1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa

127 99 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến giáo dục hành vi văn hóa như đề tài: “Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ

Trang 1

Ngô Thị Trúc Ly

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA

CHO TRẺ 5-6 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

Ngô Thị Trúc Ly

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA

CHO TRẺ 5-6 TUỔI

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục mầm non)

Mã số : 8140101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THỊ QUỐC MINH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn hoàn toàn chính xác và trung thực, đồng thời chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác Tài liệu tôi sử dụng được trích dẫn chính xác và được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2020

Tác giả

Ngô Thị Trúc Ly

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều động viên, hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình, nhà trường và bạn

bè Thông qua luận văn, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô phòng Sau Đại học, đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian học, sắp xếp và tạo nhiều điều kiện để tôi hoàn thiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đầu tiên đến quý Thầy Cô Khoa Giáo dục mầm non, những Thầy Cô trong khoa đã gắn bó giảng dạy tôi trong suốt thời gian học Đại học

và đến ngày hôm nay

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Tiến sĩ Trần Thị Quốc Minh, người Cô kính mến đã dành cho tôi những lời quan tâm, hướng dẫn tận tình giúp tôi chọn đề tài phù hợp, nhận xét chỉnh sửa để cho tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu này Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên các trường Mầm non tại quận 8 đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát để hoàn thành luận văn này một cách trọn vẹn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, những người thân, đồng nghiệp

và bạn bè đã bên cạnh tôi động viên, khích lệ và chia sẻ những kiến thức trong suốt quá trình nghiên cứu của tôi

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý Thầy Cô trong hội đồng nhận xét, đã cho tôi những đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn chỉnh luận văn được tốt hơn

Trân trọng cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2020

Tác giả

Ngô Thị Trúc Ly

Trang 5

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.2 Hệ thống các khái niệm 12

1.2.1 Giáo dục hành vi văn hóa 12

1.2.2 Đặc điểm hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 16

1.2.3 Giáo dục hành vi văn hóa trong giáo dục mầm non 17

1.2.4 Khái niệm về sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ 25

1.2.5 Tiêu chí đánh giá hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 34

1.2.6 Khái niệm về sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 35

1.2.7 Đặc điểm trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ 5-6 tuổi 35

1.2.8 Ý nghĩa của TC ĐVTCĐ đối với sự phát triển chung của trẻ MG 36

1.2.9 Những lưu ý khi sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 36

Tiểu kết chương 1 38

Trang 6

VI VĂN HÓA CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG

MẦM NON TẠI QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40

2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 40

2.1.1 Mục đích khảo sát 40

2.1.2 Nhiệm vụ khảo sát 40

2.1.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 41

2.1.4 Tiến trình khảo sát 44

2.2 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi tại trường MN quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh 46

2.2.1 Thực trạng nhận thức của GV về phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 46

2.2.2 Thực trạng điều kiện cần và những khó khăn mà GV gặp phải khi sử dụng phương pháp dùng trò chơi ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 61

2.2.3 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục HVVH của giáo viên mầm non 63

2.2.4 Đề xuất, kiến nghị của GV để giúp việc sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ MG 5-6 tuổi 69

2.3 Đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 73

2.3.1 Cơ sở đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 73

2.3.2 Nguyên tắc xây dựng một số biện pháp giúp việc sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 74

2.3.3 Đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 75

2.3.4 Tổ chức khảo nghiệm 81

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 8

Số thứ tự Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của GV về khái niệm HVVH 46Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức của GV về khái niệm giáo dục HVVH 48Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức của GV về nội dung giáo dục hành vi

văn hóa cho trẻ 50Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức của GV về khái niệm về sử dụng PP dùng

trò chơi ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 52Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của PP dùng trò chơi

ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 55Bảng 2.7 Thực trạng mức độ thường xuyên của GV khi sử dụng PP dùng

TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 56Bảng 2.8 Thực trạng mức độ phù hợp khi GV sử dụng PP dùng trò chơi

ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 57Bảng 2.9 Thực trạng mức độ hiệu quả khi sử dụng PP dùng trò chơi

ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 58Bảng 2.10 Thực trạng những trò chơi ĐVTCĐ mà GV thường đưa vào trong

giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 59Bảng 2.11 Thực trạng điều kiện cần và khó khăn của GV khi sử dụng PP

dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 61Bảng 2.12 Kết quả phân tích sự chuẩn bị và những trò chơi mà GV sử dụng

PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 65Bảng 2.13 Bảng phân tích những nội dung giáo dục HVVH khi GV sử dụng

PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 67Bảng 2.14.Quá trình hình thành HVVH của trẻ khi GV sử dụng PP dùng TC

ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 69Bảng 2.15 Danh sách các trường MN được tiến hành khảo sát tính khả thi của

các biện pháp đề xuất: 82Bảng 2.16 Kết quả đánh giá của GV về mức độ tính khả thi của các biện pháp

đề xuất: 82

Trang 10

dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 55Biểu đồ 2.2 Mức độ sử dụng của PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH

cho trẻ 5-6 tuổi 56Biểu đồ 2.3 Mức độ phù hợp khi sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục

HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 57Biểu đồ 2.4 Mức độ hiệu quả khi sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục

HVVH cho trẻ 5-6 tuổi 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là một bộ phận không thể thiếu

trong hệ thống giáo dục quốc dân, chương trình GDMN quy định việc thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi với mục tiêu nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017) Giáo dục hành vi văn hóa giáo dục cho trẻ

về giá trị, nét tính cách, phẩm chất cần thiết phù hợp với lứa tuổi của trẻ và hình thành cho trẻ nếp sống văn minh, hành vi ứng xử phù hợp hơn khi trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông có kết quả tốt nhất Vì vậy, việc giáo dục HVVH cho trẻ có ý nghĩa vô cùng to lớn và trở thành mục tiêu rất quan trọng trong giáo dục mầm non nước ta

Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2006): “Trẻ em có thể tham gia vào rất nhiều trò chơi và hầu hết trò chơi đều có tác động đến trẻ về nhiều mặt (thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ) nhưng trong việc giáo dục đạo đức, hình thành hành vi văn hóa cho trẻ thì phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề là phương pháp có hiệu quả nhất”(Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Với lứa tuổi 5-6 tuổi thì hoạt động chủ đạo của

trẻ là hoạt động vui chơi và trọng tâm là TC ĐVTCĐ Ở lứa tuổi này, trò chơi đóng vai theo chủ đề sẽ giúp trẻ học được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, góp phần hình thành toàn diện nhân cách của trẻ Trẻ thể hiện được các hành vi chuẩn mực xã hội, thể hiện hành vi của mình trong các vai chơi và dần dần hình thành những thói quen hành vi văn hóa tốt Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề đứa trẻ được hình thành những hành vi có văn hóa, giúp trẻ làm quen với những ngôn ngữ chuẩn mực, những hành vi văn hóa không thể thiếu được trong giao tiếp, trong đời sống con người

Thực tiễn giáo dục mầm non cho thấy, phương pháp dùng trò chơi mà điển hình là phương pháp dùng TC ĐVTCĐ đã được đưa vào hoạt động của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Nhưng việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ của GV

để giáo dục HVVH cho trẻ còn gặp nhiều vấn đề đang được nhiều nghiên cứu quan tâm Vì vậy, việc giáo dục HVVH có thật sự tốt hay chưa còn phụ thuộc vào người

Trang 12

lớn, trọng tâm vẫn là người GVMN GV phải biết lựa chọn chủ đề chơi, nội dung chơi sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục mà đặc biệt là trong giáo dục HVVH cho trẻ Đồng thời, GV phải biết cách sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ này, một mặt để giáo dục trẻ thể hiện hành vi tốt, kịp thời điều chỉnh hành vi không tốt, mặt khác để hoàn thành mục tiêu mà hệ thống giáo dục mầm non quan tâm là giáo dục HVVH cho trẻ

Trong thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề

cập đến giáo dục hành vi văn hóa như đề tài: “Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi” của tác giả Hoàng Thị Phương đề cập đến

một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa hiệu quả hơn, mà chưa có nghiên cứu nào nói đến việc sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Bên cạnh đó, ở một số trường MN công lập, tư thục trên địa bàn thành phố nói chung và một số trường MN tại quận 8 nói riêng, việc sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ thì chưa hiệu quả, mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH còn chưa phong phú và mơ hồ GVMN chưa quan tâm đến việc sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ nhiều, biện pháp sử dụng chưa cụ thể và rõ ràng, GV chỉ giáo dục HVVH lồng ghép vào từng chủ đề, từng giáo án, mà chưa nhận thấy rõ là có một phương pháp để giáo dục HVVH cho trẻ đó

là phương pháp dùng TC ĐVTCĐ riêng biệt Từ những lí do trên nên người nghiên

cứu chọn đề tài: “Thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo

chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi” cho nghiên cứu khoa học

của mình và mong muốn đóng góp một phần nào đó trong việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ được tốt hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh Trên cở sở đó, đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành

vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi được tốt hơn

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết nghiên cứu

Việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố

Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn một số GV

có hạn chế về nhận thức, về sử dụng TC ĐVTCĐ như một phương pháp trong giáo dục HVVH Nếu làm rõ được thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi thì người nghiên cứu sẽ có cơ sở đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi được tốt hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:

5.1 Hệ thống hóa một số lý luận có liên quan đến việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 5.2 Khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ

đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh Trên cở sở đó, đề xuất một số biện pháp giúp việc

sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi được tốt hơn

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Trang 14

Khảo sát thực trạng việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi

6.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi được tập trung nghiên cứu trên một số CBQL và GV dạy trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa các vấn đề lý luận

có liên quan đến phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi: lịch sử nghiên cứu vấn đề, khái niệm về hành

vi, khái niệm HVVH, khái niệm giáo dục HVVH, khái niệm về trò chơi đóng vai theo chủ đề, khái niệm về PP dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Mục đích quan sát: Nhằm tìm hiểu thực tế việc GV sử dụng phương pháp

dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non quận 8 thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng: Tiến hành dự giờ, quan sát giờ tổ chức hoạt động vui chơi của GV

trực tiếp giảng dạy trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố

Hồ Chí Minh

Nội dung quan sát:

Quan sát GV sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi

Quan sát hành vi của trẻ khi GV sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề

Công cụ quan sát: Biên bản quan sát, chụp hình

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 15

Mục đích: Nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi

ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ MG 5-6 tuổi

Nội dung phiếu hỏi tập trung:

Phần 1: Xác định mức độ nhận thức của giáo viên về phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi: xác định được mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục HVVH, phương pháp giáo dục HVVH là những phương pháp nào? Nội dung chơi và những trò chơi nào mà được GV đưa vào để giáo dục HVVH Phần 2: Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục HVVH cho trẻ mầm non

+ Mức độ sử dụng thường xuyên (rất thường xuyên, khá thường xuyên, thường xuyên, ít thường xuyên, không bao giờ)

+ Mức độ hiệu quả (rất hiệu quả, khá hiệu quả, hiệu quả, ít hiệu quả, không hiệu quả)

+ Mức độ phù hợp (phù hợp với đặc điểm của trẻ, với mục tiêu và nội dung giáo dục, điều kiện sống, điều kiện cơ sở vật chất lớp)

Phần 3: Những khó khăn, đề xuất, kiến nghị của GV để giúp việc sử dụng PP

dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục HVVH cho trẻ MG 5-6 tuổi được hiệu quả hơn

Cách tiến hành: xây dựng phiếu hỏi, gửi phiếu hỏi cho từng giáo viên và thu trực tiếp

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn nhằm trao

đổi, chia sẻ trực tiếp với cán bộ quản lý, GV trường mầm non nhằm làm rõ thực trạng sử dụng phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong giáo dục dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

Công cụ: Phiếu phỏng vấn, phỏng vấn trực tiếp, ghi chép, ghi âm

7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động( hồ sơ của giáo viên):

Mục đích: Thu thập và tìm hiểu, phân tích các hồ sơ giảng dạy của giáo viên mầm non: kế hoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần và kế hoạch ngày để thu thập thêm các thông tin về thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục dục hành vi văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trang 16

7.3 Phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng phần mềm bằng Excel để xử lý, phân tích các kết quả khảo sát và khảo nghiệm sư phạm

Nội dung: Xử lý, phân tích thông tin thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra, ghi chép…

Đối tượng: Dữ liệu, thông tin định lượng từ các dữ liệu thống kê đã khảo sát Cách thức: Dùng phần mềm Excel

8 Đóng góp của đề tài

8.1 Về lý luận

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ

đề trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi

8.2 Về thực tiễn

Làm rõ thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh Đề xuất một số biện pháp giúp việc sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MG 5-6 tuổi được tốt hơn

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về phương pháp dùng TC ĐVTCĐ

Hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là TC ĐVTCĐ luôn là đề tài

mà các nhà nghiên cứu quan tâm Đối với trẻ em, hoạt động vui chơi giữ vai trò cực

kỳ quan trọng

Vào thế kỉ XX, J.Piaget (1963) cho rằng:

Trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển nhận thức của mình thông qua sự tương tác qua lại tích cực với cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ và sự giao tiếp tích cực của trẻ, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống và các vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi (Phan Trọng Ngọ, 2003)

Nhà giáo dục K.Đ.Usinxki (Nga) rất đề cao đến vai trò của trò chơi tập thể đối với trẻ mẫu giáo Thông qua trò chơi, trẻ dễ dàng lĩnh hội một số kinh nghiệm văn hóa – xã hội loài người (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr167)

N.K.Crupxkaia chỉ ra rằng: “Trò chơi chính là phương thức nhận biết thế giới,

là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý Trẻ không chỉ học trong lúc học, mà còn học cả trong lúc chơi Trẻ em học cách tổ chức, học nghiên cứu cuộc sống Trong khi chơi, trẻ tập khắc phục khó khăn, nhận thức hoàn cảnh xung quanh và tìm ra được lối thoát đúng đắn” (Nguyễn Thị Hòa, 2011,tr167)

Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học macxit và các nhà tâm lý học phương Tây hiện đại đều khẳng định rằng trò chơi của trẻ mang

bản chất xã hội “Bản chất xã hội được thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện của trò chơi (cả về phương diện lịch sử xã hội lẫn phương diện lịch sử phát triển của cá nhân),

về chủ đề chơi, nội dung chơi và hình thức biểu hiện” (Đinh Văn Vang, 2009)

Trang 18

Đồng thời, Đ.B Enconhin cho rằng lịch sử phát triển của trò chơi gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội TC ĐVTCĐ xuất hiện, khi trẻ chơi trò chơi này, chúng được thỏa mãn nguyện vọng của mình là vươn tới cuộc sống xã hội người lớn, được hành động và đối xử như người lớn thật sự (Đinh Văn Vang, 2009, tr.17) Khi phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển của trò chơi trẻ em một lần nữa tác giả

Đ.B Ecônhin khẳng định: “Sự xuất hiện của trò chơi không phải bắt nguồn từ tác động của các động lực bên trong mang tính chất bản năng, bẩm sinh mà bắt nguồn

từ điều kiện xã hội trong cuộc sống của trẻ” (Levitov H.D, 1963, tr.62)

Theo Vygotsky vui chơi của đứa trẻ không chỉ là một quá trình lặp lại Trong khi nó bắt đầu trong những tương tác xã hội với người lớn, đứa trẻ sớm thể hiện chơi độc lập, giả vờ và sáng tạo (Collete Gray & Macblain, 2014, tr.145)

Nhìn chung, những nhận định trên nói về vai trò của trò chơi trọng tâm là TC ĐVTCĐ chính là một phương tiện giáo dục và nhằm mục đích phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, và đặc biệt trò chơi ở đây được coi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ, bởi vì thông qua chơi hình thành cho trẻ một số phẩm chất đạo đức cần thiết phù hợp với xã hội như: trẻ chơi cùng nhau, chia sẻ và hợp tác với nhau Đặc biệt, một số quan điểm còn lại thì đề cặp đến nội dung của trò chơi, để có thái độ tốt, hành vi văn hóa tốt thì nội dung chơi phải lành mạnh

1.1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi văn hóa

Đại diện cho học thuyết hành vi là B F Skinner (1953) - nhà tâm lí học người

Mĩ đã nêu lên quan điểm của mình:

Nếu người lớn xây dựng môi trường đáp ứng hành vi của trẻ thông qua điều kiện được thực hiện bởi thao tác, hành vi của trẻ sẽ dễ dàng nảy sinh, lúc này, nếu người lớn khen thưởng trẻ sẽ giúp củng cố hành vi của trẻ Ngược lại, khi trẻ thực hiện hành vi nào

đó mà bị người lớn khiển trách, hành động đó sẽ bị giảm dần Tất cả hành vi của trẻ đều được kiềm chế bởi tác động bên ngoài gọi là: khen thưởng và củng cố Quá trình này được thực hiện một cách liên tục có hệ thống (Phan Trọng Ngọ, 2003)

Nghĩa là, đứa trẻ được thể hiện cử chỉ, điệu bộ của mình trong môi trường mà người lớn tạo ra và hành vi đúng hay sai đều được sự đánh giá và củng cố một cách

Trang 19

đúng lúc từ GV Hành vi của trẻ phù hợp thì GV khuyến khích, ngược lại những hành vi trẻ thể hiện mà mang tính tiêu cực sẽ được điều chỉnh sao cho hợp lý, tránh

để trẻ thụ động không dám thể hiện hành vi ra bên ngoài trong quá trình hoạt động Thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura (1986) cho rằng: Tất cả mọi nền văn hóa, trẻ em học và phát triển bằng quan sát những người có kinh nghiệm hơn gắn với các hoạt động quan trọng trong văn hóa Nghĩa là giáo viên và phụ huynh giúp cho trẻ thích nghi và tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh mới và tình huống mới để trẻ có thể tiếp thu và ghi nhớ những hành vi của người khác cũng như giải quyết những hậu quả của những hành vi không mong muốn (Phan Trọng Ngọ, 2003) Montessori nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Bà thích đứa trẻ thực hành hơn là những trò chơi giàu tưởng tượng và giả vờ Theo Montessori chia sẻ: “Chúng bắt đầu hiểu tình cảm của những người khác, và áp dụng những hành vi và hành động của chúng cho phù hợp với những tình cảm này Hơn nữa, chúng đang học tương tác với những người xung quanh chúng, kết bạn và thích nghi với tính phức tạp của các tương quan xã hội bên ngoài gia đình chúng (Collete Gray & Macblain, 2014, tr.53)

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc việc sử dụng TC trong giáo dục HVVH Ngoài tạo ra môi trường chơi, mà cần chọn những trò chơi nào nhằm giáo dục những nội dung hành vi văn hóa nào

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về TC ĐVTCĐ

Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu rằng: “Trẻ em có thể tham gia vào rất nhiều trò chơi và hầu hết trò chơi đều có tác động đến trẻ về nhiều mặt (thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ) nhưng trong việc giáo dục đạo đức, hình thành hành vi văn hóa (HVVH) cho trẻ thì loại trò chơi đóng vai theo chủ đề là có hiệu quả nhất”(Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Dẫn theo Đinh Văn Vang có viết: “Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam, trò chơi phản ánh sinh hoạt là trò chơi đặc trưng của trẻ em dưới ba tuổi, trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò chơi đặc trưng của trẻ mẫu giáo”

(Đinh Văn Vang, 2009) Như vậy, trò chơi đóng vai theo chủ đề là dạng hoàn chỉnh

Trang 20

của trò chơi giả bộ Trong TC ĐVTCĐ, trẻ mô phỏng lại toàn bộ cuộc sống đời thường của người lớn một cách trọn vẹn, trò chơi đã bắt đầu giúp cho trẻ định hướng hành vi đúng cho bản thân, cách ứng xử và chuẩn mực khi tham gia vào xã hội

Bên cạnh đó, Lê Minh Thuận còn cho rằng thông qua vai chơi, trẻ dễ dàng hướng tới cái đẹp trong hành vi của các bạn, dễ tiếp thu cái đẹp trong quan hệ người với người Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ dễ dàng phục tùng các quy tắc đạo đức và hình thành ở trẻ các phẩm chất tốt như cách ứng xử với bạn bè Tác

giả cho rằng: “Vui chơi là một mắt xích nối liền giữa trẻ với quy tắc đạo đức, vì vui chơi giúp cho quá trình hình thành các phẩm chất đạo đức diễn ra dễ dàng hơn”(Lê

Minh Thuận, 1989)

Qua một số nhận định trên cho thấy rằng, vai trò của phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong quá trình giáo dục HVVH cho trẻ rất quan trọng Trong trò chơi ĐVTCĐ trẻ được chọn vai chơi, nội dung chơi, thể hiện những hành vi, cử chỉ, lời nói văn hóa Nên việc giáo viên đưa nội dung chơi lành mạnh rất là quan trọng trong việc giáo dục trẻ Tóm lại, phương pháp dùng TC ĐVTCĐ của GV phải được nghiên cứu sâu hơn một mặt để hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp này, mặt khác vận dụng phương pháp này như thế nào trong giáo dục HVVH cho trẻ được tốt hơn

1.1.2.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi văn hóa

Lấy ý kiến từ một tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM, Trần Nguyễn Nguyên Hân nói về thuyết học tập xã hội của A.Bandura - nhà tâm lí học người Canada, đã đưa ra nhận định sau:

Dù trẻ không nhận được sự củng cố trực tiếp nhưng thông qua quá trình quan sát người lớn thực hiện hành động (củng cố gián tiếp), hành động mới sẽ được hình thành Hành động của trẻ không phải được học tập thông qua phản ứng hình thành nhờ tác động môi trường một cách đơn giản mà được quyết định bởi phản ứng và phân tích của cá nhân về tình huống Theo đó, trẻ không bắt chước máy móc hành

Trang 21

động của người khác mà thông qua phân tích cá nhân về tình huống, mỗi trẻ thực hiện hành vi khác nhau (Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2016)

Nhận định này nói lên mỗi đứa trẻ khác nhau thì sẽ thể hiện hành vi khác nhau trong quá trình hoạt động Đứa trẻ không bắt chước hành động của người lớn mà sẽ thể hiện theo hành động cũng như hành vi mà đứa trẻ cho là đúng và phù hợp với tình huống diễn ra

Trong Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đưa ra các chỉ số thể hiện thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè, thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh, thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với những người gần gũi, có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, nhận xét được một số hành vi đúng hoặc sai của con người đối với môi trường, có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày, sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình huống, không nói tục, chửi bậy Đây cũng chính nội dung quan trọng trong giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi để trẻ làm tiền đề chuẩn bị bước vào lớp 1 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)

Chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam cũng đưa ra các nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi được đề cập trong lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội đó là biết yêu thương kính trọng những người xung quanh: vâng lời ông bà, cha mẹ, anh chị, muốn đi chơi phải xin phép, thực hiện một

số quy định ở lớp và nơi công cộng: sau khi chơi cất đồ chơi vào nơi quy định, không làm ồn nơi công cộng, hiểu được lời nói, hành động của mình, biết nhận lỗi, sửa lỗi, biết giữ lời hứa, diễn đạt được ý kiến rành mạch, rõ ràng, tôn trọng sở thích của bản thân và của người khác, chú ý nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời người khác, biết chờ đến lượt, biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thỏa thuận và chia sẻ kinh nghiệm với bạn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017)

Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2006) giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ cần phải phù hợp với từng độ tuổi Với lứa tuổi mẫu giáo lớn thì hành vi của trẻ được phát triển ở khả năng đánh giá và tự đánh giá hành vi của những người xung quanh và của bản

Trang 22

thân, giúp trẻ nhận biết một cách chính xác việc gì nên làm và việc gì không nên làm Ngoài ra, giáo dục hành vi văn hóa cần phải tính đến đặc điểm riêng của mỗi đứa trẻ Nghĩa là phải chú ý đến từng đặc điểm riêng của mỗi trẻ, tôn trọng trẻ và can thiệp kịp thời khi thấy hành vi trẻ không phù hợp Thứ ba, giáo dục hành vi văn hóa phải thống nhất hình thái bên trong và hình thái bên ngoài của hành vi văn hóa,

có nghĩa là cần chú ý giáo dục ý thức đạo đức và biểu hiện tính thẫm mỹ Hành vi của trẻ thể hiện ra ngoài phải phù hợp với từng nội dung và hoàn cảnh cụ thể (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006, tr.62)

1.2 Hệ thống các khái niệm

1.2.1 Giáo dục hành vi văn hóa

1.2.1.1 Khái niệm giáo dục

Theo từ điển Tiếng Việt thì Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như: giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học

Tại Việt Nam một định nghĩa khác về Giáo dục được Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau:

Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề

áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra-khuyến khích-định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm,

sở thích và thế mạnh của bản thân

Trang 23

Theo Jean Piaget cho rằng: “Nhiệm vụ của giáo dục không phải ép buộc biểu tượng của cộng đồng trong sự phát triển trọn vẹn của nhân cách mà phải đào tạo con người thâm nhập vào khuôn khổ của đời sống cộng đồng với tư cách là giá trị

xã hội”(Nguyễn Ngọc Bích, 1998)

Nói tóm lại, giáo dục mà người nghiên cứu nói đến chính là tạo cho đứa trẻ tính tích cực chủ động, tự thực hiện cái gì mình muốn mà không bị gò ép, bắt buộc hay thụ động trước người dạy

1.2.1.2 Hành vi

Có rất nhiều định nghĩa nói về hành vi như theo từ điển tiếng Việt định nghĩa thì hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới, là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian

Nguyễn Ánh Tuyết (2006) cho rằng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ mầm non có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi:

+ Quan điểm của các nhà sinh vật học: “Hành vi là cách sống và hoạt động trong môi trường nhất định của một cá thể để thích nghi vơi môi trường đó nhằm bảo đảm cho nó được tồn tại”

+ Quan điểm của chủ nghĩa hành vi cho rằng: “Hành vi tức là mọi ứng xử và

từ ngữ của con người cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Đó là việc nghiên cứu con người làm gì, bắt đầu từ trong bào thai đến lúc chết” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Cả hai quan điểm trên cho rằng hành vi của con người là những phản ứng trả lời kích thích của con người giúp họ thích nghi với sự thay đổi của môi trường mà

bỏ qua các yếu tố chi phối đến sự thực hiện hành vi như tâm lý và ý thức

Khác với quan điểm trên, những người theo quan điểm Tâm lý học lịch sử Người biểu thị hành vi theo công thức S – X – R ( X là tâm lý, năng lực, ý thức của chủ thể, có chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi) Đó chính là đặc trưng hành

Trang 24

vi của con người Nhờ có nguyên tắc này con người mới có thể điều khiển điều chỉnh hành vi của mình, biến hành vi chỉ là phản ứng máy móc thành hành vi tích cực, luôn có sự tham gia tích cực của chủ thể (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Nhưng người nghiên cứu lựa chọn định nghĩa hành vi trong nghiên cứu của

mình chính là “cách ứng xử của con người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lý, ý thức người đó” Nghĩa là trẻ nhỏ thể hiện

rõ hành vi của mình trong một hoàn cảnh cụ thể, trong một tình huống mà yêu cầu đứa trẻ tự thể hiện và bộc lộ hành vi của mình: giọng nói, thái độ, biểu cảm

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -

Bộ Giáo dục và đào tạo định nghĩa: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”( Nguyễn Như Ý, 1998)

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2004) thì đưa ra một loạt

quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” (Viện Ngôn ngữ học, 2004)

Theo nhóm tác giả Đặng Thai Mai, Nguyễn Hữu Đang (1997) định nghĩa thì:

“Văn hóa thể hiện ở học thuật, văn chương, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo, phong tục của một dân tộc Và ta cũng có thể trong một phạm vi nào, nhận thấy trình độ văn hóa của một người ở sở thích, ở sự phán đoán, cùng cách làm việc của người ấy”

Nói tóm lại các định nghĩa đã nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người

Trang 25

1.2.1.4 Hành vi văn hóa

a Khái niệm

Tạp chí tâm lý học (2007) đưa ra khái niệm: “Hành vi văn hóa là hệ thống các biểu hiện hành động của con người, chứa đựng những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, được thể hiện trong cuộc sống và được xã hội chấp nhận như một hệ thống những quy tắc ứng xử của con người, là những chuẩn mực xã hội, định hướng giá trị trong các quan hệ xã hội của con người” (Tạp chí tâm lý học, số 6

(99), 6, 2007)

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (2008) định nghĩa: “Hành vi văn hóa là những phản ứng, cách ứng xử của con người (biểu hiện qua lời nói, cử chỉ, thao tác, hành động, hoạt động, ) trong những hoàn cảnh cụ thể, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của dân tộc; được điều chỉnh bởi tâm lý, ý thức của chủ thể khiến cho cách ứng xử ấy mang tính đặc thù của hoàn cảnh xã hội, lịch sử (Nguyễn

Ánh Tuyết, 2008)

Vậy có thể hiểu, hành vi văn hóa chính là những phản ứng, cách ứng xử của con người trước một hoàn cảnh cụ thể, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của dân tộc; được điều chỉnh bởi tâm lý, ý thức của chủ thể Nghĩa là con người phải dựa vào các quy tắc, chuẩn mực xã hội để làm cơ sở điều chỉnh hành vi phù hợp với điều kiện xã hội cũng như phù hợp với lứa tuổi

b Các loại hành vi văn hóa

Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2006) thì hành vi văn hóa được chia thành các loại sau: Hành vi văn hóa xã giao; Hành vi văn hóa xúc cảm; Hành vi văn hóa nhận thức; Hành vi văn hóa hợp tác; Hành vi văn hóa đánh giá: hành vi đánh giá người khác và hành vi đánh giá bản thân – Tự đánh giá

1.2.1.5 Giáo dục hành vi văn hóa

Giáo dục HVVH cho trẻ MN là một nhiệm vụ đã và đang được ngành giáo dục triển khai và đang thực hiện trong trường MN Giáo dục HVVH giúp các bé sớm có

ý thức về hành động bên ngoài lẫn hình thái bên trong Trẻ không những biết thể hiện ứng xử có văn hóa bằng cử chỉ, điệu bộ, lời nói mà còn thể hiện qua hành vi có văn hóa với mọi người xung quanh khi trẻ tham gia vào cuộc sống

Trang 26

Có rất nhiều khái niệm về giáo dục HVVH nhưng người nghiên cứu đồng ý

với khái niệm HVVH của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết như sau: “Giáo dục HVVH cho trẻ em chính là hình thành ở cháu bé một con người biết làm chủ hành vi của mình để trở nên một nhân cách biết sống đàng hoàng, tử tế”(Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Nghĩa là, giáo dục hành vi văn hóa là giáo dục cho trẻ nhằm hình thành nếp

sống văn minh, hành vi ứng xử, giao tiếp theo quy tắc, chuẩn mực phù hợp với lứa tuổi tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống

1.2.2 Đặc điểm hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Nguyễn Ánh Tuyết (2006) đã đưa ra một số đặc điểm sau về HVVH ở trẻ 5-6 tuổi:

Đầu tiên chính là Tính hợp lý trong hành vi: Cuối tuổi MG tư duy kiểu trực

quan – hình tượng vẫn phát triển mạnh vì đây là cơ sở phát triển kiểu tư duy cao hơn – tư duy trừu tượng sau này Trong tư duy của trẻ vẫn xuất hiện những yếu tố mới của kiểu tư duy đó làm cho suy luận của trẻ có tính hợp lý rõ rệt hơn (tức là tính logic) Nhờ đó mà hành vi của trẻ bắt đầu có tính hợp lý Do trẻ thường xuyên quan sát cuộc sống và thiên nhiên, được xem tivi, phim ảnh hoặc trẻ tự tìm tòi khám phá, lại được người lớn giải thích, dần dần trẻ nắm được một số quy luật đơn giản của thế giới khách quan giúp khai thông trí tuệ Những luật lệ, những chuẩn mực xã hội dần dần được trẻ khám phá và thực hiện ít nhiều Đặc biệt trẻ thường chú ý đến luật lệ giao thông, nhiều trẻ đã có thể nắm được luật đi đường, “phương án” nào sai,

“phương án” nào đúng của người tham gia giao thông mà trẻ thấy trong các tình huống trên tivi Rõ ràng sự khôn lớn của trẻ là điều kiện thuận lợi để phát triển hành

vi văn hóa (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006, tr.56)

Thứ hai chính là Động cơ xã hội rõ nét và tương đối ổn định: Nếu trước đây,

trẻ thường có hiện tượng dễ thay đổi thái độ, hứa làm một việc gì đó rồi lại thất hứa như chơi Em bé vừa cầm chổi vừa quét nhà cho mẹ, nhà chưa kịp sạch thì xé giấy rải khắp nơi Trong hệ thống thứ bậc các động cơ vừa mới hình thành gần đây thì động cơ xã hội được phát triển nhanh nhất và tương đối lâu bền Giờ đây em bé thường hay để ý đến cách ứng xử của người lớn với nhau trong cuộc sống hằng ngày, trẻ dễ tiếp nhận những cách ứng xử tốt đẹp giữa họ và điều đó đã ghi lại ấn

Trang 27

tượng trong trí óc đứa trẻ Hằng ngày trẻ quan tâm mọi người xung quanh hơn, sẵn sàng làm các việc để giúp đỡ họ, như lấy tăm cho ông bà, dọn dẹp nhà cửa giúp mẹ, sửa lại đồ chơi cho em bé…Những hành vi đạo đức đó ngày càng phát triển và đó chính là nét cơ bản trong hành vi văn hóa

Bên cạnh đó còn có sự phát triển ý chí trong hành vi của trẻ Thể hiện ở việc

trẻ biết tự kiểm tra hành vi của mình và kiểm chế những ham muốn vô lý Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hành vi bộc phát nhưng nhìn chung hành vi của trẻ ngày càng

bị ý chí chi phối rõ rệt Vì vậy, người lớn phải giúp trẻ vượt qua những lúc trẻ gặp khó khăn

Cuối cùng, ở trẻ mẫu giáo đã biết đánh giá và tự đánh giá hành vi Nghĩa là, trẻ biết nhìn nhận hành vi của mình, nhìn nhận hành vi của người khác và so sánh với nhiều người xung quanh trẻ Tuy nhiên, đánh giá của trẻ cũng không phải lúc nào cũng đúng, vì vậy vai trò giáo dục của người lớn là rất quan trọng trong giai đoạn này

Tóm lại, ở giai đoạn trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn phát triển nhân cách, những hành

vi văn hóa được hình thành ở giai đoạn này là nền tảng cho cả hệ thống hành vi của con người Nhưng cũng đề cao vai trò giáo dục người lớn ở giai đoạn này rất quan trọng Ngoài việc giúp trẻ nhận thức đúng hành vi của mình mà còn điều chỉnh những hành vi chưa đúng

1.2.3 Giáo dục hành vi văn hóa trong giáo dục mầm non

1.2.3.1 Mục tiêu giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ MN

Dẫn theo một tài liệu nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Phương nói về mục tiêu giáo dục hành vi văn hóa đó chính là hình thành nếp sống văn minh, hành vi ứng xử, giao tiếp theo quy tắc, chuẩn mực phù hợp với lứa tuổi tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống và vào các bậc học sau này

Trong chương trình giáo dục mầm non đưa ra những mục tiêu giáo dục HVVH:

Thứ nhất là mục tiêu phát triển tình cảm – xã hội: có ý thức về bản thân; có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh; thực hiện một số quy tắc, quy định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp

Trang 28

- Chuẩn 9: Trẻ biết thể hiện cảm xúc

- Chuẩn 10: Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn

- Chuẩn 12: Trẻ có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội

- Chuẩn 16: Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp

Mục tiêu giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ mầm non bao gồm mục tiêu giáo dục tình cảm (giáo dục tính nhạy cảm, giáo dục tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm lao động tập thể), hình thành kĩ năng (kĩ năng hoạt động trong tập thể và giao tiếp, kĩ năng đánh giá hành vi) và mục tiêu nhận thức (có biểu tượng về hành

vi, hiểu cách thực hiện hành vi, hiểu ý nghĩa của hành vi)

1.2.3.2 Nội dung giáo dục hành vi văn hóa

Quan điểm của Giáo dục học Liên Xô (E.L.Simbireva; C.B.Pecheria; V.peetrop): HVVH là tổng hợp văn hóa bền vững hàng ngày của trẻ trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ, trong sinh hoạt giao tiếp và hoạt động có ý nghĩa xã hội (Nguyễn Ánh Tuyết, 2008)

Quan điểm của giáo dục học phương Tây (Davird warden, Donald Chiftie): Hành vi chịu sự quy định của những chuẩn mực xã hội nên cần giáo dục trẻ những hành vi xã hội (chia sẻ, giúp đỡ, chăm sóc, cư xử tốt)(Nguyễn Ánh Tuyết, 2008) Chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam: nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi được đề cập trong lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm

Trang 29

Ba là hiểu được lời nói, hành động của mình, biết nhận lỗi, sửa lỗi, biết giữ lời hứa, diễn đạt được ý kiến rành mạch, rõ ràng

Bốn là tôn trọng sở thích của bản thân và của người khác, chú ý nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời người khác

Năm là biết chờ đến lượt

Sáu là biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thỏa thuận và chia sẻ kinh nghiệm với bạn

(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017) Nội dung giáo dục HVVH trong bộ chuẩn phát triển 5 tuổi còn được được đưa

ra trong các chỉ số sau:

- Chỉ số 37: Thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè

- Chỉ số 40: Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh

- Chỉ số 44: Thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với những người gần gũi

- Chỉ số 54: Có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn

- Chỉ số 56: Nhận xét được một số hành vi đúng hoặc sai của con người đối với môi trường

- Chỉ số 57: Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày

- Chỉ số 77: Sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình huống,

- Chỉ số 78: Không nói tục, chửi bậy

(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010) Nội dung giáo dục HVVH của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (2006) cũng đưa ra những nội dung cụ thể sau:

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với bản thân

Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2006) thì giáo dục HVVH cho trẻ đối với bản thân

có hai nội dung:

Giáo dục cho trẻ hành vi văn hóa – vệ sinh là giáo dục về nết ăn, về mặc, về

vệ sinh thân thể, về chế độ sinh hoạt hằng ngày, về tư thế

Giáo dục hành vi văn hóa tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày: Tự ăn uống,

Trang 30

tự mặt quần áo, tự đánh răng, rửa mặt biết đi vệ sinh đúng qui định

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người xung quanh

HVVH là cách ứng xử của mỗi người đối với những người xung quanh, mỗi

cá nhân đều phải tiếp xúc, tác động qua lại với những người xung quanh (từ trong gia đình cho tới ngoài xã hội, từ người già đến người trẻ, từ người khỏe mạnh đến người tàn tật ) bằng cách ứng xử riêng của mình Khi tiếp xúc với những mối quan

hệ xã hội đó thì chúng ta được tiếp nhận những kinh nghiệm ở những người đó mà hình thành và phát triển hành vi văn hóa của mình

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người trong gia đình

Giáo dục trẻ phải yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ, nói năng phải thưa gởi, lễ phép, gọi dạ, bảo vâng, không la hét om sòm khi ông bà nghỉ ngơi hay đau

ốm

Biết cách ứng xử tốt đẹp, biết quan tâm chăm sóc mọi người biết làm những việc nhỏ để cho ba mẹ vui lòng…

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người ngoài xã hội

Cho trẻ em mạnh dạn giao tiếp với họ, đối với người lớn thì chào hỏi lễ phép, đối với bạn cùng lứa thì phải hòa nhập vui chơi, đối với em bé thì ân cần niềm nở và sẳn lòng giúp đỡ khi cần

Giáo dục trẻ có thái độ thương xót, quan tâm, thăm hỏi với những nỗi bất hạnh như người tàn tật, trẻ em mồ côi, cơ nhỡ, người già neo đơn

Ngoài ra, HVVH cần giáo dục cho trẻ đối với xã hội đó là hành vi tuân thủ những quy định, những luật lệ chung như: giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, giữ trật tự nơi công cộng và luật lệ giao thông

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với Bác Hồ và quê hương đất nước

Nội dung giáo dục trẻ: dạy trẻ biết yêu kính Bác Hồ Qua các câu chuyện, phim ảnh, bài hát, dạy trẻ biết về cuộc sống hoạt động của Bác Hồ, tình yêu của Bác dành cho thiếu nhi, dành cho tất cả mọi người (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Giáo dục kỹ năng giao tiếp có văn hóa

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã trình bày như sau:

Kỹ năng chào hỏi: Khi gặp mặt người khác, nếu là người lớn thân thích, đồng

Trang 31

thời với nét mặt tươi vui là những lời chào niềm nỡ, bằng những câu xưng hô đúng chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ, như “cháu chào bác ạ” với ngữ điệu thân thiết, mắt nhìn

về phía người giao tiếp, đầu cuối xuống (đối với người già), đầu để tự nhiên (đối với người trẻ tuổi)

Kỹ năng xin lỗi: Khi làm phiền người khác thì phải xin lỗi bằng những câu như:

“Bác có sao không”, “Cháu xin lỗi Bác ạ” với nét mặt nghiêm chỉnh và tỏ ra hối hận Người lớn cũng nên dạy trẻ kỹ năng tha lỗi Tha lỗi cho người phạm lỗi là thể hiện lòng vị tha, thái độ thông cảm với người phạm lỗi và vẫn tôn trọng họ như

“không sao đâu”

Kỹ năng cám ơn: Biết nói lời cảm ơn khi ai giúp đỡ hay tha thứ cho mình, đó là

những lời nói lịch sự hàm ý biết ơn, bằng những câu đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ và bỗ ngữ “Cháu cám ơn bác ạ!” với cử chỉ tôn kính, đối với bạn bè chỉ cần nói:“cám ơn”

là được

Kỹ năng thể hiện nhu cầu cá nhân: Để người khác biết nhu cầu của mình, trẻ cần

nói với họ những lời mang tính khẩn cầu, như: hãy hộ cháu làm một việc gì đó, hay cho cháu xin các này, cái nọ và có thái độ chờ đợi Nếu được đáp ứng thì phải nói cám ơn Nếu chưa được đáp ứng thì hãy kiên nhẫn chờ đợi, tránh những đòi hỏi vô lý hoặc nói những câu cộc lốc như ra lệnh hay thói “ăn vạ”

Kỹ năng tham gia trò chuyện: Giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người

Khi người lớn nói thì phải lắng nghe, không “hóng hớt”, không “nói leo” Khi nói cho người lớn nghe thì phải nói rành rọt, không ê a, ấp úng hay nói lý nhí, lúng túng trong mồm, lại càng không được nói trống không hoặc hoa chân múa tay quá đáng Còn khi trò chuyện với bạn bè thì giữ thái độ thân mật, bình đẳng, lắng nghe ý kiến của bạn, không quát tháo, cãi cọ hoặc “dùng vũ lực”

Trang 32

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng đồ chơi

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (2006) đã đưa ra các nội dung trong giáo dục HVVH cho trẻ đối với đồ dùng đồ chơi bao gồm:

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng

Dạy trẻ biết quý trọng, giữ gìn đồ vật ở nơi công cộng, trong gia đình hay ở lớp mẫu giáo

Dạy trẻ biết giữ gìn và bảo vệ đồ vật do người khác tạo ra và đồ dùng nơi công cộng

Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ chơi

Dạy trẻ biết giữ gìn đồ chơi, biết ứng xử với đồ chơi một cách có văn hóa Dạy trẻ sử dụng đồ chơi vào các tình huống chơi một cách hợp, với nội dung chơi và cách chơi, khi chơi xong nhớ cất đồ chơi vào đúng nơi đúng chổ

Cần dạy trẻ biết nhường đồ chơi cho bạn khi cùng chơi, không tranh giành đồ chơi của nhau, cần có thái độ hợp tác để cùng tìm kiếm thêm đồ chơi

Giáo dục hành vi văn hóa đối với thiên nhiên

Hình thành ở trẻ một cách sống có văn hóa đối với thiên nhiên có nghĩa là giáo

Trang 33

dục trẻ theo ba chức năng mà con người đã ứng xử với thiên nhiên, đó là nhận thức, tình cảm và hành động

Dạy trẻ tìm tòi, khám phá thiên nhiên (Về chức năng nhận thức)

Giáo dục HVVH cho trẻ đối với thiên nhiên: dạy trẻ biết quan sát những sự vật của thế giới bên ngoài, phát hiện những đặc điểm cũng như thuộc tính của chúng Khuyến khích trẻ tìm hiểu các hiện tượng xung quanh, từ việc phân biệt con trâu, con bò, con gà với con vịt, cây lúa với cây cỏ, hoa hồng với hoa sen đến việc nhận

ra chuyển động của trăng sao trên trời, nắng mưa, lũ lụt mà con người đã chịu tác động cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006, tr78)

Dạy trẻ gắn bó với thiên nhiên (Về chức năng tình cảm)

Dạy trẻ gắn bó với thiên nhiên, coi thiên nhiên là người bạn thân thiết của mình, từ đó hình thành động cơ đạo đức cao đẹp cho những HVVH của trẻ đối với thiên nhiên

Dạy trẻ chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên (Về chức năng hảnh động)

Dạy trẻ biết chăm sóc và bảo vệ vật nuôi cây trồng Từ đó hình thành ở trẻ hành vi chăm sóc bảo vệ đối với vật nuôi, cây trồng, mặt khác cần phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi phá hoại thiên nhiên, dù đó chỉ là những hành vi bộc phát, vô ý thức của trẻ nhỏ

Giáo dục cho trẻ cách ứng xử có văn hóa đối với thiên nhiên là tác động đến nhận thức, tình cảm và hành động của các cháu, đó là ba yếu tố cơ bản tạo nên HVVH của trẻ đối với thiên nhiên (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Nói tóm lại, người nghiên cứu lựa chọn những nội dung giáo dục HVVH phù hợp với đề tài của mình đó là:

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với bản thân

+ Giáo dục cho trẻ hành vi văn hóa – vệ sinh

+ Giáo dục cho trẻ về tư thế

+ Giáo dục HVVH cho trẻ tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người xung quanh

+ Giáo dục HVVH cho trẻ đối với người thân trong gia đình

+ Giáo dục HVVH cho trẻ đối với người ngoài xã hội

Trang 34

+ Giáo dục HVVH cho trẻ đối với Bác Hồ và quê hương đất nước

+ Giáo dục kỹ năng giao tiếp có văn hóa

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng đồ chơi

+ Giáo dục HVVH cho trẻ đối với đồ dùng

+ Giáo dục HVVH cho trẻ đối với đồ chơi

- Giáo dục hành vi văn hóa đối với thiên nhiên

1.2.3.3 Phương pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ

a Phương pháp giáo dục hành vi văn hóa là gì?

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết định nghĩa PP giáo dục HVVH là cách thức

tổ chức các hoạt động hàng ngày cho trẻ của nhà giáo dục nhằm mục đích chuyển nội dung (các hành vi giao tiếp văn hóa) thành hành vi (tri thức, kỹ năng, thái độ) của trẻ (Nguyễn Ánh Tuyết, 2008)

b Phương pháp giáo dục HVVH cho trẻ MN

Dẫn theo tài liệu của Nguyễn ánh Tuyết (2008) thì phương pháp giáo dục hành

vi văn hóa cho trẻ bao gồm các PP sau:

Phương pháp dùng tình cảm để giáo dục HVVH cho trẻ

Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật

Phương pháp dùng trò chơi, phương pháp luyện tập thường xuyên

Phương pháp tạo dựng môi trường

Phương pháp làm gương cho trẻ noi theo

Phương pháp khen chê

Phương pháp thống nhất tác động giáo dục

Phương pháp lấy trẻ làm trung tâm

Với đề tài này, người nghiên cứu tập trung vào phương pháp dùng trò chơi và trọng tâm là phương pháp dùng TC ĐVTCĐ để giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

c Các nguyên tắc cơ bản để xác định phương pháp giáo dục

Nguyên tắc 1: Giáo dục phải xuất phát từ cuộc sống thực của trẻ để tổ chức chính cuộc sống đó và cũng sử dụng cuộc sống đó để giáo dục trẻ em

Nguyên tắc 2: Quá trình chuyển từ nội dung giáo dục thành phẩm chất nhân cách của trẻ em là quá trình trẻ tự hoạt động để tạo thành hành vi cho mình dưới sự

Trang 35

tổ chức, điều khiển của nhà giáo dục

Nguyên tắc 3: Quá trình hình thành HVVH cho trẻ được phát triển theo hướng thống nhất giữa nội dung và hình thức biểu hiện bên ngoài và giáo dục phẩm chất tâm lý bên trong của trẻ

1.2.4 Khái niệm về sử dụng PP dùng TC ĐVTCĐ

1.2.4.1 Định nghĩa sử dụng phương pháp

Nói về định nghĩa sử dụng thì theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa sử dụng là lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó Ý nghĩa của từ sử dụng trong luận văn này chính là lấy trò chơi ĐVTCĐ làm tiện để giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

Theo từ điển Tiếng việt định nghĩa về phương pháp chính là lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công tác với kết quả tốt nhất

Theo G.Heghen, phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật (Phan Trọng Ngọ, 2005) Bên cạnh đó tài liệu của Phan Trọng Ngọ thì phương pháp dạy học có định nghĩa chung nhất đó là “những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học” (Phan Trọng Ngọ, 2005)

Theo Phan Trọng Ngọ (2005) thì phương pháp dạy học được hiểu theo ba cấp độ:

Cấp độ rộng nhất: Phương pháp dạy học là cách triển khai của một hệ thống dạy học đa tầng, đa diện: cho một bậc học, cấp học, ngành học, phương thức học

Cấp độ thứ hai: Phương pháp dạy học được hiểu là phương pháp triển khai một quá trình dạy học cụ thể Tức là cách thức hình thành mục đích dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học nhằm hiện thực hóa mục đích, nội dung dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình dạy học

Cấp độ thứ ba: Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định

Nói tóm lại, sử dụng phương pháp chính là “cách thức tổ chức hoạt động

Trang 36

nhằm hướng đến một mục tiêu giáo dục nào đó theo hướng tích hợp” Thông qua

hoạt động vui chơi trọng tâm là TC ĐVTCĐ, GV phải biết cách tổ chức nhằm đạt mục đích cuối cùng đó là giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ

1.2.4.2 Định nghĩa trò chơi

Trong tài liệu Phạm Minh Hạc (1996) thì J Piaget cho rằng:“Trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ Hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui chơi để trải nghiệm và khám phá không ngừng thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ” (Phạm Minh Hạc, 1996) Theo Piaget có ba loại trò chơi chính trong quá trình

phát triển của trẻ Đó là: trò chơi hành động chức năng, trò chơi tượng trưng (bao gồm trò chơi mô phỏng và trò chơi xây dựng) và sau cùng là TC ĐVTCĐ Trong

đó, TC ĐVTCĐ có ý nghĩa lớn đối với trẻ mẫu giáo Qua trò chơi này trẻ được thỏa mãn nhu cầu giao lưu với các bạn cùng nhóm chơi và tạo ra sự thoải mái trong đời sống tinh thần

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ là sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó

Nói tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình, người nghiên cứu hiểu

rõ “trò chơi ở đây cho trẻ em là một hình thức hoạt động vui chơi của trẻ trong một điều kiện nhất định, trò chơi của trẻ em luôn hướng tới một tái tạo, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của loài người” Đây là thuật ngữ mà người nghiên cứu sử dụng

trong đề tài nghiên cứu của mình

1.2.4.3 Định nghĩa trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trang 37

phản ánh độc đáo của trẻ về đời sống xã hội của người lớn mà nổi bật hơn cả là mối quan hệ giữa người với người Trong khi chơi trò chơi này trẻ nhập vào các vai và cố gắng hành động phù hợp với vai mà mình đảm nhận đồng thời trẻ tự thiết lập quan hệ với các vai khác trong trò chơi Theo cách hiểu của đời thường thì TC ĐVTCĐ là trò chơi trẻ được đóng vai, có nghĩa là trẻ phải giả làm người lớn, ướm mình vào vị trí của một người nào đó và bắt chước hành động của họ (Đào Thanh Âm et al, 1997)

Còn theo như tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: “TC ĐVTCĐ là loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào (hay còn gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính tượng trưng”(Nguyễn Ánh Tuyết et al, 1994, tr.13)

Nói tóm lại, từ những khái niệm trên của các tác giả thì người nghiên cứu chọn khái niệm về TC ĐVTCĐ theo quan điểm của Nguyễn Ánh Tuyết (2006) đó là:

TC ĐVTCĐ là loại trò chơi mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, là hình thức độc đáo giúp trẻ tiếp xúc với xã hội, nổi bật hơn cả là sự tham gia của trẻ vào những mối quan hệ biểu hiện các chuẩn mực đạo đức giữa người với người Khi tham gia vào TC ĐVTCĐ, đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ đạo đức và tập dượt những hành vi ứng xử đối với những người xung quanh bằng việc nhập vào các vai để thực hiện chức năng xã hội trong các mối quan hệ đó (mẹ – con, cô – cháu, bác sĩ – bệnh nhân, người mua – kẻ bán), qua đó mà trẻ học làm người

Để hiểu rõ hơn về khái niệm TC ĐVTCĐ thì phải nói đến bản chất, đặc điểm cũng như cấu trúc của TC ĐVTCĐ cụ thể:

b Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề

Về nguồn gốc xuất hiện trò chơi, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, G.V.Plêkhanov đã cho rằng, sự xuất hiện của trò chơi trẻ em (trong đó có TC ĐVTCĐ) gắn liền với nhu cầu của xã hội loài người Trong “Tâm lý học trò chơi” Đ.B Ecônhin cũng đã làm rõ quan điểm này của G.V.Plêkhanov (Levitov H.D, 1963)

Trang 38

Bản chất của TC ĐVTCĐ thể hiện trong nội dung của trò chơi, nó phản ánh,

mô phỏng lại một cách sinh động, đa dạng, sáng tạo các mối quan hệ xã hội với những chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán…mà xã hội quy định, phản ánh cách thức lao động, hoạt động của người lớn Mặc khác, mỗi dân tộc khác nhau thì nội dung trò chơi cũng khác nhau theo tính quy định chung của trò chơi đó

c Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề

Dẫn theo tài liệu của Đinh Văn Vang (2009) thì TC ĐVTCĐ có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất là TC ĐVTCĐ bao giờ cũng có một chủ đề nhất định

Trong khi chơi, trẻ phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực hết sức phong phú của xã hội Các mảng hiện thực được phản ánh vào trò chơi được gọi là chủ đề của chơi Do đó, chủ đề của trò chơi cũng mang tính muôn màu muôn vẻ, ta

có thể kể đến như: chủ đề sinh hoạt gia đình (trò chơi Mẹ con, Nấu ăn ), chủ đề bán hàng (trò chơi Cửa hàng bách hóa), chủ đề giao thông vận tải (trò chơi Chú lái xe), chủ đề trường học (trò chơi Dạy học), chủ đề bệnh viện (trò chơi bác sĩ, phòng khám)…Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng mở rộng bao nhiêu thì các chủ đề của trò chơi cáng phong phú bấy nhiêu Tong khi chơi mọi hành động của trẻ đều xoay quanh chủ đề, nhờ dựa vào biểu tượng sinh động của chính trẻ về cuộc sống đang diễn ra hằng ngày Trẻ càng lớn thì chủ đề chơi càng trở nên sâu rộng (Đinh Văn Vang, 2009)

Hai là để trò chơi đóng vai theo chủ đề được thực hiện, trẻ cần phải đóng vai: Nghĩa là trẻ phải nhập mình vào vai của một người lớn và bắt chước hành động

của họ với các chức năng mà người đó đảm nhận trong xã hội Trong khi chơi, trẻ phải thực hiện một hành động mô phỏng về vai của mình như bán hàng, kỹ sư xây dựng, bác sĩ hoặc cô giáo Những hành động mà trẻ làm thường là những hành động giả vờ và trẻ phải giao tiếp với nhau qua lời nói, cử chỉ, điệu bộ, những hành vi văn hóa để thực hiện vai chơi của mình Ví dụ như bác sĩ phải chăm sóc người bệnh như

thế nào, người bệnh phải thể hiện hành động gì, hành vi gì khi được bác sĩ tiêm

Trang 39

Ba là TC ĐVTCĐ là loại trò chơi mô phỏng cuộc sống xung quanh của người lớn mà hoạt động

Trong TC ĐVTCĐ thì ý nghĩa xã hội của nó được thể hiện trong các quy tắc mà

ai cũng phải tuân theo (những quy tắc này được trẻ mô phỏng trong trò chơi) như mua hàng thì phải trả tiền, đi đường thì phải đi bên phải, đèn đỏ thì phải dừng lại Khi chơi trẻ tự nguyện chấp nhận những chuẩn mực của đời sống xã hội trong những quan hệ giữa người lớn với nhau, giữa trẻ em với người lớn Dần dần trẻ chuyển sang quan hệ khách quan vào trong nhân cách của mình, tạo ra sự trải nghiệm, tạo ra đời sống nội tâm Kết quả là tạo ra cách nhìn nhận bản thân mình, tức là hình thành ý thức cá nhân – cái cốt lõi trong nhân cách của mỗi người

Bốn là TC ĐVTCĐ mang tính biểu trưng cao, đó là chức năng ký hiệu tượng trưng

Mặc dù TC ĐVTCĐ phản ánh những hiện tượng có thực trong cuộc sống xung quanh trẻ, nhưng hành động của trẻ chỉ mang tính chất mô phỏng lại một cách khái quát, tượng trưng (hành động giả vờ) Mặt khác, trong khi chơi, trẻ sử dụng những đồ vật, đồ chơi thay thế Những vật thay thế này mang tính ký hiệu tượng trưng và được trẻ sử dụng không theo đúng chức năng của chúng Ví dụ: ghế làm ô tô, que làm ống chích, khăn làm em bé,…Hoặc trẻ dùng hành động của mình để thực hiện chức năng của một vật Ví dụ lấy ngón tay của mình chọc vào tay của bạn – hành động này là tiêm cho bệnh nhân, hoặc đưa tay lên tai – hành động nghe điện thoại Chính đặc tính này của TC ĐVTCĐ làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng Đây là đặc điểm đặc trưng của TC ĐVTCĐ Khi chơi, trẻ đắm mình trong hoàn cảnh chơi, kết thúc trò chơi cũng là lúc trẻ ra khỏi hoàn cảnh này Đặc điểm này của TC ĐVTCĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhận thức của trẻ Nhờ đó mà trẻ bước sang một loại hình nhận thức mới, đặc trưng của con người Đó là sự nhận thức thế giới xung

Trang 40

quanh thong qua một hệ thống ký hiệu (Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Anh Thư,

1997, tr.18)

Năm là TC ĐVTCĐ thể hiện rõ tính tự lập cao

Trên cơ sở kinh nghiệm đã có của mình, trẻ tự nghĩ ra chủ đề chơi, nội dung chơi, tự thỏa thuận với nhau vai chơi, tự điều hành, kiểm tra diễn biến quá trình chơi

Ở đây, người lớn chỉ giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, là “thang đỡ” giúp trẻ trong quá trình chơi để thỏa mãn nhu cầu được làm người lớn của mình (Millie Almy, 1987)

d Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề

TC ĐVTCĐ có cấu trúc khá phức tạp, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Bích Thủy và Nguyễn Thị Anh Thư chỉ quan tâm những thành tố cấu trúc sau:

Thứ nhất, chủ đề và nội dụng chơi TC ĐVTCĐ

TC ĐVTCĐ đã phản ánh cuốc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực hết sức phong phú Các mảng hiện thực phản ánh vào trò chơi coi là chủ đề của trò chơi Do đó, chủ đề của trò chơi cũng mang tính muôn màu, muôn vẻ như: Chủ

đề sinh hoạt gia đình, bán hàng, bệnh viện – bác sĩ, dạy học – cô giáo… Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì chủ đề của trò chơi càng đa dạng, phong phú bấy nhiêu Số lượng chủ đề chơi của trẻ được tăng dần cùng với sự phát triển của chúng

Chủ đề chơi được phát triển không chỉ theo số lượng mà còn được phức tạp hóa dần và được mở rộng ra Bên cạnh các chủ đề chơi ta phải chú ý đến mặt nội dung chơi Nội dung của trò chơi là những hoạt động của người lớn mà đứa trẻ nhận thức được và phản ánh vào trò chơi của mình Đó là những hoạt động của người lớn với các đồ vật, mối quan hệ giữa người với người, những yếu tố đạo đức thẩm mỹ (Nguyễn Bích Thủy và Nguyễn Thị Anh Thư, 2005)

Về nội dung chơi, cần xem xét khía cạnh tích cực hay tiêu cực của mảng hiện thực trẻ em tái tạo bởi lẽ đời sống xã hội người lớn hết sức phong phú và phức tạp Bên cạnh những việc tốt, người tốt còn có bao nhiêu yếu tố tiêu cực xen lẫn vào

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w