏi khảo sát của luận văn tốt nghiệp này Ngoài ra, sự động viên từ gia đình, bạn bè đã luôn ở bên và hỗ trợ tinh thần giúp con/em hoàn thành khóa học và bài luận văn này

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy/Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp giảng dạy của mình

Trân trọng cảm ơn!

Tp.HCM, tháng 7 năm 2020

Sinh viên

Vũ Ngọc Mai

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

0.1 Lí do chọn đề tài 8

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

0.3 Đối tượng nghiên cứu 9

0.4 Phạm vi nghiên cứu 9

0.5 Giả thuyết khoa học 9

0.6 Phương pháp nghiên cứu 10

0.7 Bố cục của đề tài 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Những vấn đề về Văn bản và Văn bản thông tin 13

1.1.1Khái niệm Văn bản và Văn bản thông tin 13

1.1.2Đặc điểm và phân loại Văn bản thông tin 16

1.2 Việc sử dụng Văn bản thông tin trong nội dung đọc hiểu của các kỳ kiểm tra - đánh giá trên thế giới 21

1.2.1Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (PISA) phần Đọc hiểu 21

1.2.2Các kỳ thi năng lực ngoại ngữ cho người không sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất - Trường hợp TOEIC, IELTS 25

1.2.3Các phần thi đánh giá năng lực Đọc - hiểu ngôn ngữ Tiếng Anh - Trường hợp SAT, ACT 27

1.2.4Các kỳ thi đánh giá HS trên diện rộng môn Ngôn ngữ Tiếng Anh - Trường hợp Kỳ thi TSA của Hongkong, NAPLAN của Úc 30

1.3 Xu hướng đổi mới trong kiểm tra - đánh giá 33

1.3.1 Định hướng đổi mới của Bộ Giáo dục & Đào tạo 33

1.3.2Trường hợp Kỳ thi Tuyển sinh lớp 10 tại Tp.HCM và đề thi môn Ngữ văn 38 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN HIỆN HÀNH BẬC THCS VÀ PHẦN ĐỌC HIỂU CỦA ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN TẠI TP.HCM 47

2.1 Khảo sát về Văn bản thông tin trong SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS .47

Trang 5

2.1.1 Số lượng, độ dài, nguồn trích dẫn của văn bản 47

2.1.2 Đặc điểm của văn bản 53

2.1.3 Chủ đề, đề tài của văn bản . 55

2.2 Khảo sát về Văn bản thông tin trong Phần Đọc hiểu của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009-2019 57

2.2.1 Số lượng, độ dài, nguồn trích dẫn của văn bản 57

2.2.2 Đặc điểm của văn bản 61

2.2.3 Chủ đề, đề tài của văn bản . 62

2.3 Khảo sát đánh giá của giáo viên về Ngữ liệu Đọc hiểu trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM từ năm 2014 đến nay 62

2.3.1 Hình thức khảo sát 62

2.3.2 Đối tượng thực hiện khảo sát 63

2.3.3 Kết quả khảo sát 64

2.3.4 Nhận xét của đề tài 76

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT YÊU CẦU LỰA CHỌN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG PHẦN ĐỌC HIỂU CỦA ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN TẠI TP HỒ CHÍ MINH 79

3.1 Cơ sở lí luận để đề xuất yêu cầu 79

3.1.1 Định hướng để đánh giá theo năng lực 79

3.1.2 Đặc điểm tâm lí đối tượng thực hiện 81

3.1.3 Lí thuyết về “vùng phát triển gần” 84

3.2 Cơ sở thực tế để đề xuất yêu cầu 86

3.2.1 Yêu cầu “tương đương văn bản trong SGK” đối với văn bản sử dụng đánh giá năng lực Đọc hiểu . . 86

3.2.2Một số yêu cầu từ thực tiễn sử dụng Văn bản thông tin trong dạy học và kiểm tra - đánh giá. 88

3.3 Đề xuất yêu cầu lựa chọn Văn bản thông tin sử dụng trong phần Đọc hiểu của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM 99

3.3.1 Những yêu cầu chung 99

3.3.2 Những yêu cầu cụ thể 102

Trang 6

KẾT LUẬN 107

1 Kết quả nghiên cứu của đề tài 107

2 Những nội dung chưa hoàn thành 109

3 Hướng phát triển của đề tài 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC PL1

PHỤ LỤC 1: Phiếu khảo sát ý kiến của GV Ngữ văn lớp 9 tại Tp.HCM PL1

PHỤ LỤC 2: Số liệu thống kê từ kết quả khảo sát PL14

PHỤ LỤC 3: Một số VB ngữ liệu minh họa theo yêu cầu đã đề xuất PL22

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Mô tả các đề xuất về yêu cầu lựa chọn VBTT của

CT GDPT môn Ngữ văn năm 2018

20

Bảng 1.5 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi SAT phần ĐH của Hoa Kì 28

Bảng 1.6 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi ACT phần ĐH của Hoa Kì 29

Bảng 1.7 Mô tả các VB sử dụng trong đề thi TSA phần ĐH của Hongkong 30

Bảng 1.8 Bảng thống kê số lượng theo loại các VB ngữ liệu ĐH

sử dụng trong Đề thi NAPLAN năm 2014-2016

33

Bảng 1.9 Bảng mô tả một số đặc trưng cơ bản của giáo dục thay đổi khi

chuyển CT từ định hướng nội dung sang định hướng năng lực

36

Bảng 1.10 Bảng so sánh giữa Đánh giá kiến thức, kỹ năng

và Đánh giá năng lực

37

Bảng 1.11 Bảng thống kê cấu trúc đề thi qua các năm từ 2009 đến nay 39

Bảng 1.12 Mô tả sự đổi mới Hình thức - Nội dung - Mục tiêu của Đề thi

Tuyển sinh lớp 10 Môn Ngữ văn tại Tp.HCM

40

Bảng 1.13 Tái hiện ma trận đề thi Tuyển sinh lớp 10

Môn Ngữ văn tại Tp.HCM

44

Bảng 2.1 Khảo sát số lượng VBTT dạy học ĐH chính thức trong

SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS

48

môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS

49

Bảng 2.3 Thống kê tỉ lệ xuất hiện của các loại VB ngữ liệu dạy học ĐH

chính thức trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS

49

Bảng 2.4 Khảo sát độ dài VBTT trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS 50

Bảng 2.5 Độ dài trung bình của VBTT trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS 51

trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS

52

Trang 8

Bảng 2.7 Khảo sát sự xuất hiện của các phương tiện phi ngôn ngữ của VBTT

trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS

54

Bảng 2.8 Phân loại chủ đề, đề tài của VBTT trong SGK Ngữ văn bậc THCS 56

Bảng 2.9

Mô tả theo loại các VB sử dụng trong phần đánh giá năng lực

ĐH trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn

tại Tp.HCM từ năm 2014 đến nay

Bảng 2.11 Khảo sát độ dài của VBTT xuất hiện trong đề thi Tuyển sinh lớp 10

môn Ngữ văn tại Tp.HCM từ năm 2014 đến nay

60

Bảng 2.12 Khảo sát nguồn trích dẫn của VBTT xuất hiện trong đề thi Tuyển

sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM từ năm 2014 đến nay

61

Bảng 2.13 Khảo sát sự xuất hiện của các phương tiện phi ngôn ngữ của

VBTT trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn Tp.HCM

61

Bảng 2.14 Khảo sát đề tài của VBTT trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10

môn Ngữ văn Tp.HCM từ năm 2014 đến nay

62

Biểu đồ 2.1 Mô tả số lượng GV thực hiện khảo sát theo Quận/ Huyện 64

Biểu đồ 2.3 Mức độ đáp ứng Mục tiêu ra đề của Cấu trúc phần ĐH VB 66

Biểu đồ 2.4 Đánh giá về Độ dài của VB ngữ liệu ĐH trong

Biểu đồ 2.6 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2014 68

Biểu đồ 2.7 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2015 69

Biểu đồ 2.8 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2016 69

Biểu đồ 2.9 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2017 70

Biểu đồ 2.10 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2018 70

Biểu đồ 2.11 Đánh giá về Đề tài của VB ngữ liệu ĐH trong Đề thi năm 2019 71

Biểu đồ 2.12 Đánh giá về Yếu tố trực quan của VB ngữ liệu ĐH Đề thi năm 2017 72

Biểu đồ 2.13 Đánh giá về Yếu tố trực quan của VB ngữ liệu ĐH Đề thi năm 2018 72

Trang 9

Biểu đồ 2.14 Đánh giá về Yếu tố trực quan của VB ngữ liệu ĐH Đề thi năm 2019 73

Biểu đồ 2.15 Xác định loại VB của các VB ngữ liệu ĐH trong

Đề thi năm 2014 - 2019

74

Biểu đồ 2.16 Đánh giá vai trò của VBTT trong Ngữ liệu phần ĐH của đề thi 75

Bảng 3.1 Đối chiếu các yếu tố tác động đến việc thực hiện hoạt động

ĐH VB của HS ở hai môi trường lớp học và giờ kiểm tra

83

Bảng 3.2 Các yêu cầu đặt ra về kĩ năng ĐH, kiến thức và kinh nghiệm

của người đọc khi tiếp xúc với VB

87

Bảng 3.3 Cụ thể hóa nội dung của tiêu chí “tương đương VB trong SGK” 88

Bảng 3.4 Thống kê số lần xuất hiện của các đề tài trong các VBTT và các

VBTT dạy học ĐH chính thức trong SGK Ngữ văn bậc THCS

89

Bảng 3.5 Thống kê các yêu cầu của CT và đề tài cụ thể của VB nhật dụng

trong SGK Ngữ văn bậc THCS

90

Bảng 3.6 Khảo sát đề tài của VBTT trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10

môn Ngữ văn tại Tp.HCM

91

Bảng 3.7 Khảo sát đề tài của VBNL trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10

môn Ngữ văn tại Tp.HCM

91

Bảng 3.8 Khảo sát đề tài của VBVH trong SGK môn Ngữ văn bậc THCS 92

Bảng 3.9 Khảo sát độ dài và số chữ/tiết của VBTT sử dụng dạy học ĐH

chính thức trong SGK Ngữ văn bậc THCS

95

Bảng 3.10 Thời gian ước tính HS sử dụng để thực hiện phần ĐH trong

Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

96

Bảng 3.11 Định mức độ dài ước lượng từ việc quy chiếu theo số chữ HS thực

hiện ĐH VBTT được dạy học chính thức trong 45 phút

96

Bảng 3.12 Khảo sát độ dài của các VB ngữ liệu dùng trong phần ĐH của

Đề thi Tuyển sinh lớp 10 tại Tp Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay

97

Bảng 3.13 Khảo sát sự xuất hiện của phương tiện phi ngôn ngữ của VBTT

trong SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS

98

Bảng 3.14 Khảo sát sự xuất hiện của phương tiện phi ngôn ngữ của VBTT

trong Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

98

Bảng 3.15 Khảo sát nội dung Tiếng Việt – Làm văn trong phần ĐH của Đề thi

Tuyển sinh lớp 10 tại Tp Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến nay

101

Trang 11

MỞ ĐẦU 0.1 Lí do chọn đề tài

Thứ nhất, VBTT có một vai trò quan trọng trong việc dạy học Ngữ văn nói riêng

và trong đời sống nói chung Không phải vô tình mà kết quả đánh giá từ NAEP cho

biết: số lượng VBVH trong CT GDPT cần giảm dần còn số lượng VBTT sẽ tăng thêm

theo cấp lớp nhằm đáp ứng mục tiêu của những bậc đào tạo sau trung học, đáp ứng nhu

cầu nghề nghiệp và cuộc sống của người học trong tương lai Thực chất, VBTT chủ yếu

là những dạng VB mà HS tiếp xúc hàng ngày Đó cũng là một trong những tiêu chí để

các em cảm thấy môn Ngữ văn thiết thực, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và định hướng

nghề nghiệp về sau

Thứ hai, từ năm 2014 đến nay, Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại

Tp.HCM đều được cấu trúc thành hai phần: phần ĐH và phần Làm văn Đáng chú ý

hơn, từ năm 2015, nội dung đánh giá năng lực ĐH và cấu trúc nội dung này cũng giữ

sự ổn định cao với các VB ngữ liệu ngoài SGK Chiếm 3.0/10 điểm của Đề thi Tuyển

sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM hiện nay, chắc chắn nội dung đánh giá năng lực

ĐH đã và đang có một vai trò rất quan trọng Những VB ngữ liệu này cùng với hệ thống

câu hỏi với ba mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng) đã giúp đánh giá năng lực ĐH

của HS một cách hiệu quả, khách quan và toàn diện hơn Điều đặc biệt là từ năm 2017

đến nay, ngữ liệu phần ĐH của đề thi thường xuất hiện các VBTT

Thứ ba, việc đổi mới CT và SGK môn Ngữ văn sau năm 2018 cũng như việc

cập nhật lí thuyết ĐH hiện đại đã đặt ra những yêu cầu mới cho vấn đề lựa chọn VB

ngữ liệu Việc sử dụng VB trong nội dung đánh giá năng lực ĐH của đề thi có vai trò

quan trọng nhưng trên thực tế, những yêu cầu đối với vấn đề này chưa được quan tâm

đúng mức Tuy CT Ngữ văn 2018 đã có nêu những tiêu chí, yêu cầu lựa chọn ngữ liệu

nhưng chưa kết nối thành hệ thống và chi tiết hóa đến từng loại VB, từng khối lớp và

mục đích sử dụng (dùng để dạy học ĐH hay dùng để kiểm tra - đánh giá)

Thứ tư, việc sử dụng VBTT trong nội dung đánh giá năng lực ĐH của HS lớp 9

tại Tp.HCM vẫn còn nhiều bất cập Trên thực tế, việc lựa chọn VBTT nói riêng hay các

loại VB khác nói chung để đưa vào đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

chưa được Sở GD&ĐT Tp.HCM quy định cụ thể trong ma trận đề thi Tất yếu, cơ sở lí

luận và thực tiễn để lựa chọn các VBTT trong đề thi cũng như các yêu cầu cụ thể đối

với việc lựa chọn VBTT phù hợp với đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

Trang 12

là một khoảng trống trong nghiên cứu và thực nghiệm Việc tìm hiểu vấn đề này là điều

vô cùng cần thiết, có ý nghĩa không chỉ trong thực tế mà còn đóng góp hữu ích về mặt

lí luận

Xuất phát từ những lí do đã nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Lựa chọn Văn

bản thông tin sử dụng trong phần Đọc hiểu của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ

văn tại Thành phố Hồ Chí Minh” để tiến hành đề tài nghiên cứu của mình

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định ba vấn đề sau để định hướng nghiên cứu cho đề tài:

Một là nghiên cứu thực trạng sử dụng VBTT trong SGK Ngữ văn hiện hành bậc

THCS và trong phần ĐH của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

Hai là xác lập cơ sở cho việc lựa chọn VBTT trong phần ĐH của Đề thi Tuyển

sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

Ba là bước đầu đề xuất một số yêu cầu về việc lựa chọn VBTT trong phần ĐH

của của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

0.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc lựa chọn VBTT để sử dụng trong phần

ĐH của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM Đối tượng này sẽ được

nghiên cứu trên cơ sở đối chiếu với việc sử dụng VBTT trong SGK Ngữ văn hiện hành

bậc THCS

0.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các VBTT được sử dụng trong trong phần ĐH của

Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM Chúng tôi hướng đến việc khảo

sát những VB này từ một số yêu cầu về ngữ liệu ĐH (như đề tài của VB, độ dài của

VB, nguồn trích dẫn của VB, các phương tiện thể hiện của VB) và trên cơ sở đối chiếu

với kết quả khảo sát hệ thống VBTT trong SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS

theo định hướng trên

0.5 Giả thuyết khoa học

Một trong những hạn chế của việc ra đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại

Tp.HCM hiện nay là chưa nêu được các yêu cầu để lựa chọn được các VB để đáp ứng

được mục tiêu đánh giá Nếu đề xuất được một số tiêu chí cụ thể, khả thi thì sẽ lựa chọn

được các VBTT phù hợp với yêu cầu của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại

Trang 13

Tp.HCM trước khi CT năm 2018 được chính thức đưa vào thực hiện ở khối lớp 9 (từ

niên khóa 2023 - 2024)

0.6 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng

một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

❖ Phương pháp nghiên cứu lí luận:

• Cách thức thực hiện: Chủ yếu triển khai việc hồi cứu tư liệu

• Mục đích:

- Tổng hợp các thông tin về các vấn đề có liên quan đến đề tài như những tài liệu

đề cập đến VB ngữ liệu trong dạy học môn Ngữ văn, VBTT và những yếu tố tác động

đến việc lựa chọn VB trong kiểm tra - đánh giá Để xác định những nội dung cần kế

thừa khi tiến hành nghiên cứu đề tài thì việc làm này rất cần thiết

- Trên cơ sở tổng kết nguồn tư liệu liên quan, chúng tôi phân tích, đánh giá, lựa

chọn để rút ra những nội dung sử dụng làm cơ sở lí luận để thực hiện đề tài

❖ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

• Mô tả công cụ: Bộ câu hỏi khảo sát thực trạng gồm các nội dung như sau:

- Phần 1: Đánh giá tổng quan của GV về Đề thi và VB Ngữ liệu

- Phần 2: Đánh giá cụ thể về các khía cạnh (độ dài, đề tài, các phương tiện phi

ngôn ngữ) và nhận thức về loại VB của các VB ngữ liệu trong Đề thi từ năm 2014 đến

2019

- Phần 3: Đánh giá về vai trò của VBTT trong Ngữ liệu Phần ĐH của Đề thi và

gợi ý một số yêu cầu lựa chọn VB sử dụng trong Đề thi (nếu có)

• Quy trình thiết kế công cụ:

Dựa trên việc xác định những đặc điểm của loại VB, xác định những khía cạnh

của VB bị ảnh hưởng để đáp ứng các yêu cầu của việc lựa chọn VB ngữ liệu theo định

hướng phát triển năng lực HS, chúng tôi xác lập các câu hỏi khảo sát thực trạng sử dụng

VB ngữ liệu trong Đề thi từ năm 2014 đến nay Đồng thời, dựa trên quan điểm phân

loại VB theo CT GDPT môn Ngữ văn hiện hành và CT mới, khảo sát có những câu hỏi

về nhận thức loại VB của VB ngữ liệu được sử dụng

• Cách thức thực hiện:

Chúng tôi phát phiếu khảo sát trực tiếp gửi và khảo sát trực tuyến cho đối tượng

Trang 14

GV môn Ngữ văn lớp 9 tại Tp.HCM thực hiện Sau khi thống kê, chúng tôi sẽ dựa trên

tần số trả lời để tìm ra các vấn đề nổi trội nhất trong nhận thức phân loại VB cũng như

trong thực trạng sử dụng VBTT trong phần ĐH của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ

văn

• Mục đích:

Từ cơ sở phần trả lời của các đối tượng tham gia khảo sát, chúng tôi tổng kết

những đánh giá của về thực trạng việc sử dụng VBTT trong phần ĐH của Đề thi Tuyển

sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM từ năm 2009 đến nay và nhận thức về việc phân

loại VB của GV môn Ngữ văn lớp 9 tại Tp.HCM hiện nay

❖ Phương pháp thống kê:

Chúng tôi sử dụng phần mềm Excel phiên bản Office 365 và phần mềm SPSS

phiên bản 22.0 để xử lí, tổng hợp các số liệu có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu

0.7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, báo cáo đề tài được cấu trúc thành ba

(03) chương, cụ thể như sau:

• Trong chương 1 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu, gồm ba (03) vấn đề:

- Đề tài trình bày khái quát những vấn đề chung về khái niệm VB và VBTT, đặc

điểm, phân loại VBTT với những quan điểm trong và ngoài nước Đồng thời trình bày

những nhận định về việc sử dụng VBTT hiện nay và sau khi thực hiện CT năm 2018

- Đề tài trình bày những nghiên cứu về việc sử dụng VBTT trong nội dung đọc

hiểu của các kỳ kiểm tra - đánh giá trên thế giới

- Đề tài trình bày những nhận định về xu hướng đổi mới trong kiểm tra - đánh

giá tại Việt Nam và trường hợp cụ thể là Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại

Tp.HCM

• Trong chương 2 - Thực trạng sử dụng VBTT trong SGK môn Ngữ văn hiện

hành bậc THCS và phần ĐH của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại

Tp.HCM, chúng tôi tập trung tìm hiểu ba (03) vấn đề quan trọng:

- Về việc sử dụng VBTT trong SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS, các vấn

đề được tìm hiểu là số lượng VB và tỉ lệ tương quan với các loại VB còn lại, đề tài, độ

dài, nguồn trích dẫn và đặc điểm của mỗi VB Mục đích của nội dung này là xác định

những kinh nghiệm/ mức độ quen thuộc của HS đối với những vấn đề trên

Trang 15

- Về việc sử dụng VBTT trong phần ĐH của đề thi Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn

Ngữ văn tại Tp.HCM, chúng tôi cũng nghiên cứu vấn đề này qua số lượng VB và tỉ lệ

tương quan với các loại VB còn lại, đề tài, độ dài, nguồn trích dẫn và đặc điểm của mỗi

VB Mục đích của nội dung này là kiểm định sự phù hợp của việc sử dụng VBTT trong

đề thi với kinh nghiệm/ mức độ quen thuộc của HS đã được xác định trong nội dung

trên

- Triển khai khảo sát đánh giá của GV về ngữ liệu ĐH trong Đề thi Tuyển sinh

lớp 10 tại Tp.HCM từ năm 2014 đến nay và trình bày những nhận xét dựa trên thống

kê phân loại ý kiến đánh giá về VB ngữ liệu ĐH trong phạm vi đã nêu trên

• Trong chương 3 - Đề xuất yêu cầu lựa chọn VBTT trong phần ĐH của Đề thi

Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM, chúng tôi lần lượt trình bày những

nội dung như sau:

- Cơ sở lí luận (cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn) để đề xuất yêu cầu lựa chọn

VBTT sử dụng trong phần ĐH của Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM

- Đề xuất những yêu cầu cụ thể để lựa chọn VBTT sử dụng trong phần ĐH của

Đề thi Tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại Tp.HCM với những yêu cầu liên quan đến

nội dung, yêu cầu liên quan đến hình thức và yêu cầu liên quan đến nhiệm vụ ĐH của

VB

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề về Văn bản và Văn bản thông tin

1.1.1 Khái niệm Văn bản và Văn bản thông tin

1.1.1.1 Khái niệm VB

❖ Những quan điểm trên thế giới

Trong tài liệu PISA (The Programme for International Student Assessment) 2018

Reading Framework, VB được hiểu là “tất cả ký hiệu ngôn ngữ được trình bày trong

một dạng đồ họa cụ thể như dạng viết tay (handwritten), dạng in (printed) và dạng hiển

thị trên màn hình (screen-based)”1 VB có thể là các phương tiện trực quan như biểu

đồ (diagrams), hình ảnh (pictures), bản đồ (maps), bảng biểu (tables), đồ thị (graphs) và

tranh truyện (comic strips), chúng có thể tồn tại độc lập hoặc đi kèm với ít hay nhiều

phần ngôn ngữ viết trong một VB tổng thể lớn hơn Tuy nhiên, trong phạm vi VB mà

PISA không sử dụng không bao gồm các yếu tố âm thanh như đoạn ghi âm (voice

recordings), film, TV, hình minh họa trực quan không đính kèm chữ (animated visuals

and pictures without words) Như vậy, PISA đã mở rộng rất nhiều về định nghĩa VB khi

đồng thời ghi nhận các dạng thức VB trực tuyến hỗn hợp như các VB động (dynamic

texts) với các phần của VB cũng có thể được liên kết với nhau qua siêu liên kết

(hypertext links)

Từ điển tiếng Việt chỉ rõ “VB” là “chuỗi kí hiệu ngôn ngữ nói chung hay những

kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang nội dung ý nghĩa trọn

vẹn” 2 Đồng tình với quan điểm này, Từ điển thuật Ngữ văn học trình bày quan điểm

về VB như sau: “VB là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có khả năng tiềm tàng có thể đọc ra

được, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữ tạo thành hay không” 3 Như vậy, các tác giả này

khẳng định VB được tạo thành từ các phương tiện ngôn ngữ hay các phương tiện phi

ngôn ngữ, “bất kì chuỗi kí hiệu nào”, chỉ cần đảm bảo yêu cầu “đọc ra được”

Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy hầu hết các tác giả quan niệm VB là một

chỉnh thể phục vụ cho nhiều mục đích giao tiếp khác nhau Xét về dạng thức tồn tại, VB

có thể tồn tại ở dạng nói, viết, đa phương thức, in ấn, kỹ thuật số, trực tuyến, v.v và chứa

đựng các phương tiện phi ngôn ngữ như biểu đồ, bản đồ, sơ đồ, hình ảnh, v.v

1 PISA (2018) PISA 2018 Reading Framework Tr 29

2 Hoàng Phê (chủ biên) (2011) Từ điển tiếng Việt Tr.1406

3 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2004) Từ điển thuật ngữ văn học Tr 395

Trang 17

Mặt khác, trong phạm vi giáo dục, CT và SGK môn Ngữ văn hiện hành, VB

được định nghĩa “là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hay

nhiều câu, nhiều đoạn” 4 Quan niệm này nhận định hai vấn đề cốt lõi của VB gồm chất

liệu hình thành VB là ngôn từ và cách thức tồn tại của VB là dạng nói hoặc dạng viết

Quan niệm mà chúng tôi sử dụng trong luận văn có sự tương đồng với cách định

nghĩa của CT và SGK môn Ngữ văn hiện hành Có thể lí giải sự lựa chọn này dựa trên

ba cơ sở như sau: Thứ nhất, cách định nghĩa VB này đang được sử dụng trong hoạt

động dạy học ĐH Thứ hai, cách định nghĩa VB này được sử dụng trong việc chọn lựa

và khai thác VB đánh giá năng lực ĐH Thứ ba, trong luận văn này, với mục đích đưa

ra những yêu cầu về việc lựa chọn VBTT trong phần ĐH của một kỳ thi cụ thể, một

trong những nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là tiến hành khảo sát hệ thống VB của

SGK môn Ngữ văn hiện hành bậc THCS Vì vậy, việc chọn cách hiểu tương đồng với

CT và SGK hiện hành là hợp lí, góp phần tạo thuận lợi cho đề tài nghiên cứu

1.1.1.2 Khái niệm VBTT

Trong nghiên cứu Reading to Learn from the Very Beginning: Information

Books in Early Childhood, Nell K.Duke đã định danh VBTT như sau: “Tôi định nghĩa

VBTT là VB được viết với mục đích chính là truyền đạt thông tin về thế giới tự nhiên và

xã hội (thường là từ một người có hiểu biết tốt hơn về chủ đề này đến ai đó có hiểu biết

ít hơn) và có các đặc trưng cụ thể của VB để đạt được mục đích đó Các đặc trưng

thường được thể hiện trong VBTT bao gồm các yếu tố đồ họa (như sơ đồ và hình ảnh);

cấu trúc VB (như so sánh / tương phản và nguyên nhân - kết quả); các hình thức trình

bày (như tiêu đề và chỉ mục); các dạng thức, hình thái của ngôn ngữ (như sử dụng các

động từ vô thời và danh từ có tính chất chung) … và một số yếu tố khác” 5 Như vậy, tác

giả đã chỉ ra các tiêu chí về mục đích sử dụng và yếu tố cấu thành để đánh giá một VB

có phải là VBTT hay không

Mở rộng từ cách xác định một VB là VBTT như trên, trong một tài liệu “Reading

& Writing Informational Text in the primary grades”, Duke đã trình bày một khái niệm

VBTT mang tính hệ thống và toàn diện hơn:

“VBTT là:

4 Bộ GD&ĐT (2011) Ngữ văn 10 nâng cao, tập 1 Tr.24

5 Duke, N (2003) Reading to learn from the very beginning: Information books in early childhood Tr 1 Truy xuất

từ: https://fliphtml5.com/gwcd/kmvh/basic

Trang 18

- Loại VB có mục đích chính là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội

- Loại VB có những nét đặc trưng tiêu biểu như trình bày về toàn bộ các lớp, loài, loại

của sự vật trong cách tiếp cận không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời gian

- Loại VB có nhiều hình thức thể hiện khác nhau, có thể tìm thấy trong các nguồn như

sách, tạp chí, tài liệu giấy, quảng cáo, đĩa CD và Internet

VBTT không phải là:

- Loại VB mà mục đích chính của nó bên ngoài việc truyền tải thông tin về thế giới tự

nhiên và xã hội, ví dụ như kể về cuộc đời của một cá nhân, về một sự kiện hay chuỗi các

kiện hoặc kể về quy trình thực hiện một điều gì đó

- Loại VB luôn chỉ có những đặc trưng cụ thể; thay vào đó, đặc điểm của loại VB này

sẽ thay đổi theo từng kiểu loại

- Chỉ là sách.” 6

Trong bản trình bày7 tại Hội thảo “PREL’s A Focus on Comprehension”, Duke

đã quan niệm rằng VBTT không đồng nghĩa với VB phi hư cấu (non-fiction) mà chỉ

được xem là một tiểu loại của VB ấy đồng thời đưa ra sự khác biệt về cách đọc của

VBTT, thường được đọc không liền mạch (nonlinearly), đọc có lựa chọn và tốc độ đọc

thay đổi tùy khu vực của VB Duke cùng các cộng sự đặt VBTT trong thế đối lập với

VB tự sự (bao gồm tiểu loại hư cấu và phi hư cấu) và các loại VB khác theo cách phân

biệt mục đích giao tiếp

CT GDPT môn Ngữ văn của Bộ GD&ĐT ban hành năm 2018 định nghĩa thuật

ngữ “VBTT” là “loại VB chủ yếu dùng để cung cấp thông tin”8 Việc chính thức đưa ra

khái niệm này cũng hoàn thiện bên hệ thống VB dùng trong dạy học ĐH

Từ việc tổng hợp, đối chiếu, một số quan điểm về việc phân loại VB và định danh

VBTT của các nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy những điểm gặp gỡ

về cách định danh loại VB này Cụ thể, các quan điểm đã chỉ ra các yếu tố sau:

• Một là, đây là nhóm VB không chứa các yếu tố tưởng tượng

• Hai là, chức năng của VB dùng để cung cấp thông tin, kiến thức về đời sống

• Ba là, các VB loại này sử dụng đa dạng các yếu tố trực quan, yếu tố phi ngôn

ngữ, các kết cấu đặc thù nhằm mang lại hiệu quả cao trong truyền đạt thông tin

6 Duke, N & Bennett-Armistead, V.S (2003) Reading & writing informational text in the primary grades Tr 17

7 Duke, N (2004) Presentation “Strategies for Building Comprehension of Information text” Tr 3-4

8 Bộ GD&ĐT (2018) CT GDPT môn Ngữ văn Tr.88

Trang 19

Trên cơ sở những nét tương đồng này, người viết đưa ra một định nghĩa thống

nhất làm nền tảng để phục vụ việc nghiên cứu các vấn đề về VBTT nói chung và đề xuất

các tiêu chí lựa chọn VBTT sử dụng trong kiểm tra - đánh giá nói riêng bằng cách phát

triển mở rộng định nghĩa của VBTT mà Bộ GD&ĐT trình bày trong CT môn học năm

2018:

“VBTT là loại VB dùng để cung cấp thông tin về các vấn đề đời sống - xã hội,

khoa học, v.v hoặc dùng trong mục đích thông báo, giao dịch VB này không chứa

các yếu tố tưởng tượng và sử dụng hiệu quả các phương tiện phi ngôn ngữ, kết cấu

đặc thù đa dạng nhằm đáp ứng được mục đích truyền đạt.”

1.1.2 Đặc điểm và phân loại Văn bản thông tin

1.1.2.1 Đặc điểm của VBTT

❖ Đặc điểm về ngôn ngữ

VBTT nổi bật bởi tính đa dạng các kiểu loại, dạng thức sản phẩm thể hiện Do

đó, đặc điểm về ngôn ngữ cũng đa dạng tùy thuộc vào các kiểu loại ấy Tuy nhiên, khái

quát chung, có thể đánh giá những nét nổi bật của ngôn ngữ của loại VBTT như sau:

Thứ nhất là tính chính xác, cụ thể Hầu hết các VBTT rất ít dùng ẩn dụ, biểu

tượng như ngôn ngữ của VBVH Điều này đồng nghĩa với việc ngôn ngữ VBTT phải

đảm bảo tính rõ nghĩa, đơn nghĩa để đảm bảo những người đọc khác nhau khi tiếp xúc

cùng một VB phải có cách hiểu giống nhau bởi mục tiêu cung cấp thông tin của nó

Ngoài ra, tính cụ thể của các VBTT còn thể hiện ở việc các phần trong một VB có tính

thống nhất cao khi trình bày về cùng một đề tài

Thứ hai là tính chuyên môn, học thuật Đối với các VB cung cấp tri thức khoa

học, thuyết minh các đối tượng đặc thù sẽ sử dụng lớp từ vựng có tính chuyên ngành,

học thuật với đề tài tương ứng Tuy nhiên, ở những kiểu loại thông dụng, có đối tượng

tiếp cận phổ thông (như đơn thư, biểu mẫu, áp phích quảng cáo,…) thì yếu tố này chỉ

dừng lại ở việc sử dụng nhóm từ vựng riêng của lĩnh vực, không quá tập trung vào tính

chuyên môn, học thuật

❖ Đặc điểm về kết cấu

Mỗi VBTT nói chung và các phần trong mỗi VBTT nói riêng thường được tác

giả trình bày theo một trật tự nhất định và có dụng ý Sự thành công của một VBTT cũng

phụ thuộc rất nhiều vào việc người viết có khả năng xây dựng, sắp xếp một kết cấu

Trang 20

VBTT hợp lí, khoa học và thể hiện rõ được mục đích trình bày của mình Với bố cục

đơn giản nhất là Mở đầu (Giới thiệu về đối tượng được trình bày) - Nội dung - Kết luận

(Tổng kết khái quát về đối tượng) dành cho mọi loại VB, VBTT cũng không ngoại lệ

Tác giả Reutzel và Cooter đã đưa ra quan điểm rằng các phần này thường được

trình bày theo các kiểu kết cấu đặc trưng như: Nguyên nhân - kết quả; So sánh - đối

chiếu; Mô tả; Hỏi và trả lời; Liệt kê và Trình tự thời gian, đồng thời mô tả và giải thích

mục đích sử dụng của từng kiểu9:

- Nguyên nhân - kết quả: trình bày một sự việc, sự kiện đã dẫn đến một sự việc,

sự kiện hay kết quả như thế nào

- So sánh - đối chiếu: phân tích những điểm giống và khác nhau giữa các khái

niệm hay sự việc

- Mô tả: giải thích một ý hay một khái niệm

- Hỏi và trả lời: Trình bày một vấn đề với những giải pháp

- Liệt kê: sắp xếp các số liệu, khái niệm hay sự kiện

- Trình tự thời gian: sắp xếp thông tin theo trật tự thời gian

Qua sự tìm hiểu của người viết, hầu hết các học giả, nhóm nghiên cứu khác cũng

phân tích đặc điểm về kết cấu VB của VBTT thông qua 5 kiểu cấu trúc như: Mô tả

(Description); Trình tự (Sequence/Instruction/Process); Nguyên nhân - kết quả (Cause

Effect); So sánh đối chiếu (Compare Contrast) và Vấn đề và Giải pháp (Problem

-Solution) tương tự như Reutzel và Cooter Ở đây, kiểu Liệt kê được xếp chung vào nhóm

Trình tự

❖ Đặc điểm về hình thức trình bày và phương tiện phi ngôn ngữ

Ngoài những đặc điểm về kết cấu đã trình bày ở trên, các VBTT thường tập trung

làm nổi bật những ý quan trọng, những vấn đề, khái niệm trọng tâm bằng cách sử dụng

đa dạng hình thức trình bày khác nhau Các hình thức này có thể bao gồm các yếu tố:

tiêu đề lớn, các tiêu đề phụ, mục lục, bảng tra cứu, bảng chú giải thuật ngữ, lời tựa, các

đoạn văn, lời chú thích ở cuối trang, các hình ảnh minh họa, một từ ngữ hay đoạn văn

đặc biệt được in nghiêng, in đậm, tô màu, … Mục đích của các kiểu định dạng đặc biệt

này vừa có chức năng thẩm mỹ, đồng thời nhằm làm rõ sự phân cấp thông tin được trình

bày trong VB, hỗ trợ quá trình tìm kiếm và ĐH thông tin trong VB nhanh chóng hơn

9 Reutzel, D.R & Cooter, R.B (2007) Strategies for Reading Assessment and Instruction: Helping Every Child

Succeed (Dẫn từ Nguyễn Thị Hồng Nam, Dương Thị Hồng Hiếu (2017) Giáo trình Phương pháp dạy đọc VB Tr.18

Trang 21

Bên cạnh đó, ngoài ngôn ngữ chữ viết, VBTT cũng thường sử dụng các phương

tiện khác như sơ đồ, biểu bảng, hình ảnh, hình vẽ, kí hiệu, … để thể hiện nội dung hoặc

minh họa cho nội dung Các phương tiện phi ngôn ngữ này cũng làm tăng tính thẩm mỹ

của VB, được dùng để gây sự chú ý, kích thích sự hứng thú tìm hiểu và thu hút độc giả

Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của VBTT khác biệt so với các loại VB khác

Mặt khác, với sự đa dạng về kiểu loại, VBTT có những đặc điểm hình thức trình bày và

các phương tiện phi ngôn ngữ riêng tương ứng ở các kiểu loại ấy nhằm đạt được những

hiệu quả tốt nhất về mặt thông tin truyền tải

1.1.2.2 Phân loại VBTT

VBTT nói chung hay các ngữ liệu dạy học ĐH là VBTT là những VB xuất hiện

hầu như mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống thường ngày, trong chuyên môn từ các VB in

đến các VB kỹ thuật số Do đó, khó có thể liệt kê một cách chi tiết và đầy đủ các VB

này vào hệ thống Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các tác giả của tài liệu Real world

reading10 đã trình bày hệ thống phân loại tương đối đầy đủ và khái quát của các VBTT

bao gồm các kiểu loại như sau:

• Nhãn (Labels)

• Hướng dẫn (Instructions)

• Thời khóa biểu, Lịch trình (Schedules)

• VB sử dụng trong kinh doanh, thương mại (Personal Business Documents)

• Quảng cáo/ Bản tin (Brochures/ Newsletters)

• Danh mục/ Phiếu, đơn đăng ký (Catalogues/ Order Forms/ Registration Forms)

• Giao tiếp điện tử (Electronic Communication)

• Chỉ mục và Danh mục (Indexes and Directories)

• Trang web (World Wide Web)

• Thư rác (Junk Mail and Spam)

Ngoài ra, theo công trình Teaching Language in Context11, 2 nhà nghiên cứu

người Úc, Derewianka và Jones đã khái quát, phân loại các phương diện sử dụng ngôn

ngữ gắn với các ngữ cảnh trong cuộc sống thành các nhóm khác nhau gồm: Nhóm VBTT

thể hiện sự quan sát và mô tả, Nhóm VBTT chỉ dẫn quy trình, Nhóm VBTT trình bày

10 Dobler, E & Azwel, T (2007) Real world reading: Making sense of the texts that matter in our everyday lives

11 Derewianka, B & Jones, P (2016) Teaching Language in Context Tr 158-227

Trang 22

tường thuật các sự kiện, Nhóm VBTT trình bày những đánh giá, giới thiệu về các đối

tượng, Nhóm VBTT hỗn hợp, điều tra, nghiên cứu

CT GDPT môn Ngữ văn ban hành năm 2018 đã xác định VBTT là một thành

phần của hệ thống phân loại VB trong dạy học ĐH Kèm theo đó, CT đưa ra những yêu

cầu về loại ngữ liệu VBTT dành cho từng lớp học và một số kiểu loại VB đề xuất tương

ứng Nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về các kiểu loại VBTT được học trong CT mới,

chúng tôi hệ thống các thông tin này trong bảng sau:

1 - VB giới thiệu những sự vật, sự việc

gần gũi với học sinh

- VB chỉ dẫn một số tín hiệu dễ hiểu, gần gũi với học sinh

- VB giới thiệu một số sự vật, hiện tượng

- VBTT đơn giản, thông dụng như mục lục sách, thời khoá biểu

- VB ngắn thuật 2 - 3 việc làm cụ thể

- VB giới thiệu về loài vật, VB hướng dẫn thực hiện một hoạt động

- VB giới thiệu (tả thực) một đồ vật

- VB thuyết minh về một đối tượng

- Thông báo ngắn, tờ khai in sẵn

2

- VB giới thiệu về loài vật, đồ dùng;

VB hướng dẫn một hoạt động đơn giản

bao gồm cả dạng kí hiệu

- Danh sách học sinh; mục lục sách;

thời khoá biểu; thời gian biểu

3

- VB giới thiệu một đồ vật, VB thuật

lại một hiện tượng gồm 2 - 3 sự việc

- Thông báo ngắn, tờ khai in sẵn

- Thư thăm hỏi, thư cảm ơn, thư xin lỗi

- Đơn (xin nghỉ học, xin nhập học)

- Báo cáo công việc

- VB giới thiệu sách, phim

- VB chỉ dẫn (đơn giản) các bước thực hiện một công việc hoặc sử dụng một sản phẩm

- Thư cảm ơn hoặc xin lỗi, thư thăm hỏi;

đơn (xin nghỉ học, xin nhập học); giấy mời, báo cáo công việc, chương trình hoạt động

- VB giải thích về một hiện tượng tự nhiên

- VB giới thiệu một quy trình

- VB quảng cáo (tờ rơi, áp phích, )

5

- VB giải thích về một hiện tượng

tự nhiên

- VB giới thiệu sách, phim

- CT hoạt động; quảng cáo

Trang 23

6

- VB thuật lại một sự kiện

- Biên bản ghi chép

- Sơ đồ tóm tắt nội dung

- VB thuật lại một sự kiện lịch sử (thuyết minh)

- VB giới thiệu một quy tắc hay luật lệ trong trò chơi hay hoạt động (thuyết minh)

- VB kiến nghị, biên bản, tin nhắn, thư điện tử

7

- VB giới thiệu quy tắc hoặc luật lệ

trong trò chơi hay hoạt động

- VB tường trình

8

- VB thuyết minh giải thích một hiện

tượng tự nhiên, VB giới thiệu một

- Bản tin (báo in và báo mạng); văn bản tường trình, quảng cáo, bài phỏng vấn

- Báo cáo nghiên cứu; VB thuyết minh

có lồng ghép một hay nhiều yếu tố

miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận

- Nội quy, văn bản hướng dẫn

- VBTT tổng hợp: thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả,

tự sự, biểu cảm, nghị luận

- Báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn

đề tự nhiên hoặc xã hội, có sử dụng sơ

đồ, bảng biểu, có thuyết minh các hình ảnh minh hoạ, có sử dụng trích dẫn, cước chú và phần tài liệu tham khảo

- VB đa phương thức (kịch bản sân khấu hoá một tác phẩm có trong chương trình môn Ngữ văn được chuyển thể)

11

- Bài thuyết minh có lồng ghép một

hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự,

biểu cảm, nghị luận

- Báo cáo nghiên cứu

12

- Bài thuyết minh có lồng ghép một

hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự,

biểu cảm, nghị luận

- Báo cáo nghiên cứu, thư trao đổi công

việc

Bảng 1.1 Mô tả các đề xuất về yêu cầu lựa chọn VBTT của

CT GDPT môn Ngữ văn năm 2018

Khái quát hơn, chúng tôi nhận thấy VBTT trong CT môn Ngữ văn 2018 đề cập

đến các nhóm VB thuyết minh, giới thiệu về các đối tượng (sự vật, hiện tượng, con

Trang 24

người, cách thức), VB tin tức, VB đơn, thư, VB hành chính nhà nước, sản phẩm quảng

cáo, báo cáo khoa học, v.v Về mặt độ dài VB, các nhà biên soạn CT mới cũng đưa ra

khoảng độ dài khuyến nghị cho VBTT đọc ở cấp Tiểu học là: Lớp 1 (90 chữ), Lớp 2

(110-140 chữ), Lớp 3 (120-150 chữ), Lớp 4 (15-180 chữ) và Lớp 5 (230 chữ)

Mặt khác, chúng tôi còn quan tâm đến các Yêu cầu cần đạt trong hoạt động ĐH

VBTT mà CT năm 2018 đặt ra vì đây là một trong những cơ sở để xây dựng các yêu

cầu cụ thể để lựa chọn VBTT làm VB ngữ liệu trong đánh giá năng lực ĐH khi CT mới

được áp dụng VBTT thực sự được dạy học ĐH một cách bài bản với các yêu cần cần

đạt ở các mặt ĐH nội dung, ĐH hình thức, Liên hệ, so sánh, kết nối và Đọc mở rộng

tương tự với hai (02) loại VB còn lại là VBVH và VBNL HS được dạy học đáp ứng tìm

hiểu các đặc điểm của loại VB, cụ thể hơn là được học tập và rèn luyện các đặc trưng

nổi bật như ĐH kết hợp các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong VB (như đồ

thị, sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh, v.v.) Chính vì vậy, khi CT và SGK mới được đưa vào áp

dụng, HS sẽ có đủ điều kiện để hình thành năng lực ĐH loại VB này và việc đánh giá

năng lực ĐH VBTT cũng trở nên hệ thống và hợp lí hơn Tuy nhiên, trong giai đoạn CT

chưa được áp dụng, chúng tôi cho rằng tinh thần của CT về việc sử dụng VBTT và

những yêu cầu đổi mới, sáng tạo trong dạy học và kiểm tra - đánh giá cũng có những

ảnh hưởng quyết định đến việc thực hiện đánh giá năng lực ĐH VB có bao gồm loại

VBTT này trong các kỳ thi mang tính khu vực Bên cạnh đó, trên thực tế ma trận Đề thi

THPT Quốc gia của Bộ GD&ĐT ban hành cũng đã xuất hiện tên gọi loại VB này Vì

vậy, việc sử dụng VBTT trong nội dung đánh giá năng lực ĐH của Kỳ thi Tuyển sinh

lớp 10 môn Ngữ văn là hợp lí, chấp nhận được và có tính áp dụng đổi mới, sáng tạo cao

1.2 Việc sử dụng Văn bản thông tin trong nội dung đọc hiểu của các kỳ kiểm tra -

đánh giá trên thế giới

1.2.1 Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (PISA) phần Đọc hiểu

Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) đã thực hiện

CT đánh giá PISA định kỳ 3 nằm một lần với quy mô quốc tế, nhiều nước ở các khu vực

tham gia nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và so sánh trình độ HS ở độ tuổi 15 giữa ở

nhiều lĩnh vực Đề cập đến PISA, chúng tôi không chỉ quan tâm đến việc sử dụng VBTT

trong đề thi mà nhấn mạnh vào quan điểm đổi mới, hiện đại của PISA về việc đánh giá

ĐH PISA năm 2009 đã định nghĩa việc biết đọc trong chuẩn biết đọc viết (reading

Trang 25

literacy) là “hiểu (understanding), sử dụng (using) và phản chiếu lại (reflecting on) và

kết nối (engaging) với VB dạng chữ viết (written texts) để đạt được mục đích, phát triển

kiến thức, tiềm năng bản thân và tham gia vào xã hội” PISA đưa ra quan điểm rằng họ

không đặt ra bất kỳ quy định nào về độ dài và độ phức tạp, tinh vi của VB12, họ chú

trọng vào mục đích chọn các VB có đầy đủ thông tin cho người đọc thực hiện tốt việc

đọc hiểu nghĩa và giải quyết những yêu cầu được đưa ra Đồng thời, trong đề thi của

PISA, CT này yêu cầu HS cần tiếp cận đa dạng các loại VB, kể cả nhóm VB phức hợp

(multiple texts) là các VB liên tục (continuous texts) hoặc không liên tục

(non-continuous texts) Mặt khác, đây có thể là VB dạng in (print) hoặc cả dạng sử dụng công

nghệ kỹ thuật số (digital technologies) Nhóm VB kỹ thuật số này yêu cầu người đọc để

đọc tốt cần có nhiều kỹ năng riêng biệt so với các VB in khác

Khái quát lại, chúng ta có cách nhìn phổ quát hơn về việc phân loại hệ thống VB

của PISA theo các tiêu chí: Phương tiện thể hiện (medium), Môi trường thể hiện

(environment), Hình thức (format) và Thể loại (type)13 Cách phân loại trên được triển

khai từ năm 2009 đến năm 2015, và các VB được PISA sử dụng đều là VB in hoặc VB

có nguồn gốc là VB giấy Tuy nhiên, đến năm 2018, PISA đã lược bỏ tính chất “dạng

chữ viết (written)” trong việc định nghĩa hoạt động ĐH VB, chính thức đưa vào sử dụng

trong đánh giá ĐH loại VB kỹ thuật số Và đến đây thì PISA cũng hoàn thiện hệ thống

phân loại VB được sử dụng trong đề thi đáp ứng sự đa dạng theo 4 chiều hướng, được

cụ thể thành sơ đồ dưới đây:

12 PISA (2017) The PISA-D reading literacy framework Tr 29

13 Nguyễn Thị Hồng Nam, Dương Thị Hồng Hiếu (2017) Giáo trình Phương pháp dạy đọc VB Tr 5-6

Trang 26

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phân loại VB sử dụng trong PISA 2018

PISA khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng các VB để đánh giá khả năng

của HS ở mức 15 tuổi trong việc thực hiện các yêu cầu dựa trên VB có nội dung liên

quan đến việc làm (work-related texts) hay khái quát hơn là đánh giá khả năng sử dụng

ngôn ngữ và kỹ năng đọc để đáp ứng các yêu cầu thực trong cuộc sống (real-life

challenges) HS cần được kiểm tra việc đọc các VB không trang trọng (informal) như

nội quy CLB (rules for clubs), biên bản trận đấu (records of games) Do đó, các VB gắn

với thế giới thực (real-world texts) cũng được sử dụng ở tần suất cao trong các đề thi

của PISA

Các thang đo quốc tế về việc Đọc dành cho HS như National Assessment of

Educational Progress (NAEP); IEA Reading Literacy Study (IEARLS) và IEA

Programme in International Reading Literacy Study (PIRLS) đã phân loại cơ bản VB

thành 2 loại VB hư cấu (fictional texts) hay VB văn học (literary texts) trong sự đối sánh

với nhóm còn lại là VB phi hư cấu (non-fictional texts) Nhóm VB phi hư cấu được

NAEP và PIRLS xác định mục đích sử dụng là đọc để có hiểu biết kỹ năng đọc viết và

đọc để lấy thông tin hoặc thực hiện một yêu cầu có nhiều điểm tương đồng với nhóm

VBTT theo quan niệm của chúng tôi Tuy nhiên, PISA nhận định ranh giới khác biệt

giữa 2 loại này bị xóa nhòa khi tác giả sử dụng hình thức và cấu trúc đặc trưng của VB

thực khi viết VB hư cấu Và CT đánh giá năng lực Đọc PISA sử dụng cả VB thực và

VB hư cấu cũng như VB không xác định được chính xác là loại nào, CT không đo lường

Cố định (static)

Động (dynamic)

Theo Hình thức

Liên tục (continuous)

Không liên tục (non-continuous)

Hỗn hợp (mixed)

Theo Loại

Miêu tả (description)

Tự sự (narration) Giải thích (exposition) Lập luận (argumentation) Hướng dẫn (instruction) Giao dịch/

Giao tiếp (transaction)

Trang 27

sự khác biệt trong việc đọc thành thạo 2 loại VB này14 Mặt khác, PISA 2018 đã mô tả

chi tiết cách phân loại VB theo thể loại trong bảng dưới đây với những minh họa cụ thể:

VB

Miêu tả

Bài miêu tả một nơi cụ thể trong nhật ký du lịch; Danh mục sản phẩm; Bản

đồ địa lí; Lịch trình chuyến bay; Phần mô tả đặc điểm, chức năng hay quy trình trong Hướng dẫn kỹ thuật

VB Tự sự Tiểu thuyết; Truyện ngắn; Vở kịch; Tiểu sử; Truyện tranh; Báo; Phóng sự

VB

Giải thích

Giải thích, định nghĩa các khái niệm; Bản tổng hợp, tóm tắt; Biên bản cuộc họp; Bài luận xin học bổng; Sơ đồ hoạt động và chức năng sinh học của bộ phận cơ thể; Đồ thị xu hướng dân số; Bách khoa toàn thư trực tuyến

Luật lệ; Nội quy; Quy định; Công thức nấu ăn; Sơ đồ hướng dẫn quy trình

sơ cấp cứu; Hướng dẫn cài đặt phần mềm

Bảng 1.2 Bảng mô tả các loại VB được phân loại theo thể loại của PISA 201815

Tuy rằng PISA không đưa ra tỉ lệ VBTT được sử dụng, nhưng dựa trên các kiểu

loại cụ thể trong bảng trên cùng những nguồn VB mà họ sử dụng như Văn chương

(literature), SGK (textbooks), Thư điện tử (e-mails), Trang nhật ký cá nhân trực tuyến

(blogs), Trang web (websites), Tài liệu chính sách (policy documents), tài liệu lịch sử

cơ bản (primary historical documents), v.v 16, chúng ta có thể xác nhận PISA rất chú

trọng sử dụng các VB thuộc loại VBTT theo quan niệm của chúng tôi

Bên cạnh đó, PISA quan niệm việc đánh giá năng lực ĐH được thực hiện hiệu

quả nhất bằng cách tạo ra các kịch bản mô phỏng thực tế (realistic scenario) Khác với

những đánh giá ĐH truyền thống, HS đọc nhiều VB có chung chủ đề nhưng không có

sự liên kết, khiến HS chỉ thực hiện được những yêu cầu cụ thể của mỗi VB, mẫu

“scenario” này được tổ chức bởi các VB đa nguồn được liên kết với nhau, qua đó sẽ

14 PISA (2018) PISA 2018 Assessment and Analytical Frameworks Tr.48

15 PISA (2018) PISA 2018 Assessment and Analytical Frameworks Tr 46-48

16 PISA (2018) PISA 2018 Assessment and Analytical Frameworks Tr 41

Trang 28

tăng cường sự chủ động của người đọc và có thể đánh giá chính xác hơn năng lực ĐH

của HS Các “scenario” sẽ cung cấp mục đích bao quát chung của các VB trong chuỗi

để HS thực hiện các nhiệm vụ ĐH phức tạp hơn dựa trên sự kết nối các VB Tuy việc

sử dụng VB đa nguồn không tỉ lệ thuận với độ khó của VB nhưng sẽ yêu cầu HS thực

hiện các thao tác ĐH phức tạp hơn, sử dụng các chiến lược đọc để tìm kiếm thông tin,

tích hợp thông tin để tạo ra các suy luận thậm chí phải phân tích sự mâu thuẫn trong các

VB ngữ liệu được cung cấp17

1.2.2 Các kỳ thi năng lực ngoại ngữ cho người không sử dụng tiếng Anh là ngôn

ngữ thứ nhất - Trường hợp TOEIC, IELTS

1.2.2.1 Kỳ thi TOEIC

Kỳ thi TOEIC (Test of English for International Communication) là một kỳ thi

đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh (bao gồm Nghe - hiểu và Đọc - hiểu)

chỉ sử dụng cho người không bản ngữ Bên cạnh đó, kỳ thi còn đánh giá khả năng thực

hiện một bài kiểm tra trắc nghiệm chuẩn Chủ đề các VB liên quan đến các lĩnh vực kinh

doanh như làm hợp đồng, thỏa thuận; tiếp thị; lên kế hoạch tổ chức hội thảo; sử dụng

máy tính; viết thư; tuyển dụng nhân sự Ngoài ra, còn có các VB sử dụng trong mua

sắm; đặt mua thiết bị, vật tư; kiểm tra xác minh trạng thái tài chính; thực hiện đầu tư; du

lịch; giải trí; ăn uống và chăm sóc sức khỏe Phần thi Đọc - hiểu (Reading) bao gồm 3

phần nhỏ: Hoàn thiện câu (Incomplete Sentences); Hoàn thiện đoạn VB (Text

Completion) và Đọc hiểu VB (Reading Comprehension) Mỗi mô hình đề kiểm tra bao

Điền các từ/cụm từ bị khuyết vào đoạn VB

VB thường là Thư, Thư điện tử, Bài báo hoặc các đoạn

VB liên quan đến kinh doanh

04

Phần 3: Đọc hiểu một vài VB đơn và 4 cặp VB thuộc nhiều loại ≤ 14 28%

17 OECD (2019) PISA in Focus 2019/101: How does PISA define and measure reading literacy? Tr.2

18 Lougheed, Lin (2012) Longman Preparation series for the TOEIC test Tr 105,106,132

Trang 29

ĐH

VB đơn

để trả lời câu hỏi

VB thường là Quảng cáo, Bản tin/Tin vắn, Biểu mẫu, Bảng, Nhãn, Thư, Thư điện tử và Ghi chú

VB đơn

20%

Bảng 1.3 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi TOEIC Qua khảo sát các đề thi thực tế và tài liệu Longman Preparation series for the

TOEIC test, chúng tôi nhận thấy ngoại trừ các câu hỏi, đáp án, yêu cầu và hướng dẫn

làm bài và nội dung được in trong Phần 1: Hoàn thiện câu thì tất cả các VB trong đề thi

TOEIC được trình bày đa dạng kiểu dáng, hình thức, mô phỏng dạng trình bày khi được

in ấn của chúng trong thực tế với kích thước, kiểu dáng và hiệu ứng chữ, đường kẻ, bố

cục trình bày, v.v Các VB trong đề thi xét về nội dung và hình thức trình bày có sự

tương đồng cao với các đặc điểm của loại VBTT và có thể xếp vào loại VBTT theo quan

niệm của chúng tôi

1.2.2.2 Kỳ thi IELTS

Kỳ thi IELTS (International English Language Testing System) cũng là một kỳ

thi đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh chỉ sử dụng cho người không bản

ngữ Với hai đối tượng chính là người sử dụng Tiếng Anh trong môi trường học tập và

môi trường làm việc, sinh sống, phần Đọc hiểu trong kỳ thi này cũng chia làm 2 loại

tương ứng là Academic Reading và General Training Reading

Mỗi mô hình đề kiểm tra của cả 2 loại bao gồm 03 VB với 40 câu hỏi ĐH, tuy

nhiên loại VB có sự khác biệt như sau19:

Academic Reading

VB 1

Đề tài viết về các chủ đề khái quát hoặc cụ thể và có độ phức

tạp tăng dần Trong đó có tối thiểu 01 VB là VBNL

Tạp chí khoa học, Sách, Báo, Tạp chí, v.v

VB 2

VB 3

General Training Reading

VB 1 VB liên quan đến ngôn ngữ cơ bản trong ngữ cảnh sinh tồn, Thông báo,

19 University of Cambridge (2009) Cambridge English IELTS Tr 5

Trang 30

chủ yếu là khai thác các thông tin thực Quảng cáo, Tờ

rơi, Báo, Hướng dẫn sử dụng, Sách, Tạp chí, v.v

VB 2 VB có độ phức tạp hơn, liên quan đến ngôn ngữ trong ngữ

cảnh môi trường làm việc

VB 3 VB tiếp tục tăng độ phức tạp, thường là VB mô tả và VB

hướng dẫn hơn là VBNL

Bảng 1.4 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi IELTS

Như vậy, dựa trên mô tả nội dung và yêu cầu của VB, nguồn VB, chúng tôi nhận

thấy VBTT, đặc biệt là các VB khoa học, nghiên cứu chuyên ngành thường được sử

dụng trong kỳ thi IELTS dành cho cả 2 nhóm đối tượng và chiếm tỉ lệ cao, riêng các

VBTT tiểu loại VB hướng dẫn được khai thác thêm ở nhóm General Training Reading

Từ thực tế cho thấy, các VB ngữ liệu trong đề thi IELTS cũng thường được trình bày đa

dạng hình thức, mô phỏng dạng trình bày khi được in ấn của chúng trong thực tế với

kích thước, kiểu dáng và hiệu ứng chữ, đường kẻ, bố cục trình bày, v.v tương tự với VB

trong đề thi TOEIC

1.2.3 Các phần thi đánh giá năng lực Đọc - hiểu ngôn ngữ Tiếng Anh - Trường

hợp SAT, ACT

1.2.3.1 Kỳ thi SAT phần Đọc hiểu

Kỳ thi SAT (Scholastic Assessment Test Suite of Assessments là kỳ thi lấy điểm

để đăng ký vào học tại các trường Đại học, Cao đẳng cộng đồng, v.v tại Hoa Kì, ngôn

ngữ bài thi là Tiếng Anh Đồng thời, kỳ thi này mở rộng đối tượng dành cho tất cả những

người có nhu cầu, không phân biệt quốc gia, ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và độ tuổi Các nhà

giáo dục tập trung vào kiến thức và kỹ năng tích lũy được tại trường Trung học và cần

thiết để vào trình độ Đại học Theo Hội đồng Đại học Quốc gia (The College Board),

mục tiêu của các VB không nhằm để đánh giá trí nhớ định nghĩa và các sự thật mà hướng

đến khả năng sử dụng thông tin từ VB do đề thi cung cấp và không kiểm tra những kiến

thức tiền VB

VB sử dụng trong Đề thi có thể ở dạng đơn hoặc kết hợp nhiều VB và VB có sử

dụng các yếu tố hình ảnh đồ họa có thông tin như bảng biểu (tables), đồ thị (graphs),

biểu đồ (charts) Mỗi mô hình đề kiểm tra bao gồm các VB như sau20:

20 Truy xuất từ https://collegereadiness.collegeboard.org/sat/inside-the-test/reading

Trang 31

TT Nội dung Số lượng Tỉ lệ

Những tài liệu do Hoa Kì phát hiện/ công bố hoặc các

VB mà chính quyền Hoa Kì muốn truyền cảm hứng

01 VB hoặc 01 cặp VB

VB khoa học xem xét, phân tích các khái niệm nền

tảng, các giả thuyết và sự phát triển của lĩnh vực khoa

học Trái đất, sinh học, hóa học hoặc vật lí

02 VB hoặc 01

VB và 01 cặp VB

40%

Bảng 1.5 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi SAT phần ĐH của Hoa Kì

Mở rộng hơn về nội dung các đơn vị VB, các nhà đánh giá Hoa Kì đã đưa ra một

số VB tài liệu do Hoa Kì công bố như Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kì, Tuyên ngôn về Nhân

quyền, Hệ thống VB Liên bang hoặc các VB về các vấn đề thiết yếu có tính ảnh hưởng

đương đại về tự nhiên hay trong đời sống công dân như tự do, công bằng, bình đẳng và

nhân phẩm, v.v Các tác giả, người phát ngôn, học giả tạo lập VB có thể là người Hoa

Kì hay các quốc gia khác như Edmund Burke, Mary Wollstonecraft, Nelson Mandela

hay Mohandas Gandhi

Với các nội dung mang tính chất vấn đề toàn cầu, các VB không chỉ là phương

tiện để HS trau dồi kỹ năng đọc, chuẩn bị cho nền tảng học Đại học - Cao đẳng mà còn

là cơ hội cho HS tiếp cận, nâng cao hiểu biết và cung cấp thông tin cho người đọc, thực

hiện bài kiểm tra Do đó, ngoài trừ các VBVH trong đơn vị VB số 1, các đơn vị VB còn

lại hầu hết là VBTT, hoặc kết hợp với VBNL theo quan điểm của chúng tôi

1.2.3.2 Kỳ thi ACT phần Đọc hiểu

Kỳ thi ACT (American College Testing), tương tự SAT, là một kỳ thi chuẩn hóa

được sử dụng đánh giá năng lực học tập của HS trung học và làm một trong những điều

kiện tiên quyết khi xét tuyển vào học tại các trường Đại học, Cao đẳng cộng đồng, v.v

và ngôn ngữ bài thi là Tiếng Anh Tuy nhiên, nét khác biệt so với SAT là kỳ thi ACT

chủ yếu nhằm mục đích đánh giá năng lực của HS dựa theo CT học tại Hoa Kì và không

Trang 32

đánh giá năng lực để sẵn sàng cho những cấp học cao hơn Theo Trang web chính thức

của ACT21, đề thi phần ĐH gồm 4 đơn vị VB, trong đó có 03/04 đơn vị VB là một (01)

đoạn văn xuôi dài và 01/04 đơn vị VB gồm hai (02) đoạn văn xuôi ngắn hơn

Đồng thời, mỗi đơn vị VB được cung cấp trong phần tiêu đề gồm các thông tin

về loại VB, tên tác giả và có thể kèm một ghi chú ngắn giúp hiểu được nội dung VB Đề

thi ĐH sử dụng toàn bộ các câu hỏi trắc nghiệm và tương tự SAT, những câu hỏi này

không kiểm tra việc ghi nhớ các thông tin bên ngoài VB Ở đơn vị VB là một cặp VB,

sẽ có một số câu hỏi liên quan đến nội dung cả hai VB nhỏ này Các nội dung đề tài,

lĩnh vực cụ thể của từng đơn vị VB được trình bày trong bảng sau22:

Các bài viết về các lĩnh vực nhân chủng học, khảo cổ học, tiểu sử, kinh doanh, kinh tế, giáo dục, địa lí, lịch sử, khoa học chính trị, tâm lí học, và xã hội học

Đơn vị

VB số 3

Nhân văn (Humanities)

Hồi ký, bài luận cá nhân và các VB viết về các lĩnh vực như kiến trúc, nghệ thuật, khiêu vũ, luân lí, phim ảnh, ngôn ngữ, phê bình văn học, âm nhạc, triết học, phát thanh, truyền hình và nhà hát

Đơn vị

VB số 4

Khoa học

Tự nhiên (Natural Science)

Các bài báo khoa học về các lĩnh vực giải phẫu, thiên văn học, sinh học, thực vật học, hóa học, sinh thái học, địa chất, y học, khí tượng học, vi sinh học, lịch sử tự nhiên, sinh lí học, vật lí, công nghệ và động vật học

Bảng 1.6 Mô hình các VB sử dụng trong đề thi ACT phần ĐH của Hoa Kì

Như vậy, các VB ngữ liệu ĐH trong đề thi ACT ở Hoa Kì có tới 75% là nhóm

VB phi hư cấu và chiếm tỉ lệ cao trong các VB sẽ là các VBTT dưới dạng các bài báo

khoa học về các lĩnh vực đa dạng như Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa học Tự

nhiên Về mặt hình thức thể hiện, các đề thi SAT và ACT không sử dụng các dạng hình

thức trình bày đặc biệt hay kết hợp các phương tiện phi ngôn ngữ VB ngữ liệu ĐH được

21 Truy xuất từ

https://www.act.org/content/act/en/products-and-services/the-act/test-preparation/description-of-reading-test.html

22 Truy xuất từ https://www.thoughtco.com/act-reading-test-questions-content-scores-3211571

Trang 33

trình bày đơn giản và là các dạng VB bằng chữ Theo chúng tôi, đây có thể là sự khác

biệt giữa mục đích đánh giá năng lực ngoại ngữ hay đánh giá năng lực ĐH VB của nhóm

SAT và ACT so với nhóm TOEIC và IELTS đã trình bày ở phần 1.2.2

1.2.4 Các kỳ thi đánh giá HS trên diện rộng môn Ngôn ngữ Tiếng Anh - Trường

hợp Kỳ thi TSA của Hongkong, NAPLAN của Úc

1.2.4.1 Kỳ thi TSA của Hongkong

Kỳ thi TSA (Territory-wide System Assessment) được tổ chức bởi The Hong

Kong Examinations and Assessment Authority và được sự cho phép của Education

Bureau Từ năm 2006, kỳ thi hoàn thiện mô hình tổ chức dành cho các đối tượng cụ thể

như là HS ở Lớp 3 (bậc Tiểu học), Lớp 6 (bậc Tiểu học) và Lớp 9 (bậc Trung học) nhằm

mục đích đánh giá các năng lực cơ bản về Ngôn ngữ Tiếng Trung, Ngôn ngữ Tiếng Anh

và Toán học của HS trên toàn lãnh thổ Trong đó, 02 nội dung thi về Ngôn ngữ sẽ bao

gồm Phần thi Đánh giá bằng phương tiện lời nói và Phần thi Đánh giá bằng phương tiện

chữ viết Đối với Phần thi Nói, chỉ có một nhóm HS được chọn lựa ngẫu nhiên để dự

thi, tuy nhiên, Phần thi còn lại yêu cầu sự tham gia của tất cả HS của các trường Tiểu

học, Trung học tại Hongkong Phần thi thi Đánh giá bằng phương tiện chữ viết ở ngôn

ngữ Tiếng Trung và Tiếng Anh đều có các kỹ năng Viết, Nghe và Đọc

Thông qua nghiên cứu thông tin từ tài liệu Hướng dẫn kỳ thi năm 202023 và các

đề thi thực tế của năm 2019 dành cho lớp 9, chúng tôi trình bày một số vấn đề liên quan

đến VBTT trong Phần thi ĐH Với độ tuổi tương đồng của đối tượng thực hiện, chúng

tôi xem đây là một mô hình có thể học hỏi dành cho Việt Nam trong việc xây dựng, lựa

chọn các VB ngữ liệu trong việc đánh giá năng lực ĐH VB của HS ở cấp khu vực

ngữ cảnh của VB

Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng

Đề thi năm 2019 số 1

VBTT

GV yêu cầu HS đọc 02 bản tin về 02

sự kiện diễn ra về vấn đề của sosola

và một vụ trộm

Hình ảnh minh họa về quy trình làm socola thành phẩm;

Hình minh họa đồ vật bị trộm

2 VBVH HS cần làm báo cáo về loài quái thú Hình ảnh minh họa hành động

23 Hong Kong Examinations and Assessment Authority (2020) Territory-wide System Assessment 2020

(Secondary Schools) Tr 1

Trang 34

và được GV cung cấp 01 bài thơ của quái thú

HS sẽ thực hiện viết bài phỏng vấn một số HS khác và được GV cung cấp

01 bài báo để tìm hiểu

Hình ảnh minh họa về điều đặc biệt của các bạn HS

Hình ảnh minh họa về các loài động vật

VBTT

HS chuẩn bị viết 01 câu chuyện hư cấu và được GV cung cấp 01 bách khoa toàn thư, một phần thông tin và giới thiệu sách về chủ đề quái thú

Các hình ảnh minh họa về các loài quái thú;

Hình ảnh bìa sách và nội dung giới thiệu sách

Đề thi năm 2019 số 3

HS sẽ thực hiện bài viết về đề tài mội trường và được GV cung cấp 01 bài viết từ tạp chí để tham khảo

Bảng số liệu thông tin;

Các hình ảnh minh họa (quy trình, bản đồ về bão, lốc, v.v)

Đề thi minh họa năm 2020

1 VBVH HS tham gia dự án tìm hiểu về lửa và

2 VBTT HS được cung cấp 01 bài báo tìm hiểu

Bảng 1.7 Mô tả các VB sử dụng trong 04 đề thi TSA gần nhất phần ĐH của

Hongkong

Trang 35

Dựa vào bảng mô tả trên, chúng tôi nhận thấy VBTT chiếm tỉ lệ tối thiểu là 02/03

số VB Các VBTT được sử dụng trong phần ĐH môn Tiếng Anh của Kỳ thi TSA đa

dạng về kiểu loại, tất cả đều sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như hình vẽ minh

họa cho quy trình, các đối tượng, sự kiện trong VB Tuy nhiên, phần nhiều các phương

tiện phi ngôn ngữ nhằm mục đích minh họa sinh động phù hợp với ngữ cảnh Chỉ có

một hình vẽ quy trình và bảng số liệu thông tin được khai thác trong câu hỏi ĐH

1.2.4.2 Kỳ thi NAPLAN của Úc

Kỳ thi NAPLAN (National Assessment Program - Literacy and Numeracy)24

được tổ chức hằng năm bởi ACARA dành cho các đối tượng cụ thể của kỳ thi là HS ở

Lớp 3, Lớp 5, Lớp 7 và Lớp 9 nhằm mục đích đánh giá năng lực biết đọc viết và tính

toán của HS trên toàn lãnh thổ so với Yêu cầu cần đạt của CT Giáo dục Úc Kỳ thi

NAPLAN được tổ chức ở mỗi cấp lớp bao gồm 4 phần thi là Kiểm tra Đọc, Kiểm tra

Viết, Kiểm tra Khả năng tính toán và Kiểm tra Khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh

Trong đó, chúng tôi quan tâm đến các vấn đề của Đề thi Kiểm tra Đọc nhằm đánh giá

năng lực ĐH của HS lớp 9 tại Úc với mục đích tương tự khi tìm hiểu Kỳ thi TSA ở

Hongkong

Tài liệu NAPLAN Assessment Framework25 trình bày rằng Đề Kiểm tra ĐH của

NAPLAN đánh giá khả năng đọc và xem các VB hỗn hợp ở các yêu cầu định vị, sử

dụng, phân tích và đánh giá các thông tin từ VB ngữ liệu được cung cấp Với sự đổi mới

hình thức sang các bài kiểm tra trên máy tính từ năm 2017, đề thi cũng sử dụng các VB

kỹ thuật số Đối với Đề thi dành cho HS lớp 9, các loại VB được sử dụng gồm VB Tự

sự ở mức độ phức tạp, VB Thơ, VB Tiểu sử ở mức độ phức tạp, VB nghị luận và VBTT

ở ở mức độ phức tạp Với mục đích đánh giá năng lực ĐH của HS, trong các VBTT sử

dụng trong đề thi, HS sẽ được yêu cầu thực hiện các thao tác như26: Định vị vị trí thông

tin được nêu trực tiếp; Kết nối các thông tin được trình bày trong các phần của VB và

hình minh họa; Xác định mục đích chính của VB; Xác định nội dung chính của đoạn

trong VB; Xác định mục đích sử dụng của sơ đồ; Xác định đối tượng hướng đến của

VB; Xác định các yếu tố về hình thức trình bày của VB như cụm từ viết tắt hoặc in

24 Truy xuất từ https://www.acara.edu.au/assessment/naplan

25 ACARA (2017) NAPLAN Assessment Framework Tr 9

26 Truy xuất từ https://www.nap.edu.au/naplan/reading/minimum-standards

Trang 36

nghiêng cho một từ nước ngoài Hay nói cách khác, HS được đánh giá cả việc Đọc hình

thức, Đọc nội dung của VBTT

Trên cơ sở quan sát các đề thi thực tế của các năm 2014, 2015, 2016 dành cho

lớp 9, mỗi đề thi có 08 VB, chúng tôi thống kê việc sử dụng VB ngữ liệu dùng trong

ĐH của Đề thi 03 năm này theo các loại VB ở bảng sau:

Bảng 1.8 Bảng thống kê số lượng theo loại các VB ngữ liệu ĐH

sử dụng trong Đề thi NAPLAN năm 2014-2016

Từ kết quả trên, chúng ta nhận thấy cả 03 loại VBVH, VBTT, VBNL đều xuất

hiện ở tỉ lệ gần như tương đồng qua các năm Về mặt hình thức trình bày, tất cả các VB

ngữ liệu ĐH được biên tập thành dạng tạp chí, có thiết kế đồ họa các VB và mang tính

thẩm mỹ cao và ở dạng in màu với các tiêu đề chính, tiêu đề phụ có kiểu chữ trang trí,

v.v Ngoài ra, trong VB ngữ liệu còn có dạng trình bày của Áp-phích và sử dụng Biểu

đồ như một nội dung thông tin ĐH trong Đề thi năm 2015 (Đề thi được trình bày trong

phần Phụ lục)

1.3 Xu hướng đổi mới trong kiểm tra - đánh giá

1.3.1 Định hướng đổi mới của Bộ Giáo dục & Đào tạo

Thông qua nghiên cứu tài liệu và quan sát một số cột mốc đổi mới của GDPT

Việt Nam nói chung và CT GDPT môn Ngữ văn nói riêng, chúng tôi ghi nhận những sự

thay đổi lớn trong quan điểm giáo dục, đó là chuyển đổi mạnh mẽ từ hình thức giáo dục

theo định hướng nội dung (nhấn mạnh sự cung cấp đầu vào) chuyển sang định hướng

theo năng lực (tập trung vào sản phẩm đầu ra) và kéo theo những sự đổi mới nhất định

trong phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra - đánh giá Xét về tính thời điểm,

giai đoạn 2014, 2015, sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW (năm 2013) ra đời là thời điểm

xuất hiện nhiều quan điểm đổi mới để chuẩn bị cho CT sau năm 2015 Đến năm 2018,

khi Dự thảo CT và CT được chính thức ban hành thì tinh thần đổi mới để chuyển giao

với CT mới càng diễn ra mạnh mẽ hơn

Trang 37

Tuy vậy, quá trình đổi mới này là chủ động và không chỉ xuất hiện sau khi có các

VB pháp lí hoàn chỉnh Đỗ Ngọc Thống27 nhận xét về việc kiểm tra - đánh giá kết quả

học tập của môn Ngữ văn hiện hành từ CT môn học sau năm 2000: “Công tác kiểm tra

- đánh giá đã có những chuyển biến tích cực; chẳng hạn định hướng ra đề mở, tăng

cường nghị luận xã hội, kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm, … Tuy nhiên việc

kiểm tra - đánh giá Ngữ văn hiện hành vẫn còn hạn chế Hạn chế lớn nhất là chưa đánh

giá đúng được sự vận dụng kiến thức một cách sáng tạo; đề thi Ngữ văn chủ yếu vẫn là

kiểm tra kiến thức, trí nhớ, tái hiện, làm theo, chép lại, học tác phẩm nào thi đúng tác

phẩm đó; chỉ được kiểm tra vào đúng những gì GV đã dạy, trừ một số đề về NL xã hội.”

Bên cạnh đó, từ thời điểm năm 2014, ông cũng đưa ra quan điểm rằng CT môn Ngữ văn

sau 2015 cần thay đổi theo hướng khuyến khích sự sáng tạo, khả năng vận dụng kiến

thức đã học cả nội dung lẫn phương pháp để giải quyết một nhiệm vụ tương tự, trong

một tình huống mới Nói cách khác là đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo hướng

đánh giá năng lực với mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục nhằm cung cấp thông tin chính

xác, khách quan để điều chỉnh hoạt động dạy và học nâng cao dần năng lực cho HS và

xác định năng lực của HS dựa theo chuẩn cấp học, chuẩn môn học thống nhất trên toàn

quốc

Về mặt những cơ sở hành chính, pháp lí, chúng tôi thống kê một số VB của các

cấp lãnh đạo, hệ thống VB quy phạm pháp luật nhà nước có ảnh hưởng như sau:

Từ những góc độ khái quát nhất là Luật, Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều

28 quy định:“Phương pháp GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,

khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động

đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.” 28

Tiếp theo đó, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 đã

yêu cầu thực hiện việc“đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương

pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng

giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực

sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” Đồng

thời, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định

27 Truy xuất từ

https://phebinhvanhoc.com.vn/chuong-trinh-ngu-van-trong-nha-truong-pho-thong-viet-nam-va-huong-phat-trien-sau-2015/

28 Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005) Luật Giáo dục Điều 28

Trang 38

711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương

pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”; “Đổi mới kì thi tốt nghiệp

Trung học PT, kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu

quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục

với kết quả thi.” 29

Sự ra đời của Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung

ương khóa XI (năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã trình bày

một loạt định hướng cho việc đổi mới cả trong dạy học và kiểm tra - đánh giá Chính vì

vậy, cũng từ năm 2014, Bộ GD&ĐT ban hành các Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

về nhiệm vụ trọng tâm của Giáo dục mầm non, GDPT, Giáo dục thường xuyên và Giáo

dục chuyên nghiệp, các Công văn về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung

học các năm học trong những năm vừa qua luôn nhấn mạnh việc chú trọng dạy học và

kiểm tra - đánh giá năng lực cho HS Điển hình như Công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH

ngày 05 tháng 8 năm 2014 về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm

học 2014-2015 đã yêu cầu: “Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng chú trọng đánh giá

phẩm chất và năng lực học sinh; Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát

triển năng lực của HS; Việc kiểm tra đánh giá không chỉ là việc xem HS học được cái

gì mà quan trọng hơn là biết HS học như thế nào, có biết vận dụng không; Đối với các

môn khoa học xã hội và nhân văn cần tăng cường ra các câu hỏi mở; gắn với thời sự

quê hương đất nước để HS được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính

trị, xã hội.”30

Bên cạnh các VB chỉ thị, hướng dẫn, Bộ GD&ĐT cùng các Vụ cũng triển khai

tập huấn nhiều cấp để đưa tinh thần đổi mới đến gần hơn với GV giảng dạy, trong Tài

liệu tập huấn đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh các

môn học31 của Vụ Giáo dục Trung học đã trình bày bảng so sánh một số đặc trưng cơ

bản sẽ thay đổi khi chuyển CT từ định hướng nội dung sang định hướng năng lực như

sau:

29 Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012) Chiến lược phát triển giáo dục giai

đoạn 2011 – 2020

30 Bộ GD&ĐT (2014) Công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH

31 Bộ GD&ĐT (2014) Tài liệu tập huấn đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh các môn

học Tr 15

Trang 39

CT định hướng nội dung

CT định hướng năng lực

Mục tiêu

giáo dục

Mục tiêu dạy học được

mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được

Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức

độ tiến bộ của HS một cách liên tục

Nội dung

giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong CT

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu

ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn CT chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn

- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, …

- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và

kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn

Bảng 1.9 Bảng mô tả một số đặc trưng cơ bản của giáo dục thay đổi khi chuyển

CT từ định hướng nội dung sang định hướng năng lực

Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lí

thuận lợi cho việc đổi mới GDPT nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học,

kiểm tra - đánh giá theo định hướng năng lực người học Tuy nhiên, “xét về bản chất thì

không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức kỹ năng, mà đánh

Trang 40

giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng”32

Tài liệu Tập huấn cũng đã tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng

lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

Tiêu chí Đánh giá kiến thức, kỹ năng Đánh giá năng lực

Mục

đích chủ

yếu nhất

- Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của CT giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau

- Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống

- Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ

Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của học sinh

- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ

ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện)

- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học

Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học

Kết quả

đánh giá

- Năng lực người học phụ thuộc vào

số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành

- Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành

32 Đỗ Anh Dũng (2019) Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh Truy xuất từ:

https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/giao-duc-trung-hoc/Pages/Default.aspx?ItemID=6273

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w