1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chụp ảnh cắt lớp đám mây điện tử ngoài cùng của phân tử bất đối xứng từ phổ sóng điều hòa bậc cao

45 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào mô hình trên, quá trình phát xạ HHG được mô tả theo ba bước như sau: i các electron trong nguyên tử, phân tử bị ion hóa xuyên hầm ra vùng tự do dưới tác dụng của điện trường tro

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

–––––––––––––––––––– ––––––––––––––––––––

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHỤP ẢNH CẮT LỚP ĐÁM MÂY ĐIỆN TỬ NGOÀI CÙNG CỦA PHÂN TỬ BẤT ĐỐI XỨNG TỪ PHỔ SÓNG ĐIỀU HÒA BẬC CAO

Ngành: Sư phạm Vật lý

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

–––––––––––––––––––– ––––––––––––––––––––

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHỤP ẢNH CẮT LỚP ĐÁM MÂY ĐIỆN TỬ NGOÀI CÙNG CỦA PHÂN TỬ BẤT ĐỐI XỨNG TỪ PHỔ SÓNG ĐIỀU HÒA BẬC CAO

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên, sự tri ân sâu sắc nhất của tôi xin dành cho Cô Phan Thị Ngọc Loan trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành khóa luận này Cô đã tận tình hướng dẫn

và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập, cọ xát khi tham gia nghiên cứu, đặc biệt

là nghiên cứu khoa học cơ bản Tiếp đến, tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến

Cô Lê Thị Cẩm Tú (Trường Đại học Tôn Đức Thắng) vì đã giảng dạy, hỗ trợ giải đáp cho tôi về những kiến thức nền tảng trong hướng nghiên cứu này Đồng thời, tôi cũng rất biết ơn sự dẫn dắt của Thầy Lê Đại Nam (Trường Đại học Tôn Đức Thắng) vì những bước đi đầu tiên trong quá trình nghiên cứu Vật lý Lý thuyết

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến toàn thể Thầy/ Cô trong khoa Vật lý tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tổ bộ môn Vật lý Lý thuyết Những kiến thức mà Thầy/ Cô đã truyền thụ cho tôi trong quá trình học tập tại trường, chính là nền tảng vững chắc để tôi có thể hoàn thành khóa luận này, đồng thời cũng là hành trang cho tôi trên con đường tiếp theo của mình

Cuối cùng, tôi mong muốn gửi lời tri ân đến toàn thể nhóm nghiên cứu, cho các anh chị và bạn bè đã đồng hành, động viên tôi trên suốt chặng đường khoa học này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2020

Hà Thanh Sang

Trang 4

1.4 Quy trình chụp ảnh cắt lớp HOMO của phân tử bất đối xứng 20

Trang 5

HHG sóng điều hòa bậc cao

High-order Harmonic Generation

HOMO đám mây điện tử ngoài cùng của phân tử

Highest Occupied Molecular Orbital

MO-SFA gần đúng trường mạnh cho phân tử

Molecular Strong-Field Approximation

TDSE phương trình Schrödinger phụ thuộc thời gian

Time-Dependent Schrödinger Equation

u phần phản xứng

ungerade

Trang 6

Đặc điểm dạng phổ sóng điều hòa bậc cao phát xạ khi nguyên tử, phân

tử tương tác với trường laser mạnh 14

2.1

Laser có đặc điểm bước sóng  = 1200 nm, hàm bao hình thang,

cường độ đỉnh I = 1.5×1014 W/cm2, độ dài xung gồm 25 chu kỳ quang

học và pha ban đầu  = 0

25

2.2

Hình ảnh HOMO của phân tử CO và lát cắt hàm sóng tại mặt cắt y = 0

được tái tạo từ GAUSSIAN

27

2.3

Dạng phổ HHG phát xạ bởi phân tử CO thay đổi theo số lượng chu kỳ

quang học trong xung laser 28

2.4

Dạng phổ HHG phát xạ bởi nguyên tử Ar thay đổi theo số lượng chu

kỳ quang học trong xung laser 29

2.5

Phổ HHG phát xạ của phân tử CO tại góc định phương 45 và nguyên

từ Ar gồm các bậc lẻ - bậc chẵn và bậc lẻ khi tương tác với xung laser

30

2.6 Sự thay đổi về dạng phổ HHG theo góc định phương của phân tử CO 30

2.7

Sự thay đổi về cường độ HHG tại các bậc xác định theo góc định

phương của phân tử CO 32 2.8 Sự thay đổi về tốc độ ion hóa theo góc định phương của phân tử CO 33 2.9 Moment lưỡng cực dịch chuyển được trích xuất từ dữ liệu HHG 35

Trang 7

2.10

Thành phần đối xứng và phản xứng HOMO của phân tử CO được tái

tạo từ moment lưỡng cực dịch chuyển 36

2.11

Hình ảnh HOMO của phân tử CO được vẽ từ hàm sóng tổng cộng và so

sánh với HOMO chính xác 37

2.12

So sánh mặt cắt hàm sóng của CO tái tạo từ moment lưỡng cực dịch

chuyển với hàm sóng chính xác tại vị trí y = 0 và y = 0.75 38

Trang 8

MỞ ĐẦU

Vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, sự ra đời của nguồn phát ser đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Vì vậy, việc sử dụng các nguồn laser đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong vật lý và hóa học, đặc biệt là đối với nghiên cứu cấu trúc nguyên tử, phân tử [1-29] Bên cạnh đó, sự phát triển vượt bậc của công nghệ, sự xuất hiện của các laser xung cực ngắn, độ dài xung vài femto giây [1], hay atto giây [2,3] đã cho phép các nhà khoa học thu nhận được thông tin động bên trong phân tử như chuyển động quay, dao động của phân tử [4] và chuyển động của electron quanh hạt nhân [5,6]

la-Khi nguyên tử hay phân tử tương tác với chùm laser xung cực ngắn có cường độ cao 10 W/cm ,14 2 hiện tượng phát xạ sóng điều hòa bậc cao (HHG) là một trong

những hiệu ứng quang phi tuyến có thể xảy ra [7,8] Mô hình đơn giản được công nhận rộng rãi để giải thích hiện tượng phát xạ HHG là một mô hình bán cổ điển gọi là

mô hình ba bước Lewenstein Mô hình ba bước Lewenstein lần đầu tiên được giới thiệu bởi nhóm nghiên cứu của Corkum vào năm 1993 [7] Dựa vào mô hình trên, quá

trình phát xạ HHG được mô tả theo ba bước như sau: (i) các electron trong nguyên tử,

phân tử bị ion hóa xuyên hầm ra vùng tự do dưới tác dụng của điện trường trong laser

mạnh; (ii) khi ở vùng tự do, điện trường tác dụng vào các electron làm chúng chuyển động có gia tốc; (iii) sau khoảng thời gian gần nửa chu kỳ của xung laser, electron bị

kéo ngược trở lại về phía ion mẹ khi điện trường đổi chiều, electron có thể tái kết hợp với ion mẹ phát xạ HHG [8] Trong quá trình electron tái kết hợp về trạng thái cơ bản của ion mẹ, năng lượng tích lũy khi chuyển động ở miền liên tục được giải phóng dưới dạng các photon có năng lượng cao, vì vậy phổ HHG mang nhiều thông tin cấu trúc của nguyên tử, phân tử mẹ Với đặc điểm chứa đựng thông tin cấu trúc của phân

tử khi tương tác với trường laser xung cực ngắn, HHG được sử dụng như một công cụ theo dõi những quá trình động lực học phân tử ở thang phân giải không gian cỡ Ång-ström [9-19] và thang phân giải thời gian cỡ femto giây [4-6,20-22] Các công trình nghiên cứu về đặc điểm phổ HHG cho thấy thông tin trích xuất được có thể dùng để theo dõi, kiểm soát quá trình phản ứng hóa học [20,21] Bên cạnh đó, HHG là những

Trang 9

làm cơ chế tạo ra các xung laser cực ngắn có tính kết hợp cao [1-3] Đặc biệt hơn, HHG là cơ chế duy nhất tính đến thời điểm hiện tại cho phép tạo ra các xung laser cực ngắn ở mức atto giây, xung laser ngắn nhất được ghi nhận có độ dài xung là 43 atto giây vào năm 2017 [3] Ngoài ra, thông tin trích xuất từ HHG đã được sử dụng để tái tạo lại hình ảnh đám mây điện tử ngoài cùng của phân tử (HOMO), gồm cả phân tử

HOMO của phân tử cũng là hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm đặc biệt từ cộng đồng khoa học

Thông qua công trình [9], nhóm tác giả tại Canada đã trình bày các kết quả về việc tiến hành thực nghiệm cho khối khí nitrogen tương tác với nguồn laser xung cực

bậc cao HHG thu nhận được từ thực nghiệm Sau đó, công trình [10] đã tái khẳng định lại kết quả của công trình [10] bằng mô phỏng lý thuyết, sử dụng dữ liệu HHG “thực nghiệm” để tái tạo HOMO của các phân tử đối xứng Ngoài ra nhóm tác giả còn phân tích những hạn chế và đưa ra hướng khắc phục cho phương pháp chụp ảnh cắt lớp nhằm nâng cao chất lượng hình ảnh thu được Các tác giả trong công trình [10] còn

cụ thể là O2 Xét trên phương diện lý thuyết, hình ảnh HOMO tái tạo được không phụ thuộc vào xung laser được sử dụng, nhưng công trình [10] đã chỉ ra rằng HOMO của phân tử tái tạo từ quy trình chụp ảnh cắt lớp sẽ phụ thuộc mạnh vào thông số đặc trưng của laser Cụ thể hơn, hình ảnh HOMO phân tử thu được từ việc chụp ảnh cắt lớp phân tử sẽ càng chính xác nếu sử dụng các laser có bước sóng càng dài [10] Tuy nhiên, trong các công trình chụp ảnh cắt lớp phân tử đối xứng, các tác giả đều giả định rằng phổ HHG chỉ chứa các bậc lẻ, và quy trình chụp ảnh cắt lớp chỉ sử dụng từ dữ liệu bậc lẻ của phổ HHG

Trong một thời gian dài, các công trình [9-13] hầu hết tập trung vào việc chụp ảnh cắt lớp các phân tử đối xứng như N2, O2 hay CO2 Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu khác đã bắt đầu chú ý đến phổ HHG của các phân tử bất đối xứng như

đối xứng tương tác với laser chỉ chứa toàn bậc lẻ, thì phổ HHG của phân tử bất đối xứng bao gồm cả các bậc chẵn và bậc lẻ [14-19] Việc phổ HHG của phân tử bất đối

Trang 10

xứng có nhiều khác biệt so với phân tử đối xứng có thể được giải thích bởi hàm sóng của phân tử bất đối xứng không có tính chẵn-lẻ xác định Đáng lưu ý hơn, quy trình đã được trình bày cho các phân tử đối xứng [9-13] không thể áp dụng được cho việc chụp ảnh cắt lớp HOMO của phân tử bất đối xứng như CO [16-19] vì phổ HHG của phân tử

CO vừa có bậc lẻ và bậc chẵn Để khắc phục những khó khăn trên, một vài công trình nghiên cứu đã được thực hiện với những phương pháp khác nhau, như sử dụng laser hai màu phân cực vuông góc (two-color orthogonally polarized laser field) nhằm kiểm soát quỹ đạo chuyển động tự do trong vùng liên tục và kiểm soát hướng tái va chạm của electron theo một hướng xác định có xác suất cực đại [16,17] Bên cạnh đó, trong công trình [18], xung laser đơn sắc, không đồng nhất phân cực phẳng (one-color line-arly polarized inhomogeneous field), tức là laser có cường độ điện trường thay đổi tuyến tính dọc theo phương lan truyền của điện trường, được sử dụng để ảnh hưởng lên phổ phân bố động lượng của electron khi tái va chạm với ion mẹ Các công trình [16-18] đều đã tái cấu trúc thành công hình ảnh HOMO của phân tử CO bằng phương pháp kiểm soát quỹ đạo của electron trong quá trình tái va chạm Ngoài ra, trong năm

2013, tác giả Chen và các cộng sự đã tái tạo được HOMO của phân tử CO từ phổ HHG “thực nghiệm” bao gồm cả bậc lẻ và bậc chẵn bằng mô phỏng lý thuyết [19]

Trong công trình này, dữ liệu HHG được mô phỏng từ phương pháp ab-initio giải

phương trình Schrödinger phụ thuộc thời gian (TDSE) trong quá trình phân tử tương tác với trường laser Tuy nhiên, phương pháp trên đòi hỏi tài nguyên tính toán mạnh

và tốn nhiều thời gian thực hiện Đồng thời, với tài nguyên máy tính hiện hữu, việc tính toán phổ HHG cho phân tử khi tương tác với laser có bước sóng dài là không thể thực hiện Bên cạnh đó, nhóm tác giả của hai công trình [10] và [19] có đề xuất khác nhau về biểu thức xác định số sóng k khi electron chuyển động tự do trong vùng liên

tục Cụ thể hơn, hai công thức ở công trình [10] và [19] đã có sai khác với nhau một lượng I P là thế ion hóa của phân tử Trong công trình [10], tác giả có tính đến hiệu ứng gây ra bởi thế ion hóa của phân tử, ngược lại với công bố [19]

Trang 11

Qua những trình bày ở trên, có thể thấy việc chụp ảnh cắt lớp hình ảnh HOMO của phân tử đối xứng hay hình ảnh HOMO của phân tử bất đối xứng từ dữ liệu HHG sau quá trình tương tác của xung laser cực ngắn với nguyên tử, phân tử là một hướng nghiên cứu sôi động kể cả bằng thực nghiệm và lý thuyết Điều này là lý do thúc đẩy

chúng tôi thực hiện khóa luận “Chụp ảnh cắt lớp đám mây điện tử ngoài cùng của

phân tử bất đối xứng từ phổ sóng điều hòa bậc cao”

Mục tiêu của khóa luận này là tái tạo HOMO của phân tử bất đối xứng, cụ thể là phân tử CO Phổ HHG “thực nghiệm” sử dụng cho quy trình chụp ảnh cắt lớp được tính toán từ mô hình Lewenstein Ngoài ra, kết quả hình ảnh HOMO của phân tử CO được tái tạo từ quá trình chụp ảnh cắt lớp cũng cần được khảo sát đánh giá ảnh hưởng

về sự khác nhau về biểu thức số sóng ở hai công trình [10] và [19] Để thực hiện những mục tiêu của bài nghiên cứu, chúng tôi thực hiện các nội dung nghiên cứu sau

đây: i Mô phỏng dữ liệu HHG “thực nghiệm” bằng mô hình ba bước; ii Tái tạo

Ngoài phần mở đầu và kết luận của bài viết, cấu trúc của khóa luận được chia thành hai chương chính Trong phần mở đầu, chúng tôi trình bày tổng quan hướng nghiên cứu mà chúng tôi quan tâm Trên cơ sở phân tích những hạn chế của những nghiên cứu trước đây, chúng tôi đề xuất hai mục tiêu chính để nghiên cứu trong bài khóa luận là chụp ảnh cắt lớp HOMO của phân tử CO và đánh giá kết quả ảnh chụp dựa trên bước sóng của laser được sử dụng Trong chương 1, chúng tôi trình bày lý thuyết phát xạ HHG theo mô hình ba bước Lewenstein, sau đó tóm tắt quy trình chụp ảnh cắt lớp cho phân tử đối xứng, và những hạn chế, hướng giải quyết khi mở rộng quy trình chụp ảnh cắt lớp cho phân tử bất đối xứng Tiếp sau đó, nội dung được trình bày ở chương 2 là HOMO của phân tử CO được tái tạo từ quy trình chụp ảnh cắt lớp khi sử dụng xung laser có bước sóng dài   1200 nm, đề xuất tại công trình [10] Trong quá trình chụp ảnh cắt lớp, chúng tôi sẽ sử dụng biểu thức số sóng theo công trình [10] và [19] lần lượt là k  2 I P và k  2 ,  nhằm đánh giá chất lượng của ảnh HOMO phân tử chụp được

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương này, trước tiên, chúng tôi sẽ tóm tắt giản lược sơ đồ thực nghiệm được thiết lập cho quá trình tương tác giữa nguyên tử, phân tử với trường laser ngoài

và phát xạ HHG Tiếp sau đó, chúng tôi trình bày cụ thể mô hình ba bước để tính toán các thông số đặc trưng và đặc điểm của phổ HHG Cuối cùng, quy trình chụp ảnh cắt lớp để tái tạo hình ảnh HOMO của phân tử dựa trên dữ liệu trích xuất từ phổ HHG được thể hiện ở phần cuối của chương

1.1 Mô hình thực nghiệm thu nhận phổ HHG

Mô hình thực nghiệm thu phổ HHG được mô tả ở Hình 1.1 (a) bên dưới Khi ta chiếu trường laser mạnh, được gọi là xung thăm dò (probe laser) với cường độ khoảng

10 W /cm đến 10 W /cm15 2 vào khối phân tử khí thì quá trình phát xạ HHG có thể xảy ra [1-24] Khi tương tác với trường laser, các electron trong phân tử sẽ bị ion hóa dưới tác động của điện trường mạnh và quay về tái kết hợp với ion mẹ để phát xạ

được sẽ bị trung bình hóa [9,22] Nhằm để hạn chế kết quả này, các phân tử được định phương bởi một trường laser yếu được gọi là xung định phương (alignment laser) với cường độ từ 10 W /cm 12 2 đến 10 W /cm 13 2 nhằm tạo ra phân bố bất đẳng hướng cho khối phân tử [9,22] Vậy nên, đối với quá trình thực nghiệm, thứ tự thao tác được tiến hành như sau: trước nhất, thực hiện kỹ thuật định phương phân tử; sau đến, khối phân

tử được định phương tương tác với trường laser mạnh để thu phổ HHG

Trong quá trình định phương, các phân tử trong khối khí như những moment lưỡng cực được đặt vào điện trường ngoài, nên phân tử sẽ quay theo chiều điện trường

và tạo ra một phân bố dị hướng Nếu toàn bộ khối khí định phương tuyệt đối, trục của mỗi phân tử sẽ hoàn toàn trùng với vector điện trường của xung định phương, và hợp với vector điện trường của xung thăm dò một góc , được gọi là góc định phương thể hiện trong Hình 1.1 (b) Tuy nhiên, việc toàn bộ khối khí được định phương tuyệt đối

là không thể xảy ra trong thực nghiệm [9,22] Vì vậy, để đặc trưng cho chất lượng của quá trình định phương, ta cần xét đến đại lượng cos 2  t , là hàm mô tả khả năng

Trang 13

định phương của khối phân tử khí tại góc  theo thời gian Trong đó  là góc tạo

bởi phân tử với điện trường của xung định phương mô tả trong Hình 1.1 (c) Dễ dàng nhận thấy, nếu cos 2  t 1 thì khối phân tử khí được định phương tuyệt đối, nếu

khối phân tử phân bố đẳng hướng trong không gian thì 2   1

với khả năng cực đại 2  

max

cos  t là lúc định phương với chất lượng tối ưu nhất

Ngay khi đó, người ta tiếp tục chiếu chùm laser có cường độ cao vào khối phân tử khí

để tương tác và thu nhận tín hiệu HHG Khoảng thời gian giữa hai lần chiếu xung ser vào khối khí được gọi là thời gian chờ giữa xung định phương và xung thăm dò

la-Hình 1.1 (a) Sơ đồ mô phỏng thực nghiệm để thu nhận phổ phát xạ HHG khi cho

nguyên-phân tử tương tác với trường laser bên ngoài Phổ sóng điều hòa bậc cao

phát ra sẽ chứa các photon có tần số gấp một số nguyên lần so với tần số của các

photon kích thích trong xung thăm dò ban đầu (b) Mô hình mỗi phân tử được định

phương tuyệt đối dưới tác dụng của trường laser yếu theo góc định phương  (c)

Trong khối phân tử khí, các phân tử tại thời điểm t được định phương ở góc định

phương  với chất lượng định phương là cos 2  t .

1.2 Mô hình ba bước Lewenstein

Cấu trúc nguyên tử, phân tử bao gồm hai phần là phần hạt nhân và lớp vỏ tron Trong đó, những electron tồn tại ở vùng không gian xung quanh hạt nhân, tạo thành đám mây điện tử và chúng tương tác với hạt nhân thông qua tương tác Cou-lomb Mức năng lượng cao nhất mà electron có thể chiếm đóng trong vùng không gian đám mây điện tử được gọi là HOMO của nguyên tử, phân tử Những electron khi

elec-E (t) in probe laser

E (t) in

alignment laser

Trang 14

tồn tại ở HOMO nằm xa hạt nhân nhất nên tương tác rất yếu, vì vậy chúng có độ linh động cao, dễ dàng bị kích thích và ion hóa khỏi nguyên tử, phân tử khi chịu tác động của điện trường mạnh trong laser [7,8] Về nguyên tắc, chúng ta hoàn toàn có thể tính toán được phổ HHG bằng cách giải số TDSE Vì bài toán tương tác của nguyên tử, phân tử trong điện từ trường có tính phức tạp cao, nên việc tính toán bằng phương pháp giải số đòi hỏi nhiều tài nguyên của máy tính và tốn nhiều thời gian để thu được kết quả chính xác [22,23,27] Tuy vậy, các kết quả của phương pháp giải TDSE là cơ

sở quan trọng để kiểm chứng tính chính xác của các mô hình gần đúng

Kết quả của phổ HHG tiếp cận từ việc sử dụng mô hình gần đúng Lewenstein được đánh giá là phù hợp, cho kết quả tương thích với phương pháp giải số TDSE [22,23] và với thực nghiệm [24] Do đó, việc tối ưu hóa tài nguyên tính toán và thời lượng thực hiện bằng cách sử dụng mô hình đơn giản hơn nhưng vẫn cho kết quả gần chính xác là đáng tin cậy, có ý nghĩa và phù hợp với yêu cầu của bài nghiên cứu này Công trình [7] và [8] của nhóm tác giả Corkum không chỉ giải thích định tính, mà còn tính toán định lượng các thông số đặc trưng cho quá trình phát xạ HHG một cách hoàn chỉnh Trong đó, các điều kiện gần đúng để giải quyết bài toán phát xạ HHG được xem là nền tảng xây dựng nên mô hình ba bước Ở đây, chúng tôi chỉ giản lược những nét ý tưởng cơ bản nhất được sử dụng cho mô hình này Cụ thể hơn, vì mô hình Lew-enstein là một mô hình bán cổ điển, nên việc giải phương trình Schrödinger vẫn phải thực hiện nhưng với một số giả thiết nhất định, gồm:

+ Chỉ có trạng thái cơ bản của nguyên tử, phân tử là đóng góp đáng kể trong quá trình tương tác với trường laser, sự đóng góp của các trạng thái còn lại được

bỏ qua;

+ Bỏ qua sự thay đổi của trạng thái cơ bản theo thời gian tác dụng của laser; + Khi trong vùng năng lượng liên tục, electron được xem như một hạt tự do chuyển động dưới tác dụng của điện trường laser và bỏ qua ảnh hưởng của thế Coulomb của nguyên tử, phân tử mẹ

Trang 15

Electron dịch chuyển liên tục giữa hai miền năng lượng gián đoạn và liên tục, giống như một lưỡng cực điện dao động vì vậy tạo thành hiện tượng phát xạ sóng thứ cấp là HHG Dựa vào mô hình của nhóm Lewenstein, thành phần phân cực x t  theo

thời gian được cho bởi biểu thức trung bình

,

t electron quay về và tái kết hợp với xác suất d p x* A t  .

Trang 16

HHG

2 Acceleration

1 Tunneling

3 Recombination laser

field

atomic potential

electron

Hình 1.2 Mô hình ba bước Lewenstein giải thích sự phát xạ sóng điều hòa bậc cao

HHG khi nguyên tử, phân tử tương tác với trường laser

(Nguồn ảnh: https://en.wikipedia.org/wiki/High_harmonic_generation )

Dựa vào công thức (1.2), quá trình phát xạ HHG có thể được hình dung qua ba bước đơn giản được minh họa trong Hình 1.2 Theo đó, quá trình trên có thể được mô

tả bằng các giai đoạn: đầu tiên electron trong phân tử bị ion hóa xuyên hầm ra vùng tự

do dưới tác dụng của trường laser mạnh; tiếp đến khi ở vùng tự do, lực điện tác dụng vào các electron làm chúng chuyển động có gia tốc; cuối cùng khi vector điện trường đổi chiều, electron quay trở lại tái kết hợp với ion mẹ và phát xạ HHG Khi quay về tái kết hợp với ion mẹ, toàn bộ năng lượng mà electron tích trữ được trong giai đoạn chuyển động có gia tốc bởi tác động của điện trường laser sẽ được giải phóng dưới dạng các bức xạ có tần số cao Các photon được tạo ra trong quá trình phát xạ mang năng lượng và cường độ khác nhau được gọi là sóng điều hòa bậc cao HHG

Khi nguyên tử, hay phân tử tương tác với laser có độ dài xung chứa nhiều chu kỳ quang học, thì sóng HHG phát ra sẽ có tần số là bội số nguyên lần tần số của laser chiếu vào, các bội số nguyên này được gọi là bậc HHG Với nguyên tử, phân tử đối xứng, phổ HHG chỉ chứa các bậc HHG lẻ [9-13] Mặt khác, với phân tử bất đối xứng, phổ HHG có chứa cả bậc lẻ và bậc chẵn [14-19] Phổ HHG thông thường có dạng đặc trưng với ba vùng rõ rệt được mô tả bởi Hình 1.3 Trong đó, ở những tần số đầu, cường độ HHG giảm liên tục, sau đó chúng gần như không thay đổi trong một miền rộng của tần số gọi là miền phẳng Miền phẳng kết thúc ở một điểm dừng, tại đó cường độ HHG giảm đột ngột [7,8]

Trang 17

Hình 1.3 Đặc trưng của phổ HHG chia thành ba vùng xác định

(Nguồn ảnh: https://en.wikipedia.org/wiki/High_harmonic_generation )

1.3 Quy trình chụp ảnh cắt lớp HOMO của phân tử đối xứng

Chúng tôi chọn hệ đơn vị nguyên tử (a.u.), tức là các hằng số m e  e 1,

trong xuyên suốt bài viết này Các tác giả trong công trình [10] đã đề xuất về cường

độ HHG được định lượng theo biểu thức

và thừa số N   là tốc độ ion hóa của phân tử, phụ thuộc vào góc định phương  Bên

cạnh đó, đại lượng a k   

  là biên độ sóng của electron với số sóng k  2 I P

khi chuyển động tự do trong vùng liên tục [10] Hạng tử cuối cùng, d   , là vector moment lưỡng cực dịch chuyển từ trạng thái chuyển động tự do ở vùng liên tục về trạng thái cơ bản của ion mẹ, được mô tả bởi hàm sóng của HOMO

Đại lượng vector moment lưỡng cực dịch chuyển được định nghĩa theo biểu thức

Trang 18

ở đây, hàm sóng trong miền liên tục của electron được cho bởi exp ik  r ,

 

là hệ quả của giả thiết gần đúng sóng phẳng theo mô hình Lewenstein Biểu thức (1.4) một lần nữa cho ta thấy rõ ràng ý nghĩa vật lý của quá trình phát xạ HHG, các đại lượng

Vì vậy, chúng tôi sẽ thảo luận phương pháp xác định từng thành phần trong biểu thức (1.4) để có thể trích xuất được moment lưỡng cực dịch nhằm tái tạo lại HOMO của phân tử Trước tiên là tốc độ ion hóa N  , giá trị này có thể đo đạc trực tiếp bằng

thực nghiệm, hoặc tính toán mô phỏng bằng phương pháp số ab-initio và các phương

pháp mô hình Trong đó, một trong những phương pháp mô hình phổ biến để tính toán tốc độ ion hóa là phương pháp gần đúng trường mạnh cho phân tử (MO-SFA) Phương pháp MO-SFA có thể tiếp cận tính toán tốc độ ion từ việc sử dụng định chuẩn dài (length gauge) hoặc sử dụng định chuẩn vận tốc (velocity gauge) Vào những năm

1960 của thế kỷ trước, tác giả Keldysh thông qua công trình [25] đã tính toán tốc độ ion hóa cho electron khi nguyên tử tương tác với trường laser Laser được sử dụng có cường độ điện trường đỉnh là E0, tác giả đã tính toán từ mô hình MO-SFA sử dụng định chuẩn dài cho thấy

1 2

1

22

  được gọi là hệ số đoạn nhiệt hay hệ số Keldysh Dựa vào biểu thức

trên cho thấy tốc độ ion hóa chịu tác động mạnh bởi hai thông số của laser là tần số 

của xung và cường độ đỉnh E của điện trường, ngoài ra đại lượng này cũng chịu ảnh

Trang 19

hưởng bởi thế ion hóa I P của phân tử Trong trường hợp cụ thể, nếu laser được sử

cơ bản của electron, nên electron dễ dàng vượt rào thế để thoát ra vùng liên tục Trong

trường hợp ngược lại, nếu laser được sử dụng có tần số cao và cường độ thấp thì

ra ngoài vùng tự do thì electron phải hấp thụ nhiều photon để dần chuyển lên các mức kích thích Ngoài ra, khác với hai trường hợp tiệm cận   hay 1   nếu laser 1,được sử dụng có cường độ điện trường cực đại tương đương với trường Coulomb thì electron trong nguyên tử có thể ion hóa theo cơ chế ion hóa xuyên hầm mà không cần nhận năng lượng từ photon trong laser Với các kết quả trên, công trình [25] đã cho thấy một bức tranh tổng quát về sự ảnh hưởng của cường độ điện trường laser lên tốc

độ ion hóa với các cơ chế ion hóa có thể xảy ra

Trang 20

Từ lý thuyết của Keldysh, các nhóm nghiên cứu khác đã phát triển cho trường hợp tính toán tốc độ ion hóa cho phân tử trong trường laser Ngoài việc tính toán bằng phương pháp MO-SFA sử dụng định chuẩn dài, thì phương pháp MO-SFA sử dụng định chuẩn vận tốc [26], hoặc phương pháp tính gần đúng lý thuyết ion hóa xuyên hầm cho phân tử (Molecular Ammosov-Delone-Krainov) [27] cũng nhận được nhiều

sự quan tâm Tuy nhiên, bằng cách so sánh với các kết quả giải số chính xác TDSE [28], hoặc so sánh với đo đạc bằng thực nghiệm [29], phương pháp MO-SFA định chuẩn dài được nhận xét là cho kết quả hợp lý và phù hợp hơn Dựa vào những phân tích về các phương pháp tính tốc độ ion hóa của phân tử, trong biểu thức (1.4), hạng

tử N   sẽ được xác định bằng phương pháp MO-SFA với định chuẩn dài

Tiếp đến, số hạng cần được xác định trong biểu thức (1.4) là biên độ sóng phẳng khi electron chuyển động trong vùng liên tục a k   

  Việc tính toán trực tiếp biên độ

sóng phẳng trong quá trình tương tác giữa phân tử với điện trường của laser gặp nhiều khó khăn và kém khả thi [9] Vì vậy, phương pháp xác định giá trị này đã được đề xuất thông qua quá trình trung gian khi cho một nguyên tử tham chiếu tương tác với trường laser Trong quá trình tương tác với trường laser, do cường độ điện trường rất mạnh nên khi electron chuyển động trong vùng tự do chịu ảnh hưởng rất yếu từ ion

mẹ Như vậy, biên độ sóng phẳng được giả định chỉ phụ thuộc vào giá trị của thế ion hóa, do đó nguyên tử tham chiếu được sử dụng phải có thế ion hóa gần bằng với phân

tử [9] Trong quy trình tính toán cho phân tử N2 I  P 15, 86 eV , nguyên tử tham chiếu được sử dụng là Ar với thế ion hóa I  P 15, 76 eV; tính toán cho phân tử O2

I  P 12, 07 eV , nguyên tử tham chiếu được sử dụng là Xe với thế ion hóa

nghiệm, hoặc mô phỏng và moment lưỡng cực dịch chuyển dref  dễ dàng nhận được từ lý thuyết Đặc biệt hơn, các đại lượng này không còn phụ thuộc vào góc định

Trang 21

phương nữa vì hàm sóng của nguyên tử tham chiếu có dạng đối xứng cầu Từ biểu

thức (1.4) và (1.9), độ lớn của moment lưỡng cực dịch chuyển của phân tử được trích

xuất

ref

,1

Cần lưu ý rằng, công thức (1.10) chỉ cho phép tính giá trị độ lớn của moment lưỡng

cực dịch chuyển Việc chuyển đổi từ giá trị độ lớn sang giá trị đại số của moment

lưỡng cực dịch chuyển được đề xuất trong công trình [10] Nhóm tác giả của công

trình [10] đã đề xuất rằng vector d   , sẽ đổi dấu tại vị trí giá trị d   , đạt cực

tiểu, điều đó cũng tương ứng với vị trí cực tiểu trong phổ HHG

Từ biểu thức (1.10), giá trị moment lưỡng cực trích xuất nhận được hai thành

phần song song và vuông góc với vector phân cực của laser Trước nhất, ta phải

chuyển các giá trị moment lưỡng cực này về trong hệ quy chiếu gắn với phân tử bằng

phép quay hệ tọa độ đi một góc  Sau đó, cùng với biểu thức (1.5), hàm sóng của

electron được thu nhận bằng phép biến đổi Fourier ngược cho vector moment lưỡng

cực dịch chuyển trong hệ quy chiếu gắn với phân tử

ik x y x

ik x y y

Trang 22

Để xác định được hai thành phần f xf y ta phải thu nhận được dữ liệu tương ứng với tất cả các bậc dao động ở các góc định phương từ 0 đến 180 Tuy nhiên với HOMO

có cấu tạo đối xứng và thẳng hàng như phân tử N2 (đối xứng g), ta chỉ cần xác định với góc định phương trong khoảng từ 0 đến 90, vì vậy

1.4 Quy trình chụp ảnh cắt lớp HOMO của phân tử bất đối xứng

Không giống với các phân tử đối xứng, phổ HHG của phân tử bất đối xứng có chứa cả bậc chẵn và bậc lẻ [14-19], cho nên quy trình đã trình bày cho các phân tử đối xứng không thể áp dụng được, vì hàm sóng của phân tử bất đối xứng không có tính chẵn-lẻ cố định [16-19] Ngoài ra, trong quá trình phân tử bất đối xứng tương tác với trường laser, electron bị ion từ hai hướng nên khi thu nhận dữ liệu sẽ bị trung bình Để

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] M. Hentschel, R. Kienberger, C. Spielmann, G. A. Reider, N. Milosevic, T. Brabec, P. B. Corkum, U. Heinzmann, M. Drescher, and F. Krausz, “Attosecond metrology” Nature 414, 509 (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attosecond metrology” "Nature
[2] K. Zhao, Q. Zhang, M. Chini, Y. Wu, X. Wang, and Z. Chang, “Tailoring a 67 attosecond pulse through advantageous phase-mismatch”, Optics Letters 37, 3891 (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tailoring a 67 attosecond pulse through advantageous phase-mismatch”, "Optics Letters
[3] T. Gaumnitz, A. Jain, Y. Pertot, M. Huppert, I. Jordan, F. A. Lamas, and H. J. Wửrner, “Streaking of 43-attosecond soft-X-ray pulses generated by a passively CEP-stable mid-infrared driver” Optics Express 25, 27516 (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Streaking of 43-attosecond soft-X-ray pulses generated by a passively CEP-stable mid-infrared driver” "Optics Express
[4] M. Lein, “Attosecond probing of vibrational dynamics with high-harmonic gen- eration”, Physical Review Letters 94, 053004 (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attosecond probing of vibrational dynamics with high-harmonic gen-eration”, "Physical Review Letters
[6] H. Niikura, D. M. Villeneuve, and P. B. Corkum, “Mapping attosecond elec- tronwave packet motion”, Physical Review Letters 94, 083003 (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mapping attosecond elec-tronwave packet motion”, "Physical Review Letters
[7] P. B. Corkum, “Plasma perspective on strong field multiphoton ionization”, Physical Review Letters 71, 1994 (1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plasma perspective on strong field multiphoton ionization”, "Physical Review Letters
[8] M. Lewenstein, P. Balcou, M. Y. Ivanov, A. L’Huillier, and P. B. Corkum, “Theory of high-harmonic generation by low-frequency laser fields”, Physical Review A 49, 2117 (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of high-harmonic generation by low-frequency laser fields”, "Physical Review A
[9] J. Itatani, J. Levesque, D. Zeidler, H. Niikura, H. Pépin, J. C. Kieffer, P. B. Corkum, and D. M. Villeneuve, “Tomographic imaging of molecular orbitals”, Nature 432, 867 (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tomographic imaging of molecular orbitals”, "Nature
[10] V. H. Le, A. T. Le, R. H. Xie, and C. D. Lin, “Theoretical analysis of dynamic chemical imaging with lasers using high-order harmonic generation”, Physical Review A 76, 013414 (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theoretical analysis of dynamic chemical imaging with lasers using high-order harmonic generation”, "Physical Review A
[11] C. Vozzi, M. Negro, F. Calegari, G. Sansone, M. Nisoli, S. De Silvestri, and S. Stagira, “Generalized molecular orbital tomography”, Nature Physics 7, 823 (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Generalized molecular orbital tomography”, "Nature Physics
[12] C. Zhai, L. He, P. Lan, X. Zhu, Y. Li, F. Wang, W. Shi, Q. Zhang, and P. Lu, “Coulomb-corrected molecular orbital tomography of nitrogen”, Scientific Re- ports 6, 23236 (2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coulomb-corrected molecular orbital tomography of nitrogen”, "Scientific Re-ports
[13] C. Zhai, X. Zhang, X. Zhu, L, He, Y. Zhang, B. Wang, Q. Zhang, P. Lan, and P. Lu, “Single-shot molecular orbital tomography with orthogonal two-color fields”, Optics Letters 26, 2775 (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Single-shot molecular orbital tomography with orthogonal two-color fields”, "Optics Letters
[14] H. Akagi, T. Otobe, A. Staudte, A. Shiner, F. Turner, R. Dửrner, D. M. Ville- neuve, and P. B. Corkum, “Laser tunnel ionization from multiple orbitals in HCl”, Science 325, 1364 (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laser tunnel ionization from multiple orbitals in HCl”, "Science
[15] Y. J. Chen, and B. Zhang, “Tracing the structure of asymmetric molecules from high-order harmonic generation”, Physical Review Letters A 84, 053402 (2011) [16] M. Qin, X. Zhu, Q. Zhang, and P. Lu, “Tomographic imaging of asymmetric mo-lecular orbitals with a two-color multicycle laser field” Optics Letters 37, 5208 (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tracing the structure of asymmetric molecules from high-order harmonic generation”, "Physical Review Letters A" 84, 053402 (2011) [16] M. Qin, X. Zhu, Q. Zhang, and P. Lu, “Tomographic imaging of asymmetric mo-lecular orbitals with a two-color multicycle laser field” "Optics Letters
[17] B. Wang, Q. Zhang, X. Zhu, P. Lan, S. A. Rezvani, and P. Lu, “Asymmetric mo- lecular orbital tomography by manipulating electron trajectories”, Physicsal Re- view A 96, 053406 (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetric mo-lecular orbital tomography by manipulating electron trajectories”, "Physicsal Re-view A
[18] H. Yuan, L. He, F. Wang, B. Wang, X. Zhu, P. Lan, and P. Lu, “Tomography of asymmetric molecular orbitals with a one-color inhomogeneous field”, Optics Letters 43, 931 (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tomography of asymmetric molecular orbitals with a one-color inhomogeneous field”, "Optics Letters
[19] Y. J. Chen, L. B. Fu, and J. Liu, “Asymmetric molecular imaging through decod- ing odd-even high-order harmonics”, Physical Review Letters 112, 049901 (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetric molecular imaging through decod-ing odd-even high-order harmonics”, "Physical Review Letters
[22] X. X. Zhou, X. M. Tong, Z. X. Zhao, and C. D. Lin, “Alignment dependence of high-order harmonic generation from N 2 and O 2 molecules in intense laser fields”, Physical Review A 72, 033412 (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alignment dependence of high-order harmonic generation from N2 and O2 molecules in intense laser fields”, "Physical Review A
[23] A. T Le, R. P. Della, P. Fainstein, D. A. Telnov, M. Lein, and C. D. Lin, “Theory of high-order harmonic generation from molecules by intense laser pulses”, Journal of Physics B 41, 081002 (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of high-order harmonic generation from molecules by intense laser pulses”, "Journal of Physics B
[24] R. Torres, N. Kajumba, G. U. Jonathan, J. S. Robinson, S. Baker, J. W. G. Tisch, R. Nalda, W. A. Bryan, R. Velotta, C. Altucci, C. E. Turcu, and J. P. Marangos,“Probing orbital structure of polyatomic molecules by high-order harmonic gen- eration”, Physical Review Letters 98, 203007 (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Probing orbital structure of polyatomic molecules by high-order harmonic gen-eration”, "Physical Review Letters

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w