1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục việt nam của học sinh lớp 12 tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương​

145 53 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay tại Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương” được xác lập nghiên cứu.. Có nhiều

Trang 1

Lê Hiền Nguyên

NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM CỦA HỌC SINH LỚP 12 TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

Lê Hiền Nguyên

NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM CỦA HỌC SINH LỚP 12 TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành : Tâm lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

28, niên khóa 2017 - 2019

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận được nêu trong đề tài chưa được công bố trong công trình nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiêm về tính xác thực trong đề tài của mình

Tác giả luận văn

Trang 4

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã cho tôi con đường vào đời là quãng đường đại học Xin cảm ơn Quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy lớp Đại học cũng như lớp Cao học Tâm lí học khóa 28 và sự hỗ trợ nhiệt tình của Quý Thầy Cô, chuyên viên, cán bộ phòng Sau Đại học để tôi thực hiện đề tài này

Và tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Đoàn Văn Điều, người đã trực tiếp hướng dẫn giúp tôi tìm ra hướng nghiên cứu, góp ý chỉnh sửa chi tiết, dẫn dắt trong suốt quá trình thực hiện, đặc biệt là sự tận tình của Thầy….nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn của mình

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý Thầy Cô cùng toàn thể các em học sinh lớp 12 trường THPT Dĩ An, THPT Nguyễn An Ninh, TH, THCS & THPT Phan Chu Trinh đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện đề tài nghiên cứu này

Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ LND đã tạo điều kiện thời gian, động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Các anh chị lớp CH K28, các anh chị bạn bè đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

- Đặc biệt, gia đình tôi là động lực lớn nhất cũng là chỗ dựa vững chắc cho tôi trên con đường này

Tôi xin được thể hiện lòng tri ân

Tác giả luận văn

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề niềm tin 6

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2 Một số khái niệm 17

1.2.1 Niềm tin 17

1.2.2 Tính hiệu quả của giáo dục 25

1.2.3 Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam của học sinh 28

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 THỰC TRẠNG NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM CỦA HỌC SINH LỚP 12 TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 38

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục của học sinh lớp 12 38

2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 38

2.1.2 Mục đích nghiên cứu thực trạng 40

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 40

Trang 6

2.2.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu 46

2.2.2 Niềm tin váo tính hiệu quả của giáo dục biểu hiện qua nhận thức của học sinh 46

2.2.3 Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục biểu hiện qua xúc cảm của học sinh 62

2.2.4 Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục 67

2.2.5 Dự định của học sinh lớp 12 sau khi ra trường 74

2.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục của học sinh lớp 12 78

2.3 Một số biện pháp nhằm xây dựng và củng cố niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam 87

2.3.1 Đề xuất của học sinh 87

2.3.2 Đề xuất tổng hợp các biện pháp 91

Tiểu kết chương 2 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 8

xúc cảm 43

Bảng 2.2 Quy đổi sang điểm trung bình 44

Bảng 2.3 Mẫu nghiên cứu 46

Bảng 2.4 Nhận thức về mức độ cần thiết của hoạt động học tập ở trường 47

Bảng 2.5 Lý do học sinh lựa chọn mức độ cần thiết của hoạt động học tập ở trường 48

Bảng 2.7 So sánh sự khác biệt trong biểu hiện nhận thức về mức độ cần thiết của hoạt động học tập ở trường giữa nhóm học sinh có kết quả học tập khác nhau 50

Bảng 2.8 Biểu hiện nhận thức về nội dung giáo dục của học sinh

lớp 12 51

Bảng 2.9 Biểu hiện nhận thức về giá trị xã hội từ nội dung giáo dục mang lại của học sinh lớp 12 56

Bảng 2.10 So sánh biểu hiện nhận thức về các giá trị mà nội dung giáo dục mang lại giữa loại hình trường 60

Bảng 2.11 Mức độ biểu hiện nhận thức của học sinh về tính hiệu quả của giáo dục 61

Bảng 2.12 Biểu hiện xúc cảm của học sinh về những điều nhà trường

mang lại 62

Bảng 2.13 Mức độ biểu hiện xúc cảm đối với tính hiệu quả của

giáo dục 66

Bảng 2.14 Mức độ niềm tin của học sinh vào tính hiệu quả của

giáo dục 67

Bảng 2.15 Tương quan giữa nhận thức và xúc cảm 68

Bảng 2.16 Tương quan giữa xúc cảm và niềm tin 69

Trang 9

Bảng 2.19 So sánh niềm tin của học sinh vào tính hiệu quả của giáo

dục theo giới tính 71

Bảng 2.20 So sánh niềm tin của học sinh vào tính hiệu quả của giáo dục theo loại trường 72

Bảng 2.21 So sánh niềm tin của học sinh vào tính hiệu quả của giáo dục theo kết quả học tập 73

Bảng 2.22 Dự định của học sinh sau khi học xong lớp 12 74

Bảng 2.23 So sánh dự định của học sinh theo loại hình trường 78

Bảng 2.24 Yếu tố ảnh hưởng từ chính bản thân học sinh 79

Bảng 2.25 Yếu tố ảnh hưởng từ phía gia đình 81

Bảng 2.26 Yếu tố ảnh hưởng từ phía nhà trường 83

Bảng 2.27 Yếu tố ảnh hưởng từ phía giáo viên 83

Bảng 2.28 Yếu tố ảnh hưởng từ nội dung giáo dục 84

Bảng 2.29 Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến niềm tin 86

Bảng 2.30 Ý kiến của HS đề xuất biện pháp đối với nhà trường 87

Bảng 2.31 Ý kiến của HS đề xuất biện pháp đối với giáo viên 89

Bảng 2.32 Ý kiến của HS đề xuất biện pháp đối với bản thân học sinh 90

Trang 10

ra trường 76

Biểu đồ 2.2 Dự định của học sinh lớp 12 trường tư thục sau khi

ra trường 76

Biểu đồ 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào tính hiệu quả

giáo dục 78

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là vấn đề được toàn xã hội quan tâm và chú trọng Thế nên, các nhà giáo dục không ngừng hoạt động cải tiến để mang đến hiệu quả và phát triển nền giáo dục nước nhà Như năm học 2018, ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện hàng loạt các Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội khóa XIV

và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Rất nhiều chính sách được triển khai và thực hiện chỉ với một mục đích duy nhất là nâng cao chất lượng học tập cho các em Trong những năm gần đây, có những tác động trực tiếp đến các em học sinh lớp 12 về kỳ thi THPT Đây là kỳ thi quốc gia tại Việt Nam là một sự kiện quan trọng của ngành Giáo dục Việt Nam, được tổ chức bắt đầu vào năm 2015 Là kỳ thi 2 trong 1, được gộp bởi hai kỳ thi là kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng, kỳ thi này xét cho thí sinh hai nguyện vọng: tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng, nhằm giảm bớt tình trạng luyện thi, học tủ, học lệch và giảm bớt chi phí Ngày 26 tháng 2 năm 2015, Bộ GD&ĐT Việt Nam đã ban hành quy chế thi của kỳ thi này Tuy nhiên, đến nay theo Bộ trưởng GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ,

kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 chỉ phục vụ mục đích tốt nghiệp phổ thông

mà không phục vụ mục đích “2 trong 1” vì một số lý do Hiện nay, giáo dục đang tập trung vào hoạt động hướng nghiệp cho học sinh lớp 12, đây là giai đoạn lứa tuổi cần có những định hướng rõ ràng về tương lai, nghề nghiệp, định hướng phát triển trong xã hội Song song đó, niềm tin là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của một con người Từ thế kỷ XIX, Henri Frédéric Amiel,

Trang 12

nhà triết học người Thụy Sỹ đã nói rằng “Xã hội tồn tại nhờ niềm tin, và phát triển nhờ khoa học” Không có niềm tin, con người sẽ sống và hoạt động không có định hướng Vì thế, các em cần có niềm tin vào những gì được giáo dục thì sẽ mang đến thành công cho các em trong việc học tập hiện tại và tương lai sau này Ngược lại, nếu hoài nghi thì ý thức sai lệch, ý thức sai lệch dẫn đến hành động sai lầm Khi nhậm chức, tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Phùng Xuân Nhạ nói : “Nhiệm vụ quan trọng của mình là tạo niềm tin Chỉ khi xã hội có niềm tin vào giáo dục thì mới thắng lợi Còn khi chưa có niềm tin vào giáo dục thì vẫn thất bại”, “niềm tin phải được xây dựng bằng nhận thức Trước khi làm cho xã hội tin thì người trong ngành phải tin đã” Niềm tin trong giáo dục có tầm quan trọng đến như vậy Liệu rằng học sinh hiện nay có đủ lòng tin đối với những triết lý giáo dục, tin vào năng lực và phẩm chất tốt đẹp của giáo viên, tin vào các chính sách và chủ trương đối với ngành giáo dục và đối với việc tổ chức các kì thi,….tin vào khả năng trở thành con người tốt theo mục đích và nội dung giáo dục

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay tại Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương” được xác lập nghiên cứu

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay trên địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Trang 13

4 Giả thuyết nghiên cứu

Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục hiện nay của học sinh lớp 12 tại địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương ở mức độ chưa cao

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục hiện nay của học sinh lớp 12 tại địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong

đó ảnh hưởng chủ yếu xuất phát từ các yếu tố chủ quan

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như niềm tin, tính hiệu quả, tính hiệu quả của giáo dục, học sinh lớp 12, niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục

- Khảo sát thực trạng niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay trên địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục của học sinh lớp 12 trên địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

- Đề xuất các biện pháp nhằm xây dựng và củng cố niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay trên địa bàn Thị xã

Dĩ An, tỉnh Bình Dương

6 Phạm vi nghiên cứu đề tài

6.1 Nội dung nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu niềm tin của học sinh vào tính hiệu quả của giáo dục hiện nay theo hướng tìm hiểu mức độ tin tưởng của học sinh vào tính hiệu quả giáo dục, không nghiên cứu hiệu quả của giáo dục Việt Nam hiện nay

Trang 14

6.2 Mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên 3 trường THPT trên địa bàn Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương:

+ Trường THPT Dĩ An

+ Trường THPT Nguyễn An Ninh

+ Trường Tiểu học, THCS & THPT Phan Chu Trinh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lí luận trong tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn

7.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Mục tiêu nhằm khảo sát mức độ tin tưởng vào tính hiệu quả của giáo dục hiện nay, các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh lớp 12

Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 12 trên ba trường THPT tại Thị xã

Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Công cụ khảo sát: phiếu thăm dò ý kiến

- Mục đích: khảo sát thực trạng niềm tin của học sinh lớp 12 vào tính hiệu quả của giáo dục

- Nội dung điều tra mức độ hiểu biết và cảm xúc của học sinh lớp 12 về nội dung, giá trị của giáo dục, mức độ ảnh hưởng đến niềm tin của các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, thu thập ý kiến của học sinh về các biện pháp nhằm xây dựng và củng cố niềm tin của các em

Chọn mẫu: 364 học sinh lớp 12

7.3 Phương pháp phỏng vấn

Mục tiêu nhằm bổ trợ để làm rõ hơn các số liệu thống kê thu được thu thập từ phiếu thăm dò ý kiến

Trang 15

Cách thức tiến hành: trao đổi trực tiếp; phỏng vấn gián tiếp bằng văn bản phỏng vấn

Chọn mẫu: các giáo viên tương ứng với ba trường THPT đã phát phiếu thăm dò

7.4 Phương pháp thống kê toán học

Phần mầm thống kê SPSS phiên bản 20.0 được sử dụng để xử lý và phân tích số liệu thu được

Trang 16

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ

CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề niềm tin

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Đây là vấn đề thuộc phạm trù đời sống tinh thần của con người Là một trong những yếu tố tinh thần có vai trò to lớn trong việc tạo ra động lực cho

sự tiến bộ xã hội Thế nên không chỉ được nghiên cứu trong nước ta mà còn được đề cập đến từ rất sớm trên thế giới Vấn đề niềm tin rất rộng về hướng tiếp cận, nội dung phong phú, hình thức biểu hiện đa dạng và mang ý nghĩa sâu sắc, cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Nổi trội nhất là Triết học, Tâm lý học và Tôn giáo

* Bối cảnh lịch sử vấn đề niềm tin

Bước sang thời trung cổ, niềm tin chính thức trở thành một đối tượng nghiên cứu của triết học Đã có sự đấu tranh gay gắt giữa lý tính và niềm tin tôn giáo, cuộc tranh luận giữa phái duy thực và duy danh về cách giải quyết giữa mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin tạo ra hướng giải quyết có lợi cho

Trang 17

tri thức Quan niệm của Tertulian (150 - 220) “Tôi tin vì phi lý”, của Climento (150 - 215) “Không có tri thức thiếu niềm tin, niềm tin thiếu tri thức” và những quan niệm tương tự như vậy của An Kindi, An Mari, Inbo Sina, Inbo Rôsđơ (Averoie)…đã đóng vai trò lớn cho sự hình thành, phát triển

tư tưởng triết học về niềm tin ở Tây Âu

Thời Phục Hưng và cận đại, học thuyết của Đavít Hium, Pôn Hăngri Hônbách (nhà triết học Pháp gốc Đức) về niềm tin là đáng chú ý Đến cuối thế kỉ XVIII, triết học Cổ điển Đức đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của triết học toàn nhân loại Trong số những vấn đề triết học ấy có vấn

đề niềm tin, quan niệm về niềm tin, về vị trí và vai trò của niềm tin trong đời sống con người

Vào thế kỉ XIX, niềm tin mà triết học Mácxit chọn làm đối tượng xem xét khác với những quan niệm về niềm tin trước đó Đại diện là C.Mác, Ph.Angghen, V.I Lenin coi tri thức con người là yếu tố cơ bản cấu thành nên niềm tin Các ông cho rằng, không có tri thức thì không có ý thức và do vậy cũng không có niềm tin Do đó, bản chất của niềm tin là kết quả của quá trình nhận thức thế giới xung quanh và tự nhận thức chính bản thân mình, mang tính năng động, sáng tạo của con người Triết học Mácxit khẳng định niềm tin

có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, tác động mạnh đến hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội (Trịnh Đình Bảy, 2003) Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, lôgíc học, toán học

và tự nhiên học Ông còn được thừa nhận là người sáng lập chủ nghĩa thực dụng Mỹ Về lịch sử khoa học, khi nói về vai trò của khoa học, ông cho rằng, chúng ta không nên biến khoa học thành cái chỉ biết phục tùng niềm tin, mà nên biến khoa học thành cái phục tùng thực nghiệm Năm 1872, lần đầu tiên, ông đưa ra khái niệm “chủ nghĩa thực dụng” và trình bày những tư tưởng cơ bản, quan niệm chủ yếu của mình về chủ nghĩa thực dụng trong báo cáo khoa học tại câu lạc bộ siêu hình thuộc Đại học Harvard Sau đó, báo cáo khoa học

Trang 18

này đã được ông chỉnh lý, bổ sung thành hai bài viết với tên gọi Xác định

niềm tin và Làm thế nào để cho quan niệm của chúng ta được sáng tỏ và lần

lượt cho đăng trên Nguyệt san khoa học phổ thông (số 11 – 1877 và số 1 – 1878) Charles S.Peirce coi mọi tri thức của nhân loại đều là “niềm tin thực dụng”; rằng tri thức chẳng qua chỉ là phương tiện để nhân loại xác định niềm tin và biến niềm tin này thành phương thức hành động (Nguyễn Văn Hùng, 2008)

Karl Jaspers (1883 - 1969) nhà tâm lý học và triết gia người Đức cũng quân tâm đến vấn đề niềm tin Tuy nhiên là ông đề cập đến niềm tin triết học, ông cho rằng: Niềm tin triết học là một hình thức tín ngưỡng, là yếu tính của tương quan giữa ta và siêu việt, là niềm tin của con người vào những khả năng của mình Niềm tin này nói lên tự do tính của con người Quan niệm này cho thấy, với Jaspers thì niềm tin triết học không phải là tri thức, mà là vô thức, tức là một đức tin; nó không có mục đích thay thế đức tin tôn giáo, mà chỉ có ý nghĩa củng cố cho đức tin đó tự vượt lên chính mình; nó là một hành

vi hiện sinh, khi hiện sinh tự ý thức rằng mình sống trong tương quan với siêu việt, trong thực tại của siêu việt (Nguyễn Lê Thạch & Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2010)

- Dưới góc nhìn tôn giáo

James W Fowler (1940 - 2015) là nhà thần học người Mỹ, là giáo sư Thần học và phát triển con người tại Đại học Emory Ông là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu về đức tin và phát triển đạo đức và Trung tâm đạo đức cho đến khi ông nghỉ hưu năm 2005 Ông là một mục sư của Giáo hội Giám

lý Liên hiệp Ông định nghĩa đức tin là một hoạt động tin tưởng, cam kết và liên quan đến thế giới dựa trên một loạt các giả định về cách một người có liên quan đến người khác và thế giới Ông đề xuất một loạt các giai đoạn phát triển đức tin (hay phát triển tâm linh) trong suốt vòng đời của con người như sau:

Trang 19

Giai đoạn 1 Trực giác - hình chiếu: một giai đoạn nhầm lẫn và có độ ấn tượng cao thông qua các câu chuyện và nghi lễ (thời kỳ mẫu giáo)

Giai đoạn 2 Huyền thoại - nghĩa đen: một giai đoạn cung cấp thông tin được chấp nhận để phù hợp với các chuẩn mực xã hội (giai đoạn đi học)

Giai đoạn 3 Tổng hợp - thông thường: đức tin có được được cụ thể hóa trong hệ thống niềm tin với việc từ bỏ nhân cách hóa và thay thế bằng thẩm quyền trong các cá nhân hoặc nhóm đại diện cho niềm tin của một người (tuổi

vị thành niên sớm)

Giai đoạn 4 Cảm ứng - phản xạ: cá nhân phân tích phê phán và chấp nhận đức tin với các hệ thống đức tin hiện có Sự vỡ mộng hoặc củng cố đức tin xảy ra trong giai đoạn này Dựa trên nhu cầu, kinh nghiệm và nghịch lý (tuổi trưởng thành sớm)

Giai đoạn 5 Đức tin kết hợp: con người nhận ra giới hạn của logic và đối mặt với những nghịch lý hay siêu việt của cuộc sống, chấp nhận "bí ẩn của cuộc sống" và thường quay trở lại những câu chuyện và biểu tượng thiêng liêng của hệ thống đức tin được tiếp thu hoặc được thông qua lại Giai đoạn này được gọi là giải quyết thương lượng trong cuộc sống (khoảng tuổi trung niên)

Giai đoạn 6 Phổ cập đức tin: đây là giai đoạn "giác ngộ" nơi cá nhân bước

ra khỏi tất cả các hệ thống đức tin hiện có và sống cuộc sống với các nguyên tắc từ bi và tình yêu phổ quát và phục vụ người khác để nâng đỡ, không phải

lo lắng và nghi ngờ (tuổi trung niên muộn)

Không có quy tắc đơn giản đòi hỏi các cá nhân theo đuổi đức tin phải trải qua tất cả sáu giai đoạn Các giai đoạn từ 2-5 có khả năng cao cho các cá nhân

cố định trong một giai đoạn cụ thể trong suốt cuộc đời Giai đoạn 6 là đỉnh cao của sự phát triển đức tin (Fowler, James W & Robin W Levin, 1984) Trong Phật giáo sơ khai, đức tin tập trung vào Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, nghĩa là Phật Gautama, giáo lý của Phật (Pháp) và cộng đồng những tín

đồ phát triển tâm linh, hoặc cộng đồng tu sĩ tìm kiếm sự giác ngộ (Tăng đoàn)

Trang 20

Niềm tin vào Phật giáo dẫn đến mục tiêu giác ngộ, hay bồ đề và niết bàn Đức tin ngụ ý một hành động kiên quyết và can đảm của ý chí, nó kết hợp ý chí kiên định sẽ làm một điều với sự tự tin rằng có thể làm được điều đó Đức tin được gọi là "hạt giống", và không có nó, thực vật của đời sống tâm linh không thể bắt đầu được Không có niềm tin, người ta có thể, không có gì đáng làm

cả (Conze, E ,1993)

Trong Kitô giáo, đức tin gây ra sự thay đổi khi nó tìm kiếm một sự hiểu biết lớn hơn về Thiên Chúa Đức tin không chỉ là chủ nghĩa trung thực hay sự vâng phục đơn giản đối với một bộ quy tắc hoặc tuyên bố Trước khi Kitô hữu

có đức tin, họ phải hiểu họ có đức tin vào ai và vào những gì Không có sự hiểu biết, không thể có đức tin thực sự, và sự hiểu biết đó được xây dựng trên nền tảng của cộng đồng tín đồ, kinh thánh và truyền thống và kinh nghiệm cá nhân của tín đồ Trong các bản dịch tiếng Anh của Tân Ước, từ "đức tin" thường tương ứng với danh từ Hy Lạp πίστις (pistis) hoặc với động từ Hy Lạp πιστεύω (pisteuo), có nghĩa là "tin tưởng, tin tưởng, trung thành, đáng tin cậy,

để đảm bảo " (James & B O, 2019)

Bahá'í giáo - một tôn giáo độc lập trên thế giới, có nguồn gốc thiêng liêng, phát xuất từ Ba Tư (Iran) Đức Baha’u’llah là đấng Giáo Tổ của tôn giáo Baha’i từ khi lập đạo đã dạy: “Trái đất là một quốc gia, nhân loại là công dân của quốc gia đó” và dạy rằng chỉ có một Thượng Đế duy nhất, biểu hiện liên tục ý chí của Ngài đến với nhân loại qua các Đấng Sứ giả của Ngài như Đức Moses, Đức Krishna, Đức Phật, Đức Zoroaster, Đức Chúa, Đức Muhammad nhằm thăng tiến nền văn minh không ngừng cho nhân loại Trong Bahá'í giáo, đức tin có nghĩa là kiến thức có ý thức và thực hành những việc tốt Theo quan điểm của tôn giáo, đức tin và kiến thức đều cần thiết cho sự tăng trưởng tâm linh Đức tin liên quan nhiều hơn sự vâng phục bên ngoài nhưng cũng phải dựa trên sự hiểu biết cá nhân sâu sắc về giáo lý tôn giáo (Esslemont & John Ebenezer 2006)

Trang 21

- Dưới góc nhìn tâm lý học

Vào thế kỷ XX, các nhà tâm lý học như Erik Erikson (1902-1994), John Bowlby (1907-1990), D W Winnicott, v.v…đã giải thích về sự hình thành niềm tin Các học thuyết cho rằng sự hình thành niềm tin bắt nguồn từ những giai đoạn đầu đời của con người và mối quan hệ với những người xung quanh

Cụ thể là cha, mẹ có sự tác động mạnh mẽ đến quá trình nền tảng của việc hình thành niềm tin vào chính bản thân và các đối tượng khác

Các nhà tâm lý còn bàn về sự tác động của niềm tin trong việc hình thành nhân cách con người Một đóng góp lớn là trong công trình nghiên cứu nhân cách của A G Kovaliov chỉ ra rằng niềm tin là một trong những thuộc tính của xu hướng nhân cách Niềm tin tạo cho con người nghị lực, ý chí để hành động - tác động chiều hướng phát triển nhân cách (Lê Thị Bừng, 2007)

Ở lĩnh vực trị liệu tâm lý, Albert Ellis (1902 - 1994) đã xây dựng phương pháp hành vi cảm xúc hợp lý (Rational Emotive Behaviour Therapy: REBT) năm 1962 Lý luận của ông xuất phát từ quan điểm cho rằng vấn đề của thân chủ (những rối nhiễu cảm xúc) là do những niềm tin sai lệch hoặc những mong muốn thái quá, không phù hợp gây ra Ông cho rằng, rất ít khi do bản thân sự kiện hay tình huống gây ra hậu quả stress - thất bại hoặc bị rối loạn ứng xử, mà chủ yếu là do niềm tin về sự kiện đó gây ra Đối với liệu pháp trị liệu tâm lý này, ông đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của niềm tin trong việc điều chỉnh cảm xúc, hành vi của thân chủ (Trần Thị Minh Đức, 2014)

* Một số nghiên cứu trên thế giới

Sách “Belief, Truth and Knowledge” của tác giả D.M Amstrong là một nghiên cứu trên phạm vi rộng về các khái niệm trung tâm trong nhận thức luận - niềm tin, sự thật và kiến thức Ông đưa ra bản mô tả về niềm tin chung

và kiến thức về các đề xuất chung Niềm tin về các vấn đề thực tế cụ thể được

mô tả như các cấu trúc trong tâm trí của tín đồ đại diện cho hoặc “bản đồ” thực tế, trong khi niềm tin chung là các khuynh hướng mở rộng “bản đồ” hoặc

Trang 22

giới thiệu các mối quan hệ ngẫu nhiên giữa các phần của bản đồ theo các quy tắc chung “Kiến thức” biểu thị độ tin cậy của những niềm tin như là sự thể hiện của thực tế

Năm 1984, Snyder, M trong tác phẩm “When belief creates reality” đã nhấn mạnh rằng các quy trình của tư tưởng xã hội được kết nối mật thiết vào kết cấu của sự tương tác xã hội và các mối quan hệ giữa các cá nhân Các sự kiện của cuộc sống có sự phản ánh niềm tin của một người về những người khác trong thế giới Theo nghĩa này, niềm tin có thể và thực sự tạo ra thực tế Năm 1985, trong tác phẩm “Trust as a Social Reality” của J David Lewis

và Andrew Weigert xem niềm tin là bao gồm cả khía cạnh cảm xúc, nhận thức và hoạt động như một giả định sâu sắc bảo lãnh trật tự xã hội

Năm 1992, trong nghiên cứu “Trust in the Public Sector: Individual and Organizational Determinants” của Carnevale, DG, & Wechsler, B đã thử nghiệm một mô hình hình thành niềm tin trong các tổ chức công cộng Kết quả nghiên cứu này cho thấy niềm tin của tổ chức là một thái độ khác biệt liên quan đến công việc Niềm tin dựa trên nhân khẩu học, khuynh hướng tâm lý

và cá nhân, thái độ và niềm tin và phản ứng có liên quan đến các yếu tố tổ chức Tuy nhiên, các yếu tố quyết định quan trọng nhất của niềm tin được tìm thấy trong môi trường tổ chức được thiết lập bởi các mối quan hệ giám sát Năm 2015, trong nghiên cứu “The role of beliefs in teacher agency” của Gert Biesta, Mark Priestley và Sarah Robinson cho thấy niềm tin đóng một vai trò quan trọng trong công việc của giáo viên, sự không phù hợp rõ ràng giữa niềm tin và giá trị cá nhân của giáo viên và các diễn ngôn và văn hóa thể chế rộng hơn, và thiếu tầm nhìn chuyên nghiệp rõ ràng và mạnh mẽ về mục đích giáo dục cho thấy rằng việc thúc đẩy cơ quan giáo viên không chỉ dựa vào niềm tin mà các giáo viên cá nhân mang lại cho thực tiễn của họ, mà còn đòi hỏi sự phát triển và cân nhắc tập thể

Trang 23

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đến những năm gần đây các nhà khoa học mới quan tâm đến vấn đề niềm tin Các đề tài nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt

là niềm tin với chính trị và niềm tin với tôn giáo,…

Năm 2002, Tác giả Trịnh Định Bảy đã bảo vệ thành công luận án “Niềm tin: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Tác giả đã đưa ra quan niệm về niềm tin, nguồn gốc, bản chất, cấu trúc nội dung của niềm tin Các khía cạnh bản thể luận, nhận thức luận, thực tiễn và giá trị luận của niềm tin Vai trò của niềm tin (đặc biệt là niềm tin khoa học) trong đời sống xã hội và một số giải pháp nhằm củng cố niềm tin Đây là một công trình nghiên cứu nổi trội trong các đề tài nghiên cứu niềm tin, theo khuynh hướng triết học

Năm 2006, Vũ Anh Tuấn đã đăng trong tạp chí tâm lý học chủ đề “Giáo dục và hình thành niềm tin từ hướng tiếp cận tâm lý học” Tác giả đưa ra khái niệm niềm tin, phân loại niềm tin, nêu ra những đặc trưng cơ bản và cơ chế tâm lý của quá trình giáo dục và hình thành niềm tin

* Một số nghiên cứu về niềm tin trong xã hội

Năm 2008, trong nghiên cứu của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh với tác phẩm

“Niềm tin - một giá trị đặc biệt của sinh viên trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã tìm hiểu về những niềm tin của sinh viên, ý nghĩa của niềm tin đối với cuộc sống sinh viên Ngoài ra còn tìm hiểu những biểu hiện mất niềm tin, sai lệch niềm tin và đề xuất một số khuyến nghị để xây dựng niềm tin tích cực cho sinh viên dựa trên kết quả nghiên cứu

Sách “Đi tìm niềm tin thời Internet” (2013) của tác giả Phan Alan đã đặt

ra các vấn đề: Chúng ta sống trong thời đại của Internet, thông tin đầy rẫy nhưng không phải cái gì cũng đáng tin; khi thông tin tràn ngập đủ loại, chúng

ta dễ bị lúng túng Cho nên, dĩ nhiên phải đi tìm niềm tin để định hướng cho nhận thức của mình Nhưng ở một tầng nghĩa khác bao quát hơn, vĩ mô hơn, bài toán này dường như không chỉ giới hạn ở mỗi cá nhân mà đặt ra cho cả

Trang 24

quốc gia, cho cả dân tộc: Nước Việt Nam, dân tộc Việt cần có niềm tin và vững tin vào chính bản thân mình trước vô vàn thử thách của thời đại Internet Năm 2014, Nguyễn Thị Khánh Hòa với đề tài luận án “Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng tin xã hội của người Việt Nam” Tác giả đã chỉ ra 2 khía cạnh

là ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin xã hội và ảnh hưởng gián tiếp đến lòng tin

xã hội thông qua các thành tố của lòng tin Đối với người Việt Nam, các yếu

tố được phân chia một cách tương đối thành ba nhóm: nhóm yếu tố cá nhân, gia đình và cộng đồng/xã hội Trong đó, các yếu tố thuộc nhóm cộng đồng/xã hội thể hiện mức độ ảnh hưởng mạnh nhất một trực tiếp và gián tiếp đến lòng tin xã hội

Năm 2015, tác giả Phạm Liên Kết cũng nghiên cứu về niềm tin xã hội và kết luận rằng niềm tin xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng để phát triển bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng Niềm tin

xã hội trở thành chủ đề nghiên cứu thời sự, có ý nghĩa thực tiễn và chính sách Tác phẩm “Góp phần tìm hiểu cơ sở lý luận nghiên cứu niềm tin xã hội” bước đầu phác thảo cơ sở lý luận nghiên cứu niềm tin xã hội thông qua tìm hiểu và nhận diện nội hàm của khái niệm niềm tin xã hội cũng như một số đặc điểm của nó

* Một số nghiên cứu về niềm tin trong chính trị

Năm 2005, tác giả Luyện Thị Hoàn với luận văn “ Xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên” Tác giả đã làm sáng tỏ nhận thức về niềm tin, đặc biệt là niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội và về quá trình xây dựng niềm tin đó cho sinh viên Đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm góp phần tiếp tục làm tốt hơn việc giáo dục, xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên

Năm 2015, trong luận án “Vấn đề niềm tin trong triết học thực dụng Peirce”, tác giả Nguyễn Hải Hoàng đã chỉ ra tiến trình hình thành, xác định và phân tích được những nội dung cơ bản của khái niệm niềm tin thực dụng ở

Trang 25

Peirce, từ đó đưa ra một số nhận định và đánh giá khách quan về những giá trị, hạn chế và cả những mâu thuẫn đúng với nội dung thực sự của triết học thực dụng nói chung và của quan niệm về niềm tin thực dụng của Peirce

Cùng năm 2015, trong đề tài “Giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên tỉnh Yên Bái hiện nay” tác giả Dương Thị Thúy Tài đã nghiên cứu lý luận chung về giáo dục niềm tin chính trị, các yếu tố cấu thành công tác giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay Khảo sát thực trạng giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên tỉnh Yên Bái, chỉ ra các thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó, phát hiện ra những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên tỉnh Yên Bái hiện nay Đề xuất quan điểm và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục niềm tin chính trị cho thanh niên tỉnh Yên Bái trong thời gian tới

Năm 2017, Nguyễn Quang Hùng với luận án “Niềm tin chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay” Tác giả đã phân tích, làm rõ thực trạng niềm tin chính trị của sinh viên; phân tích các nhân tố tác động đến niềm tin đó, những vấn đề đặt ra và xu hướng biến đổi về niềm tin chính trị Từ đó, đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nằm xây dựng, củng cố niềm tin chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay

* Một số nghiên cứu về niềm tin trong tôn giáo

Năm 2009, Tô Thúy Hạnh với luận văn “Thực trạng niềm tin đối với đạo Tin lành của tín đồ người Hmông ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay” Từ nghiên cứu hiện trạng niềm tin đối với đạo Tin lành, tác giả đề xuất một số kiến nghị bao gồm: tạo điều kiện để dân tộc này nâng cao đời sống kinh tế, cũng như đời sống tinh thần; tuyên truyền giáo dục đồng bào hiểu đúng bản chất của vấn đề niềm tin

Trang 26

Năm 2014, trong bài báo “Thử bàn về niềm tin đời thường và niềm tin tôn giáo”, tác giả Võ Văn Thanh đã khẳng định rằng: “Con người không thể sống

mà thiếu niềm tin dù đó là niềm tin đời thường hay niềm tin tôn giáo Vì thiếu niềm tin, con người sẽ bị lầm lạc, bị chán nãn, bị biến thành những người máy nổi điên mà không sớm thì muộn nó cũng sẽ phá hủy thế giới của nó”

Tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc với chủ đề “Niềm tin tôn giáo trong mối quan hệ với niềm tin xã hội” (2014) trong Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo đã làm sáng tỏ thực trạng niềm tin tôn giáo tại Việt Nam hiện nay Bước đầu lý giải mối quan hệ giữa niềm tin tôn giáo và niềm tin xã hội dưới góc độ niềm tin giữa cá nhân với cá nhân và niềm tin cá nhân đối với các vấn đề xã hội Với bài đăng “Lý trí và niềm tin trong triết học, thần học Thomas Aquino” (2014), Nguyễn Thị Thanh Hải đã tập trung làm rõ quan điểm của Thomas Aquino, một linh mục Dòng Đa Minh, cũng là một nhà thần học và triết học nổi tiếng của chủ nghĩa kinh viện, về mối quan hệ giữa lý trí và niềm tin, mà đằng sau nó là mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo

Năm 2016, trong bài viết “Các công cụ đánh giá niềm tin tôn giáo: Thành tựu và thách thức” Tác giả Đặng Hoàng Ngân và Nguyễn Thị Minh Hằng đã giới thiệu về các công cụ đánh giá niềm tin tôn giáo trong nghiên cứu tâm lý học theo tiếp cận mô hình thứ bậc hai mức độ: Tổ chức tôn giáo và chức năng tôn giáo

* Một số nghiên cứu về niềm tin trong giáo dục

Năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Bình với đề tài “Niềm tin của giáo viên về phương pháp giảng dạy theo đường hướng giao tiếp và hoạt động giảng dạy trên lớp” đã kết luận rằng giáo viên Tiếng Anh của Trường đại học kinh doanh và công nghệ có niềm tin tích cực vào dạy học theo đường hướng giao tiếp và yếu tố học sinh có ảnh hưởng nhiều nhất đến phương pháp dạy học này

Trang 27

Trong nghiên cứu của tác giả Phan Đức Nam với tác phẩm “Niềm tin xã hội về chất lượng giáo dục Đại học ở nước ta hiện nay” (2015) đã cho thấy sự

đa dạng của niềm tin xã hội về chất lượng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay

Sự tin tuởng vào chất lượng giáo dục đại học của một số nhóm xã hội phần nào phản ánh những nỗ lực thay đối của dịch vụ giáo dục đại học trong thời gian qua Tuy nhiên, nổi lên trong bức tranh niềm tin xã hội về chất lượng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay là sự bán tín bán nghi Sự niềm tin (suy giảm) là điều lo ngại nhất trong giáo dục đại học ở nước ta hiện nay Các nhóm xã hội, trong đó đặc biệt là sinh viên hoài nghi về chất lượng giáo dục đại học nước ta hiện nay

Đề tài “Niềm tin của sinh viên sư phạm tiếng Anh đối với tính ứng dụng của phương pháp EIL trong dạy và học kỹ năng nói và viết” của tác giả Vũ Thị Hoàng Mai đã tìm hiểu cách nhìn nhận và niềm tin của sinh viên Sư phạm Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội về tính có thể ứng dụng của EIL trong chương trình học nói và viết tiếng Anh Kết quả của nghiên cứu này được hy vọng có thể hỗ trợ việc xây dựng một chương trình định hướng EIL tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về niềm tin được các tác giả trong

và ngoài nước nghiên cứu rất phong phú và đa dạng Chính từ các công trình nghiên cứu trên đã góp phần hoàn thiện hơn cơ sở lý luận về niềm tin Tuy nhiên niềm tin vào hiệu quả của giáo dục nói chung vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu

Trang 28

quan trọng nhất của niềm tin là tính được tin tưởng

* Khái niệm “Niềm tin” trên thế giới

Theo P.V.Kopnin, người đầu tiên đặt vấn đề hết sức quan trọng về niềm tin với tư cách là một yếu tố đặc biệt của thế giới quan đã định nghĩa: “Niềm tin là tri thức đã chuyển thành tín niệm”

N.I.Lapin quan niệm: “Niềm tin là sự tin tưởng, nó bộc lộ rõ ở kinh nghiệm hằng ngày, trong quan hệ với người khác…Nó có ở con người sớm hơn mọi định hướng khác Niềm tin là hy vọng vào một tương lai tốt đẹp nó bao hàm mọi lý tưởng xã hội, kể cả lý tưởng cộng sản chủ nghĩa”

Theo E.A.Epxtipiepva trong “Hiện tượng niềm tin và tính tích cực của ý thức” thì niềm tin là hành vi chấp nhận một điều gì đó với tư cách là cái đúng (cái có giá trị, cái chính đáng, cái hợp lý) trong điều kiện thiếu vắng hay không thể có căn cứ đầy đủ

V.I.Sincaruc đã đưa ra khái niệm: “Niềm tin là định hướng được đưa ra qua thực tế nhằm đạt tới cái có thể đúng với tư cách là điều đáng tin cậy” (Trịnh Đình Bảy, 2003)

A.V.Petrovski cho rằng, niềm tin là trạng thái tâm lý đặc biệt, thể hiện ở việc con người chấp nhận hoàn toàn không điều kiện các thông tin, văn bản, hiện tượng, sự kiện nào đó, quy định một số hành vi, phán đoán, chuẩn mực ứng xử quan hệ Đối tượng mà cá nhân đặt niềm tin vừa là các sự vật hiện tượng bên ngoài (thông tin, sự kiện, hiện tượng), vừa là kết quả kết quả nhận thức của các cá nhân về các sự kiện (biểu tượng, suy luận của bản thân) Theo nhà tâm lý học người Mĩ J.H.Leuba, niềm tin (bao gồm niềm tin tôn giáo) bao hàm sự tin tưởng vào tính đúng đắn của những phán đoán hay các quan điểm nhất định, tình cảm, nhu cầu của cá nhân, ý chí thực hiện những nhu cầu đó Trong cuốn “Tâm lý học tôn giáo”, niềm tin là định hướng giá trị được xác định vững chắc trong nhận thức và chi phối hành động của cá nhân Niềm tin có vai trò hết sức quan trọng đối với con người Nó có thể làm thay đổi ý

Trang 29

thức, động cơ, tình cảm và lối sống của cá nhân (Tô Thúy Hạnh, 2009)

Robinson (1996) định nghĩa niềm tin: “Bên ủy thác niềm tin mong đợi, tin tưởng và kì vọng bên nhận ủy thác sẽ mang lại những lợi ích, sự thuận lợi, hoặc chí ít cũng không gây ra những bất lợi đối với họ” (Phạm Minh Tiến &

Lê Quốc Hiếu, 2015)

* Khái niệm “Niềm tin” ở Việt Nam

Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng: “Niềm tin là định hướng giá trị vững chắc, chi phối nhận thức và hành vi của cá nhân” Niềm tin là trạng thái tâm lý đặc biệt của con người, thể hiện sự tiếp nhận hoàn toàn và vô điều kiện những thông tin, sự kiện, hiện tượng, kết luận của bản thân - những điều sau này có thể trở thành cơ sở của Cái Tôi của chủ thể, quy định một số cách ứng

xử, hành vi, lập luận hay các mối quan hệ của chủ thể”

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, niềm tin là kết quả làm việc (trước) của ý thức, từ đó biểu tượng của chủ thể về thế giới, về vai trò của chủ thể trong thế giới đó được hình thành Con người càng hiểu biết, thì những kết quả hoạt động của con người càng phức tạp và sẽ càng ít có những niềm tin

mù quáng Niềm tin được hình thành trong hoạt động, giao tiếp, trong các quan hệ xã hội và các trải nghiệm của bản thân Niềm tin trở thành điểm tựa

tinh thần của mỗi người

Sách Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1994 viết: Niềm tin là trạng thái tình cảm cụ thể của con người; đặt hoàn toàn hy vọng vào người nào hay cái

gì đó; cho là đúng sự thật, là có thật

Các tác giả của Sổ tay tâm lý học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm

1991, viết: “Niềm tin là sự định hướng giá trị được xác định vững chắc trong nhận thức và chi phối hành động của cá nhân trong cuộc sống Niềm tin phản ánh sự hiểu biết nhất định của con người về thiên nhiên và xã hội Niềm tin là một trong những phương pháp cơ bản của giáo dục để hình thành nhân cách của con người” (Trịnh Đình Bảy, 2003)

Trang 30

Tác giả Trần Hậu Kiêm và Nguyễn Đình Xuân cho rằng: “Niềm tin là một hệ thống quan niệm, ý tưởng về cái tương lai tươi sáng hơn cái hiện tại” (Trịnh Đình Bảy, 2003)

Ở góc độ tâm lý học, Nguyễn Ngọc Phú cho rằng “niềm tin là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa kiến thức “sự hiểu biết”, tình cảm, ý chí và mang khuynh hướng sẵn sàng thúc đẩy con người hành động phù hợp với những định hướng chuẩn mực giá trị bản thân”

Trong sách tâm lý học đại cương, theo tác giả Lê Thị Hân “Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là sự kết tinh các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí đã được con người trãi nghiệm trong hoạt động sống của mình, trở thành chân lý bền vững trong họ”

Tác giả Lê Thị Bừng đã đưa ra khái niệm “Niềm tin là lòng tin cậy sâu sắc và có lí lẽ vững vàng thể hiện trong nguyên tắc, trong tư tưởng và trong hành động của con người” Niềm tin được xây dựng trên cơ sở thế giới quan Thế giới quan có tính thuần nhất tạo cho con người những quan điểm nhất quán

Từ các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm làm công cụ nghiên cứu

trong luận văn là Niềm tin là những tri thức phản ánh từ thế giới khách

quan kết hợp cùng với những rung cảm đã chuyển thành chân lý bền vững trong mỗi cá nhân Niềm tin là cơ sở tác động mạnh mẽ đến hành vi của con người

Vậy niềm tin mang các đặc tính như sau:

+ Là những tri thức mà con người có được trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

+ Là những rung cảm nảy sinh từ quá trình phản ánh thế giới khách quan + Mỗi người có sự phản ánh thế giới khách quan khác nhau sẽ có niềm tin khác nhau

Trang 31

+ Niềm tin của con người sẽ chi phối hành vi của họ

1.2.1.2 Đặc điểm niềm tin

Xét dưới góc độ niềm tin xã hội, theo tác giả Phạm Liên Kết niềm tin có những đặc điểm như sau: (Phạm Liên Kết, 2015)

- Niềm tin là một giá trị: Trong đời sống xã hội, niềm tin tạo ra giá trị vật

chất lẫn tinh thần

- Niềm tin là vốn xã hội: Niềm tin tồn tại và tạo ra sự gắn kết xã hội

Không có niềm tin, xã hội sẽ không tồn tại, thậm chí sẽ bị sẽ hỗn loạn và khủng hoảng

- Sự biến đổi niềm tin: Có những niềm tin không tồn tại lâu và thay thế

bởi một niềm tin khác Sự biến đổi này có nguyên nhân từ thực tế, bắt nguồn

từ tri thức của con người có sự thay đổi

Theo tác giả Trịnh Đình Bảy, với tư cách là một khái niệm triết học, niềm tin phải thể hiện được một cách đầy đủ cả bốn phương diện cơ bản: bản thể luận, nhận thức luận, giá trị luận và thực tiễn luận Dựa trên phương diện bản thể luận đã vạch ra được những đặc tính cơ bản của niềm tin: tính chỉnh thể, tính ổn định và tính chức năng

- Tính chỉnh thể: niềm tin luôn có xu hướng toàn vẹn không có niềm tin

nửa vời, tin một phần

- Tính ổn định: niềm tin không bị biến đổi trong quá trình vận động Chủ

thể của niềm tin luôn không muốn thay đổi, ngay cả khi vấp phải những sự kiện xáo trộn nhất là lúc chính biến chính trị xảy ra, cũng như xuất hiện những quan niệm mâu thuẫn xã hội gay gắt,…

- Tính chức năng: đem đến sự đền bù, sự phê chuẩn và sự đẩy mạnh tính

tích cực cho chủ thể

Đăc tính đền bù chỉ ra chức năng bổ sung trong điều kiện cuộc sống thiếu thông tin, tình huống không rõ ràng, điều kiện nội tâm căng thẳng, khi con người gặp căng thẳng, thiếu mục đích sống cao cả, nó sẽ đem đến cho con người niềm tin tốt đẹp hơn, hy vọng vào cái gì đó hợp lý, mặc dù hiện tại nó

Trang 32

chưa trở thành hiện thực, v.v…

Đặc tính phê chuẩn là chức năng bảo đảm cho hành vi con người chấp nhận, thừa nhận ý niệm, giá trị, mục đích, biến chúng từ cái đơn giản chỉ mới được chủ thể biết đến thành cái có giá trị đối với chủ thể phản ánh

Đặc tính đẩy mạnh tính tích cực là chức năng quan trọng nhất của niềm tin Người có niềm tin vững chắc sẽ tạo cho chủ thể năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn to lớn, có ý chí mạnh mẽ, nghị lực phi thường

1.2.1.3 Cấu trúc của niềm tin

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Phú “niềm tin là sự hoà quyện một cách hữu

cơ giữa kiến thức “sự hiểu biết”, tình cảm, ý chí và mang khuynh hướng sẵn sàng thúc đẩy con người hành động phù hợp với những định hướng chuẩn mực giá trị bản thân”

Trong khái niệm này đã đưa ra ba yếu tố đặc trưng biểu hiện cho niềm tin: yếu tố thứ nhất là kiến thức (sự hiểu biết), thức hai là tình cảm và thứ ba

là ý chí

Tương tự theo tác giả Lê Thị Hân “Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là sự kết tinh các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí đã được con người trãi nghiệm trong hoạt động sống của mình, trở thành chân lý bền vững trong họ” Khái niệm này cũng nêu ra những yếu tố kết tinh nên niềm tin như: các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí

Phân tích các yếu tố cấu thành niềm tin, tác giả Trịnh Đình Bảy đã nêu ra hai yếu tố đặc trưng cho niềm tin

- Yếu tố cơ bản của kết cấu niềm tin là tri thức, yếu tố quan trọng nhất và cốt lõi nhất

- Yếu tố không thể thiếu của niềm tin là xúc cảm, năng lực cảm nhận thế giới nội tâm của con người

Theo ông để có niềm tin không chỉ cần tri thức, sự hiểu biết - kết quả hình thành thông qua tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc người, mà

Trang 33

còn cần có cả cảm xúc Sự kết hợp tri thức đã đạt được với sự đồng cảm nội tâm (xúc cảm) tạo ra yếu tố tinh thần hết sức quan trọng đối với tồn tại người

Đó là niềm tin

Yếu tố niềm tin là sự kết hợp của nhiều thành phần: hiểu biết sâu sắc về đối tượng, có xúc cảm mạnh (say mê) với đối tượng, sự lặp lại nhiều lần để củng cố Cá nhân không thể tin nếu chỉ từ những hiểu biết đơn thuần mà phải qua những trải nghiệm thực tế Những cảm nhận nhiều lần với đối tượng

là cơ sở hình thành niềm tin (Lý Minh Tiên, 2012)

Kết hợp khái niệm công cụ của đề tài và tiếp cận phân tích cấu trúc của niềm tin theo tác giả Trịnh Đình Bảy Tác giả diễn giải cấu trúc của niềm tin như sau:

Tri thức là thành phần cơ bản của niềm tin, không có tri thức nhận biết

về một người, một sự vật hiện tượng nào đó thì không thể tạo lập được niềm tin vào một người hay sự vật hiện tượng đó Cần phải có sự hiểu biết sâu sắc

về đối tượng

Xúc cảm là yếu tố không thể thiếu của niềm tin Khi tiếp xúc với đối

tượng nào đó khiến ta nảy sinh xúc cảm tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực đều gây ra một niềm tin nào đó Cần có sự thể nghiệm trên đối tượng và nảy sinh cảm xúc

Để tạo được niềm tin, ít nhất cần có hai yếu tố này kết hợp tác động lẫn nhau xây dựng và củng cố niềm tin Niềm tin chỉ có được qua sự thể nghiệm những hiểu biết trong cuộc sống Trong quá trình thể nghiệm, cá nhân gắn hiểu biết lý thuyết với những xúc cảm cụ thể, kiểm nghiệm các tri thức trong thực tiễn (Lý Minh Tiên, 2012)

1.2.1.4 Vai trò của niềm tin

* Về mặt sinh học

Bruce Lipton là nhà sinh vật học tiên phong của Mỹ chủ trương rằng gen

có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường Trong các công trình nghiên cứu

Trang 34

của ông đã chứng minh rằng: Niềm tin của con người có thể thay đổi hoạt động của tế bào con người

Khoa học vẫn luôn tin rằng tế bào của con người được quy định bởi bộ gen Nhưng với nghiên cứu này, nhà sinh vật học đã phá bỏ điều đó

* Về mặt xã hội

Trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Đình Bảy, niềm tin khoa học có những vai trò sau: (Trịnh Đình Bảy, 2003)

- Củng cố thế giới quan khoa học: Thế giới quan là hệ thống quan niệm

của con người về thế giới mà tri thức chỉ trở thành thế giới quan khi và chỉ khi

nó được chuyển thành niềm tin Nhờ có niềm tin mà tri thức đạt được mới trở thành cơ sở hiện thực cho hành động Niềm tin vững chắc thế giới quan càng vững chắc và ngược lại

- Củng cố lý tưởng cuộc sống: lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp

nhất mà người ta phấn đấu để đạt được mặc dù hiện thực chưa được thể hiện một cách đầy đủ Với niềm tin đúng đắn sẽ củng cố quyết tâm, tạo ra nghị lực phi thường cho con người để đạt mục đích cuối cùng

- Tạo ra môi trường phát triển: niềm tin là động lực thúc đẩy, khích lệ

hoạt động sáng tạo của con người, giúp chúng ta tìm ra biện pháp đúng đắn để

đi đến mục tiêu đã định Ngược lại, mất niềm tin con người dễ mất phướng hướng, sinh ra trạng thái chán chường và không đạt được những gì đã định

- Định hướng hành vi, tạo lập nhân cách: hành vi con người có được nhờ

ý thức dẫn đường nhưng để hiện thực được hành vi cần có niềm tin tác động Hành động của chủ thể càng tích cực, nhất quán thì việc tạo lập nhân cách xuất hiện

Theo Anthony Robbins, tác giả của cuốn “Đánh thức con người phi thường trong bạn” cho rằng: “Niềm tin là một mệnh lệnh không thể chối từ đối với hệ thần kinh, và nó có sức mạnh phát huy hay triệt tiêu năng lực hiện tại cũng như trong tương lai của ta Cho nên nếu muốn định hướng cuộc đời

Trang 35

mình, ta phải bắt đầu kiểm soát niềm tin Và để thực hiện điều đó, chúng ta cần phải hiểu chúng thực sự được hình thành từ đâu và bằng cách nào”

1.2.1.5 Phân loại niềm tin

Theo Vũ Anh Tuấn căn cứ vào các khía cạnh khác nhau để phân loại niềm tin (Vũ Anh Tuấn, 2006)

* Căn cứ vào quá trình hình thành niềm tin, niềm tin có 3 mức độ như sau:

- Niềm tin trao đổi: là loại niềm tin giữa hai đối tượng có sự ngang bằng nhau về lợi ích, kiến thức, tình cảm,…

- Niềm tin lý tưởng: là loại niềm tin về những điều tốt đẹp Niềm tin này gây hứng thú cho con người hoạt động theo những điều tốt đẹp đó

- Niềm tin tâm thức: là loại niềm tin có sự hòa quyện cả lý trí và tình cảm, dẫn đến sự say xưa tự nguyện hành động theo niềm tin

* Căn cứ vào sự biểu hiện của niềm tin trong đời sống xã hội giữa con người với nhau, niềm tin được phân thành 3 loại:

- Niềm tin thông thường: là loại niềm tin diễn ra trong đời sống hằng ngày, phản ánh những vấn đề thông thường

- Niềm tin khoa học: là loại niềm tin hình thành căn cứ trên những bằng chứng mang tính khoa học

- Niềm tin tôn giáo: loại niềm tin hình thành từ những điều khoa học không giải thích được dựa vào các thế lực siêu nhiên, mang tính chất thiêng liêng

1.2.2 Tính hiệu quả của giáo dục

1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả

Theo từ điển Tiếng Pháp Lepetit Lasousse (1905) định nghĩa: “Hiệu quả

là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định”

Từ điển Tiếng Việt (2000) định nghĩa: “Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại”

Trang 36

Trong lĩnh vực quản lý hành chính, các nhà quản lý hành chính cho rằng: hiệu quả là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra - đầu vào (Trần Minh Huyền, 2017)

Trong lĩnh vực kinh tế, nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả

là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Theo tác giả Trần Minh Huyền: “Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu, hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định”

Từ các định nghĩa và quan điểm trên, có thể thấy các tác giả tập trung đề giải thích hiệu quả như là kết quả đạt đươc do mục đích, nhiệm vụ của một lĩnh vực nào đó đặt ra

Do vậy, trong đề tài này người nghiên cứu tiếp cận khái niệm hiệu quả

theo Từ điển Tiếng Pháp Lepetit Lasousse (1905) định nghĩa: “Hiệu quả là

kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định”

1.2.2.2 Khái niệm giáo dục

Giáo dục là một khái niệm được hiểu theo nhiều cấp độ rộng, hẹp khác nhau

* Hiểu theo nghĩ rộng, giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của những tác động có mục đích, được tổ chức một cách có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống của các cơ quan chuyên biệt giáo dục và đào tạo (hệ thống trường học và các trung tâm giáo dục của

xã hội như trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm cai nghiện ma tuý v.v.)

* Hiểu theo nghĩ hẹp, giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục dưới ảnh hưởng của những tác động sư phạm của nhà trường chỉ liên quan đến một mặt giáo dục như đạo đức, thể chất, thẩm mĩ

Trang 37

và cả lao động sản xuất

Giáo dục là quá trình truyền thụ và lĩnh hội hệ thống kinh nghiệm xã hội

từ thế hệ trước sang thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội (Trần Thị Hương, Nguyễn Thị Bích Hạnh,

Hồ Văn Liên và Ngô Đình Qua, 2010)

Kinh nghiệm xã hội:

+ Là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức + Là kĩ năng lao động và kinh nghiệm ứng xử; là hiểu biết và thói quen

về cuộc sống; là kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, kĩ năng thích nghi

Tóm lại, giáo dục là một hiện tượng xã hội phức tạp bao gồm rất nhiều yếu tố: gia đình; xã hội; nhà trường; tập thể - cá nhân; người giáo dục - người được giáo dục; giáo viên - học sinh; quản lý giáo dục - tác động giáo dục; lý luận giáo dục - thực tiễn giáo dục Hiện tượng xã hội này xuất hiện và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người và tính phức tạp càng tăng lên theo sự phát triển đó (Nguyễn Thị Ngọc Xuân, 2014)

1.2.2.3 Mục tiêu của giáo dục

Điều 2 của Luật giáo dục 2009 nêu ra mục tiêu của giáo dục:

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Để thực hiện mục tiêu giáo dục trên, nhà trường cần thực hiện nhiệm vụ

cụ thể như sau để phát triển toàn diện nhân cách của học sinh (Trần Thị Hương et al., 2010)

- Đào tạo con người có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp: Giáo dục cho học sinh các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức do xã hội quy định về lối sống, phong cách, thái độ ứng xử trong cộng đồng; hướng

Trang 38

dẫn các em nắm vững hệ thống tri thức khoa học, phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn về tự nhiên, xã hội, con người; hình thành hứng thú, nhu cầu, ý chí, nghị lực, thói quen rèn luyện thể dục thể thao

và giữ gìn vệ sinh để nâng cao sức khoẻ của bản thân; giáo dục năng lực nhận thức và cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, cuộc sống và nghệ thuật cũng như vẻ đẹp chân chính ở chính mình; truyền đạt hệ thống tri thức cơ bản về các loại hình lao động phổ biến, giúp học sinh nắm vững nguyên tắc chung của lao động

- Giáo dục đào tạo con người trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: Giáo dục cho học sinh hiểu và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, những cơ sở pháp luật của hiến pháp, luật pháp hiện hành, có ý thức, hành động và lối sống theo pháp luật

- Giáo dục hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của con người: Bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người công dân; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư sáng tạo, v.v…

- Giáo dục đáp ứng cho yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Giáo dục tính tích cực tham gia các hoạt động lao động, xã hội, chính trị…của học sinh; tạo điều kiện để học sinh vận dụng tri thức, kĩ năng vào cuộc sống, bước đầu đóng góp sức mình xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc

1.2.2.4 Khái niệm tính hiệu quả của giáo dục

Từ các khái niệm trên, ta thấy: “Tính hiệu quả của giáo dục là kết quả

đạt được trong việc thực hiện những nhiệm vụ mà ngành giáo dục đặt ra”

1.2.3 Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam của học sinh lớp 12

1.2.3.1 Khái niệm niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục Việt Nam

Từ khái niệm về niềm tin và tính hiệu quả của giáo dục, tác giả cho rằng:

Trang 39

“Niềm tin vào tính hiệu quả của giáo dục là những tri thức phản ánh từ kết quả đạt được trong việc thực hiện những nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam kết hợp cùng với những rung cảm tích cực đối với kết quả ấy đã chuyển thành chân lý bền vững, là tin vào hiệu quả của giáo dục mang lại”

và bắt đầu hiểu được giá trị những việc mình làm

Xúc cảm có tính ổn định và tính đa dạng Các em đã có thể nhận thức được những nguyên nhân gây nên xúc cảm của mình, có thể hiểu được những tác động của cuộc sống có ý nghĩa gì đối với nhu cầu của bản thân và có thể làm chủ được cảm xúc Xúc cảm của các em thường xuất hiện trong học tập, trong giao tiếp bạn bè, trong giao tiếp với thầy cô và cha mẹ

Do các em có tình cảm đặc biệt với cha mẹ, có trách nhiệm và yêu quý gia đình hơn Nên trong mục đích sống và động cơ học tập của các em luôn có

sự ảnh hưởng từ gia đình Quan điểm của cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ của các em: trong học tập, chọn lựa bạn bè,…

Quan hệ bạn bè cũng giữ vai trò trong đời sống đời sống tình cảm Tuy nhiên, không ảnh hưởng mạnh mẽ như lứa tuổi trước Các em cũng thường trò

Trang 40

chuyện, trao đổi với nhau về những khó khăn Lời khuyên của bạn thân đôi cũng ảnh hưởng đến nhận thức và tình cảm của các em

Hoạt động học tập - hướng nghiệp là hoạt động chủ đạo của thanh niên

HS có liên quan với sự phát triển tự ý thức của thanh niên học sinh Sự mở rộng nội dung học tập bộ môn và tăng cường các hoạt động hướng nghiệp của nhà trường là những cơ hội để HS hiểu biết hơn về bản thân của mình Các

em sẽ chọn lựa những gì mình thích, sẽ nhận ra những gì mình có thể và không thể thực hiện, sẽ biết được đâu là những điều kiện cần và đủ để mình

có thể thực hiện được các mục tiêu mình đề ra Các em sẽ so sánh những phẩm chất tính cách và ý chí, các khả năng và năng lực hiện có của mình với những yêu cầu cụ thể của từng nghề nghiệp mà các em chọn lựa Từ đó, các

em có thể tự xây dựng cho mình một kế hoạch rèn luyện bản thân Học tập - hướng nghiệp là một cơ hội, một động lực, một phương tiện giúp thanh niên

HS hiểu rõ hơn về chính mình (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012)

Nhu cầu quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên HS là được khẳng định bản thân, được tôn trọng, bình đẳng Các em mong muốn thể hiện suy nghĩ của mình, thể hiện hành động và năng lực của mình Đây là lứa tuổi xây dựng quan điểm sống (hình thành thế giới quan) Sự hình thành quan điểm sống của các em chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là hoàn cảnh xã hội các em sinh ra và lớn lên Sự hướng dẫn có định hướng của nhà giáo dục thông qua các bài học, cách sống và cách làm việc của người lớn, hệ thống giá trị mà người lớn xung quanh các em đang theo đuổi có ý nghĩa quyết định sự lựa chọn quan điểm sống, niềm tin và hình thành nhân cách của các em

Tóm lại, trong giai đoạn lứa tuổi này đã có sự hoàn thiện về mặt nhận thức và xúc cảm Điều này dẫn đến việc hình thành những quan điểm sống, niềm tin của các em Có vai trò quyết định đến ý chí và hành động của các em trong tương lai sắp tới

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w