Để tiện theo dõi và tra cứu, chúng tôi sắp các công trình đó thành ba nhóm gồm: Những công trình nghiên cứu về truyện đồng thoại Việt Nam; Những công trình tiếp cận văn học Việt Nam từ g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Lan
TINH THẦN SINH THÁI TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI Ở NAM BỘ
ĐẦU THẾ KỈ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Lan
TINH THẦN SINH THÁI TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI Ở NAM BỘ
ĐẦU THẾ KỈ XXI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THANH TRUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Bùi Thanh Truyền Các số liệu thống kê cũng như các
ý kiến nhận xét nếu không có chú thích trích dẫn, đều được rút ra từ quá trình tìm hiểu đối tượng của bản thân người viết, và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 4 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Thanh Truyền, người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ trong điều kiện tốt nhất
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Xin cảm ơn quý thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Lan
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TINH THẦN SINH THÁI VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 13
1.1 Khái lược về tinh thần sinh thái 14
1.1.1 Khái niệm tinh thần sinh thái 14
1.1.2 Biểu hiện của tinh thần sinh thái trong văn học 15
1.1.3 Tinh thần sinh thái trong phê bình văn học Việt Nam đương đại 17
1.2 Khái niệm và đặc điểm của truyện đồng thoại 19
1.2.1 Khái niệm truyện đồng thoại 19
1.2.2 Đặc điểm của truyện đồng thoại 21
1.3 Truyện đồng thoại – mảng sáng tác quan trọng của văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XXI 24
1.3.1 Cách hiểu về văn học Nam Bộ 24
1.3.2 Truyện đồng thoại trong đời sống văn học Nam Bộ đương đại 27
1.3.3 Triển vọng tiếp cận truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn phê bình sinh thái 28
Tiểu kết Chương 1 31
Chương 2 TINH THẦN SINH THÁI TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI PHI NHÂN LOẠI 32
2.1 Quan hệ cộng sinh, hòa hợp giữa con người và thế giới phi nhân loại 33
Trang 62.1.1 Con người trân quý, sẻ chia với tự nhiên, muôn thú 33
2.1.2 Con người nỗ lực bảo vệ muôn loài, tái thiết lại tự nhiên 38
2.1.3 Con người ăn năn, sám hối về những lỗi lầm
trước Mẹ Thiên nhiên 43
2.2 Quan hệ bất hòa, thù địch giữa con người và thế giới phi nhân loại 44
2.2.1 Con người là tác nhân hủy diệt muôn thú, chối bỏ môi sinh 44
2.2.2 Con người là nạn nhân của tiến trình đô thị hóa 53
2.3 Thông điệp nghệ thuật từ mối quan hệ giữa con người và thế giới
phi nhân loại 57
2.3.1 Thức tỉnh sự tôn trọng, hòa điệu với tự nhiên 57
2.3.2 Khơi dậy trách nhiệm của con người đối với môi trường 60
2.3.3 Trao gởi những bài học giáo dục nhẹ nhàng, sâu sắc 61
Tiểu kết Chương 2 64
Chương 3 TINH THẦN SINH THÁI TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN 65
3.1 Tinh thần sinh thái trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 65
3.1.1 Hệ thống nhân vật 66
3.1.2 Các biện pháp xây dựng nhân vật 70
3.2 Tinh thần sinh thái trong khắc họa không gian nghệ thuật 80
3.2.1 Không gian thôn dã 81
3.2.2 Không gian hoang dã 83
3.2.3 Không gian kì ảo 86
3.3 Tinh thần sinh thái trong ngôn từ nghệ thuật 88
3.3.1 Ngôn từ mang phong cách ngụ ngôn hóa 88
3.3.2 Ngôn từ đậm tính đối thoại và giễu nhại 90
3.4 Tinh thần sinh thái trong tổ chức cốt truyện 95
3.4.1 Kiểu cốt truyện đối thoại 96
Trang 73.4.2 Kiểu cốt truyện phiêu lưu 97
Tiểu kết Chương 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhiệt độ Trái đất tăng, băng tan ở hai cực, không khí ngày càng ô nhiễm,
sự thay đổi của khí hậu,… tất cả như lời cảnh báo nghiêm trọng mà Mẹ Thiên nhiên đang gửi đến cho con người
Mất đi tương lai của mình không giống như thua 1 cuộc bầu cử, hay mất
đi vài điểm trên sàn chứng khoán Tôi ở đây để nói thay cho tất cả các thế hệ tương lai Tôi ở đây để nói thay cho những đứa trẻ đang chết đói
mà không ai có thể nghe được tiếng khóc của chúng Tôi ở đây để nói thay cho vô số loài động vật đang chết dần trên cả hành tinh này
vì không có nơi nào để đi (Bài phát biểu của Severn Suzuki về môi trường, 2014)
Đó là những lời phát biểu đầy ấn tượng của Severn Suzuki, 12 tuổi, tại Hội thảo vì môi trường năm 1992 Có thể thấy không phải đến thời điểm hiện tại, chúng ta mới nói đến vấn đề sinh thái mà đã từ rất lâu rồi những người thực sự quan tâm đến môi trường vẫn đang cố gắng tìm mọi cách để cứu lấy thiên nhiên, cứu lấy chính môi trường sống của chúng ta
Những biến đổi về khí hậu diễn ra trên toàn thế giới đang đe dọa trực tiếp đến sự sống của các loài sinh vật nói chung và con người nói riêng Các nhà khoa học đã chứng minh biến đổi khí hậu diễn ra bởi hai nguyên nhân chủ yếu: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng của con người Trong
đó, nguyên nhân cốt lõi là sự gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là lượng khí CO2 được tạo thành trong quá trình khai thác và sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (dầu
mỏ, than đá, khí tự nhiên,…), phá rừng, chuyển đổi sử dụng đất Đứng trước những nguy cơ ấy, tất cả các ngành nghề, lĩnh vực đã có những động thái tích cực nhằm hạn chế, khắc phục và bảo vệ môi trường sống Văn chương cũng
Trang 9không ngoại lệ, đặc biệt là lĩnh vực sáng tác cho thiếu nhi, trong đó có truyện đồng thoại
Từ lâu truyện đồng thoại được biết đến như một người bạn thân thiết của mọi trẻ em Những câu chuyện ấy không có những mệnh lệnh, những bài học khô khan mà mọi thông điệp giáo dục đều được lồng ghép vào trong câu chữ một cách tự nhiên để cho người đọc tự nhận ra Chính sự khác biệt đó mang đến cho người đọc, đặc biệt là trẻ em, sự thích thú về một thế giới mà ở đấy các sự vật là những người bạn, sự sống và quyền lợi của chúng ngang bằng với con người Thế giới đồng thoại tinh khôi ấy chứa đựng cả một hành trình
đi tìm kiếm bản thân, tìm về với bản thể của cả những người lớn đang ngày ngày phải vật lộn với cuộc sống mưu sinh, thậm chí vì mưu sinh, lợi ích và lòng tham mà sẵn sàng hi sinh sự sống của loài khác Truyện đồng thoại khiến con người hiểu hơn, hay đúng hơn là đặt mình vào vị trí của những loài vật trong tự nhiên để hiểu và yêu thương, tôn trọng chúng như yêu thương, tôn trọng chính bản thân, đồng loại của mình
Có thể nói truyện đồng thoại là một trong những đối tượng nghiên cứu
vô cùng thích hợp và tiềm năng của phê bình sinh thái Khi môi trường sống của chúng ta và các loài vật đang ngày càng bị đe dọa, thì việc giáo dục cho trẻ tình yêu với thiên nhiên là vô cùng cần thiết Hướng đi này sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn mới hơn về truyện đồng thoại Nó không chỉ là những câu chuyện viết cho trẻ em mà còn là những thông điệp về bảo vệ môi trường
Để rồi qua những câu chuyện như thế, các em nhỏ và cả người lớn đọc đồng thoại cũng sẽ tự ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, cùng chung tay bảo vệ vạn vật trong tự nhiên, góp phần duy trì cân bằng sinh thái
Nhận thấy hướng nghiên cứu truyện đồng thoại Việt Nam đương đại dưới góc nhìn của tinh thần sinh thái là một hướng nghiên cứu cần thiết, có phần nào đóng góp cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn, chúng tôi quyết định
Trang 10chọn đề tài: Tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ
XXI
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan Để tiện theo dõi và tra cứu, chúng tôi sắp các công trình đó thành ba nhóm gồm: Những công trình nghiên cứu
về truyện đồng thoại Việt Nam; Những công trình tiếp cận văn học Việt Nam
từ góc độ phê bình sinh thái; Những công trình đề cập đến tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại đương đại ở Nam Bộ
2.1 Những công trình nghiên cứu về truyện đồng thoại Việt Nam
Ở Việt Nam, truyện đồng thoại xuất hiện vào khoảng đầu thế kỉ XX, nhanh chóng phát triển và đạt được những thành tựu nhất định với các tác giả
tiêu biểu như: Tô Hoài (Dế mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa), Võ Quảng (Bài
học tốt, Những chiếc áo ấm, Mắt Giếc đỏ hoe), Nguyễn Đình Thi (Cái Tết của Mèo con),… Gần một thế kỉ qua, những sáng tác này cũng là đối tượng tìm
hiểu của không ít công trình nghiên cứu
Trong luận văn Thế giới nghệ thuật truyện đồng thoại và ý nghĩa giáo
dục đối với học sinh tiểu học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2010),
Lương Thị Thu Huyền đã khảo sát những truyện đồng thoại trong Tuyển tập
truyện viết cho thiếu nhi từ sau cách mạng tháng Tám, trong chương trình
sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 để làm rõ những đặc điểm về nhân vật, kết
cấu cốt truyện, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Qua đó, tác giả chỉ ra giá trị và vai trò của các bài học giáo dục được lồng ghép trong các truyện đồng thoại đối với học sinh tiểu học
Luận án Thể loại truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại của
Lê Nhật Ký (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2011) đã tập trung làm rõ khái niệm, quá trình hình thành và phát triển của truyện đồng thoại Sau đó phân tích hai phương diện nội dung (cảm
Trang 11hứng về thế giới tự nhiên và thế giới con người trong truyện đồng thoại), nghệ thuật (phân tích hệ thống nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ) và vị trí trể loại của truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại
Phát triển và tiếp nối những nghiên cứu của luận án Tiến sĩ năm 2011
với đề tài Thể loại truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2011), Lê Nhật Ký đã mang đến cho người đọc cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về cảm hứng hiện thực, thông điệp giáo dục, hệ thống nhân vật, cốt truyện trong truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại qua công trình nghiên cứu
Truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại (Nxb Giáo dục Việt Nam,
2016) Tác giả còn chỉ ra được sự hình thành và phát triển của chất thơ trong truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại Phân tích những phong cách tiêu biểu trong sáng tác như Tô Hoài, Võ Quảng, Viết Linh, Trần Đức Tiến Qua đó, đưa ra những đóng góp quan trọng của thể loại này trong nền văn học nước nhà
Trong luận văn Đặc điểm ngôn ngữ truyện đồng thoại tiếng Việt (Trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2013), Phan Thanh Hòa đã chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ của thể loại đồng thoại tiếng Việt một cách cụ thể theo hai cấp độ là đặc điểm ngôn ngữ ở cấp độ câu trở xuống (từ ngữ, câu)
và đặc điểm ngôn ngữ trên câu (tổ chức văn bản: kết cấu và liên kết của văn bản)
Luận văn Truyện đồng thoại của Tô Hoài và ý nghĩa giáo dục đối với
học sinh tiểu học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2014) của Nguyễn Thị
Thoa tập trung phân tích các truyện đồng thoại của Tô Hoài từ đó làm nổi bật
ý nghĩa giáo dục của những tác phẩm này đối với học sinh tiểu học
Khóa luận Thế giới nhân vật trong truyện đồng thoại Có hai con mèo
ngồi bên cửa sổ của Nguyễn Nhật Ánh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
2017) của Hà Thị Hoa chủ yếu phân tích về đặc điểm tính cách của hệ thống
Trang 12nhân vật trong truyện Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ từ đó chỉ ra nghệ thuật
xây dựng nhân vật của truyện
Trong bài báo “Nhà văn Bình Định với truyện đồng thoại” (Tạp chí Văn
nghệ Bình Định, số 55 tháng 11.2017), Hà Nhật Lê đã cho thấy được quá
trình phát triển, những thành tựu và sự đóng góp của các nhà văn Bình Định với thể loại truyện đồng thoại trên các phương diện: sáng tác, dịch và nghiên cứu phê bình
Luận văn Hàm ngôn hội thoại trong truyện đồng thoại của Tô Hoài
(Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2017) của Lâm Hồng Linh tập trung làm
rõ về nghĩa hàm ẩn, các phương thức tạo ra hàm ngôn hội thoại trong truyện đồng thoại của tác giả Tô Hoài
Trong “Vì sao trẻ em thích đồng thoại?” (Tạp chí Văn nghệ Bình Định,
số 55 tháng 11.2017), Châu Minh Hùng cho rằng trẻ em yêu thích truyện đồng thoại bởi vì “mỗi câu chuyện mở ra một chân trời khám phá và mộng
mơ cho trẻ em”, góp phần giúp thể loại “mở ra vô hạn trong sáng tạo và tiếp nhận thẩm mỹ” Đồng thời, tác giả cũng khẳng định: “Tôi tin đồng thoại sẽ là
cảm hứng của sáng tác văn học xanh (Green writing) và là đối tượng chính của Phê bình sinh thái (Ecocriticism)”
…
Có thể thấy các công trình nghiên cứu kể trên thường tập trung nghiên cứu và phân tích về nội dung, nghệ thuật của truyện đồng thoại để làm rõ những đặc trưng của thể loại này Các tác giả hầu như chưa đề cập đến vấn đề sinh thái trong truyện đồng thoại, hoặc nếu có thì cũng chỉ đưa ra những định hướng cho nghiên cứu Tuy vậy, những tư liệu này cũng giúp chúng tôi có một cái nhìn đầy đủ hơn về thể loại truyện đồng thoại trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 132.2 Những công trình tiếp cận văn học Việt Nam từ góc độ phê bình sinh thái
Tuy phê bình sinh thái vẫn còn là một ngành nghiên cứu nhiều mới mẻ ở Việt Nam nhưng đã có một số công trình nghiên cứu về lí thuyết phê bình sinh thái đáng chú ý từ các bài báo, tạp chí đến những chuyên luận nghiên cứu, phê bình,… Những tài liệu này đã cung cấp những hiểu biết, những kiến thức nền tảng cũng như giúp người viết biết được các cách tiếp cận và hướng phát triển của phê bình sinh thái Một số công trình nổi bật:
Chuyên luận Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
từ góc nhìn phê bình sinh thái (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2016) của Trần Thị
Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh được phát triển từ Luận án Tiến sĩ cùng tên đã mang đến một cái nhìn bao quát về văn học Việt Nam sau năm 1975 dưới góc nhìn của phê bình sinh thái Chuyên luận cũng chỉ ra sự thay đổi vị thế trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên Từ đó gợi ra những vấn đề mới
cho phê bình văn học theo hướng phê bình sinh thái
Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh
Thy (Nxb Khoa học xã hội, 2017) đã đem đến cho người đọc một cái nhìn đầy
đủ về phê bình sinh thái Tác giả đã chỉ ra những khái niệm về sinh thái học, văn học sinh thái, phê bình sinh thái một cách toàn diện, cũng như phân tích
và chỉ ra được tiềm năng phát triển của văn học sinh thái tại Việt Nam
Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên (Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội, 2017) đã khái quát sự phát triển của phê bình sinh thái cũng như trường ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới Những tri thức lí thuyết mang tính nền tảng về phê bình sinh thái đã được nhóm nghiên cứu cung cấp thông qua việc chọn dịch, tổng thuật một số công trình nổi tiếng của về phê bình sinh thái có uy tín trên toàn thế giới
Mới đây nhất là cuốn Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ của Bùi
Thanh Truyền chủ biên (Nxb Văn hóa – Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 142018) đã cho thấy sự phát triển đầy tiềm năng của khuynh hướng nghiên cứu phê bình sinh thái tại Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu văn xuôi Nam Bộ hiện đại
Từ những công trình nghiên cứu đầy tâm huyết trên có thể thấy những
nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc nghiên cứu về sinh thái trong văn học Việt Nam
Ngoài ra còn có hàng loạt các luận văn, luận án, các bài báo nghiên cứu
về sinh thái trong văn học như:
- Trần Thị Ánh Nguyệt (2014), Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái, đăng trên Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ, tập 17 số X3-2014
- Phạm Ngọc Lan (2016), Tìm về với Mẹ Thiên Nhiên: “Cánh đồng bất
tận” của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái Bài nghiên
cứu đăng trên Văn hóa Nghệ An
- Nguyễn Thị Thúy (2016), Thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác
giả Việt Nam thời trung đại – nhìn từ phê bình sinh thái, Luận văn Thạc sĩ,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
- Nguyễn Thị Quế Vân – Lâm Hoàng Phúc (2017), Sinh thái môi trường
trong văn xuôi Đoàn Giỏi, Tạp chí Khoa học, Đại học Văn Hiến, số 1,
tr.64-69
- Nguyễn Thị Mai Hương (2018), Chủ đề sinh thái trong truyện ngắn
của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ, Đại học
Thái Nguyên
- Phạm Thị Thanh Thủy (2019), Văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn
phê bình sinh thái, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh
- …
Trang 15Những công trình kể trên chính là những tiền đề quan trọng để giúp chúng tôi nhìn nhận đầy đủ, toàn diện hơn trong quá trình tìm hiểu và làm sáng tỏ về tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
2.3 Những công trình đề cập đến tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại đương đại ở Nam Bộ
Một số bài viết nghiên cứu về truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI dưới góc nhìn phê bình sinh thái:
Bài viết của Nguyễn Khắc Phê, Trần Bảo Định – một tác giả đặc sắc
trong dòng “văn học sinh thái” đăng trên Tạp chí Sông Hương năm 2017 đã
phần nào cho chúng ta thấy được tinh thần sinh thái vẫn luôn tồn tại trong các sáng tác của các nhà văn Nam Bộ, đặc biệt là Trần Bảo Định Nhắc đến Trần Bảo Định, ta sẽ nhớ ngay đến những tập truyện mang đậm sắc màu sinh thái
của nhà văn như: Kiếp Ba Khía, Đời Bọ Hung, Phận lìm kìm, Chim phương
Nam,… Nguyễn Khắc Phê đã phân tích và chỉ ra:
Trần Bảo Định cũng “mượn loài vật” để gửi gắm những triết lý về nhân sinh, thời cuộc, nhưng bằng sự tập trung toàn truyện các loài chim trong
Chim phương Nam và nhiều truyện về nhiều loài vật khác trong 3 cuốn sách trước, Trần Bảo Định đã liên tục phát tín hiệu S.O.S kêu cứu cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng khiếp […] (Nguyễn Khắc Phê, 2017)
Tinh thần sinh thái trong thế giới đồng thoại của Trần Đức Tiến của Văn
Thành Lê, được in trong cuốn Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ xuất
bản năm 2018 do Bùi Thanh Truyền chủ biên Trong bài viết của mình, Văn Thành Lê đã nhận định các sáng tác viết cho thiếu nhi của Trần Đức Tiến rất gần với thiên nhiên, thiên nhiên chính là thế giới của các em Tác giả đã chỉ ra rằng trong những truyện đồng thoại của Trần Đức Tiến tinh thần sinh thái vẫn
Trang 16luôn tồn tại để giúp cho các em hiểu được vai trò và nghĩa vụ đối với tự nhiên, cũng như đưa ra những thông điệp về sinh thái
Tuy những bài viết nghiên cứu được kể ở trên có đề cập đến vấn đề sinh thái trong truyện đồng thoại của một số tác giả ở Nam Bộ nhưng do giới hạn của một bài báo nghiên cứu nên vấn đề còn chưa được bàn đến một cách thấu đáo
Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng mang đến một cái nhìn bao quát và thấu đáo hơn về tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn là Tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ
đầu thế kỉ XXI Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng là tinh thần
sinh thái trong truyện đồng thoại được sáng tác bởi các nhà văn sống và làm việc ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI Những truyện này đều đã được in ấn và xuất bản nên có thể đảm bảo độ chính xác về nội dung và hình thức Danh mục các truyện khảo sát được liệt kê cụ thể trong bảng riêng của phần Phụ lục
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên những lí thuyết về phê bình sinh thái, khảo sát nghiên cứu tinh thần sinh thái trong các truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI, chủ yếu tập trung khảo sát các sáng tác của các tác giả: Đặng Chương Ngạn, Lê Hữu Nam, Lưu Thị Lương, Lý Lan, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Trần Thiên Lộc, Trần Bảo Định, Trần Đức Tiến, Võ Diệu Thanh như:
- Đặng Chương Ngạn: Chiếc vòng cổ màu xanh (2019)
- Lê Hữu Nam: Mật ngữ rừng xanh (2015), Cuộc phiêu lưu kỳ thú của
Ếch Xanh cùng những người bạn tuyệt vời (2016), Cuộc phiêu lưu của bầy thần khuyển (2019)
Trang 17- Lưu Thị Lương: Xóm đồ chơi (2008), Trái mận hở rốn (2014)
- Lý Lan: Ba người và ba con vật (2002), Bí mật giữa tôi và Thằn Lằn
Đen (2008)
- Nguyễn Nhật Ánh: Tôi là Bêtô (2007), Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (2012), Chúc một ngày tốt lành (2014), Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng
(2016)
- Nguyễn Trần Thiên Lộc: Lắng nghe muông thú (2007), Những cuộc
phiêu lưu của Mũi Đỏ và Răng Nhỏ (2012)
- Trần Bảo Định: Kiếp Ba Khía (2015), Đời Bọ Hung (2016), Phận lìm
kìm (2017), Chim phương Nam (2017), Ông già Nam Bộ nhiều chuyện – Dấu chưn lưu dân (2017), Ông già Nam Bộ nhiều chuyện – Góc khuất dưới chân đèn (2017)
- Trần Đức Tiến: Làm mèo (2003), Xóm Bờ Giậu (2018)
- Võ Diệu Thanh: Tiền của thần cây (2016), Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm
(2016)
Do phạm vi đề tài rộng và có sự giới hạn về thời gian, nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tác phẩm của các tác giả tiêu biểu trên để đảm bảo chất lượng luận văn Các tác phẩm được lựa chọn đều được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2020 (thời điểm luận văn được thực hiện) Nội dung của các tác phẩm thể hiện được các vấn đề về môi trường, nguy cơ sinh thái, hình thức thể hiện mang tính đặc trưng của truyện đồng thoại Tuy nhiên, mức độ thể hiện của tinh thần sinh thái trong các tác phẩm
sẽ khác nhau tùy theo dung lượng, đối tượng mà tác phẩm hướng đến
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích được sử dụng trong luận văn nhằm phân tích các tác phẩm cụ thể từ đó chỉ ra tinh thần sinh thái trong tác phẩm Sau đó, người
Trang 18viết sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp thành các luận điểm nhằm đưa ra cái nhìn toàn cảnh
4.2 Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống là một trong những phương pháp cơ bản của thi pháp học Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, phương pháp này góp phần vào việc tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật tạo nên tư tưởng sinh thái Cụ thể, người viết đặt truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI trong lịch sử hình thành và phát triển của truyện đồng thoại Việt Nam để thấy được nét tương đồng và điểm khác biệt, độc đáo
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Dưới góc nhìn của phê bình sinh thái, so sánh về loại hình trong cách xây dựng kết cấu truyện, nhân vật để thấy được sự tương đồng và khác biệt trong cách thể hiện tư tưởng sinh thái của từng tác giả Đồng thời đối chiếu các truyện đồng thoại ở thế kỉ XXI với truyện đồng thoại ở thể kỉ XX để thấy được sự phát triển của thể loại
4.4 Phương pháp liên ngành
Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa học, dùng việc phân tích các tác phẩm văn học để chỉ ra những cảnh báo về môi trường Do đó, trong đề tài này, chúng tôi đã vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức của các ngành khoa học khác như sinh thái học, dân tộc học, xã hội học,… để hiểu và lí giải các khía cạnh tư tưởng về sinh
thái của tác phẩm
5 Đóng góp của đề tài
Chỉ ra được những đặc điểm riêng của truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI trong đời sống văn học đương đại Nam Bộ, qua đó khẳng định vị thế của mảng sáng tác này trong bức tranh chung của Văn học Việt Nam thời đổi mới
Trang 19Khẳng định đóng góp của tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở
Nam Bộ đầu thế kỉ XXI đối với “văn học xanh”, khẳng định sự vận động thay
đổi của nền Văn học Việt Nam Công trình có ý nghĩa đóng góp cho lĩnh vực
nghiên cứu văn học
Đối với người nghiên cứu, luận văn có ý nghĩa tiền đề cho nghiên cứu
chuyên sâu về văn học đương đại Việt Nam sau này
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tinh thần sinh thái và truyện đồng thoại Việt
Nam đương đại
Chương này đề cập tới một số vấn đề lí thuyết về tinh thần sinh thái và
truyện đồng thoại Việt Nam đương đại Tất cả những kiến thức lí thuyết được
trình bày ở chương 1 sẽ cung cấp một cách nhìn khái quát, đóng vai trò nền
tảng giúp người viết triển khai hiệu quả chương 2 và chương 3 luận văn này
Chương 2: Tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu
thế kỉ XXI nhìn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới phi nhân loại
Dựa trên tiền đề chương 1, chúng tôi tiến hành phân tích những mối
quan hệ giữa con người với thế giới phi nhân loại được thể hiện qua các
truyện đồng thoại Việt Nam đương đại ở Nam Bộ
Chương 3: Tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu
thế kỉ XXI nhìn từ nghệ thuật thể hiện
Chương này người viết phân tích làm rõ một số phương diện nghệ thuật
trong các tác phẩm truyện đồng thoại như kết cấu, giọng điệu, diễn ngôn,…
có chứa các vấn đề về sinh thái hoặc liên quan đến sinh thái
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TINH THẦN SINH THÁI
VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh công nghiệp mang đến cho con người một cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi về vật chất Tồn tại song song với sự hiện đại ấy là những nguy cơ về sinh thái mà con người phải đối mặt Ý thức được điều đó, các nhà văn đã đưa ra những lời cảnh báo môi trường trong các sáng tác của họ Lúc này, văn học trở thành nơi để thảo luận
và phản biện những thói quen văn hóa, phản biện thuyết loài người là trung tâm Phê bình sinh thái đã đi tìm và chỉ ra tinh thần sinh thái trong các sáng tác văn học ấy
Đồng thoại là một trong những thể loại đặc biệt của văn học, nó thu hút độc giả bởi sự kết hợp nhuần nhụy giữa hiện thực cuộc sống và ước mơ bay bổng Những tác phẩm đồng thoại đa phần đều có cốt truyện rõ ràng, hình tượng sinh động, cụ thể, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp Lịch sử phát triển của thể loại đã ghi nhận sự đóng góp của nhiều cây bút xuất sắc như: Tô Hoài, Võ Quảng, Vũ Tú Nam, Nguyễn Đình Thi,… Trong thành tựu chung của văn học Việt Nam hiện đại, sự hình thành và phát triển của mảng truyện đồng thoại có một ý nghĩa quan trọng
Để làm rõ được những vấn đề liên quan đến tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại, cụ thể là truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI, người viết cần có những tiền đề lí thuyết để làm căn cứ cho phân tích cũng như lựa chọn các tác phẩm khảo sát Vì thế, trong chương này, người viết tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản về tinh thần sinh thái và truyện đồng thoại Việt Nam đương đại có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 211.1 Khái lược về tinh thần sinh thái
1.1.1 Khái niệm tinh thần sinh thái
Phê bình sinh thái (ecocriticism) thuộc hệ hình của phê bình hậu hiện đại, được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ XX Có rất nhiều cách định nghĩa về phê bình sinh thái Một trong những định nghĩa đầy
đủ về phê bình sinh thái đã được đúc kết trong cuốn Rừng khô, suối cạn, biển
độc,… và văn chương như sau:
Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt
là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr.157)
Phê bình sinh thái khẳng định tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên Phê bình sinh thái hiện nay thường được nghiên cứu theo hai bình diện đó là sinh thái học tự nhiên và sinh thái học tinh thần Mục đích của phê bình sinh thái là tìm kiếm trong văn học những thông điệp môi trường để khơi gợi nhu cầu tìm hiểu và khắc phục những thương tổn mà con người đã gây ra cho tự nhiên
Tinh thần sinh thái được hiểu đơn giản là các dấu vết của các vấn đề về sinh thái được thể hiện qua tác phẩm, từ đó làm rõ mối quan hệ của con người với thế giới phi nhân loại Cốt lõi của tinh thần sinh thái trong văn chương là thông qua trường thẩm mĩ ngôn từ để nêu lên, đặt ra những vấn đề quan thiết
về nhận thức, hành xử của con người đối với môi trường sống của bản thân, đồng loại Với nhiều tác giả, khi viết nên những sáng tác của mình, họ chưa
có những khái niệm về văn học sinh thái nhưng các tác phẩm của họ vẫn thấm
Trang 22đượm tinh thần sinh thái khi mang đến cho người đọc một cái nhìn khác về thế giới tự nhiên Từ đó chỉ ra những vấn đề tiềm ẩn, những nguy cơ sinh thái
và nêu cao các thông điệp bảo vệ môi trường, bảo vệ tự nhiên
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ và chính xác về tinh thần sinh thái Vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tạm định nghĩa: Tinh thần sinh thái là những vấn đề về sinh thái được thể hiện qua trường thẩm mĩ ngôn từ của văn chương nhằm làm rõ mối quan hệ giữa con người và thế giới phi nhân loại Qua đó, nó góp phần thay đổi những tư tưởng, quan niệm của con người về thế giới tự nhiên
1.1.2 Biểu hiện của tinh thần sinh thái trong văn học
Tinh thần sinh thái thường được các nhà văn thể hiện qua những chuyện đời thường, vụn vặt nhưng lại liên quan mật thiết đến những vấn đề mang tính thời sự Từ lăng kính của cuộc sống đời thường, những vấn đề về sinh thái như: ô nhiễm môi trường, sự suy giảm thậm chí là diệt vong của hệ sinh thái,… đã được đề cập, làm rõ Qua những tác phẩm của mình, nhà văn muốn gửi gắm ước mơ, mong muốn về một thế giới mà ở đó con người sống hòa thuận với loài vật, với thiên nhiên trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng:
Trời sinh muôn loài chắc là, chẳng phải để giỡn chơi Nếu chẳng phải để giỡn chơi, chắc trời ban mỗi loài có một giá trị về sinh thái và, nó cũng chẳng thể tách rời cả hệ sinh thái trong trời đất Người “nhân danh” sự sống của mình, thay đổi hệ sinh thái thì chính sự thay đổi ấy sẽ từng
bước cướp đi sự sống con người (Trần Bảo Định, 2017, tr.49-50)
Ở phương diện thể loại, tinh thần sinh thái được thể hiện nổi bật qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn Không khó để bắt gặp các trang văn đầy tinh thần sinh thái trong sáng tác của Trần Đức Tiến, Trần Bảo Định, Nguyễn Ngọc Tư, Lê Hữu Nam… Với một tấm lòng yêu thiên nhiên, muôn
Trang 23loài, các nhà văn mượn con vật để nhắc nhở con người, mượn ánh nhìn của loài vật để cất lên những chất vấn về sinh thái
Bên cạnh đó, tinh thần sinh thái thuộc phê bình sinh thái còn được thể hiện qua đặc điểm lệch tâm, tản quyền – một đặc điểm quan trọng của tính giải cấu trúc trong văn học hậu hiện đại Ta có thể dễ dàng thấy được sự phá
vỡ của luận thuyết “nhân loại trung tâm” trong các sáng tác văn học Với đặc điểm này, vị trí trung tâm được chuyển hướng đến giới tự nhiên, đến bối cảnh xung quanh của con người, tạo thành “chủ nghĩa phi nhân loại trung tâm” Đồng thời nó phá vỡ quan niệm con người có khả năng thống trị, quyết định vận mệnh của các loài khác, có quyền thay đổi tự nhiên để bắt tự nhiên phục
vụ cho đời sống của mình “Chủ nghĩa phi nhân loại trung tâm” hướng con người đến với mối quan hệ hòa hợp với thế giới phi nhân loại Con người không còn là trung tâm của vũ trụ, không có quyền đoạt đi mạng sống của bất
kì loài vật nào
Cùng với sự lệch tâm và tản quyền, cái chết của chủ thể là điều không thể tránh khỏi Con người không còn là chủ thể, buộc họ phải từ bỏ những dục vọng thống trị, cưỡng đoạt tự nhiên và đối diện với một thế giới tự nhiên đang
bị tàn phá, hủy diệt, những nguy cơ sinh thái nghiêm trọng Từ cái chết của chủ thể, tinh thần sinh thái mong muốn hạn chế những suy nghĩ, hành động phi lí của con người với thế giới phi nhân loại
Mặt khác, tinh thần sinh thái được thể hiện qua sự lật đổ và tái thiết các quan niệm, tư tưởng Thế giới là một hệ thống phức hợp của con người – xã hội – tự nhiên Vì thế, ngoài việc lật đổ chủ nghĩa nhân loại trung tâm, phủ định quyền làm chủ của con người, tinh thần sinh thái còn tái thiết môi trường thông qua việc thay đổi các quan niệm để chuộc lỗi với thiên nhiên Xây dựng một xã hội phát triển bền vững dựa trên mối quan hệ hòa hợp, tôn trọng giữa con người và tự nhiên
Trang 24Biểu hiện cuối cùng của tinh thần sinh thái được thể hiện qua tính đối thoại Với chủ thể sáng tạo văn học là tự nhiên, tinh thần sinh thái phản đối sự độc đoán, khẳng định tính đa chủ thể, đa thanh Do đó, vận dụng lý luận đối thoại vào văn học sinh thái giúp làm rõ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, khiến chúng ta hiểu hơn về thế giới tự nhiên trước những nỗi khiếp sợ, hoài nghi và sự chạy trốn con người
Có thể thấy với những biểu hiện trên, tinh thần sinh thái đã đem đến cho nghiên cứu văn học một diện mạo mới, đưa văn học vượt ra khỏi ranh giới chuyên môn nhỏ hẹp trở thành một ngành khoa học mở
1.1.3 Tinh thần sinh thái trong phê bình văn học Việt Nam đương đại
Trong cuốn Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ, khi nói về tinh thần
sinh thái trong văn học Nam Bộ, Bùi Thanh Truyền (2018) đã nhận định:
“Tinh thần sinh thái – một yếu tính của văn xuôi hiện đại Nam Bộ” (tr.131)
Nó mang đến một cái nhìn nhân văn và toàn cảnh khi mà sự khủng hoảng sinh thái diễn ra ngày càng trầm trọng
Trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học Việt Nam vẫn luôn tồn tại Trong nghiên cứu văn học dân gian, cảm thức trong mối quan hệ với tự nhiên của con người đó là niềm kính
sợ, tôn sùng tự nhiên trong những tác phẩm sử thi, thần thoại Cảm thức của
sự thống nhất giữa con người và tự nhiên qua thế giới loài vật, thực vật trong
ca dao Trong văn học trung đại, cảm thức giữa con người và tự nhiên là sự hòa điệu Con người đem thiên nhiên thành nơi trú ẩn, cứu rỗi cho tâm hồn khi phải “lánh đục tìm trong” Thiên nhiên còn trở thành người bạn, người chia sẻ nỗi niềm với con người Tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở mức độ “hòa điệu”, thay thế con người bộc lộ tâm tư tình cảm, thiên nhiên vẫn chỉ làm nền cho sự xuất hiện của con người Trong những nghiên cứu về văn học lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945, con người vẫn giữ vị trí trung tâm, việc mô tả tự nhiên chỉ để làm nổi bật những nét đẹp của con người Các công trình nghiên
Trang 25cứu văn học Việt Nam sau năm 1975 cũng cho thấy văn học đã nhìn nhận con người ở khía cạnh tự nhiên, sự gắn bó của con người với đất đai, thiên nhiên
xứ sở đã phần nào chạm đến vấn đề sinh thái Tuy nhiên, phê bình sinh thái chỉ thật sự xuất hiện và để lại dấu ấn trong phê bình văn học Việt Nam từ năm
2011 Phê bình sinh thái Việt Nam ngày càng thu hút sự chú ý của giới chuyên môn với nhiều công trình nghiên cứu chất lượng cũng như mở rộng phạm vi xuất hiện, vươn mình ra thế giới với nhiều bài viết được công bố vào tháng 8 năm 2016, khi Hiệp hội nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường Đông Nam Á (viết tắt là ASLE ASEAN) được thành lập Những điều này đều khẳng định khuynh hướng nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam đã bắt kịp và hòa nhịp cùng với các khuynh hướng đương đại thế giới
Cùng với sự phát triển của khuynh hướng phê bình sinh thái, văn học sinh thái ở Việt Nam cũng ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu của thời đại, phản ánh những sự suy thoái về môi trường sống, những thảm họa sinh thái đang ngày càng rõ nét và nghiêm trọng hơn Khi nhận thức của con người dần thay đổi trước sự tác động bởi “cảm quan nhìn lại” của phê bình sinh thái thì cách nhìn về tự nhiên cũng sẽ thay đổi Nhận thức thay đổi, tạo tiền đề cho hành động thay đổi, con người sẽ có cách ứng xử phù hợp hơn với thiên nhiên Việc truy tìm nguồn gốc của nguy cơ sinh thái đã đặt ra hàng loạt vấn
đề về khủng hoảng môi trường do sự phát triển, mặt trái của văn minh đô thị tạo thành Từ sau năm 1986 đến nay, văn học Việt Nam đã có sự chuyển mình, thay vì đi khám phá vẻ đẹp của tự nhiên, lí tưởng hóa tự nhiên, hoài cảm về những vẻ đẹp cổ truyền của làng quê sang xu hướng phản lãng mạn Các nhà văn lúc này nhìn trực diện vào cuộc sống, bóc tách những sự thật một cách trần trụi về những tác hại mà con người đã đem đến cho tự nhiên và cho chính bản thân mình Từ đó, họ chỉ rõ trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, đồng thời kêu gọi con người phải hành động, phải bảo vệ tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái
Trang 26Như đã nói ở phần trước, nhiều nhà văn khi viết nên tác phẩm chứa đựng tinh thần sinh thái họ vẫn chưa có những ý niệm về sinh thái như một ngành
khoa học Văn Thành Lê (2018) trong bài viết Tinh thần sinh thái trong thế
giới đồng thoại của Trần Đức Tiến cũng cho rằng: “Có thể người viết chưa
tiệm cận những thuật ngữ, như: sáng tác tự nhiên (nature writing), văn học sinh thái (environmental literature) hay ngôn ngữ xanh (green language)”
(tr.216) Nhưng bằng tình yêu với thiên nhiên, các tác giả đã chọn cho mình
cách viết gần với thiên nhiên, kéo người đọc đến gần với thế giới của các loài vật qua những câu chuyện của chính chúng, để hiểu và thấu cảm với vạn vật Chính cách viết ấy đã mở ra một hướng nghiên cứu tiềm năng cho phê bình văn học Việt Nam đương đại nói chung và phê bình sinh thái nói riêng
1.2 Khái niệm và đặc điểm của truyện đồng thoại
1.2.1 Khái niệm truyện đồng thoại
Truyện đồng thoại xuất phát từ văn học dân gian, nổi bật với sự tưởng tượng, hư cấu, thể loại này thành công thu hút sự yêu thích của trẻ em Kế thừa từ dân gian, các nhà văn đã sáng tác nên nhiều tác phẩm truyện đồng thoại dành cho thiếu nhi Ở Việt Nam, cụ thể là ở miền Bắc sau khi tiến lên xã hội chủ nghĩa, nhu cầu văn học cho thiếu nhi trở nên cấp bách, đòi hỏi sự ra đời của một thể loại mới
Thuật ngữ truyện đồng thoại chính thức xuất hiện ở nước ta vào khoảng
đầu những năm 60 của thế kỉ XX Thuật ngữ này ban đầu được xác lập dựa trên cơ sở vay mượn từ bên ngoài Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, người Việt đã tiếp nhận và cấu tạo lại thể hiện cách hiểu riêng của người Việt Nam
Vân Thanh nhận định về truyện đồng thoại trong bài viết Tìm hiểu đặc
điểm truyện đồng thoại (Tạp chí Văn học, số 4, 1974) như sau: “đồng thoại là
một hình thức sáng tác cho trẻ em, trong đó nội dung rất đậm chất mơ tưởng […] Nhưng sự mơ tưởng trong đồng thoại phải là một sự mơ tưởng gắn rất chặt với hiện thực”
Trang 27Theo bài viết Truyện đồng thoại với giáo dục mẫu giáo (Tạp chí Văn
học, số 6, 1993) của Lã Thị Bắc Lý:
Truyện đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và yếu tố tưởng tượng Nhân vật chính là động vật, thực vật và những vật vô tri nhưng được mang tính cách
“người” Nội dung của truyện đồng thoại thường ngắn gọn, vui tươi, dí dỏm, có nhiều yếu tố bất ngờ, dễ thuộc, dễ nhớ
Trong giáo trình Văn học viết cho thiếu nhi (Trường Đại học Quy Nhơn,
2003), Châu Minh Hùng và Lê Nhật Ký lại cho rằng truyện đồng thoại là:
Thể loại văn học được các nhà văn viết riêng cho các em với bút pháp kế thừa từ đồng thoại dân gian gọi là đồng thoại hiện đại Vẫn là truyện lấy loài vật (con vật, cỏ cây, hoa quả…) làm đối tượng miêu tả, với tư cách văn học viết, đồng thoại hiện đại phải mới so với văn học dân gian
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (bản in năm 2012),
đồng thoại là: “Thể truyện cho trẻ em trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa để tạo nên một thế giới thần kì, thích hợp với trí tưởng tượng của các em”
Các khái niệm, cách hiểu ở trên, tuy vẫn có sự khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất khi nói về quan niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam Đó
là thể loại truyện kể hiện đại dành cho trẻ em, hình thức chính là nhân cách hóa loài vật, đồ vật vô tri giác thành các nhân vật chính, có suy nghĩ, tính cách, tâm tư, tình cảm độc lập Truyện đồng thoại có quan hệ gần gũi với nhiều thể loại, nhất là cổ tích và ngụ ngôn
Sự phát triển mạnh mẽ của truyện đồng thoại đầu thế kỉ XXI đã cho thấy khả năng đáp ứng tốt nhu cầu đổi mới của văn học trong bối cảnh hội nhập hiện nay Với ưu thế giàu tưởng tượng, khả năng miêu tả thế giới tự nhiên,
Trang 28đời sống xã hội phong phú, đồng thoại không những phản ánh được đời sống hiện thực mà còn có thể phản ánh những chủ đề to lớn trong cuộc sống Truyện đồng thoại hiện nay đã có những nét mới khi các tác giả chủ động tăng dung lượng tác phẩm, mở rộng ý nghĩa hình tượng để tác phẩm phù hợp với độc giả thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau Trong quá trình tìm hiểu, người viết thấy rằng, nhiều tác giả vẫn giữ nguyên hình thức của truyện đồng thoại tuy nhiên tinh thần câu chuyện không phải để trẻ em suy nghĩ mà hướng tới những vấn đề của thế giới người lớn Tiêu biểu cho cách viết này có thể kể
đến Trần Bảo Định với những câu chuyện như: Chó cứu chủ, Kiếp Ba Khía,
Đời cá Hô, Lia thia Trống, Nhện Chúa ở Hậu Liêu Chùa Nổi, Thần khẩu hại xác phàm, Con cá bống kèo quê ngoại, Điều lươn bông chưa kịp nghĩ, Thát Lát Kỳ Hôn, Mùi thần phục, Chuồn chuồn điểm nước, Chim vịt kêu chiều,…
Bằng hình thức đồng thoại Trần Bảo Định dễ dàng phản ánh hiện thực cuộc sống, nhất là các vấn đề về nguy cơ sinh thái trong các tác phẩm của mình
Từ những quan niệm và thực tế trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết lựa chọn cách hiểu truyện đồng thoại là thể loại văn học hiện đại đặc biệt Thể loại này giàu chất tưởng tượng nhưng những sự tưởng tượng này đều bắt nguồn từ thực tế, được thể hiện dưới hình thức đặc thù là nhân cách hóa loài vật Qua đó, các tác phẩm chứa đựng, truyền tải những triết lí, thông điệp sâu sắc về những vấn đề trong cuộc sống
1.2.2 Đặc điểm của truyện đồng thoại
Truyện đồng thoại là truyện kể về loài vật, thông qua loài vật để nói về cuộc sống của con người, mang đến những bài học giáo dục cho trẻ em Được biết đến là thể loại văn học dành cho thiếu nhi, nên thế giới trong truyện đồng thoại cũng được hình thành và xây dựng theo cách nhìn của trẻ thơ Đó là một thế giới trong trẻo, được đón nhận bằng đôi mắt ngây thơ, hồn nhiên đang từng chút một khám phá, cảm nhận về những điều mới lạ trong thế giới xung quanh
Trang 29Một trong những đặc trưng tiêu biểu của truyện đồng thoại chính là hướng đến giáo dục cho trẻ em Bằng hệ thống nhân vật là các loài vật, cây cối, đồ dùng hằng ngày,… vô cùng thân quen nhưng được xây dựng mới lạ Truyện đồng thoại đem đến cho các em nhỏ những nhận thức lí tính về cuộc sống một cách nhẹ nhàng qua những bài học cụ thể, dễ thấy Đó có thể là bài học về ý thức bảo vệ những loài động vật nhỏ xung quanh:
[…] Chỉ có những con cá lìm kìm nhỏ xíu hiền lành Nếu nhanh tay có thể bụm một bụm nước và vớt được con cá vào lòng bàn tay Nhưng tốt nhất đừng nên bắt cá lìm kìm Nó nhỏ lắm, không ăn được Cá rất dễ thương và yêu dòng sông của nó Nên để nó ở yên với dòng sông của nó
thôi (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18)
Hay cũng có thể là những bài học về cách cư xử trong cuộc sống:
Quấy rầy người khác chỉ để kiếm một miếng ăn, đó là điều chẳng hay ho
gì và bạn tuyệt đối không nên làm dù gươm kề cổ, trừ phi bạn là
cún (Nguyễn Nhật Ánh, 2015, tr.76)
[…] Dù biết bơi nhưng sông nước mênh mông rất nguy hiểm, muốn tắm
phải có người lớn dòm ngó mới an toàn (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.31)
Nét đặc trưng thứ hai trong truyện đồng thoại chính là sự nhân cách hóa
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2012) nhân cách hóa là “gán cho
loài vật hoặc vật vô tri hình dáng, tính cách hoặc ngôn ngữ của con người thật (một biện pháp tu từ trong văn học)” (tr.914) Có thể thấy, đa phần nhân vật trong truyện đồng thoại là loài vật, chúng được xây dựng thành những nhân vật độc lập có suy nghĩ, cảm xúc riêng như con người Chúng cũng biết lắng nghe, cảm nhận thế giới xung quanh:
Trang 30[…] nghe hơi đất ẩm ngoài vườn xộc vào mũi, trong lòng chợt dậy lên một nỗi nhớ xa xăm
Mùi đất nồng, mùi hoa không rõ tên, tiếng lá rơi, tiếng những chồi nấm xuyên qua mặt đất sau mưa, tiếng chim gù từ một gò xa mơ hồ vẳng lại, tất cả không biết đã sống trong tôi từ bao giờ […]
Tôi không nhớ tôi đã nghe tiếng chồi non tách vỏ vào lúc nào, tôi cũng không nhớ tôi đã nghe tiếng chim lích chích mổ hạt từ đâu, nhưng tôi cảm nhận tất cả rõ rệt trong từng mạch máu đang phập phồng bên dưới làn da (Nguyễn Nhật Ánh, 2015, tr.105-106)
Hầu hết những loài vật trong truyện đồng thoại đều quen thuộc, gần gũi với cuộc sống, có tính cách như con người Chúng có thể là các loài vật nuôi trong nhà như chó, mèo,… Hoặc chúng là những động vật nhỏ, côn trùng thường gặp trong môi trường sống của con người như: ếch, thằn lằn, chuồn chuồn,…
Nhân cách hóa loài vật giúp truyện đồng thoại mang đến cho người đọc một cách nhìn nhận khác về thế giới, đánh thức những phần sâu thẳm trong tâm hồn của con người mà không bị ngăn trở Trong thế giới của trẻ thơ, vật
và người là đồng nhất, không có sự khác biệt Do đó, loài vật còn là hiện thân của con người, các em nhìn thấy chính mình trong những câu chuyện về loài vật ấy từ đó liên hệ với bản thân Để rồi qua tấm gương các nhân vật đó mà trẻ em phân biệt được những điều đúng, sai Có thể thấy tính nhân hóa đã giúp truyện đồng thoại mang đậm ý nghĩa nhân sinh
Giàu chất tưởng tượng, hư cấu là đặc trưng thứ ba và cũng là đặc trưng không thể thiếu của truyện đồng thoại Trong thế giới của trẻ thơ, nhận thức lí tính vẫn còn mờ nhạt, các em vẫn đang tìm hiểu và tiếp cận cuộc sống để dần hoàn thiện về tư duy và nhân cách Do đó, cách nhận thức về cuộc sống của
Trang 31các em không giống như người trưởng thành Khi sáng tác truyện đồng thoại cho thiếu nhi, các tác giả đều chú trọng cách cảm nhận của các em để rồi từ những tình huống, sự việc có thực trong cuộc sống hình thành những liên tưởng thú vị và độc đáo, tăng khả năng tưởng tượng và sáng tạo cho thiếu nhi
Chẳng hạn, trong truyện Bí mật giữa tôi và Thằn Lằn Đen bằng sự tưởng
tượng, hư cấu Lý Lan đã tái hiện lại sinh động những quan sát về cuộc sống xung quanh của Thằn Lằn Đen:
Con Thằn Lằn Đen đang buồn!
Nửa đêm nó tặc lưỡi
[…] bò tới bàn học để tìm bạn Nơi đây thường có một chung cư Dế, gồm cả chục hộp thuốc lá và hàng tá Dế đủ loại đủ cỡ, lúc nào cũng lẵng nhẵng, lúc nào cũng sinh sự, không đánh nhau u đầu sứt trán thì cũng cãi
nhau re ré (Lý Lan, 2008, tr.5)
Chính các đặc trưng tiêu biểu trên giúp truyện đồng thoại trở nên khác biệt với những tác phẩm tự sự khác Đây cũng là căn cứ để nhận diện truyện đồng thoại trong các sáng tác văn học
1.3 Truyện đồng thoại – mảng sáng tác quan trọng của văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
1.3.1 Cách hiểu về văn học Nam Bộ
Về vị trí địa lí, Nam Bộ ngày nay là vùng đất gồm 06 tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh) và 13 tỉnh miền Tây Nam Bộ (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long) Nằm trọn vẹn trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long, là vùng đất cửa sông giáp biển đã tạo cho Nam Bộ những đặc điểm văn hóa riêng Trong đó cách ứng
Trang 32xử với thiên nhiên của người dân Nam Bộ cũng có nhiều nét khác biệt so với vùng văn hóa khác Họ sống hài hòa với thiên nhiên và thuận theo tự nhiên dù
có hệ thống kênh đào lên đến 4900km, với hai con sông lớn nhưng không hề
có hệ thống đê như miền Bắc Bữa ăn của người Nam Bộ cũng phong phú hơn nhờ sự đa dạng của các loài thủy hải sản Con người Nam Bộ cũng vô cùng phóng khoáng, hào sảng Tất cả những điều này hình thành nên một Nam Bộ rất riêng, rất đặc trưng
Miền đất Nam Bộ không chỉ được biết đến với sự trù phú của tự nhiên, tính tình phóng khoáng, hào sảng của con người mà còn được biết đến bởi những thành tựu ở lĩnh vực văn học và ngôn ngữ Hơn 300 năm hình thành và phát triển, mảnh đất Nam Bộ đã ghi dấu với kho tàng văn học đồ sộ, đặc sắc, đậm chất phương Nam của vùng đất này Những điều đó đều được tái hiện lại trong các sáng tác văn học Văn học được hiểu là một loại hình sáng tác, tái hiện lại những vấn đề của đời sống xã hội và con người Theo Lại Nguyên Ân (2017), văn học “là nghệ thuật ngôn từ, một trong số các loại hình nghệ thuật (cùng hàng với các loại hình khác: kiến trúc, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, vũ
đạo, nhiếp ảnh, sân khấu, điện ảnh…)” (tr.479) Vì lẽ đó, văn học Nam Bộ là
một phần không thể thiếu, đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại
Văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối thế kỉ XIX, đạt được nhiều thành tựu quan trọng khi sở hữu hàng chục tác gia, hàng trăm bộ tiểu thuyết vào đầu thế kỉ XX với những tên tuổi lớn như: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắc,… Điều này đã đưa văn học Nam Bộ bước những bước tiên phong trong quá trình xây dựng và phát triển văn học Việt Nam hiện đại của văn học thế kỉ XX Từ năm 1932, văn học Nam Bộ vẫn có nhiều bước tiến, với lực lượng sáng tác dồi dào và đạt được những thành tựu đáng kể Sự xuất hiện của những nhà nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp như:
Trang 33Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế, Ca Văn Thỉnh,… đã cho thấy sự trưởng thành của văn học Nam Bộ Văn học Nam Bộ vẫn cố gắng không ngừng khi hòa chung nhịp với sự phát triển của văn học dân tộc, trở thành nguồn tư liệu quý giá lưu giữ những giá trị văn hóa, ngôn ngữ của người Việt ở Nam Bộ
Văn học Nam Bộ được dùng với hàm ý nói về văn học của một vùng văn hóa trên đất nước Việt Nam Hay có thể hiểu đơn giản là các sáng tác của các nhà văn sinh ra, lớn lên hoặc sinh sống ở Nam Bộ Dựa trên tiêu chí này có thể kể đến một số tác giả truyện đồng thoại tiêu biểu như: Trần Bảo Định (sinh ra ở Long An, sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh), Võ Diệu Thanh (sinh ra, lớn lên, sống và làm việc tại An Giang), Lê Hữu Nam (sinh ra
ở Đà Lạt, sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Trần Thiên Lộc (sinh ra ở Bình Định, sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh), Trần Đức Tiến (sinh ra ở Hà Nam, từng sống và làm việc tại Hà Nội, cuối năm 1986 chuyển vào sống ở Vũng Tàu), Nguyễn Nhật Ánh (sinh ra ở Quảng Nam, sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh),… Họ là những người
am hiểu, gắn bó sâu sắc với mảnh đất này Nội dung của các tác phẩm thuộc
về văn học Nam Bộ thường xoay quanh các vấn đề về đời sống xã hội, những nét đặc trưng về thiên nhiên và con người của vùng Nam Bộ hoặc thể hiện những nét đặc trưng trong tính cách, văn hóa của người dân nơi đây Như vậy, văn học Nam Bộ, cụ thể là truyện đồng thoại ở Nam Bộ sử dụng trong phạm
vi của luận văn chỉ là cách nói mang tính chất khoanh vùng để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu
Phạm vi các tác phẩm được người viết lựa chọn là những sáng tác của các nhà văn đang sinh sống và làm việc tại Nam Bộ Để có thể nhận diện và phân loại truyện đồng thoại ở Nam Bộ, người viết chủ yếu tập trung nhận diện thông qua lối viết, lối suy nghĩ mang những dấu ấn của vùng đất Nam Bộ Tất
cả những điều ấy được các tác giả thể hiện trong các sáng tác của mình thông qua nội dung tư tưởng, tính cách con người, suy nghĩ, cách sống, cách sinh
Trang 34hoạt của những nhân vật Cùng với sự xuất hiện của phương ngữ Nam Bộ trong các tác phẩm cũng giúp người viết xác định được đó là truyện đồng thoại Nam Bộ trên phông nền chung của văn học Việt Nam
1.3.2 Truyện đồng thoại trong đời sống văn học Nam Bộ đương đại
Truyện đồng thoại từ lâu đã là một phần không thể thiếu trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học Nam Bộ nói riêng Vùng đất Nam Bộ được biết đến bởi sự trù phú và đa dạng về các loài động, thực vật mà tự nhiên ban tặng Chúng cũng chính là nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều thể loại văn học trong đó có truyện đồng thoại
Truyện đồng thoại vẫn không ngừng phát triển và hoàn thiện, đặc biệt khi bước vào thế kỉ XXI, với những điều kiện thích hợp nên càng được công chúng đón nhận nhiều hơn Với các ưu thế của mình, truyện đồng thoại đã đáp ứng tốt tiêu chí đổi mới của văn học thiếu nhi, trở thành thể loại được công chúng yêu thích Nguyễn Nhật Ánh chính là một trong những tác giả
thành công khi viết truyện đồng thoại Hàng loạt những tác phẩm như Tôi là
Bêtô (2007), Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (2012), Chúc một ngày tốt lành
(2014), Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (2015) đều gây được ấn tượng và
khiến độc giả yêu thích khi xuất bản Dù gây tiếng vang với tiểu thuyết cho
người lớn (Tiểu thuyết đàn bà, 2008) nhưng Lý Lan vẫn rất nhiều duyên nợ với mảng truyện đồng thoại dành cho thiếu nhi Các tập truyện Ba người và
ba con vật (2002), Bí mật giữa tôi và Thằn Lằn Đen (2008),… đã mang người
đọc đến với thế giới trẻ thơ thuần khiết, hồn nhiên Lưu Thị Lương, một cây bút người Hoa ở Sài Gòn, cũng gây ấn tượng cho độc giả nhí với tập truyện
đồng thoại Xóm đồ chơi (2008) Đặc biệt là Trần Đức Tiến với tập truyện
Xóm Bờ Giậu (2018), cuốn sách đạt giải B (không có giải A) sách hay năm
2019 Những cây bút trẻ như Lê Hữu Nam với Hành trình trở về (2013, sau đổi tên thành Cuộc phiêu lưu kì thú của Ếch Xanh cùng những người bạn
tuyệt vời), Mật ngữ rừng xanh (2015), Cuộc phiêu lưu của bầy thần khuyển
Trang 35(2019); Nguyễn Trần Thiên Lộc với Lắng nghe muông thú (2007), Những
cuộc phiêu lưu của Mũi Đỏ và Răng Nhỏ (2012, sau đổi tên thành Mũi Đỏ và Răng Nhỏ),… Họ đã mang đến cho người đọc một thế giới đầy ắp những trải
nghiệm cùng tình yêu thương loài vật vô bờ bến Nếu trước đây truyện đồng thoại chỉ viết cho thiếu nhi, nên dung lượng thường ngắn gọn, tập trung chủ yếu vào bài học giáo dục cho trẻ em thì ngày nay, hàng loạt các tác phẩm đồng thoại với dung lượng lớn đã ra đời Với quy mô lớn, người viết dễ dàng hơn trong việc miêu tả và khắc họa tính cách nhân vật cũng như giúp cho tác phẩm trở nên đa dạng với nhiều lớp nội dung khác nhau Trong các tác phẩm được dẫn ở trên có thể thấy một trong những kiểu truyện được yêu thích của đồng thoại những năm đầu thế kỉ XXI là kiểu truyện loài vật phiêu lưu Đây là kiểu truyện phù hợp với lứa tuổi ham khám phá, tìm hiểu về ý nghĩa cuộc sống và thế giới xung quanh của các em nên dễ dàng thu hút sự chú ý của trẻ
Có thể thấy từ đầu thế kỉ XXI, truyện đồng thoại đã phát triển mạnh mẽ với nhiều tác giả ở nhiều lứa tuổi khác nhau, vùng miền khác nhau ở Nam Bộ Nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.3 Triển vọng tiếp cận truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
từ góc nhìn phê bình sinh thái
Từ sau năm 1986, Việt Nam bước vào thời kì Đổi mới, đồng hành với sự phát triển của kinh tế - xã hội, văn học cũng có những chuyển biến to lớn Theo sự phát triển của thời gian, văn học nói chung và truyện đồng thoại nói riêng ngày càng có những bước tiến vượt bậc cả về nội dung và nghệ thuật Bên cạnh đó, truyện đồng thoại còn giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ em thông qua những thông điệp trong tác phẩm, trong đó nổi bật lên chính
là thông điệp bảo vệ môi trường Các bài học về tình yêu đối với thiên nhiên, loài vật luôn được lồng ghép trong các câu chuyện Trước năm 1945, thể loại
này đã gây được tiếng vang, tiêu biểu có thể kể đến Dế Mèn phiêu lưu kí của
Tô Hoài Tuy nhiên, các hoạt động nghiên cứu về thể loại này lại diễn ra
Trang 36muộn hơn rất nhiều so với thời điểm các tác phẩm đã ra đời Mãi cho đến những năm 60 của thế kỉ XX, truyện đồng thoại mới được giới nghiên cứu chú ý và bàn luận Những tài liệu nghiên cứu về truyện đồng thoại lúc này đa phần là tìm hiểu về khái niệm, thể loại, phân tích hay nghiên cứu về thành tựu của đồng thoại trong mảng sáng tác văn học của thiếu nhi
Nhắc đến truyện đồng thoại, người ta sẽ nghĩ ngay đến một thế giới mà ở
đó con người và muôn thú sống gắn bó, hòa hợp với nhau dựa trên cơ sở là tình yêu thương Truyện viết cho trẻ thơ nên lồng ghép vào truyện là những bài học cho các em về tình yêu với thế giới tự nhiên, với muôn loài, trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ môi trường Tất cả những điều ấy như gắn liền với sinh thái Bằng thể loại truyện đồng thoại, các tác giả đưa các em đến với thế giới của muôn loài, giúp các em hiểu và yêu thương vạn vật nhiều hơn Các sáng tác truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI còn phản ánh thực trạng biến đổi cảnh quan, ô nhiễm của vùng đất, đưa ra những cảnh báo về môi trường
Với hình thức truyện đồng thoại, có tác giả đã viết nên những câu chuyện không chỉ là truyện cho trẻ em mà đó còn là những câu chuyện đồng thoại dành riêng cho người lớn Qua đó, các loài vật quen thuộc với đời sống của người dân Nam Bộ với giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao được cất lên tiếng nói của mình về cách nhìn nhận và đánh giá về loài người, lên án sự tàn nhẫn và thiếu trách nhiệm của con người đối với tự nhiên Hàng loạt những cái tên như Trần Bảo Định, Trần Đức Tiến, Lê Hữu Nam, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Nhật Ánh,… đã để lại trong lòng người đọc những xúc cảm của thế giới trẻ thơ, thế giới loài vật Để rồi sau đó, những câu hỏi đầy day dứt, những chất vấn về lòng tham, sự tàn nhẫn của con người khiến cho chúng ta phải suy ngẫm Bằng hệ thống nhân vật đa dạng, những nét đặc trưng riêng của thể loại đồng thoại cho phép tác giả dễ dàng lồng ghép và thể hiện những thông điệp một cách dễ dàng
Trang 37Có thể thấy việc nghiên cứu truyện đồng thoại từ góc nhìn phê bình sinh thái là vô cùng phù hợp, để làm rõ các mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên, những cảnh báo về nguy cơ sinh thái Vấn đề về sinh thái đã, đang và sẽ ngày càng được quan tâm và chú trọng nhiều hơn nữa khi
mà vấn nạn ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Những câu chuyện đồng thoại
sẽ ngày càng được tiếp nối, hứa hẹn một mảng nghiên cứu cần thiết cho văn học Vì thế việc nghiên cứu truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn phê bình sinh thái là vô cùng triển vọng và cần thiết
Trang 38Tiểu kết Chương 1
Khi thiên nhiên lâm nguy, những vấn đề về sinh thái càng trở nên cấp bách Tinh thần sinh thái được thể hiện ngày càng rõ nét trong các sáng tác văn học, đặc biệt là trong truyện đồng thoại
Nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, mà cụ thể là nghiên cứu tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại đã mở ra một hướng đi mới đầy tiềm năng Truyện đồng thoại mang đậm màu sắc hư cấu, tưởng tượng, với nhân vật chính thường là các loài vật đã góp phần không nhỏ trong việc khơi gợi những vấn đề sinh thái, đưa ra những chất vấn của tự nhiên với con người Nhằm gợi dẫn, tạo tiền đề khoa học cho các phân tích ở những chương sau Trong chương 1, người viết đã lần lượt khái quát một số vấn đề lí thuyết
về tinh thần sinh thái và truyện đồng thoại Việt Nam đương đại Từ đó, cho thấy tiềm năng nghiên cứu của đề tài Mối quan hệ của con người với tự nhiên hay những đặc trưng về nghệ thuật của truyện đồng thoại sẽ được làm rõ trong các chương tiếp theo của luận văn này
Trang 39Chương 2 TINH THẦN SINH THÁI TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI
Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI PHI NHÂN LOẠI
Khi nói đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, các nhà phê bình sinh thái sử dụng thuật ngữ “human” (nhân loại) và “nonhuman” (phi nhân loại/ thế giới phi nhân loại) Trong đó, thế giới phi nhân loại (nonhuman) là thế giới tự nhiên ngoài con người, bao gồm các loài hoa cỏ, cây cối, muôn
thú, hướng đến chủ nghĩa phi nhân loại trung tâm thay vì chủ nghĩa nhân loại
trung tâm Thế giới phi nhân loại trong truyện đồng thoại hiện đại không chỉ
là các loài động vật mà đó còn là các loại thực vật, những đồ vật trong cuộc sống Tất cả chúng đều có suy nghĩ, tiếng nói riêng, là một thực thể độc lập Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được bàn đến từ rất lâu trong văn chương, triết học, mĩ thuật Trước khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật xuất hiện, con người và tự nhiên có mối quan hệ thống nhất, khăng khít Con người tôn trọng, tồn tại và vận động theo quy luật khách quan của tự nhiên
Đó là mối quan hệ hài hòa, cộng sinh giữa con người và thế giới phi nhân loại, sự quan trọng của hệ thống sinh thái, góp phần tác động và làm thay đổi
tư tưởng con người là “chúa tể của thiên nhiên” Nhưng sau khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật diễn ra thành công, con người với mong muốn chinh phục thiên nhiên, cải tạo tự nhiên mạnh mẽ đã khiến cho mối quan hệ này có nhiều thay đổi Để rồi khi khủng hoảng môi trường diễn ra, con người mới thấy được tầm quan trọng của việc bảo vệ và tái thiết tự nhiên
Trong truyện đồng thoại đầu thế kỉ XXI, các tác giả đã đưa ra những vấn
đề về môi trường, những chất vấn về sinh thái thông qua mối quan hệ giữa con người và thế giới phi nhân loại ở hai phương diện hòa hợp và thù địch
Trang 40Qua việc phân tích mối quan hệ giữa con người và thế giới phi nhân loại, người viết mong muốn tìm ra các thông điệp nghệ thuật từ mối quan hệ này
2.1 Quan hệ cộng sinh, hòa hợp giữa con người và thế giới phi nhân loại
2.1.1 Con người trân quý, sẻ chia với tự nhiên, muôn thú
Thiên nhiên là môi trường sống của con người, nó không chỉ cung cấp chỗ ở, thức ăn mà nó còn mang đến sự thanh thản và bình yên trong tâm hồn
con người Trong thế giới đồng thoại, Ý thức sinh thái (Ecological
consciosness) được thể hiện rõ nét Con người là một phần của thế giới, tồn
tại và phát triển cùng tất cả các loài khác Ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cô bé, cậu bé trò chuyện, vui chơi cùng các loài vật, lắng nghe tiếng nói của tự nhiên Với những tâm hồn thuần khiết ấy, thì những loài động vật hay cỏ cây đều có tiếng nói và cuộc sống của riêng mình Chúng cũng có suy nghĩ, có tình cảm, có người thân, gia đình như con người và chúng cần được tôn trọng, đối xử công bằng chứ không phải chỉ là công cụ phục vụ cho tham vọng của loài người
Trong các truyện đồng thoại hiện đại, lắng nghe tiếng nói của tự nhiên là một điều tất yếu Thế giới trẻ thơ với những tâm hồn trong sáng, tràn ngập tình thương với muôn loài giúp cho những đứa trẻ có thể nghe được, hiểu
được tiếng nói của muôn loài Khi Ếch Xanh và Thỏ Trắng (Cuộc phiêu lưu kì
thú của Ếch Xanh và những người bạn tuyện vời) đang hoảng sợ vì chạy trốn
thợ săn thì gặp được những cô bé, cậu bé đáng yêu, “…hai đứa trẻ loài người dịu dàng ôm Ếch Xanh và Thỏ Trắng vào lòng Họ chia nhau nhiệm vụ Cậu
bé trông nom Thỏ Trắng, còn cô bé nhanh nhảu đặt Ếch Xanh lên bàn tay rồi
vuốt ve chú, không hề có ý xấu” (Lê Hữu Nam, 2016, tr.73) Sự thiện ý của
đứa trẻ loài người đã khiến cho Ếch Xanh cảm thấy an tâm vô cùng Con người, nhất là những đứa trẻ, có thể chung sống hài hòa với tự nhiên Vì trong suy nghĩ của chúng không có sự phân biệt giữa người và vật mà chỉ có ta và
bạn Đó cũng là suy nghĩ và tâm trạng của Bòn Bon (Tiền của thần cây) khi