Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của lí thuyết liên văn bản không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn được nghiên cứu trong các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Hồng Vân
CHẤT LIỆU VĂN HỌC TRONG ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM
QUA TRƯỜNG HỢP SONG LANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Hồng Vân
CHẤT LIỆU VĂN HỌC TRONG ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM
QUA TRƯỜNG HỢP SONG LANG
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Người thực hiện
Ngô Thị Hồng Vân
Trang 4tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến NSND TS Bạch Tuyết, Nghệ sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn Leon Quang Lê đã cung cấp những thông tin, tư liệu quý giá cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Phòng Sau đại học Trường Đại học
Sư Phạm TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và cho tôi những hướng dẫn quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh cùng các thầy cô đồng nghiệp thân thiết đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Cuối cùng, xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn yêu thương, quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể chuyên tâm hoàn thành luận văn
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2019 Người thực hiện
Ngô Thị Hồng Vân
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG 10
1.1 Cải biên trong điện ảnh 10
1.1.1 Khái niệm cải biên 10
1.1.2 Khái lược lịch sử cải biên văn học điện ảnh ở Việt Nam 13
1.2 Liên văn bản 21
1.2.1 Vài nét về liên văn bản 21
1.2.2 Một số trường hợp liên văn bản tiêu biểu trong điện ảnh Việt Nam 25
1.3 Leon Quang Lê - Hành trình đến với Song lang 30
1.3.1 Việt kiều Mĩ mơ giấc mộng cải lương 30
1.3.2 Song lang 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 CHẤT LIỆU VĂN HỌC SỬ DỤNG TRONG PHIM ĐIỆN ẢNH SONG LANG 38
2.1 Những vấn đề xung quanh truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy 38
2.1.1 Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy 40
2.1.2 Thơ về Mị Châu - Trọng Thủy 43
2.2 Cải lương Mị Châu - Trọng Thủy 50
2.2.1 Một số vấn đề về cải lương 50
2.2.2 Về trích đoạn Mị Châu - Trọng Thủy được sử dụng trong Song lang 56
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 SONG LANG - NỖI KHẮC KHOẢI GIỮA NGHỆ THUẬT VÀ CUỘC ĐỜI 65
3.1 Linh Phụng - Dũng: Khi cải lương gắn kết hai tâm hồn 65
3.1.1 Linh Phụng - Chàng nghệ sĩ tài hoa 65
Trang 63.2.1 Tự sự điện ảnh 71
3.2.2 Kĩ xảo điện ảnh 89
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào những năm 60 - 70 của thế kỉ XX, lĩnh vực nghiên cứu văn bản đã có những chuyển biến với sự ra đời của những lí thuyết mới, trong đó có lí thuyết liên văn bản Lí thuyết này chú trọng ảnh hưởng giữa các văn bản, tất cả các ngữ cảnh, bất luận là chính trị, lịch sử, xã hội hay tâm lí, nghệ thuật đều có thể trở thành quan
hệ “liên văn bản” với văn bản văn học
Những năm gần đây, những ứng dụng trực tiếp từ lí thuyết liên văn bản trong nghiên cứu và phê bình văn học cũng ngày càng đa dạng, mang lại một tư duy mới trong sáng tạo đồng thời mở ra thêm nhiều hướng nghiên cứu mới Hiện nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của lí thuyết liên văn bản không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn được nghiên cứu trong các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, điện ảnh, sân khấu…Với những tính chất nêu trên, chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu hiện tượng chuyển thể từ góc độ liên văn bản, tức nghiên cứu tác phẩm văn chương dựa trên tác phẩm nguồn cũng như tác phẩm cải biên là một hướng nghiên cứu mới, đang có những bước dạo đầu rộng mở Nghiên cứu theo hướng này đặc biệt cần thiết, bởi liên văn bản không chỉ phản ánh bản chất của các loại văn bản mà còn cho thấy mối tương tác đa dạng, phức tạp giữa các bối cảnh văn hóa mà ở đó các văn bản không ngừng cộng hưởng, giao thoa với nhau Đó cũng là đặc trưng mà liên văn bản rất phù hợp trong nghiên cứu lĩnh vực văn học - điện ảnh
Song song đó, đi cùng với sự phát triển của phim ảnh, đặc biệt là phim điện ảnh thì câu hỏi, làm sao để “Xây dựng một nền điện ảnh Việt Nam tiên tiến, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc” là một câu hỏi khó trong bối cảnh xã hội hiện nay Để thực hiện phương châm đó, điện ảnh gặp những khó khăn riêng Đầu tiên, đây là loại hình du nhập từ phương Tây mới nửa thế kỉ Nó còn khá mới mẻ và thiếu hẳn bề dày truyền thống dân tộc như những loại hình nghệ thuật khác Đồng thời, điện ảnh lại là loại hình đa dạng: vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính kĩ thuật, công nghiệp Vì vậy, điện ảnh đòi hỏi người sáng tác phải có tư duy “hiện đại” chứ không thể tư duy như trong sáng tác văn học nghệ thuật truyền thống
Trang 8Vài năm trở lại đây, đứng trước làn sóng đô thị hóa - xã hội hóa, điện ảnh cũng chịu nhiều ảnh hưởng Những bộ phim điện ảnh được đầu tư kĩ lưỡng, công phu mang tính nghệ thuật vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người xem Thay vào
đó, những bộ phim điện ảnh mang tính giải trí với sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng lại thu hút được khá lớn sự quan tâm của khán giả và đối với những nhà làm điện ảnh truyền thống thì đây là một dấu hiệu đáng lo ngại Vì thế, hai năm trở lại đây, nhà sản xuất Ngô Thanh Vân đã khơi màu cho những giá trị truyền thống dân tộc trong điện ảnh bằng những bộ phim “ nặng kí” được đầu tư công phu và kĩ
lưỡng Ví như Tấm Cám- Chuyện chưa kể, khai thác đề tài truyện cổ tích Cô Ba Sài
Gòn tôn vinh chiếc áo dài truyền thống Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh lấy chất liệu
văn học hiện đại, tôn vinh cảnh đẹp quê hương đất nước…
Từ những đặc điểm, tính chất của lí thuyết liên văn bản, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu các chất liệu văn học khi được chuyển thể sang kịch bản điện ảnh là điều cần thiết, là một hướng nghiên cứu tiềm năng giúp mở ra những giá trị thú vị
về văn hóa, xã hội
Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều thông tư Trong đó có thông tư 04/ TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về Thông tư ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống và hoạt
động giáo dục ngoài giờ chính khóa trong trường học Vì vây, các trường Trung học
cơ sở, Trung học phổ thông nói chung và bộ môn Ngữ Văn nói riêng đã triển khai nhiều hoạt động ngoại khóa nhằm tạo sân chơi bổ ích, lành mạnh, “chơi mà học” cho các em học sinh Trong đó, hoạt động sân khấu hóa, điện ảnh hóa các tác phẩm văn học là hoạt động giúp học sinh phát huy năng lưc, phát huy tư duy sáng tạo và khơi dậy tình yêu văn chương, nghệ thuật khá tốt Ở hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học, học sinh có thể sáng tạo bằng cách tham gia hát, múa, hoạt cảnh, hò đối đáp, diễn kịch Còn với hoạt động điện ảnh hóa tác phẩm văn học, các em học sinh có thể làm những bộ phim ngắn chuyển thể từ các tác phẩm văn học Thông qua các hoạt động trải nghiệm này, học sinh không chỉ nắm chắc nội dung, hiểu rõ
về ý nghĩa của tác phẩm mà còn phải cảm thụ được chất văn học Từ đó, giúp các
em vững vàng hơn trên hành trình tìm hiểu tri thức
Trang 9Từ những định hướng đó, tôi chọn đề tài “Chất liệu văn học trong điện
ảnh Việt Nam qua trường hợp Song lang” để hiểu rõ hơn những giá trị liên văn
bản giữa hai loại hình nghệ thuật tuy gần gũi nhưng cũng có nhiều khác biệt này
2 Lịch sử vấn đề
1 Trong bối cảnh phát triển của văn học thế giới ngày nay, nghiên cứu về chuyển thể, cải biên đã phát triển mạnh mẽ trên cơ sở lí luận liên văn bản Lí thuyết này đi cùng với sự phát triển của điện ảnh đã cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn khi đánh giá về tác phẩm chuyển thể
Thuật ngữ liên văn bản lần đầu được xuất hiện trong công trình nghiên cứu
của Julia Kristeva Từ, đối thoại và tiểu thuyết (1967) Dù là người đầu tiên triển
khai lí thuyết này nhưng Julia không phải là người đầu tiên phát biểu về lí thuyết liên văn bản như một hệ thống lí thuyết mới Tuy nhiên, nguồn gốc đầu tiên sơ khai
của liên văn bản lại gắn với nhà ngôn ngữ học nổi tiếng F Saussure với quyển Ngôn
ngữ học đại cương Saussure viết: “giá trị của bất cứ một yếu tố nào cũng đều có những yếu tố xung quanh quy định” và “tất cả đều dựa trên những mối quan hệ”
(F Saussure, 2011) Nghĩa là không có một kí hiệu nào có giá trị tự thân Mọi kí hiệu chỉ có giá trị trong mối quan hệ giữa nó với các kí hiệu khác trong hệ thống
Về sau, Mikhail Bakhtin đã phát triển lí thuyết về ngôn ngữ của Saussure theo hướng nghiên cứu mới Bakhtin là người đã phát hiện ra tính đối thoại đa thanh trong ngôn ngữ Sự phát hiện mới mẻ này của ông đã mở ra hướng nghiên cứu về ý thức liên văn bản trong nghiên cứu văn học Ngoài ra, một trong những công trình
có sức ảnh hưởng của M Bakhtin là “Những vấn đề thi pháp” Doistoievski M
Bakhtin đã sử dụng khái niệm phức điệu (vốn thuộc lĩnh vực âm nhạc) để khái quát đặc trưng cơ bản của sáng tác Dostoievski Mấu chốt của những quan điểm được đề cập trong công trình này là đặc trưng đối thoại của tiểu thuyết, được ông minh chứng bằng những khái niệm: “đa thanh”, diễn ngôn hai giọng, giọng khác Thực chất của tiểu thuyết phức điệu được Bakhtin chỉ rõ: các thanh âm khác nhau vốn tồn tại một cách độc lập được kết hợp lại trong một thể thống nhất
Theo Bakhtin và nhiều nhà nghiên cứu lí thuyết liên văn bản về sau, tính đối thoại không chỉ giới hạn trong phạm vi những văn bản cùng loại, không đóng khung
Trang 10trong nội bộ văn bản văn học mà còn mở rộng ra các văn bản nghệ thuật (hội họa, điện ảnh, âm nhạc,…), các văn bản địa lí, lịch sử, tôn giáo,… hay nói chung là toàn
bộ sự giao tiếp theo nghĩa rộng của từ này Rõ ràng, bản chất đối thoại của ngôn ngữ theo lập luận của Bakhtin đã “khiêu chiến” với những sự đơn nhất cố định, đặt tính độc đoán, chuyên chế của một diễn ngôn, một văn bản trước nguy cơ bị phá vỡ, bị xuyên thấm
Đồng thời, nhà nghiên cứu Julia Kristeva từng tuyên bố bất kì một văn bản nào cũng được cấu trúc như là sự ghép mảnh của các trích dẫn, bất kì một văn bản nào cũng là sự hấp thu và chuyển đổi của các văn bản khác Từ tuyên bố này của bà
có thể rút ra khái niệm “Liên văn bản là một lí thuyết về văn bản, như một mạng
lưới của những hệ thống kí hiệu được đặt trong mối quan hệ với những hệ thống biểu nghĩa khác hoạt động – cho thấy việc sử dụng kí hiệu một cách lí tưởng - trong một nền văn hóa” Hoặc theo quan điểm của Kristeva cũng có thể kết luận: “Một hệ thống kí hiệu được thâu nhập vào một hệ thống kí hiệu khác và những thay đổi kí hiệu học phát sinh do việc chuyển vị này Liên văn bản xem văn bản như bộ phận của một lĩnh vực rộng lớn, giao cắt của ý nghĩa và biểu hiện, ở đó các giá trị xã hội
và ý tưởng hòa trộn, va chạm lẫn nhau; cũng chính ở đấy, chủ thể con người phải tự định vị để tham gia vào hệ thống văn hóa của họ” (Nguyễn Bỉnh Khôi, 2016, tr.23)
So với Bakhtin, Kristeva đã kế thừa tính biểu nghĩa của ngôn ngữ, đồng thời
là khả năng mở rộng nghĩa của từ, tức là tính “gợi mở” về một cái khác trước đó hoặc đồng thời Chỉ khác là bà nhấn mạnh đến vai trò của tiếp nhận Như thế, ngôn ngữ không bao giờ là “chính nó” Sự tồn tại của ngôn ngữ lúc nào cũng song hành với “sự kiểm chứng” từ những nét văn hóa và tập tục bên ngoài Quan niệm này của Kristeva đã cho thấy sự tiếp thu có sáng tạo của bà đối với lí thuyết về nguyên tắc đối thoại của Bakhtin
Một vài năm sau nghiên cứu của J.Kristeva, Roland Barthes cũng đã nói về
lí thuyết liên văn bản trong Đại Bách khoa toàn thư thông dụng (1973):
“Mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác, nhưng không
nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó; mọi sự tìm kiếm “cội nguồn” và “ảnh hưởng” là phù hợp với huyền
Trang 11thoại về quan hệ huyết thống của tác phẩm, văn bản thì lại được tạo nên từ những trích đoạn vô danh, không nắm bắt được nhưng đồng thời lại đã từng được đọc - những trích đoạn không để trong ngoặc kép”(Roland Barthes,
2 Nghiên cứu về mối liên hệ giữa văn học và điện ảnh là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây Có thể thấy
số lượng các công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh khá nhiều Tuy nhiên số lượng các công trình được dịch sang tiếng việt lại còn khá hạn chế
Trong đó, công trình nghiên cứu: Văn học với điện ảnh (I Vaisphen, M
Rôm, I Khayphitxo, Nxb Văn học 1961) có thể được coi là công trình đầu tiên được
dịch sang tiếng Việt
Một công trình nghiên cứu khác mang tính chuyên biệt về chuyển thể được
đánh giá cao là Lí thuyết về chuyển thể của Linda Hutcheon do Hoàng Cẩm Giang,
Phạm Minh Điệp dịch và Trần Nho Thìn hiệu đính Trong quyển sách này, tác giả
đã trình bày các lí thuyết về khái niệm chuyển thể và phân tích chuyển thể với tư cách là sản phẩm cũng như quá trình, lí do chuyển thể, tính chủ ý trong tác phẩm chuyển thể, những trường hợp không được gọi là chuyển thể và sức hút của chuyển thể
Ngoài ra còn có quyển Nghệ thuật điện ảnh của David Bordwell, Kristin
Thompson do Đỗ Thu Hà, Nguyễn Liên, Nguyễn Kim Loan, Ngô Tự Lập, Trần Nho Thìn, Trần Hải Yến dịch và hiệu đính
Trang 12Hai công trình nghiên cứu quan trọng khác không thể không nhắc đến:
Chuyển thể văn học điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản) do Lê Thị Dương chủ biên; Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam của Ngô Phương Lan Đây là
những công trình đã giới thiệu và phân tích khá sâu sắc mối quan hệ giữa văn học và
điện ảnh theo các hướng nghiên cứu, các bình diện khác nhau Quyển Chuyển thể
văn học điện ảnh đã chỉ ra những khởi nguồn và phát triển của lí thuyết liên văn bản
ở phương Tây cũng như ở Việt Nam và tập trung nghiên cứu cách tiếp cận chuyển thể từ lí thuyết liên văn bản với hai hướng chính là: chuyển thể “trung thành” và chuyển thể tự do Đặc biệt, tác giả Ngô Phương Lan đã chỉ rõ tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam vài chục năm trở lại đây Trên cơ sở tính hiện đại
và tính dân tôc, công trình nghiên cứu đã phân tích tính hiện đại và dân tộc của một
số phim điện ảnh Việt Nam và đối chiếu, phân tích với một số bộ phim kinh điển của Châu Á Tác giả cũng đã đề ra những biện pháp mới để tìm hướng đi cho nền điện ảnh Việt trên cơ sở “hòa nhưng không tan” theo nền kinh tế thị trường
Ở nước ta, ít năm trở lại đây, nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh ngày càng được quan tâm nhiều hơn khi trên phim trường ngày càng có nhiều tác phẩm văn học được chuyển thể sang kịch bản điện ảnh, nhận được sự yêu
thích, đánh giá cao của giới chuyên môn như: Mê Thảo - Thời vang bóng (2003),
Mùa len trâu (2004), Chuyện của Pao (2007), Trăng nơi đáy giếng (2008), Cánh đồng bất tận (2010), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015)… đã chứng tỏ sự đóng
góp của văn học cho nền điện ảnh nước nhà
Quan trọng hơn đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm văn học
điện ảnh, cụ thể như luận văn thạc sĩ Chuyển thể điện ảnh tiểu thuyết Lolita của V
Nabokov (2013) đã khái quát một số đặc điểm của việc chuyển thể tác phẩm của
Nabokov sang điện ảnh qua việc so sánh tác phẩm văn học với tác phẩm điện ảnh
Tiến sĩ Phan Bích Thủy với luận văn Nhân vật trung tâm từ tác phẩm văn học đến
tác phẩm điện ảnh (2005) đã hệ thống lại những điểm giống và khác nhau trong việc
xây dựng hình tượng nhân vật từ tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh và luận
án tiến sĩ “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh: Khảo sát việc chuyển thể
tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sử văn học và điện
Trang 13ảnh Việt Nam”(2012) đã đi sâu tìm hiểu quá trình chuyển thể từ tác phẩm văn học
sang phim điện ảnh và sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học với điện ảnh
Một luận án tiêu biểu khác nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh
của nhà nghiên cứu Đào Lê Na là Lý thuyết cải biên học: Từ tác phẩm văn học đến
tác phẩm điện ảnh - Trường hợp Kurosawa Akira” (2015), sau này đã được in thành
sách Chân trời của hình ảnh Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp
Kurosawa Akira Luận án đã nghiên cứu việc cải biên tác phẩm văn học thành tác
phẩm điện ảnh từ góc độ lí thuyết qua các trường hợp cụ thể Luận án đã tập trung
vào các vấn đề như sau:
Các lý thuyết phức hợp của cải biên học gồm: Liên văn bản, Phiên dịch học, văn hóa học và Giải kiến tạo; Lí thuyết cải biên học nhìn từ lịch đại; Lí thuyết cải biên học từ tác phẩm văn học của Kurosawa Akira
Ngoài ra còn có một số công trình khác nghiên cứu về điện ảnh như: Không
gian nông thôn qua một số tác phẩm điện ảnh chuyển thể” (Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê, Cánh đồng bất tận ) - Hoàng Thị Dung (2014) Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự)- Đỗ Thị Ngọc Diệp
(2010)…
3 Ở nước ta, bộ phận văn học sân khấu truyền thống trong văn học sử Việt Nam được khởi thủy từ thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Xét từ khía cạnh khu vực, đất nước và văn hóa Trung Hoa đã để lại ảnh hưởng nhất định lên tập quán sáng tác và lối tư duy của văn chương người Việt Điều này chúng ta có thể thấy rõ văn chương sân khấu là một bộ phận của văn học sử Trung Quốc Ngay từ thời Thanh (Trung Quốc) các nhà làm văn học sử đã chia văn học thành bốn loại chính: thi ca, văn
xuôi, tiểu thuyết, kịch Vào năm 2001, trong cuốn Lịch sử Văn học Trung Quốc
nhóm tác giả Phương Tây đã căn cứ vào tiêu chí thể loại để xây dựng nên cái nhìn
về văn học sử Trung Quốc, dành phần V để đánh giá văn học kịch, chia hai phần (truyền thống và hiện đại) Ở các nước khác trong khu vực, cũng không khó để nhận thấy sự hiện diện của văn học sân khấu như văn học Triều Tiên, Nhật Bản
4 Bộ phim Song lang từ khi ra đời đến nay đã tròn năm và có khá nhiều bài báo đánh giá, nhận định về bộ phim Tiêu biểu như: Phim Song lang khắc họa mối
Trang 14tình đồng tính (https://vnexpress.net), Song lang: khi cải lương gắn kết và mở lối cho những tâm hồn cô độc (https://news.zing.vn) Ngoài ra còn có các bài viết bình
luận về phim được đăng trên các diễn đàn về phim ảnh Vào tháng mười một năm
2019, đạo diễn Leon Quang Lê đã xuất bản quyển sách Song lang – Một năm nhìn
lại Quyển sách là tập hợp các bài viết, nhận định của các nhà phê bình về phim Song lang và một số hình ảnh hậu trường, hình ảnh đẹp của bộ phim
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên tinh thần vận dụng lí thuyết cải biên, liên văn bản, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu vào các đối tượng chính như sau: lí thuyết cải biên, lí thuyết liên
văn bản và chất liệu văn học trong phim Song lang
Về phạm vi tư liệu, luận văn khảo sát các chất liệu văn học được sử dụng
trong phạm vi bộ phim điện ảnh Song lang và đối chiếu với mốt số bộ phim khác
được cải biên từ văn học Việt Nam
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về “Chất
liệu văn học trong điện ảnh Việt Nam qua trường hợp Song lang” để thấy được sự
cải biên và yếu tố liên văn bản từ tác phẩm văn học đến các vở cải lương và phim điện ảnh Qua đó, người viết mong muốn giúp đối tượng học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông có những trải nghiệm sáng tạo, “học mà chơi” trong việc tiếp cận với bộ môn Ngữ Văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học sau: -Phương pháp so sánh đối chiếu: đây là phương pháp quan trọng, được người viết sử dụng trong toàn bộ công trình nghiên cứu Phương pháp này giúp đánh giá một tác phẩm văn học chuyển thể sang tác phẩm có gì giống và khác nhau và đối chiếu với một số tác phẩm điện ảnh khác, có cùng motif
-Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích sự giống và khác nhau giữa các tác phẩm văn học và kịch bản văn học chuyển thể Từ đó đưa ra các kết luận về
sự tương đồng, khác biệt cũng như ưu, khuyết điểm của việc chuyển thể
Trang 15-Phương pháp liên ngành văn hóa học: nghiên cứu liên văn bản để tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và kịch bản văn học, sự chuyển thể tác phẩm văn học thành kịch bản cải lương và kịch bản điện ảnh
-Phương pháp nghiên cứu loại hình: tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của văn học, kịch bản văn học cũng như mối quan hệ của chúng
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về các chất liệu văn học được sử
dụng trong bộ phim điện ảnh Song lang Trong đó, luận văn làm sáng tỏ yếu tố liên
văn bản từ văn học sang sân khấu và điện ảnh Đồng thời, luận văn chỉ ra những giá
trị điện ảnh mà đạo diễn muốn gửi gắm đến người xem qua bộ phim Song lang
Chúng tôi tin tưởng sau khi hoàn thành, đây sẽ là một công trình hữu ích trong việc nghiên cứu chuyển thể từ tác phẩm văn học sang tác phẩm cải lương và điện ảnh
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có phần Mở đầu, Kết luận và ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết chung
Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát về lí thuyết văn học và một
số lí thuyết về điện ảnh, cũng như mối liên hệ đặc biệt giữa văn học và điện ảnh Ở phần này người viết chú trọng trình bày về quá trình thai nghén và thực hiện bộ
phim Song lang của đạo diễn Leon Quang Lê và Nghệ sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc
Chương 2: Chất liệu văn học được sử dụng trong phim điện ảnh Song lang
Trong chương này, chúng tôi chú ý làm rõ các chất liệu văn học được sử
dụng trong phim Song lang Trong đó, chú trọng nghiên cứu chất liệu văn học trong
tác phẩm Mị Châu - Trọng Thủy và vở cải lương cùng tên Đồng thời, bài viết cũng trình bày khái quát sự hình thành và phát triển của sân khấu cải lương từ khi hình thành cho đến nay
Chương 3: Song lang - Nỗi khắc khoải giữa nghệ thuật và cuộc đời
Trong chương cuối này, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai nhân vật chính của bộ phim là Dũng và Linh Phụng, đồng thời phân tích những kĩ xảo điện ảnh tiêu
biểu đã góp phần làm nên thành công của bộ phim
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG
1.1 Cải biên trong điện ảnh
1.1.1 Khái niệm cải biên
Điện ảnh xuất phát từ “cinema” trong tiếng Pháp là từ rút gọn của
“cinématographe” là cái tên được Léon Bouly đặt cho chiếc máy ghi lại hình ảnh của ông vào năm 1892 Đó là một trong những sự kiện khai sinh ra ngành điện ảnh
Trong công trình văn học Văn học dân gian và nghệ thuật tạo hình điện ảnh của nhà
nghiên cứu Nguyễn Mạnh Lân và Trần Duy Hinh đã liệt kê 6 loại hình nghệ thuật là: văn học, múa, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu Tuy nhiên, các liệt kê trên không có sự thống nhất khi nêu tên những nghệ thuật ra đời trước điện ảnh Sau này,
Friedrich Hegel (1770- 1831) trong Những bài giảng về Mỹ học đã theo một hướng
nghiên cứu khác Ông xếp sáu nghệ thuật trên theo thứ tự: thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, vũ kịch, kiến trúc và điện ảnh được xem như bộ môn nghệ thuật thứ
bảy Và sau này, công chúng quen gọi điện ảnh là môn nghệ thuật thứ bảy Bên cạnh
những nét chung, mỗi chuyên ngành nghệ thuật này đều có những đặc trưng riêng Đặc trưng cơ bản của văn học là ngôn từ Đặc trưng của hội họa là những đường nét, màu sắc; điện ảnh là ánh sáng, hình ảnh và âm thanh; âm nhạc bằng âm thanh
và tiết tấu; sân khấu được thể hiện bằng lời thoại và diễn xuất của diễn viên Các phương tiện này tuy khác biệt nhau về chức năng và hiệu quả nhưng đều có sự tiếp nhận, hỗ trợ lẫn nhau Văn học và điện ảnh cũng không nằm ngoài quy luật trên
Với đặc trưng cơ bản là ngôn từ nên mọi thứ trong văn bản văn chương đều không thể nghe, kể, nhìn trực tiếp hay cảm nhận bằng âm thanh, ánh sáng Tất cả đều được người viết thể hiện qua các kí hiệu, để rồi từ các kí hiệu đó, người đọc sẽ dần tưởng tượng, liên hệ những hình ảnh, âm thanh đó trong trí óc Bởi thế, văn học
là loại hình nghệ thuật phụ thuộc nhiều vào đối tượng thưởng thức So với văn học, chất liệu của điện ảnh lại là tất cả những gì máy quay thu lại Đó là hình ảnh, âm thanh, ánh sáng và những kĩ thuật xử lí tiên tiến nhất được tận dụng vào trong điện ảnh Nhiệm vụ của nhà làm phim là sử dụng tất cả thế giới ấy để kể lại một câu chuyện, một thông điệp hữu ích nào đó sao cho tất cả đều được bày ra trước mắt người xem
Trang 17Mặt khác, trong các tác phẩm văn học, để khắc họa hình tượng nhân vật một cách cụ thể, người viết sẽ dùng sức mạnh của ngôn từ để kể, tả hoặc dùng lời của nhân vật để xây dựng những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm Thế nhưng trong điện ảnh lại khác, đạo diễn không thể để cho nhân vật tự do bộc lộ nội tâm theo hàng trang kịch bản dài mà các nhân vật chỉ có thể bộc lộ qua nét mặt, cử chỉ, thái
độ hay các yếu tố kĩ thuật khác Hoặc có những phim, nhân vật không cần dùng đến lời thoại, người diễn viên sẽ chú trọng vài diễn xuất để đặc tả nên tâm trạng của nhân vật Vì vậy, điện ảnh tuy có những ưu thế vượt trội nhưng vẫn còn có những góc khuất mà điện ảnh khó biểu đạt bằng văn chương
Từ đó, nhà nghiên cứu Lê Thị Dương đã sử dụng thuật ngữ chuyển thể Adapt/Adaptation để chỉ sự dịch chuyển từ ngôn ngữ/văn bản văn học sang ngôn ngữ/văn bản điện ảnh Theo nhà nghiên cứu Lê Thị Dương (2015):
“Chuyển thể (hay cải biên/cải tác) xuất phát từ nghĩa gốc là thích nghi và
thay đổi, khiến cho phù hợp/làm thích nghi, làm thích ứng, được định nghĩa
là phỏng theo, cải biến nội dung của hình thức nghệ thuật này cho phù hợp với hình thức nghệ thuật khác Hay chuyển thể là một quá trình thay đổi hoặc biến chuyển một tài liệu dạng này sang dạng khác: tiểu thuyết thành phim hay kịch thành nhạc…” (Lê Thị Dương, 2015, tr.69)
Thực chất, điện ảnh sơ khai bắt nguồn từ các tác phẩm văn học và đó là một quá trình sàng lọc câu chuyện của người khác thông qua cách hiểu, sự cảm nhận của
cá nhân Sau đó bằng tài năng của bản thân, cá nhân đó sẽ cho ra đời một kịch bản khác Kịch bản này sẽ không giống hoàn toàn với tác phẩm văn học gốc hoặc chỉ giữ lại phần sườn của tác phẩm gốc Đồng thời, do đặc trưng của loại hình nghệ thuật thứ bảy nên đa phần các kịch bản điện ảnh sẽ được các tác giả điện ảnh thêm vào các yếu tố về hình ảnh, âm thanh, ánh sáng…
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra hai hình thức chuyển thể là chuyển thể trung thành và chuyển thể tự do Chuyển thể trung thành là hình thức chuyển thể bám sát với nguyên bản tác phẩm văn học Kịch bản điện ảnh sẽ giữ nguyên theo tác phẩm văn học ở các khía cạnh như: cốt truyện, tình tiết, ngôn ngữ, nhân vật, hình ảnh Bản chất của chuyển thể trung thành đó là tôn trọng nguyên tác
Trang 18và nhà biên kịch sẽ hạn chế sáng tạo ra thêm bất kì một chi tiết nào nữa trong kịch bản điện ảnh Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng từ thành công của các tác phẩm văn học trước đó mà đa phần các nhà biên kịch chọn chuyển thể trung thành với tác
phẩm văn học gốc như: Vợ chồng A Phủ (1961), Chị Tư Hậu (1963), Chị Dậu
(1981), Làng Vũ Đại ngày ấy (1983), Tướng về hưu (1988) và đến sau này: Chung
cư (1999), Mùa ổi (2000), Mùa len trâu (2004), Chuyện của Pao (2015), Đảo của dân ngụ cư (2017)…
Mức độ chuyển thể thứ hai là chuyển thể tự do Trong đó, các nhà biên kịch lựa chọn trong tác phẩm gốc những yếu tố thích hợp theo cảm quan của cá nhân hoặc theo ý muốn của nhà sản xuất để đưa lên phim Mức độ chuyển thể này giúp các nhà làm phim tự do thể hiện sự sáng tạo của mình qua việc đọc, tiếp nhận nội dung và ý nghĩa từ tác phẩm
Mỗi hình thức chuyển thể đều có những ưu, khuyết điểm riêng Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa văn học và điện ảnh trong suốt chiều dài phát triển của điện ảnh thế giới nói chung và điện ảnh Việt Nam nói riêng
Cùng ý kiến với nhà nghiên cứu Lê Thị Dương, trong luận án Lý thuyết cải
biên học: từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh- Trường hợp Kurosawa Akira
- nhà nghiên cứu Đào Lê Na đã sử dụng thuật ngữ “cải biên” để nói về sự thay đổi
của tác phẩm
“Khái niệm cải biên mà luận án xem xét là một quá trình cụ thể liên quan
tới việc chuyển đổi từ một loại hình nào đó thành loại hình khác: tiểu thuyết thành phim, kịch thành nhạc, kịch hóa văn xuôi tự sự và văn xuôi tiểu thuyết hoặc những chuyển động ngược của việc làm phim thành văn xuôi tự sự”
(Đào Lê Na, 2015, tr.76)
Trong quyển Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) được in năm 2006 của Trung tâm Từ điển học thì cải biên được định nghĩa “Sửa đổi hoặc biên soạn lại
(thường nói về vốn nghệ thuật cũ) cho phù hợp với yêu cầu mới”
Xét cho cùng, cải biên là sửa đổi một phần nội dung, chuyển thể loại, thay đổi hình thức thể hiện trên cơ sở của bản gốc hoặc một phần bản gốc của tác phẩm
Trang 19văn học nghệ thuật Đồng thời, nhà làm phim cũng có thể dựa trên nội dung cơ bản của tác phẩm đó để sáng tạo ra tác phẩm mới Vì vậy, nhà nghiên cứu Đào Lê Na cho rằng, khi một tác phẩm văn học chuyển sang đời sống của một tác phẩm điện ảnh thì nó buộc phải có sự thay đổi về nội dung và hình thức Đối với những tác phẩm chuyển thể tự do, các nhà làm phim có thể thoải mái thể hiện sự sáng tạo của mình qua việc đọc và tiếp nhận nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học
Một tác phẩm được cải biên là quá trình lao động sáng tạo của cả biên kịch
và đạo diễn Đây là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự nhạy bén, trình độ cảm thụ của nhà làm phim Song song với việc xử lý những chi tiết có sẵn, các nhà làm phim sẽ xây dựng thêm những chi tiết mới như âm thanh, ánh sáng, bối cảnh Các yếu tố này sẽ mang phong cách của người đạo diễn cũng như góp phần làm nên sự mới mẻ cho bộ phim so với tác phẩm gốc Tóm lại, việc cải biên hay chuyển thể một tác phẩm văn học sang điện ảnh tức là việc chuyển thể từ ngôn ngữ biểu cảm này sang một ngôn ngữ biểu cảm khác Vì vậy, xét về khía cạnh ngôn ngữ, chúng ta có thể khẳng định, nghĩa của thuật ngữ “cải biên” có sự thay đổi nhiều hơn, bao quát hơn
so với nghĩa của thuật ngữ “chuyển thể” Vì vậy, trong phạm vi của đề tài, người viết xin phép sử dụng thuật ngữ cải biên để làm rõ hơn mối tương quan giữa văn học
và điện ảnh
1.1.2 Khái lược lịch sử cải biên văn học điện ảnh ở Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1920, nền công nghiệp điện ảnh bắt đầu du nhập vào Việt Nam Sau khoảng hơn ba mươi năm phát triển, tính đến năm 1940, cả nước có khoảng sáu mươi rạp chiếu phim Hầu hết các phim được trình chiếu là phim tài liệu, phim ngắn hoặc các phim truyện do hãng phim của người Pháp thực hiện
Trong đó, bộ phim đầu tiên được cải biên là Kim Vân Kiều do người Pháp và người Việt cùng thực hiện vào năm 1923 Tuy nhiên, Kim Vân Kiều lại mắc phải những non yếu về mặt kĩ thuật và cách kể chuyện Đến năm 1953, Kiếp hoa - bộ phim tâm
lý lãng mạn được cải biên từ tác phẩm văn chương của Tự Lực văn đoàn ra đời Do kịch bản được viết bởi ông chủ gánh hát nên kịch bản Kiếp hoa ít nhiều vẫn mang
hơi hướng một vở kịch sân khấu, mang nặng tính ước lệ
Trang 20Sau Hiệp định Genève 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc Tại miền Bắc với sự học hỏi từ điện ảnh Liên Xô, hãng phim truyện Việt Nam ra đời vào năm 1953 Hãng phim được định hướng xem điện ảnh như một công cụ phục vụ cho cách mạng Năm 1959, bộ phim truyện dài đầu tiên của điện ảnh cách mạng
Việt Nam ra đời mang tên Chung một dòng sông (1959), đánh dấu những bước đi
đầu tiên của điện ảnh Việt Nam với nghệ thuật thứ Bảy Bộ phim kể về chuyện tình của đôi trai gái vào những năm tháng đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc Nhà của chàng trai và cô gái ở hai bên bờ sông Bến Hải Khi hiệp định Genève được kí kết, chàng trai và cô gái cùng tham gia hoạt động cách mạng bí mật và yêu nhau Trong lễ cưới, khi thuyền của nhà trai chuẩn bị sang bờ Nam rước dâu thì nhóm cảnh sát của Việt Nam Cộng hòa ngăn không cho họ lên bờ Đám cưới không
được tổ chức và họ đành quay về hoạt động cách mạng, chờ ngày tái ngộ Chung
một dòng sông có cốt truyện khá đơn giản Bộ phim lồng ghép câu chuyện mối tình
bị ngăn cách của đôi trai gái cùng hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ tuy nhiên lại được Nhà nước thông qua kịch bản khá nhanh chóng Từ đó về sau, hàng loạt bộ phim điện ảnh cách mạng được cải biên từ tác phẩm văn học hay câu chuyện lịch sử đã ra
đời như: Vợ chồng A Phủ (1961), Con chim vành khuyên (1962), Chị Tư Hậu (1963)
hay Kim Đồng (1964) Từ đây, nền điện ảnh Nhà nước ra đời Các bộ phim đa phần
được Nhà nước định hướng về đề tài Nội dung chủ yếu cổ vũ cho cách mạng Việt
Nam Trong số đó, tiêu biểu là Vợ chồng A Phủ do chính nhà văn Tô Hoài chấp bút
Với chất liệu dày dặn và sống động, hệ thống nhân vật đặc sắc, truyện được tái hiện lên phim gần như nguyên vẹn theo cốt truyện gốc Bộ phim thu hút người xem không chỉ vì chủ đề nói về người dân tộc thiểu số miền núi dưới ách thống trị của Thực dân phong kiến mà còn có nhiều bối cảnh, góc quay đẹp Ca khúc nhạc phim
Bài ca trên núi với những câu hát trữ tình đã trở thành kinh điển một thời
Năm 1965, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt Sau mười năm phát triển, Nhà nước đã nhận ra cùng với văn chương, âm nhạc thì các bộ phim
là tài liệu tuyên truyền vô cùng hiệu quả Khi đó đa phần người dân đều là tầng lớp không biết chữ Sách hay các tài liệu được tuyên truyền là rất hạn chế nên những buổi chiếu phim lưu động đã ra đời Việc này không đơn giản là mang văn hóa đến
Trang 21vùng sâu vùng xa mà còn mang một mục đích tuyên truyền chính trị, khơi gợi tinh thần cách mạng Đây cũng là lí do mà cho đến ngày nay, nhà nước vẫn luôn ưu tiên làm phim về đề tài chính trị cho điện ảnh Việt Nam Với mục đích ấy, các bộ phim
tiêu biểu trong giai đoạn này đều mang đề tài chính trị là chủ yếu: Nổi gió (1966),
Đường về quê mẹ (1971), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972), Em bé Hà Nội (1974)
Cột mốc đáng nhớ của điện ảnh Việt Nam nói chung và cải biên tác phẩm văn học điện ảnh nói riêng, bắt đầu vào những năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất Cùng với hãng phim Việt Nam, các hãng phim nhà nước khác cũng bắt đầu phát triển Trong giai đoạn sau 75, bên cạnh các bộ phim về đề tài chính trị, cách mạng, các nhà làm phim đã chú trọng các đề tài làm phim về xã hội Tuy nhiên do nhà nước vẫn là đơn vị độc quyền trong đầu tư và sản xuất phim ảnh nên một số bộ phim khó thoát khỏi lối rập khuôn khi phải đi theo hướng điện ảnh của hệ thống cũ Vấn đề kiểm duyệt khiến các kịch bản phim bị thay đổi nhiều Nếu muốn phim được thông qua, các nhà làm phim chỉ có cách chọn các kịch bản được chuyển thể từ các
tác phẩm văn học xuất sắc như: Chị Dậu (1981), Làng Vũ Đại ngày ấy (1983) Đây
là hai bộ phim chuyển thể tiêu biểu cho thời kì này Chị Dậu là bộ phim chuyển thể
từ tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố Việc chuyển thể một tác phẩm kinh điển như tiểu thuyết Tắt đèn là một điều không dễ dàng Qua ngôn ngữ điện ảnh và
tài kể chuyện sâu sắc, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã làm sống lại hình ảnh đau thương của người Việt một thời qua các phong tục, tập quán của làng quê Bắc Bộ
Tiếp nối sự thành công của bộ phim Chị Dậu, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã cống hiến thêm một tác phẩm điện ảnh kinh điển khác: Làng Vũ Đại ngày ấy, cải biên từ các tác phẩm của nhà văn Nam Cao Từ ba tác phẩm: Sống mòn, Chí Phèo và Lão
Hạc, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã đưa đề tài lên một tầm cao mới Đạo diễn vừa tôn
trọng chất liệu văn chương của Nam Cao, vừa sáng tạo để tạo ra một không gian điện ảnh với khả năng kết nối ba tác phẩm độc lập trở thành một bộ phim thống nhất
và liền mạch Ông lựa chọn ngôi kể phù hợp khi để cho một nhân vật trí thức nông thôn trở thành một nhân chứng, người kể lại những bị kịch của của những con người
trí thức đương thời và sự bế tắc của làng quê Vì vậy, bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy
đã trở thành một bộ phim tiêu biểu cho loại hình phim chuyển thể từ tác phẩm văn
Trang 22học lúc bấy giờ Ngoài ra, còn có bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười (1984) của
đạo diễn Đặng Nhật Minh Bộ phim đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh Việt Nam sau chiến tranh và giành được nhiều giải thưởng Quốc tế
Đến cuối thập niên 1980, khi Việt Nam bước sang giai đoạn mở cửa, từ năm
1986, các hãng phim điện ảnh bị rơi vào khủng hoảng khi không còn được trợ giúp 100% chi phí phát hành Bên cạnh các hãng phim Nhà nước, các hãng phim tư nhân lần lượt ra đời Điều này kéo theo sự cạnh tranh gay gắt giữa các hãng phim Vì thế, muốn tồn tại, các hãng phim phải tự tìm lối đi cho riêng mình Trong các bộ phim
cải biên, nổi bất là bộ phim Tướng về hưu (1988) được cải biên từ tác phẩm cùng
tên của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi đã đã chọn góc nhìn trực diện qua sự quan sát của vị tướng già thay cho cách kể chuyện gián tiếp của người con trai trong tác phẩm văn học Điểm nhìn từ vị thiếu tướng đã nói lên những ung nhọt của đời sống gia đình, xã hội Sau khi kết thúc cuộc đời quân ngũ, ông quay về sống tại ngôi nhà của mình trong sự lạc lõng, bơ vơ và không thể nào thích nghi với cuộc sống đời thường
Từ những năm 90 đến nay, người xem bắt đầu chú ý sang các hãng phim tư nhân, với sự xuất hiện của các đạo diễn Việt kiều như Tony Bùi, Trần Anh Hùng, Timothy Linh Bùi và những năm gần đây là Charlie Nguyễn, Victor Vũ hay Leon
Quang Lê Một trong những bộ phim cải biên tiêu biểu trong những năm gần đây:
Mùa len trâu (2004), Chuyện của Pao (2005), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015) Nổi bật trong số đó là bộ phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh - đạo diễn
Victor Vũ Bộ phim được cải biên trung thành từ truyện dài cùng tên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Bộ phim lấy bối cảnh miền Trung Việt Nam những năm cuối thập niên 1980, xoay quanh tình bạn của ba đứa trẻ Thiều, Tường, Mận Chủ đề trẻ thơ là một chủ đề ít được các nhà làm phim khai thác, hơn nữa đây lại là chủ đề nhạy cảm Nhưng sự ích kỉ, ngô nghê của ba đứa trẻ tuổi mới lớn đã khiến người xem rung động Có thể nói từ lâu lắm, khán giả Việt mới được xem một bộ phim về trẻ thơ trong trẻo và thi vị như vậy Bên cạnh yếu tố hay về kịch bản, nội dung phim thì những hình ảnh tuyệt đẹp của làng quê miền Trung cứ lần lượt hiện lên Những
Trang 23cảnh toàn như đưa người xem đi từ “bức tranh” này sang “bức tranh” khác, làm cho
bộ phim vô cùng thi vị, giàu chất thơ
Theo quá trình của lịch sử cải biên văn học điện ảnh, đã có nhiều nhà nghiên cứu về cải biên văn học điện ảnh Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam với bài viết
“Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo - liên văn bản trong văn chương và điện ảnh” in trên
Tạp chí văn học (2006) Bài viết đã đi sâu vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của tác
phẩm văn học Chùa Đàn - Nguyễn Tuân đến bộ phim Mê Thảo qua bình diện cải
biên văn học điện ảnh Trong đó, tác giả đặc biệt chú trọng mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và phóng tác điện ảnh Theo tác giả, một tác phẩm văn học có vô số cách đọc khác nhau Khi tiếp nhận, người đọc có khả năng diễn giải hay tái hiện theo chiều cảm nhận của cá nhân Một tác phẩm cải biên bị đánh giá là “trung thành” hay “không trung thành” với nguyên tác đều dựa trên cảm nhận chủ quan của người xem Vì vậy, trong bài viết này, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đã khẳng định:
“Tác phẩm cải biên sẽ được dùng xuyên suốt trong bài này để chỉ chung các tác
phẩm điện ảnh có nguồn gốc từ tiểu thuyết” (Nguyễn Nam, 2006, tr.33) Trên cơ sở
đó, bài nghiên cứu cũng giúp người đọc nhận ra thế nào chuyển thể trung thành và không trung thành Thực chất không hề có nguyên tắc hay thang đánh giá nào quy định mức độ chuyển thể trung thành đến đâu Điều này có chăng chỉ là do người đọc/người xem quan niệm “trung thành” là phải theo đúng tác phẩm văn học, theo sát từng chi tiết của cốt truyện hay chọn diễn viên phải giống nhân vật được miêu tả trong tác phẩm văn học đến từng chi tiết Do đó, có thể khẳng định, tác phẩm cải biên rõ ràng có đời sống độc lập và đó chỉ là sự “phỏng tác” dựa trên tác phẩm văn học
Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Nguyễn Nam, TS Đào Lê Na trong
công trình Chân trời của hình ảnh - Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp
của Kurosawa Akira, nhà nghiên cứu đã dùng thuật ngữ “cải biên” thay cho “chuyển
thể” vì nếu dùng thuật ngữ “chuyển thể” sẽ dẫn đến mặc định: tác phẩm chỉ chuyển
từ thể loại này sang thể loại khác còn nội dung vẫn sẽ giữ nguyên Điều này vô tình
sẽ làm cho người làm phim và khán giả quan niệm phim chuyển thể phải trung thành với văn bản gốc Trong lịch sử điện ảnh, các bộ phim được dựa trên tác phẩm
Trang 24gốc đều có sự thay đổi hay sáng tạo dựa vào cách cảm nhận của nhà làm phim Thông qua cảm quan, tư duy của mình, các nhà làm phim sẽ thay đổi ngôi kể, kết cấu câu chuyện, thêm nhân vật, tình huống, chi tiết và phần nào đó sẽ mang nét sáng tạo riêng của nhà làm phim Như vậy, thuật ngữ “cải biên” đã bao hàm trong đó ý nghĩa của sự thay đổi, giúp cho nhà làm phim có thể tự do sáng tạo theo cảm quan
cá nhân mà không bị gò bó hay phụ thuộc bất kì tác phẩm nào Do đó, chúng ta không thể đánh giá các tác phẩm điện ảnh cải biên là trung thành hay không trung thành vì bản chất của tác phẩm gốc cũng đã là một sự cải biên, chuyển vị so với các tác phẩm đã có trước đó Suy cho cùng thì sáng tạo mới quyết định sự thành - bại của bộ phim điện ảnh chứ không phải là trung thành hay không trung thành Nếu như sự sáng tạo đó nhằm tái hiện những điều tinh túy của tác phẩm gốc, sự sáng tạo
đó “thổi” được cái hồn cho bộ phim thì sáng tạo là thật sự cần thiết cho tác phẩm
điện ảnh Vì vậy, nhà nghiên cứu Đào Lê Na đã khẳng định “Cải biên chính là thuật
ngữ phản ánh chính xác bản chất của tác phẩm vốn dựa vào tác phẩm gốc” (Đào Lê
Na, 2015, tr.35)
Kế thừa lí luận của TS Lê Thị Dương, trong bài nghiên cứu “Chuyển thể và
liên văn bản (trường hợp tác phẩm Long Thành cầm giả ca)” - Nhà nghiên cứu Bùi
Trần Quỳnh Ngọc đã sử dụng thuật ngữ “Adaptation - chuyển thể” để chỉ những tác phẩm điện ảnh được sáng tạo trên nền tác phẩm văn học Trong đó tác phẩm chuyển thể được xem như là sự sao chép từ tác phẩm gốc bằng hình thức nghệ thuật khác Tác phẩm điện ảnh sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào tác phẩm gốc Hoặc cách hiểu thứ hai là xem tác phẩm chuyển thể độc lập so với tác phẩm văn học vì quá trình hình thành nên tác phẩm chuyển thể đều phụ thuộc vào sự diễn giải hoặc sáng tạo lại dựa trên cảm quan của biên kịch hay nhà sản xuất Bài viết cũng đề cập đến hai phương thức chuyển thể chủ yếu trong điện ảnh: chuyển thể trung thành và chuyển thể tự do Hai phương thức chuyển thể này là hai cách tái tạo, hai cách đọc tác phẩm, hai cách sáng tạo khác nhau nhưng mỗi phương thức đều có những giá trị riêng và ảnh hưởng đến công chúng
Tóm lại, mỗi nhà nghiên cứu đều có sự nhìn nhận riêng về thuật ngữ Adaptation Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ “chuyển thể” hay “cải biên” đều chỉ sự thay
Trang 25đổi, sáng tạo từ tác phẩm gốc đến tác phẩm điện ảnh Vì vậy, nhà nghiên cứu Đào
Lê Na đã khẳng định: “Khi phân tích tác phẩm điện ảnh cải biên, người nghiên cứu
không có quyền phán xét tính trung thành hay không trung thành mà chỉ nên phân tích tính liên văn bản của nó với tác phẩm văn chương, phân tích sự chuyển vị bên trong tác phẩm điện ảnh và sự chuyển vị ấy đã tạo ra giá trị gì” (Đào Lê Na, 2015,
tr.31,32) Từ thực tế đó, những năm gần đây, cải biên văn học điện ảnh đã có những bước phát triển đa dạng về nhiều chiều Trong đó, các nhà làm phim đã không còn trung thành với nguyên tác văn học mà đã có những hướng cải biên tích cực nhằm phù hợp với lịch sử và bối cảnh thời đại Trong đó, hiện tượng Remake là một ví dụ
cụ thể
Vài năm gần đây, điện ảnh Việt dần thiếu vắng những kịch bản hay Trước thực tế đó, nhiều nhà làm phim đã “mượn” phim nước ngoài và cải biên lại cho phù hợp với văn hóa Việt Điều đó không chỉ là lối thoát cho sự thiếu hụt kịch bản mà còn giúp các nhà làm phim tiết kiệm thời gian đầu tư và tránh được những “rủi ro” trong kinh doanh phim ảnh Trong đó, một số nhà sản xuất đã mượn các bộ phim cũ, kịch bản cũ và làm lại theo hướng mới Và có hai dạng:
● Remake (Làm lại): Phim sử dụng một phim đã ra đời trước đó làm nguồn
chất liệu chính; thường sử dụng hẳn cả cốt truyện và nhân vật của phim cũ, chỉ sửa đổi một số tình tiết hay thay đổi cách thể hiện Các remake thường xuất phát từ mục đích cải thiện chất lượng hoặc thay đổi cách thể hiện của phiên bản cũ (cho hợp với
văn hóa, thị trường, xu hướng thời đại) Ví dụ: Clash of the Titans (2010) là remake của phim cùng tên năm 1981, The Departed (2006) là remake của Infernal Affairs
(2002 – Hồng Kông),…
● Reboot (Làm mới): Phim sử dụng những tác phẩm hư cấu đã ra đời trước
đó (truyện tranh, phim truyền hình) làm nguồn chất liệu, nhưng phủ nhận đa số hoặc toàn bộ cốt truyện của chúng và dựng lại bằng những ý tưởng hoàn toàn mới Các reboot thường xuất phát từ mục đích khơi lại sự yêu thích của khán giả với tựa phim
truyền hình hoặc một tựa truyện đã ra đời trước đó Ví dụ: Batman Begins (2005) là reboot của dòng truyện Batman do hãng DC Comics sản xuất, 21 Jump Street (2012)
là reboot từ bộ phim truyền hình Mỹ cùng tên ra đời vào năm 1987
Trang 26Trong đó phim remake đóng một phần không nhỏ trong sự phát triển của phim truyền hình Việt trong thời gian gần đây Giai đoạn 2003 đến nay, màn ảnh nhỏ Việt Nam vẫn mua kịch bản phim nước ngoài về làm lại một cách đều đặn
Khoảng 10 năm trước, hai bộ phim sitcom là Cô gái xấu xí (kịch bản gốc của Colombia) và Nhật kí vàng anh (kịch bản gốc của Bồ Đào Nha) đã làm mưa làm gió
trên truyền hình Việt với phong cách nội dung độc đáo, lời thoại sắc nét và thông minh hơn hẳn những bộ phim khác chiếu cùng thời điểm Tuy nhiên các bộ phim này cũng không để lại nhiều tiếng vang
Đến năm 2017, remake mới chính thức khiến màn ảnh nhỏ Việt Nam bùng nổ
khi Người phán xử (kịch bản gốc từ Israel) hay gần đây là Về nhà đi con đã tạo
thành cơn sốt trên mạng xã hội lẫn ngoài đời
Và cũng ở thời điểm năm 2015, phim remake Em là bà nội của anh (Hàn
Quốc) của đạo diễn Phan Gia Nhật Linh mới thực sự thành công, phim đạt doanh thu hơn 110 tỷ đồng sau những ngày công chiếu và thậm chí còn nhận được nhiều lời khen của công chúng hơn kịch bản gốc Nhờ vào sự thành công của phim này mà remake lại thật sự “tái sinh” một lần nữa Các bộ phim đều được lấy từ kịch bản Hàn
Quốc: Sắc đẹp ngàn cân, Ông ngoại tuổi 30, Bạn gái tôi là sếp và gần đây là Chị trợ
lý của anh Và dĩ nhiên, các đạo diễn cũng đã biết sửa đổi, “thêm mắm dặm muối”
cho phù hợp với hương vị Việt
Tuy nhiên, việc làm phim remake cũng có nhiều bất lợi và thách thức Thứ nhất, khi xem một bộ phim remake, khán giả sẽ có tâm lý so sánh với kịch bản gốc trước đó Khán giả sẽ đối chiếu từ kịch bản cho đến diễn viên và cả diễn xuất của
từng nhân vật Hậu duệ mặt trời hay Sắc đẹp ngàn cân là một minh chứng cho phim
remake nhưng thất bại Đa số những nhà làm phim remake Việt thường mắc một sai lầm lớn Họ sử dụng phân cảnh giống y cảnh nước ngoài mà không có sự thay đổi
để phù hợp văn hóa Việt Một số phim còn mắc lỗi nặng về chi tiết, văn hóa do được mua kịch bản từ nước ngoài Đối chiếu với những bộ phim remake thành công như
Em là bà nội của anh Trong đó, những bài hát như Diễm xưa, 60 năm cuộc đời, Còn tuổi nào cho em hay Ô mê ly được lồng ghép rất nhẹ nhàng nhưng đầy tinh tế,
dẫn dắt người xem đến những cung bậc cảm xúc cao trào Qua đây, chúng ta có thể
Trang 27nhìn nhận, khán giả vẫn dành sự ưu ái cho những gì gần gũi, thân thuộc với văn hóa Việt chứ không phải là những kịch bản được quảng bá rầm rộ, nhưng lại làm ra một
bản remake “tạp nham” Để giảm thiểu điều đó, các nhà làm phim cần có những
sáng tạo phù hợp với văn hóa Việt và đó chính là tính liên văn hóa tiêu biểu trong
các kịch bản điện ảnh những năm gần đây
Tóm lại, phim remake đang là nguồn cảm hứng mới cho người dân Việt giữa lúc các nhà biên kịch đang bão hòa về ý tưởng, đề tài Đây cũng là một hướng phát triển phù họp với nền điện ảnh dân tộc Đề tài của các bộ phim sẽ trở nên phong phú, đa dạng phù hợp với thị hiếu của khán giả Hi vọng, trong tương lai gần, những
bộ phim remake sẽ ngày càng hoàn thiện và mang đến thành công vang dội cho nền
điện ảnh thứ bảy
1.2 Liên văn bản
1.2.1 Vài nét về liên văn bản
Những năm gần đây, theo đà phát triển của xã hội, nghệ thuật thứ bảy ngày càng có sự tiến bộ vượt bậc Theo lẽ đó, nghiên cứu lí thuyết cải biên đã có sự phát triển trên nền cơ sở lí luận liên văn bản Lí thuyết này mang đến cho các nhà nghiên cứu cách nhìn khách quan hơn về các tác phẩm cải biên Giờ đây, các tác phẩm cải biên sẽ được các nhà nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử, nội dung, nghệ thuật, thời đại
Khái niệm liên văn bản (Intertext) là một thuật ngữ khởi nguồn từ nhà kí hiệu học người Pháp gốc Bulgari- Julia Kristeva Bà là người đầu tiên đề xuất khái niệm trong hai bài viết đăng trên tạp chí Tel Quel: Word Dialogue and Novel (1966) và Le texte clos (1967) Sau đó đến năm 1969 trong công trình Kí hiệu học, nghiên cứu ngữ nghĩa, bà cũng tiếp tục sử dụng thuật ngữ này Julia Kristeva từng tuyên bố bất
kì một văn bản nào cũng là sự hấp thu và chuyển đổi của các văn bản khác:
“Một hệ thống kí hiệu được thu nhập vào một hệ thống ký hiệu khác và
những thay đổi kí hiệu học phát sinh do việc chuyển vị này Liên văn bản xem văn bản như một bộ phận của lĩnh vực rộng lớn, giao cắt của ý nghĩa
và biểu hiện, ở đó các giá trị xã hội và ý tưởng hòa trộn, va chạm lẫn nhau;
Trang 28cũng chính ở đấy, chủ thể con người phải tự định vị để tự tham gia vào hệ thống văn hóa của họ (J.Kristeva, Roland Barthe, 1973, tr.18)
Từ đó Kristeva đã kế thừa tính biểu nghĩa của ngôn ngữ, khả năng mở rộng nghĩa của từ nhưng nhấn mạnh vào vai trò của việc tiếp nhận Như vậy ngôn ngữ cũng sẽ phụ thuộc vào “sự cảm nhận” của những nét văn hóa và tập tục bên ngoài
Mặc dù là người đầu tiên triển khai lí thuyết liên văn bản nhưng nguồn gốc của lí thuyết liên văn bản lại gắn liền với nhà ngôn ngữ học hiện đại F.Saussure
Trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Saussure viết: “Giá trị của bất cứ một
yếu tố nào cũng đều do những yếu tố xung quanh quy định và tất cả đều dựa trên những mối quan hệ” (F Saussure, tr.202) Nghĩa là mọi kí hiệu sẽ có mối quan hệ
qua lại với các kí hiệu khác trong hệ thống
Tiếp nối lí thuyết của F.Saussure, nhà nghiên cứu Mikhail Bakhtin (1992)
đã phát triển lí thuyết ngôn ngữ của F.Saussure Nếu như Saussure chỉ tập trung vào khía cạnh đồng đại của ngôn ngữ thì Bakhtin lại là người phát hiện ra tính đối thoại
đa thanh trong ngôn ngữ, đặt ngôn ngữ trong quan hệ với các tình huống xã hội cụ thể Sự phát hiện mới mẻ này của ông đã mở ra hướng nghiên cứu về ý thức liên văn bản trong nghiên cứu văn học Theo ông, không ngôn ngữ nào lại không gắn liền với một quan niệm, một ngữ cảnh và một hiện tượng nhất định Hoặc có thể hiểu đơn giản, ngôn ngữ là một khái niệm luôn chuyển động Tuy nhiên, phát hiện thú vị này của Bakhtin có một vài điểm khác biệt với các nghiên cứu của Saussure Nếu Saussure chú ý vào các quy ước và quy luật trừu tượng của cái gọi là ngôn ngữ nói chung, tạo nên chiều nghiên cứu đồng đại về ngôn ngữ thì Bakhtin nhìn nhận rằng, quan hệ ấy tồn tại vô cùng đa dạng phức tạp dưới sự giao thoa không biên giới giữa các ý niệm, khuynh hướng, niềm tin vốn đã, đang và sẽ tồn tại Do vậy, đặc trưng của ngôn ngữ, chính là tính đối thoại, khi ý nghĩa của nó tùy thuộc vào những diễn ngôn đã có trước và phương thức tiếp nhận, diễn giải cách nói ấy sau đó Điều này
có nghĩa là mọi phát ngôn đều có tính đối thoại, nghĩa là nó luôn đáp lại những phát ngôn trước đó
Ngoài ra, Bakhtin đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
Về vấn đề này, tác giả Vương Cẩn trong công trình “Hỗ văn tính” (Liên văn bản,
Trang 29Nxb Đại học Sư Phạm Quảng Tây, 2005) (Nguyễn Bỉnh Khôi, 2016) đã tổng kết thành ba điểm chính như sau:
Thứ nhất, văn học là một bộ phận không thể tách biệt khỏi văn hóa, nghiên cứu văn học do đó không thể thoát li khỏi ngữ cảnh văn hóa Bakhtin phản đối hai khuynh hướng: một là, quá nhấn mạnh tính đặc thù của văn học, tách rời văn học với các yếu tố văn hóa; hai là, quá nhấn mạnh đến mối liên hệ trực tiếp giữa các yếu
tố kinh tế xã hội với văn học Theo Bakhtin, yếu tố kinh tế xã hội có tác động đến toàn bộ nền văn hóa, nhưng chỉ thông qua văn hóa và cùng với văn hóa tác động đến văn học
Thứ hai, giữa các yếu tố văn hóa, cũng như giữa văn hóa và văn học không
có ranh giới tuyệt đối Bakhtin cho rằng, quan hệ giữa các yếu tố văn hóa không phải là quan hệ độc lập, phong kín, mà là quan hệ đối thoại, rộng mở Sự đối thoại
và tiếp xúc giữa các yếu tố văn hóa là động lực cho sự phát triển của văn hóa
Thứ ba, theo Bakhtin, văn hóa mỗi thời đại là một chỉnh thể thống nhất Khi phân tích diễn trình văn học của một thời đại, cần phải nắm được những ảnh hưởng của các trào lưu văn hóa đến tác giả Trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng to lớn của các trào lưu văn hóa dân gian đối với diễn trình văn học, nếu không như vậy sẽ “khó có thể đi đến tận cùng các tác phẩm vĩ đại” Tính đối thoại không chỉ giới hạn trong phạm vi những văn bản cùng loại, không đóng khung trong nội bộ văn bản văn học mà mở rộng ra các văn bản nghệ thuật, với các yếu tố lịch
sử, văn hóa Từ thuật ngữ “tính đối thoại” của Bakhtin, J.Kristeva đã đưa ra một thuật ngữ mới - “tính liên văn bản” nhằm nhắc nhở về sự tồn tại của văn bản này trong mối quan hệ với văn bản khác Và Bakhtin nhận ra rằng ngôn ngữ hay văn bản
là những hệ thống kí hiệu không tồn tại độc lập mà có tính quy chiếu, có mối quan
hệ giao thoa với bối cảnh văn hóa, xã hội “ngôn ngữ nào cũng gắn liền với một quan
điểm, một ngữ cảnh và một đối tượng nhất định- ngôn ngữ là những gì đang được hành dụng trong cuộc sống chứ không phải “nằm chết” trong từ điển” (I.Vaisphen,
M.Rôm, I.Khyphitxo, 1961, tr.173)
Trang 30Với những nhận định trên, Bakhtin được xem như người dẫn đường về lý thuyết liên văn bản
Tiếp nối các hướng nghiên cứu trên, nhà nghiên cứu Lê Thị Dương trong
quyển Chuyển thể văn học điện ảnh (Nghiên cứu liên văn bản) (2016) đã đưa ra nhận định “Thực chất liên văn bản là một vấn đề phức tạp, bất kì văn bản nào cũng
có thể là liên văn bản, do đó sẽ không có cái gọi là tác phẩm gốc vì tác phẩm đều là
sự thâm nhập và dịch chuyển được ghi lại bởi tác giả” (Lê Thị Dương, 2015,
tr.101) Liên văn bản có nhiều mức độ khác nhau
Ở cấp độ đối tượng phản ánh, việc một tác giả chịu ảnh hưởng của các tác giả đi trước về đề tài, phong cách sáng tác là chuyện thường Đó là sự học hỏi của tác giả khi tiếp thu những “tinh hoa” của thế hệ đi trước nhằm làm phong phú thêm khả năng sáng tác của mình Họ có thể tiếp thu theo nhiều mức độ khác nhau như:
trích dẫn, mô phỏng lối viết, điển tích, điển cố hoặc đề tài Truyện Kiều của Nguyễn
Du, tác giả đã mượn đề tài từ cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân Nhìn từ phương diện liên văn bản, cho thấy các tác gia văn học trung đại không chỉ đơn thuần tiếp nhận những trào lưu từ văn học Trung Quốc mà còn tiếp nhận cả về mặt giá trị và văn hóa Điều đó cho thấy sự ảnh hưởng của liên văn bản vào nền văn học Việt Nam cực kỳ to lớn
Ở cấp độ hình thức, các nhà văn hiện đại đã áp dụng tính liên văn bản trong việc vay mượn những trích dẫn hay một đoạn văn bản hoặc thậm chí là vay mượn phong cách sáng tác để hình thành nên những kí hiệu, ám chỉ, thậm chí là giễu nhại Với những đặc trưng trên, liên văn bản trở thành kiểu trò chơi đòi hỏi người tham gia phải có khả năng quan sát, khám phá những kí hiệu nằm trong những văn bản khác nhau
Trong văn học hiện đại, trường hợp các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là một ví dụ Trong đó, các tác phẩm như: Kinh Thánh, Kinh Phật, truyền thuyết lịch
sử đều là những nạn nhân của thủ pháp giễu nhại Nhà văn giễu nhại truyền thuyết
Sự tích Hồ Gươm qua tác phẩm Chảy đi sông ơi, Đôn-ki-hô-te qua tác phẩm Những người thợ xẻ Trong đó, nhà văn không sử dụng hình thức viết tiếp truyện cổ, truyện
lịch sử mà ông viết lại Viết lại ở đây như thể viết tiếp nhưng không phải để kéo dài
Trang 31sự kiện mà là hoán chuyển sự kiện, hành động của nhân vật: Kiếm sắc, Vàng lửa,
Phẩm tiết…đều có hiện tượng nhại nhân vật lịch sử Cũng như nhiều nhà văn khác
cùng thời, bằng lối giễu nhại thể loại, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa hình thức mới, diện mạo mới, tiếp cận gần hơn với truyện ngắn hiện đại thế giới
Ngoài ra, ở cấp độ phong cách sáng tác, trong khi các nhà văn hiện đại thiết lập quan hệ liên văn bản là làm cho chủ nghĩa của văn bản mới phong phú thêm thì các nhà văn hậu hiện đại xây dựng theo cách gắn văn bản mới vào nghĩa có trước nghĩa là các nhà văn hiện đại tập trung chú ý vào văn bản mới, còn nhà hậu hiện đại lại chú ý đến văn bản cũ
Lý thuyết liên văn bản cho phép chúng ta xem các tác phẩm cải biên như một tác phẩm độc lập vì nó không chỉ có mối liên hệ với tác phẩm được cải biên mà rộng hơn nó còn có liên quan với các tác phẩm khác có cùng đề tài, tư tưởng Ví như trong hội họa, điêu khắc sẽ có những tác phẩm được cải biên từ văn học Hoặc từ tác phẩm trước đó, nhà văn lại có sự chỉnh sửa, sáng tạo từ văn bản gốc trước đó cũng
gọi là cải biên
Tóm lại, thuật ngữ liên văn bản đang là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến hiện nay Không chỉ giới hạn trong văn học mà ngày nay liên văn bản còn ảnh hưởng sang các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội họa, điện ảnh, kiến trúc Phản ánh một cách sinh động bức tranh văn hóa, văn học đang không ngừng “hòa tan, tương hỗ” theo dòng chảy thời đại
1.2.2 Một số trường hợp liên văn bản tiêu biểu trong điện ảnh Việt Nam
Nói đến lí thuyết liên văn bản, cũng không thể không nhắc đến R.Barthes
Tác giả đã nêu “Bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” Lí thuyết liên văn bản đã
cho phép xem xét tác phẩm cải biên như một tác phẩm độc lập Không chỉ có mối liên hệ với tác phẩm văn học gốc mà tác phẩm chuyển thể còn có mối liên hệ với các tác phẩm khác Đấy chính là mối liên hệ liên văn bản giữa các tác phẩm văn học hay các tác phẩm điện ảnh có cùng một đề tài hoặc cùng một thể loại Thông thường, khi lựa chọn xem một bộ phim, khán giả sẽ tìm hiểu nó thuộc thể loại nào, tình cảm hay hành động, dòng phim nghệ thuật hay phim thị trường và cuối cùng họ thưởng thức bộ phim với sự kì vọng nhất định Trong quá trình thưởng thức, khán
Trang 32giả sẽ có dịp so sánh bộ phim với các bộ phim khác cũng đề tài, đó chính là quá trình hình thành nên tính liên văn bản Vì vậy, khi sử dụng lý thuyết liên văn bản để phân tích một bộ phim, chúng ta có thể khảo sát mối quan hệ của nó với các tác phẩm khác cùng đề tài hoặc với các tác phẩm văn học bất kì cùng đề tài
Bộ phim Cánh đồng bất tận của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, biên
kịch Ngụy Ngữ đã cải biên dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư đã từng một thời nhận được nhiều sự phản hồi tích cực từ công chúng
Cánh đồng bất tận là một nhân tố tiêu biểu cho sự vận dụng lý thuyết liên văn bản từ văn học sang điện ảnh Về cốt truyện, Cánh đồng bất tận được tường
thuật qua lời kể của nhân vật chính là Nương (con gái Út Võ) Đó là những cảm nhận của Nương về bi kịch gia đình, về quy luật thiên nhiên, cũng như sự bấp bênh của dòng chảy cuộc đời Đó còn là lời kể về những cuộc hành trình dài qua từng cánh đồng, từng ngôi làng ven sông; qua từng mùa nắng, cơn mưa
Dựa vào bố cục, các chuỗi sự kiện và dòng chảy nhân vật, truyện ngắn Cánh
đồng bất tận có thể chia thành tám phần Phần mở đầu, từ khi Nương và Điền đã
cứu được cô gái điếm tên Sương trong vòng vây của những người đánh ghen và đưa
về nhà chăm sóc cho đến phần cuối, cuộc đối đầu với bọn cướp vịt Như vậy có thể thấy câu chuyện là một dòng chảy tâm lý của những mảng ký ức chắp nối của các
nhân vật Đọc Cánh đồng bất tận, chúng ta dễ bị đắm chìm theo dòng cảm xúc của
Nương và Điền Đó là cái thế giới cảm xúc hỗn độn từ việc cứu Sương cho đến những mảng ký ức chắp nối về mẹ và cả những cơ cực mà hai chị em phải trải qua trong bao tháng ngày lênh đênh miền sông nước
Còn với kịch bản phim Cánh đồng bất tận, kịch bản dù đã trung thành với tác
phẩm văn học nhưng ít nhiều cũng có một số sự thay đổi nhỏ Với thời lượng bộ phim chỉ khoảng tối đa 120 phút, nhà biên kịch Ngụy Ngữ đã khéo léo bỏ bớt một
số tình tiết so với tác phẩm ban đầu Biên kịch đã khéo léo đã khơi gợi những mảng
ký ức theo dòng tâm lý của Nương tuy nhiên đã lược bỏ cảnh cuộc sống lênh đênh của ba cha con sau khi mẹ bỏ đi và mảng kí ức của út Vũ và Điền so với nguyên tác văn học Đối với một bộ phim điện ảnh, thời lượng trình chiếu thường bị giới hạn
Vì vậy, việc các nhà biên kịch và đạo diễn lược bỏ một số tình tiết cũng là một điều
Trang 33cần thiết nhằm lược bớt những phân cảnh phụ để tập trung vào làm rõ chủ đề của truyện, làm sáng rõ những diễn biến tâm lý của hai chị em Nương Và Điền
Tính liên văn bản còn được thể hiện qua các nhân vật trong kịch bản Các tình tiết, biến cố, tính cách nhân vật được tác giả giữ nguyên so với tác phẩm gốc Điều này được thể hiện qua hệ thống các nhân vật: Nương, Sương, Điền, út Vũ…
Trong tiểu thuyết, Nương là nhân vật chính - người xưng tôi Đây là kiểu nhân vật được cải biên theo nguyên tác Đó là một cô gái giản dị, xinh đẹp với tính cách nhẫn nhịn đôi khi có phần cam chịu Cảm xúc Nương dành cho Sương cũng là
sự đồng cảm, sẻ chia gần gũi về tính nữ “Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh, chị cười,
làm đĩ” Trong truyện Cánh đồng bất tận, Nương giữ vai trò là người dẫn chuyện
đồng thời cũng là nhân vật chính diễn tả toàn bộ đời sống nội tâm, chuỗi tâm trạng
của nhân vật tôi qua bao miền kí ức Từ cái nơi “Tôi có kinh nguyệt đầu tiên đến cái
nơi thằng Điền bị rắn cắn” Đến những biến cố, sự xáo trộn của gia đình khi có sự
xuất hiện của cô gái điếm Nhân vật “tôi” mang trong người sự cam chịu, thiếu thốn tình thương, khó có sự chia sẻ, giãi bày cùng ai Có một thời gian cô là một con người mà hầu như không có nhu cầu đối thoại hay giao tiếp với người bình thường Mọi thứ đều diễn ra thật chậm để có thể diễn tả trọn vẹn những cung bậc tình cảm như đau đớn, xót xa, nhớ nhung, căm ghét… Tất cả dường như đã chạm đến lòng người về sự cô độc, quay quắt, sự ác nghiệt của cuộc sống Tóm lại, nếu nhìn từ góc
độ nghệ thuật, có thể thấy chất liệu làm nên sự thành công cho tác phẩm chính là những dòng độc thoại nội tâm của Nương Cái âm điệu trầm buồn, đau đớn, những miền kí ức day dứt cứ đưa người đọc, người xem đi đến những niềm suy tư, day dứt cho một kiếp nhân sinh lênh đênh thương hồ
Với trường hợp Mùa len trâu, bộ phim được cải biên từ hai tác phẩm Mùa len
trâu và Một cuộc biển dâu của nhà văn Sơn Nam là một liên văn bản đa dạng Đạo
diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã xây dựng khá thành công cốt truyện với đầy đủ các sự kiện như trong truyện Bên cạnh đó ông cũng thêm và cắt bớt một số chi tiết trong truyện khi cải biên
Trang 34Cốt truyện của phim Mùa len trâu xoay quanh những sự kiện, tình huống mà
Kìm - chàng trai trẻ trong quá trình dẫn trâu đi len gặp phải Trên chuyến hành trình
ấy, chuyện xảy ra với anh với biết bao điều bất ngờ
Những gian khó mà Kìm đối diện cũng chính là một phần của những trang lịch sử về đời sống lam lũ của người dân miệt vùng Bảy Núi - An Giang vào mùa nước lũ về Phần mở đầu cốt truyện của phim và truyện đều là phần giới thiệu khái quát về các bối cảnh, xã hội, nhân vật Tác phẩm truyện mở đầu là những dòng miêu
tả của nhà văn Sơn Nam về mùa nước nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long Còn tác phẩm phim được mở đầu bằng cảnh nước nổi mênh mông và những dòng hồi ức của
Kìm khi về già “Cả đời tôi sống ở đây Cà Mau hai mùa mưa nắng Mùa mưa, nước
phủ trùm lên tất cả Cỏ và nhà Người và trâu Tới mùa khô, tôi chỉ nhớ được mùi đất ”
Sau đó vì lí do không đủ tiền thuê người giữ trâu qua mùa lũ nên ông bà Tư Định đã để Kìm ra đi, chàng thanh niên mười lăm tuổi gia nhập vào bọn len trâu và hăng hái dắt hai con trâu đi kiếm cỏ ở những vùng cao Từ đây, tính cách của Kìm cũng dần thay đổi Anh gia nhập đội quân len trâu của Lập - cậu ruột mình và tính cách dần thay đổi theo môi trường sống mà anh đã trải qua Trong phim, đạo diễn
Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã kết hợp thêm phần cốt truyện của truyện ngắn Một
cuộc biển dâu và thêm tình tiết để làm nên sự kiện mùa len trâu thứ hai của Kìm
Mùa len trâu thứ nhất đã đưa Kìm bước vào thế giới của người lớn và phá tan
sự ngây thơ, trong sáng trong anh Kìm quen dần với những nét trần trụi của cuộc sống như rượu, thuốc, cưỡng hiếp và đâm chém như cách mà con người ta phải sinh tồn trong cuộc sống khắc nghiệt Bước vào mùa len trâu thứ hai, sự trưởng thành của Kìm mang nhiều nỗi mất mát, sự đắng cay của những “mảnh vỡ đàn ông” khi khám phá ra bí mật của bản thân Kìm chính là cháu ruột của Lập, là kết quả của một lần ba Kìm đi len trâu và cưỡng hiếp em gái của Lập Vì hoàn cảnh sống khó khăn, ba mẹ Kìm đã bán đi con trâu còn lại và quay về sống ở miệt Cà Mau Riêng Kìm, trong khao khát thoát khỏi cảnh nghèo khó đã ra len trâu riêng và tranh giành
sự nghiệp với Lập Từ đây Kìm bắt đầu những “trải nghiệm” của cuộc đời khi đem
Trang 35lòng yêu Bân (vợ của Đẹt) và không được đáp trả Kìm đau đớn khi chứng kiến ba mất và phải thủy táng ông
Qua hai mùa đi len, Kìm phải đối mặt với thiên nhiên, sự liều lĩnh, máu giang
hồ đã làm một cậu bé vốn dĩ chân chất, ngoan hiền như Kìm thành một kẻ biết chửi thề, uống rượu, hút thuốc, đâm chém Chính cuộc sống giang hồ như vậy đã đẩy Kìm thành một gã đàn ông liều lĩnh, hầm hố Thế nhưng so với Lập thì Kìm vẫn có tính người Những cuộc đối thoại mộc mạc giữa ông bà Hai Tích, đặc biệt là việc hi sinh chiếc cối đá, tài sản duy nhất của gia đình bà Hai Tích để dìm xác của ba Kìm xuống sông, tránh mất xác đã thức tỉnh Kìm Sau đó, Kìm sống cùng Thiều (con của Bân và Đẹt) trên căn chòi của ông bà Hai để lại
Nếu so sánh hai truyện ngắn và cốt truyện phim thì dễ thấy rằng, truyện của Sơn Nam chỉ là chất liệu Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã có công kết nối hai văn bản thành một thể thống nhất, liền mạch, với nhiều chi tiết có điểm nhấn hơn so
với truyện Vì vậy, bộ phim Mùa len trâu đã đạt được những thành công từ việc xây
dựng cốt truyện đến nhân vật, bối cảnh và kĩ xảo điện ảnh phù hợp
Mùa len trâu hay Cánh đồng bất tận còn gợi nhắc người xem nghĩ đến những
“hương vị miền Tây” trong các sáng tác của Nguyễn Quang Sáng hay Đoàn Giỏi Xem phim, khán giả không chỉ được nhìn ngắm các cảnh vật tự nhiên mà còn khám phá tập quán sinh sống của con người miền Tây Do đó, bộ phim không không chỉ
để giải trí mà còn chứa đựng bao yếu tố liên văn hóa sâu sắc
Mùa len trâu còn là một liên văn bản về âm nhạc Ngoài bài hát chủ đạo, Mùa len trâu còn có những bài hát về miền Tây Nam Bộ như bài hát Lý Con Trâu
hay điệu hát ru của Ban Qua những lời ca thân thuộc, hình ảnh đẹp và lạ mắt của miền Tây mùa nước nổi Hình ảnh những con người lam lũ, vất vả mưu sinh hay hình ảnh con trâu gắn liền với mảnh vườn, áo bà ba, chiếc cối xay, chiếc xuồng ba lá… đã làm nên không gian văn hóa đậm chất Nam Bộ
Hai bộ phim Cánh đồng bất tận và Mùa len trâu là hai bộ phim tiêu biểu
trong làng điện ảnh miền Nam những năm gần đây Cả hai đều là những liên văn bản đa dạng, sống động và gửi gắm những thông điệp văn hóa sâu sắc, gợi nhắc người xem về phong cảnh, văn hóa miền Tây sông nước với những tập tục lâu đời
Trang 36Qua đó, hai bộ phim đã thể hiện cuộc sống nhân hậu, nghĩa tình, phóng khoáng của những người dân quanh năm lấy sông nước, ruộng đồng làm bạn Đặc biệt, phim phản ánh sự khốc liệt của cuộc sống đã đẩy những người nông dân chân chất như út
Vũ, Kìm vào vòng xoáy của thời cuộc Mỗi bộ phim là mỗi gam màu, mỗi bức tranh Mỗi thước phim là mỗi cách nhìn khách quan của đạo diễn về con người - cuộc đời nhưng trên tất cả, hai bộ phim đã giữ được hồn cốt của truyện, của dân tộc Văn học đã hỗ trợ và nâng bước cho điện ảnh, mang điện ảnh đến gần hơn với công
chúng
1.3 Leon Quang Lê - Hành trình đến với Song lang
1.3.1 Việt kiều Mĩ mơ giấc mộng cải lương
Đối với mỗi người, quê hương là hai tiếng gọi thân thương Quê hương là nơi
ta sinh ra và lớn lên từng ngày, là nơi cất giữ bao kỉ niệm tươi đẹp thời ấu thơ Chắc hẳn, quê hương trong tâm trí mỗi người là những gì đẹp nhất, gần gũi nhất Quê hương hiện lên trong câu hát ầu ơ của mẹ, câu chuyện kể của bà, hay những buổi đêm cả gia đình cùng nhau sum họp Với Leon Quang Lê, nam diễn viên - đạo diễn Việt Kiều sinh năm 1977 thì tình yêu quê hương gắn liền với nghệ thuật cải lương dân tôc Do nhà gần rạp hát Minh Châu, ngay từ nhỏ, Leon đã được tiếp xúc với nghệ thuật cải lương và niềm đam mê cải lương theo anh từ đó Anh đã từng lén mẹ
đi xem hát đến mức bị phạt, bị đánh vì đi xem cải lương đến mười một giờ đêm chưa về Đến năm 13 tuổi, anh sang Mỹ định cư và giấc mơ ấy đành gác lại Nơi đất khách, anh làm nhiều công việc để mưu sinh, nhưng tình yêu nghệ thuật luôn cháy bỏng trong anh Sau này, Leon chuyển chỗ ở từ bang California đến New York để tìm cơ hội phát triển sự nghiệp Hơn mười năm làm việc, anh nhận được học bổng
về múa và diễn xuất của hai ngôi trường là Step on Broadway và Broadway Dance Center tại New York - Mỹ Đến nay, Leon Quang Lê đã sở hữu hơn mười vai diễn tại sân khấu Broadway Leon chạm ngõ điện ảnh khi làm đạo diễn phim ngắn có độ
dài 10 phút Danw Bộ phim này đã giành được nhiều giải thưởng lớn tại Liên hoan
phim ngắn trực tuyến Việt Nam - quốc tế YxineFF và Asians on Film Festival tại Los Angeles- Mỹ Sau vài năm tích lũy kinh nghiệm, anh bắt tay xây dựng phim
ngắn Talking to my Mother
Trang 37Tại Việt Nam, anh từng xuất hiện trong bộ phim Những nụ hôn rực rỡ -đạo
diễn Nguyễn Quang Dũng, Để mai tính của đạo diễn Charlie Nguyễn hay phim Cho
một tình yêu - Nguyễn Tranh Gần đây, anh tập trung dựng phim chiếu rạp đầu tay
tại Việt Nam mang tên Song lang do chính anh và nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc
cùng viết kịch bản Ban đầu, Leon muốn thực hiện một bộ phim về cải lương thật hoành tráng, đặc biệt là chủ đề nói về thời hưng thịnh của bộ môn nghệ thuật truyền thống này vào những năm 1960 - 1970 Nhưng sau năm năm xây dựng dự án, anh cảm thấy tính khả thi không cao Vì vậy, anh đã có sự điều chỉnh trong kịch bản Anh kết hợp cùng nhà văn - nhà biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc để chắp bút cho
Song lang trở thành một kịch bản được hòa quyện bởi niềm đam mê cải lương và
tình yêu điện ảnh
Đối với Leon Quang Lê, từ thuở ấu thơ, trong anh đã có một mối tình đặc biệt với cải lương, còn điện ảnh chỉ là một ngã rẽ trong cuộc đời của anh Chính vì thế, anh đã quyết định chọn môn nghệ thuật dân tộc này để dựng thành một bộ phim
của mình Leon chia sẻ: “Tình yêu đầu đời luôn mạnh mẽ nhất và khó quên nhất
Cải lương chính là mối tình đầu của tôi Điện ảnh chỉ là kẻ đến sau Người ta thường bảo tình cũ không rủ cũng tới Để rồi 25 năm, tôi và cải lương lại có duyên
nợ tìm về với nhau qua Song lang” (https://www.123phim.vn)
Với đồng biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc - bà là một nghệ sĩ, đạo diễn, nhà văn có nhiều kinh nghiệm trong giới nghệ sĩ ở Sài Gòn Người đời hay nhắc đến
bà với danh xưng “Bà đồng của những trang viết với rất nhiều kịch bản sân khấu,
kịch bản phim và tác phẩm văn học nổi tiếng” (https://www giadinh.net.vn) Hơn ba
mươi năm trong nghề, bà nhận được vô số giải thưởng lớn nhỏ cho các hạng mục kịch bản xuất sắc Mặc dù sống ở hải ngoại nhưng nhà biên kịch Minh Ngọc vẫn đau đáu với quê hương Nơi xứ người, hàng ngày bên cạnh bà vẫn kè kè ba thứ vật bất li thân: một chiếc máy tính xách tay để sáng tác, một chiếc máy tính bảng bên cạnh để xem các video trên yotube và một chiếc ti vi để thỉnh thoảng khi đang sáng tác thì lắng nghe các chương trình đang phát sóng trong nước Kịch bản được bà sáng tác khá phong phú và đa dạng, từ kịch bản dành cho thiếu nhi đến kịch bản cho
sân khấu và điện ảnh Tiêu biểu trong số đó là kịch bản Ngọc viễn đông với ba giải
Trang 38thưởng điện ảnh quốc tế cho đạo diễn, quay phim và âm nhạc xuất sắc Không chỉ
vậy, bà còn là người đầu tiên đưa tác phẩm Việt Nam vào sân khấu off-off Broadway tại Mĩ với cương vị tác giả, đạo diễn, diễn viên với các vở: Người đàn bà thất lạc,
Chúng tôi là…
Từ mối lương duyên trên, đạo diễn Leon Lê và nghệ sĩ Minh Ngọc đã gặp nhau lần đầu trong Liên hoan phim thế giới về Việt Nam ở Nam California năm
2007 Từ đó, nhiều kịch bản hợp tác giữa hai người đã ra đời như phim ngắn Talking
to mother Năm 2014, hai người bắt tay vào viết Song lang, khởi nguồn từ cốt
truyện có giang hồ, cải lương và chuyện tình tay ba của anh kép cải lương - anh giang hồ cùng con gái ông trùm Nhưng rồi thấy kịch bản “mênh mông, rộng lớn” nên hai nhà biên kịch đã điều chỉnh lại câu chuyện trong góc nhìn chuyện đời của
Dũng Thiên Lôi
Tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc tại tư gia của Leon Quang Lê ở New York, năm
2014 (Nguoidothi.net.vn)
Trang 39“ Không còn to tát, ôm đồm như ban đầu, không còn là một bộ phim về cải lương dù cải lương vẫn là một trong những ‘nhân vật’ quan trọng của phim Nhưng bù lại, cải lương bây giờ chính là cải lương mà tôi hiểu, tôi yêu và vẫn nhớ như in vì nó gắn liền với tuổi thơ của tôi lớn lên tại Việt Nam”
(Leon Quang Lê, 2019)
Khi chia sẻ với đồng biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn Leon đã nói:
“Khi được đọc những cảm xúc chia sẻ của khán giả đã xem Song Lang 20 năm làm diễn viên, em đã khá chai với những lời review khen chê, đặc biệt
là rất bình tĩnh với những lời khen Nhưng em xúc động khi thấy những chăm chút, ý tứ của mình thể hiện trong phim đã được rất nhiều người đồng cảm, thấu hiểu và chia sẻ Rất nhiều ý tưởng, chi tiết cài cắm ẩn trong phim
mà khi em làm dường như chỉ cho bản thân, chớ không có hi vọng sẽ các khán giả với nhứng góc nhìn khách quan nhận ra” (https://www.123 phim.vn)
Có thể nói Song lang là đứa con tinh thần ấp ủ suốt bấy nhiêu năm xa quê
hương của Leon, nói anh “ăn ngủ, sống, chết” cùng nó quả cũng không sai Và cũng hiếm thấy một đạo diễn Việt kiều nào lại đam mê cải lương như Leon Hơn ba năm qua, anh thực sự vật lộn với bộ phim này Anh vứt bỏ cuộc sống phù hoa ngay trung tâm thành phố NewYork, quay về Việt Nam sống trong phòng trọ của một chung cư Sài Gòn cũ Đâu đó nơi đất Sài Gòn, trong những tháng ngày bộ phim bị bế tắc, kịch bản chào hàng khắp nơi nhưng chưa tìm được nhà sản xuất Khi đó, Leon lại lang thang ở các lớp học cải lương để tìm tòi, học hỏi Thỉnh thoảng, anh còn đến nhà của các soạn giả cải lương kì cựu để đàn ca, cho cải lương ngấm thêm vào máu thịt của
mình Vì vậy, trong Song lang, Leon không chỉ là một đạo diễn mà còn là một soạn
giả Trong kịch bản có khá nhiều câu vọng cổ, bài bản cải lương được soạn riêng
cho Song lang…
Hi vọng, thất vọng rồi than phiền, lo lắng là đủ mọi cung bậc cảm xúc của
Leon khi anh sống cùng Song lang Anh làm đủ mọi thứ, anh khao khát và đau đáu
với giấc mộng lớn Anh mong muốn làm một bộ phim điện ảnh đầu tay về nghệ
Trang 40thuật và cuộc đời hơn là một diễn viên trên sàn nhảy Broadway hay vài vai phụ làng nhàng Tất cả những cảm xúc của Leon là cảm xúc của một người khao khát làm nghệ thuật chân chính hơn là bán rẻ nghề nghiệp của mình Và nếu như trong diễn xuất có kiểu diễn “nhập hồn” thì chắc Leon cũng là người như vậy Anh ăn cùng, ngủ cùng và thậm chí căn phòng trọ nơi chung cư cũ kĩ - nhà của Dũng Thiên Lôi, cũng là căn hộ mà Leon đang ở
Có lẽ, với những Việt kiều sống xa quê như biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc hay đạo diễn Leon Lê thì nghệ thuật nói chung hay cải lương nói riêng luôn là một mạch ngầm trong hơi thở của họ Những người con xa xứ ấy luôn đau đáu hướng về nguồn cội, hướng đến việc bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần Dù điện ảnh thứ bảy luôn là một mảnh đất đầy sự cạnh tranh khốc liệt không dành cho những ai thích dạo chơi nhưng chúng ta cũng thầm cảm phục và ngưỡng mộ họ, vì
những việc họ đã làm, những điều họ đã cống hiến cho nền nghệ thuật nước nhà
1.3.2 Song lang
Song lang, bộ phim điện ảnh đầu tay của đạo diễn Leon Quang Lê Phim
được khởi chiếu ngày 17 tháng 8 năm 2018 Đây cũng là bộ phim được thực hiện
nhân dịp kỉ niệm 100 năm sân khấu cải lương Bộ phim được lấy tiêu đề là Song
lang (hay Song loan) tên một loại nhạc cụ gõ đặc trưng của người Việt, nó là dụng
cụ quan trọng dùng để giữ nhịp trong dàn nhạc cải lương Trong bộ phim, chiếc song lang hay cải lương chính là “sợi dây” kết nối hai nhân vật chính
Bộ phim nói về đời sống của cải lương đầu những thập niên 1980 Trong đó nhân vật Dũng “thiên lôi” (Liên Bỉnh Phát thủ vai) là con của một đôi vợ chồng nghệ sĩ Bố anh là nghệ sĩ đàn kìm (đàn nguyệt) còn mẹ anh là kép nữ chính Theo
bố mẹ rong ruổi khắp các gánh hát từ bé nên niềm say mê cải lương đi sâu vào lòng cậu bé Dũng lúc nào không hay Năm Dũng 14 tuổi, bố mẹ lại xảy ra mâu thuẫn và
ly hôn Từ đó anh không theo nghiệp diễn mà trở thành dân xã hội đen chuyên đi đòi
nợ thuê Trong quá trình đi đòi nợ, Dũng gặp Linh Phụng (Issac thủ vai) là một kép chánh của gánh hát Thiên Lý Kể từ khi gặp Linh Phụng, đặc biệt là sau cái đêm cả hai ở nhà Dũng, Dũng đã quyết định bỏ hết mọi thứ và làm lại cuộc đời Anh dự