Song song với rèn kĩ thuật viết chữ, kĩ năng viết chính tả; học sinh ở các nước này đã được rèn kĩ năng viết câu, đoạn ngay từ lớp 1, thậm chí một số nghiên cứu ở Mỹ đã bắt đầu hướng dẫn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Phạm Kim Bình
XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Phạm Kim Bình
XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LY KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Lê Phạm Kim Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học, Quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Giáo dục học (Giáo dục tiểu học), Phòng Đào tạo, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Quý Thầy Cô, các em học sinh lớp Một của Quý trường Tiểu học đã tham gia hợp tác và hỗ trợ tôi khi tìm hiểu thực tiễn và thực nghiệm tại trường
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè, các anh chị học viên lớp Cao học Giáo dục học (Giáo dục tiểu học) khóa 28 đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn
Tác giả
Lê Phạm Kim Bình
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình ảnh và sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.2 Một số khái niệm công cụ 15
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của học sinh lớp 1 18
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học 22
1.1.5 Lý luận về phát triển kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 23
1.2.Cơ sở thực tiễn 34
1.2.1 Chương trình, tài liệu dạy học 34
1.2.2 Nhận thức của giáo viên về rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 39
1.2.3 Kĩ năng viết của học sinh lớp 1 ở các trường Tiểu học 46
Tiểu kết chương 1 54
Chương 2 BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 55
2.1.Nguyên tắc xây dựng bài tập 55
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, bám sát nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới 55
2.1.2 Nguyên tắc tích hợp 55
2.1.3 Nguyên tắc hệ thống, liên tục, thường xuyên 56
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 56
2.1.5 Nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập 57
2.3.Căn cứ và quy trình xây dựng bài tập 57
Trang 62.3.1 Căn cứ xây dựng bài tập 57
2.3.2 Quy trình xây dựng bài tập 57
2.4.Các bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 58
2.4.1 Các loại bài tập 58
2.4.2 Ngữ liệu dùng trong bài tập 60
2.4.3 Các dạng bài tập 62
2.5 Độ khó, độ tin cậy của bài tập 81
2.5.1 Độ khó 81
2.5.2 Độ tin cậy 83
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3 THỰC NGHIỆM BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 86
3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 86
3.1.1 Phương pháp chọn mẫu 86
3.1.2 Kết quả khảo sát 86
3.2 Tổ chức thực nghiệm 88
3.2.1 Nguyên tắc thực nghiệm 88
3.2.2 Mục đích thực nghiệm 88
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 88
3.2.4 Quy trình thực nghiệm 88
3.3 Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả 114
3.3.1 Về thái độ 114
3.3.2 Về kết quả thực hiện bài tập 115
3.3.3 Kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm 117
Tiểu kết chương 3 124
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 132 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng hệ thống hóa mối quan hệ giữa cấu trúc lời nói với hệ thống
kĩ năng tạo lập ngôn bản viết 22
Bảng 1.2 Ví dụ về chiến lược viết 30
Bảng 1.3 Bảng hệ thống hóa nội dung câu hỏi gợi ý hướng dẫn học sinh động não 31
Bảng 1.4 Bảng hệ thống các hoạt động hướng dẫn học sinh lớp 1 viết câu 32
Bảng 1.5 Yêu cầu cần đạt đối với kĩ năng viết dành cho học sinh lớp 1 (Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học – 05/2006) 35
Bảng 1.6 Yêu cầu cần đạt đối với kĩ năng viết dành cho học sinh lớp 1 (Chương trình phổ thông mới – 12/2018) 37
Bảng 1.7 Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác của giáo viên 40
Bảng 1.8 Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết đối với từng kĩ năng viết bộ phận của học sinh lớp 1 41
Bảng 1.9 Đánh giá của giáo viên về kĩ năng viết thể hiện qua bài viết “Viết về giai đình của em” của học sinh giai đoạn cuối học kì hai 42
Bảng 1.10 Ý kiến của giáo viên về những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình rèn kĩ năng viết cho học lớp 1 43
Bảng 1.11 Ý kiến của giáo viên về các dạng bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 44
Bảng 1.12 Số câu học sinh lớp 1 viết được trong bài khảo sát 47
Bảng 1.13 Số lượng bài viết mắc lỗi trong quá trình khảo sát 49
Bảng 1.14 Bảng thống kê lỗi chính tả âm- vần của học sinh qua bài khảo sát 50
Bảng 1.15 Nội dung, hình thức trình bày bài viết của HS 52
Bảng 2.1 Thống kê các phiếu bài tập mà đề tài xây dựng 59
Bảng 2.2 Danh mục các bài đọc mở rộng 61
Bảng 2.3 Số lần sử dụng các dạng bài tập mà đề tài xây dựng 62
Bảng 2.4 Các hình thức thể hiện của dạng “điền khuyết” và số lần sử dụng 63
Bảng 2.5 Các hình thức thể hiện của dạng “viết” và số lần sử dụng 68
Bảng 2.6 Các hình thức thể hiện của dạng “sắp xếp” và số lần sử dụng 73
Trang 9Bảng 2.7 Các hình thức thể hiện của dạng “nối ghép” và số lần sử dụng 77
Bảng 2.8 Độ khó của các phiếu bài tập đề tài xây dựng 82
Bảng 2.9 Độ tin cậy của các phiếu bài tập đề tài xây dựng 84
Bảng 3.1 Số câu học sinh hai nhóm viết được trước thực nghiệm 86
Bảng 3.2 Số lỗi học sinh hai nhóm mắc phải trong bài viết trước thực nghiệm 87
Bảng 3.3 Bảng thống kê số học sinh mắc lỗi chính tả âm vần ở giai đoạn 3 114
Bảng 3.4 Điểm trung bình kết quả thực hiện các dạng bài tập thực nhiệm 115
Bảng 3.5 Số câu học sinh hai nhóm viết được trước và sau thực nghiệm 117
Bảng 3.6 Số lỗi học sinh hai lớp mắc phải trong bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm 118
Bảng 3.7 Thống kê kết quả kiểm tra bài viết “Hai tiếng kì lạ” của hai lớp 120
Bảng 3.8 Số câu học hai lớp viết được trong câu 4 của bài kiểm tra
“Hai tiếng kì lạ” 123
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Dạng bài tập “điền khuyết” trong câu 2 của phiếu bài tập “Bố của
My” 64
Hình 2.2 Dạng bài tập “điền khuyết” trong câu 1 của phiếu bài tập “Bông hoa cúc trắng” 64
Hình 2.3 Dạng bài tập “điền khuyết” trong câu 1 của phiếu bài tập “Ngưỡng cửa” 65
Hình 2.4 Dạng bài tập “điền khuyết” trong câu 3 và câu 4 của phiếu bài tập “Trái chín” 65
Hình 2.5 Dạng bài tập “điền khuyết”trong câu 3 và câu 4 của phiếu bài tập “Ngưỡng cửa” 66
Hình 2.6 Dạng bài tập “điền khuyết”trong câu 3 của phiếu bài tập “Người bạn tốt” 66
Hình 2.7 Dạng bài tập “điền khuyết” trong phiếu bài tập “Cái nhãn vở” 66
Hình 2.8 Dạng bài tập “điền khuyết” trong phiếu bài tập “Mẹ của em” 67
Hình 2.9 Dạng bài tập “điền khuyết” trong phiếu bài tập “Hoa ngọc lan” 67
Hình 2.10 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Rùa và Thỏ” 69
Hình 2.11 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Trí khôn” 69
Hình 2.12 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Cây phượng” 70
Hình 2.13 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Chú ở Trường Sa” 70
Hình 2.14 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Thông tin loài vật” 70
Hình 2.15 Dạng bài tập “viết” trong phiếu bài tập “Cô chủ không biết quý tình bạn” và phiếu bài tập “Thông tin loài vật” 71
Hình 2.16 Dạng bài tập “viết” trong câu 1 của phiếu bài tập “Những điều hay ở lớp” và câu 1 trong phiếu bài tập “Bà của em” 72
Hình 2.17 Dạng bài tập “viết” trong câu 4 của phiếu bài tập “Cây phượng” và câu 3 trong phiếu bài tập “Bà của em” 72
Hình 2.18 Dạng bài tập “viết” trong câu 3 của phiếu bài tập “Người mẹ thứ hai” và câu 4 trong phiếu bài tập “Thông tin loài vật” 72
Hình 2.19 Dạng bài tập “sắp xếp” trong câu 4 của phiếu bài tập “Cua ẩn sĩ” 74
Trang 11Hình 2.20 Dạng bài tập “sắp xếp” trong câu 2 của phiếu bài tập “Sói và Sóc” 74
Hình 2.21 Dạng bài tập “sắp xếp” trong phiếu bài tập “Tình bạn” và phiếu bài tập “Dê con nghe lời mẹ” 74
Hình 2.22 Dạng bài tập “sắp xếp” trong phiếu bài tập “Chú ở Trường Sa” và phiếu bài tập “Tình bạn” 75
Hình 2.23 Dạng bài tập “sắp xếp” trong phiếu bài tập “Cô bé trùm khăn đỏ” 76
Hình 2.24 Dạng bài tập “sắp xếp” trong phiếu bài tập “Bông hoa cúc trắng” 76
Hình 2.25 Dạng bài tập “sắp xếp” trong phiếu bài tập “Người mẹ thứ hai” và phiếu bài tập “Bà của em” 77
Hình 2.26 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Cái nhãn vở” 78
Hình 2.27 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Ngôi nhà thứ hai” 78
Hình 2.28 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Hoa ngọc lan” 78
Hình 2.29 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Trái chín” 79
Hình 2.30 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Đêm hội đồng xanh” 79
Hình 2.31 Dạng bài tập “nối/ ghép” trong phiếu bài tập “Tình bạn” 80
Hình 2.32 Hoạt động vẽ trong câu 1 của phiếu bài tập “Bố của My” và “Người bạn tốt của em” 80
Hình 3.1 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng nối/ ghép ở giai đoạn 1 90
Hình 3.2 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng nối/ ghép trong phiếu bài tập “Hoa ngọc lan” 90
Hình 3.3 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập “Cái nhãn vở” 91
Hình 3.4 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập “Hoa ngọc lan” và bài “Trí khôn” 91
Hình 3.5 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong phiếu bài tập “Trí khôn” 92
Hình 3.6 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong phiếu bài tập “Hoa ngọc lan” 93
Hình 3.7 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong phiếu bài tập “Mẹ của em” 94
Trang 12Hình 3.8 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng nối ghép trong phiếu
bài tập “Cua ẩn sĩ” và “Tình bạn” 95Hình 3.9 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong
phiếu bài tập “Bố của My” 97Hình 3.10 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong
phiếu bài tập “Bông hoa cúc trắng” 98Hình 3.11 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết phiếu bài
tập “Cua ẩn sĩ” 98Hình 3.12 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong câu 1
phiếu bài tập “Niềm vui bất ngờ” 99Hình 3.13 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong câu 3
phiếu bài tập “Niềm vui bất ngờ” 99Hình 3.14 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết trong
phiếu bài tập “Ngưỡng cửa” 99Hình 3.15 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng điền khuyết phiếu bài
tập “Viết về bản thân của em” 100Hình 3.16 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Bông hoa cúc trắng” 102Hình 3.17 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Sói và Sóc” 102Hình 3.18 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Cua ẩn sĩ” 103Hình 3.19 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Tình bạn” 103Hình 3.20 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Chú ở Trường Sa” 105Hình 3.21 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng sắp xếp trong phiếu bài
tập “Bà của em” 106Hình 3.22 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Thông tin loài vật” 108
Trang 13Hình 3.23 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Những điều hay ở lớp” 108Hình 3.24 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Cây phượng” 109Hình 3.25 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Mẹ và em” 110Hình 3.26 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Bà của em” 111Hình 3.27 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Chú ở Trường Sa” 112Hình 3.28 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Thông tin loài vật” 112Hình 3.29 Bài làm của học sinh đối với câu hỏi dạng viết trong phiếu bài tập
“Mẹ và em” 113
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhiều nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục trên thế giới đã chỉ ra rằng: Rèn
kĩ năng viết sớm cho học sinh không chỉ có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập trên ghế nhà trường mà còn tác động mạnh mẽ đến công việc sau này của mỗi người kĩ năng viết tốt sẽ giúp học sinh tự tin, mạnh dạn trình bày ý tưởng của bản thân, nâng cao năng lực học tập, năng lực tư duy Từ nhiều năm trước, chương trình giáo dục ở các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, v.v đã xem rèn kĩ năng viết là nhiệm
vụ trọng tâm Song song với rèn kĩ thuật viết chữ, kĩ năng viết chính tả; học sinh ở các nước này đã được rèn kĩ năng viết câu, đoạn ngay từ lớp 1, thậm chí một số nghiên cứu ở Mỹ đã bắt đầu hướng dẫn học sinh viết ngay từ mẫu giáo
Viết là công cụ giúp học sinh giao tiếp bằng văn bản, đem lại hiệu quả tích cực, lâu dài đối với hoạt động học tập kĩ năng viết bao gồm nhiều mặt như: kĩ thuật viết chữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng dùng từ, kĩ năng đặt câu, kĩ năng tạo lập ngôn bản Trong đó, kĩ thuật viết chữ, kĩ năng viết chính tả là kĩ năng bộ phận, công
cụ chi phối trong quá trình tạo lập ngôn bản; kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng tạo lập ngôn bản là đích đến cuối cùng của người viết nhằm tạo ra sản phẩm giao tiếp Phát triển kĩ năng viết được xem là tất yếu trong nhà trường ở mọi cấp học nói chung và cấp Tiểu học nói riêng Thực hiện Nghị quyết về đổi mới “căn bản” và
“toàn diện”, chương trình giáo dục phổ thông sau 2018 có những thay đổi, chuyển biến mạnh mẽ, quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và chú trọng phát triển năng lực toàn diện Trong chương trình giáo dục được ban hành vào tháng 12 năm 2018, nội dung rèn kĩ năng viết câu, đoạn được đưa vào giảng dạy từ lớp 1, đây là bước chuyển quan trọng, mở ra cơ hội để kĩ năng viết được rèn luyện xuyên suốt tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các khối lớp ở bậc Tiểu học
Trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thì kĩ năng viết được xem là kĩ năng khó và được dành nhiều thời gian để rèn luyện Tuy nhiên, vấn đề rèn kĩ năng viết ở các trường Tiểu học hiện nay vẫn còn gặp nhiều bất cập, hệ thống bài tập Tiếng Việt còn đang ở giai đoạn cung cấp, củng cố tri thức lý thuyết ngôn ngữ học (Lê A,
Trang 15Chu Thị Thủy An) Cụ thể, ở lớp 1, học sinh chỉ được rèn kĩ thuật viết chữ, bài tập
luyện viết chỉ ở mức độ sao chép, tái hiện, học sinh lớp 1 chỉ được rèn kĩ năng nói
nhưng chưa được hướng dẫn sử dụng chữ viết để trình bày ý tưởng, bày tỏ tình cảm,
nguyện vọng của bản thân Trong khi đó, bắt đầu lớp 2 các em đã phải viết câu,
đoạn văn ngắn ở phân môn Tập làm văn Vì vậy dẫn đến khoảng trống, thiếu kết nối
giữa luyện viết ở lớp 1 và phân môn Tập làm văn ở lớp 2 Chính vì lý do trên, học
sinh cảm thấy bỡ ngỡ, không xác định được mục đích viết, ý nghĩa của viết, không
khơi dậy hứng thú đối với môn học
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên; với mong muốn góp phần hỗ trợ rèn
kĩ năng viết chính tả, kĩ năng viết câu, đoạn ngắn cho học sinh lớp 1; chúng tôi
quyết định chọn đề tài “Xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1”
2 Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Xây dựng được bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1
2.2 Mục đích
Nhằm giúp cho học sinh lớp 1 rèn kĩ năng viết câu, đoạn văn ngắn góp phần
đồng hành cùng môn Tiếng Việt trong việc rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ của học
sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, người viết sẽ tiến hành thực hiện những nhiệm vụ
sau:
(1) Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước để làm rõ các khái niệm công cụ
và các vấn đề có liên quan làm cơ sở lý luận của đề tài;
(2) Đánh giá kĩ năng viết của học sinh lớp 1 bao gồm khả năng diễn đạt, vốn
từ, kĩ năng viết chính tả;
(3) Xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1;
(4) Thực nghiệm một số bài tập đề tài xây dựng; phân tích kết quả, kết luận và
đưa ra đề xuất
Trang 164 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài tập Tiếng Việt rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh lớp 1
Một lớp với qui mô 30 học sinh lớp 1 tại trường Tiểu học V.P, Bình Dương có
sự phát triển bình thường về ngôn ngữ, về tâm sinh lí
5.3 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi chỉ nghiên cứu về vấn đề kĩ năng viết, cụ thể là khả năng diễn đạt, vốn từ, lỗi chính tả của học sinh lớp 1 và việc rèn kĩ năng viết cho học sinh có
có sự phát triển bình thường về ngôn ngữ, về tâm sinh lí nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm liên quan đến việc phát triển kĩ năng viết của các em Qua đó, chúng tôi tiến hành xây dựng hệ thống bài tập phù hợp nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển kĩ năng tạo lập ngôn bản viết Vì điều kiện nghiên cứu hạn chế, nên chúng tôi chỉ tập trung xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 ở giai đoạn học kì 2 (Luyện tập
tổng hợp)
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề tài dựa trên một cơ sở lý luận khoa học chắc chắn, việc khảo sát thực trạng tiến hành chu đáo và xây dựng được bài tập rèn kĩ năng viết khoa học, hấp dẫn, phù hợp với đối tượng thì sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển kĩ năng viết cho học sinh, đặt nền móng ban đầu giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn
ở các lớp học sau
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Trang 17Đối tượng: Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Cách thức thực hiện: Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu
trong và ngoài nước về vấn đề liên quan đến đề tài: kĩ năng viết, đặc điểm tâm sinh
lý, ngôn ngữ của học sinh lớp 1, đặc điểm chữ viết tiếng Việt hiện đại, chương trình, tài liệu dạy học liên quan đến vấn đề rèn kĩ năng viết bao gồm chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (05/2006) và chương trình phổ thông mới (12/2018)
Phương pháp quan sát
Mục đích: tìm hiểu thực tế quá trình dạy - học Chính tả; tình hình rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 tại một số trường Tiểu học; thái độ, sự yêu thích khi làm bài của nhóm thực nghiệm trong quá trình thực nghiệm
Đối tượng quan sát: giáo viên, học sinh lớp 1
Cách thức thực hiện: tham gia dự giờ (quan sát các hoạt động dạy học của giáo viên trong các giờ Chính tả, giờ Tập viết, Luyện nói), quan sát cách soạn giáo án, quan sát học sinh (khi học và khi làm bài tập Chính tả, Tập viết)
Phương pháp điều tra
Mục đích: khảo sát về kĩ năng diễn đạt, vốn từ, kĩ năng ngữ pháp, lỗi chính tả của học sinh lớp 1 trước khi thực nghiệm bài tập, nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của học sinh, thu thập cứ liệu để xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết câu, đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 1; xin ý kiến về cách thức xây dựng bài tập; xin ý kiến nhằm làm sáng tỏ hệ thống lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Đối tượng điều tra: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh lớp 1
Cách thức thực hiện: khảo sát, phỏng vấn, thăm dò ý kiến bằng bảng hỏi; trao đổi, thảo luận với giáo viên, cán bộ quản lý trong quá trình thực nghiệm đề tài
Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Tìm ra kết quả của quá trình khảo sát thực trạng, kiểm trả kết quả thực nghiệm, xác định tính khả thi của bài tập mà đề tài xây dựng
Cách thực hiện: Sử dụng các công thức toán học, thống kê, phần mềm Excel, v.v để xử lí, phân tích thông tin thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra,
Trang 18phiếu khảo sát lỗi chính tả, kĩ năng tạo lập ngôn bản viết của học sinh lớp 1, phiếu bài tập của nhóm thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Mục đích: thực nghiệm bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 tại trường V.P, Thuận An, Bình Dương
Nội dung: thực nghiệm các bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 mà người nghiên cứu xây dựng
Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi tiến hành chọn mẫu 60 học sinh tại trường V.P, Thuận An, Bình Dương Việc chọn mẫu nghiên cứu dựa trên các tiêu chí: trường được chọn làm thực nghiệm chấp nhận và tạo điều kiện cho người nghiên cứu thực hiện khảo sát và thực nghiệm; học sinh được chọn để khảo sát có
sự phát triển bình thường về trí tuệ, có trình độ tương đương nhau để làm lớp TN (30 học sinh) và lớp đối chứng (30 học sinh) Việc lựa chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng khác nhau sẽ tạo nên sự công bằng giữa các đối tượng học sinh
Thời gian thực nghiệm kéo dài 3 tháng (từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2019) tại trường Tiểu học V.P, Thuận An, Bình Dương
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài xác định và hệ thống hoá cơ sở lý luận vấn đề rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1; đồng thời khảo sát thực trạng kĩ năng tạo lập ngôn bản viết và quá trình rèn kĩ năng viết của học sinh lớp 1 trong các trường Tiểu học hiện nay Từ đó, chúng tôi xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết mà cụ thể là kĩ năng tạo lập ngôn bản viết cho học sinh lớp 1, đón đầu định hướng dạy học phát triển năng lực của chương trình giáo dục phổ thông sau 2018
9 Cấu trúc của luận văn
Phần Mở đầu gồm: Lí do chọn đề tài, mục tiêu, mục đích nghiên cứu, nhiệm
vụ, khách thể, đối tượng, giới hạn, phạm vi, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu,
dự đoán đóng góp của đề tài, cấu trúc của luận văn
Phần Nội dung gồm 3 chương:
Chương1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1
Trang 19Chương 3: Thực nghiệm bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1
Phần Phụ lục gồm: bảng hỏi giáo viên, phiếu kiểm tra kĩ năng viết của học
sinh trước và sau khi thực nghiệm, phiếu bài tập rèn kĩ năng viết cho học sinh, nội dung bài đọc mở rộng, nhật ký thực nghiệm, hình ảnh thực nghiệm, giấy xác nhận thực nghiệm
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong chương 1, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Cụ thể: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Cơ sở lí luận bao gồm: Cơ sở tâm sinh lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 1; Cơ sở ngôn ngữ học; Lý luận về phát triển kĩ năng viết cho học sinh lớp 1; Cơ sở thực tiễn bao gồm các nội dung sau: Chương trình dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (05/2006) và Chương trình giáo dục phổ thông mới (12/2018) - nhìn từ bình diện rèn kĩ năng viết; Thực trạng rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 tại một số trường Tiểu học
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
a Các nghiên cứu ở nước ngoài về rèn kĩ năng viết
KNV là một trong bốn KN đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống mỗi người, chính vì vậy, từ nhiều năm trước, các nhà giáo dục trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về thực trạng KNV của HS, những yếu tố quyết định sự thành công của người viết, ảnh hưởng của KNV đối với đời sống mỗi người, làm thế nào để phát triển KNV, v.v Các nghiên cứu này đều đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của việc rèn luyện KNV cho HS ngay từ lớp đầu tiên của bậc TH Tiêu biểu phải kể đến các nghiên cứu của Steven Graham, Karen Harris, Presley, Connie Jule, v.v
Nhóm tác giả: Michael Pressley; Ruth Wharton-McDonald; Richard Allington; Cathy Collins Block; Lesley Morrow đã bàn về bản chất của vấn đề
hướng dẫn dạy đọc viết hiệu quả ở lớp 1 qua “The Nature of Effective First- Grade
Literacy Instruction” (1998) “Dạy học lớp 1 thì phức tạp hơn cả khoa học hàng không” (Michael Pressley et al 1998), đây là nhận định được đề cập trong tài liệu
sau khi nhóm tác giả tiến hành quan sát, điều tra thực tế dạy học ở hai mươi tám lớp 1 tại năm bang của nước Mỹ Từ kết quả thu thập nhóm tác giả đã trình bày các khuyến nghị nhằm giúp cho việc giảng dạy KNV ở lớp 1 đạt được hiệu quả Nhóm tác giả đặc biệt quan tâm đến quá trình hướng dẫn HS nhận biết cấu trúc câu, tạo động cơ, khơi dậy sự yêu thích của HS đối với bài viết của mình Động cơ viết và môi trường viết là hai yếu tố được thường xuyên đề cập, nhấn mạnh trong nhiều
Trang 21nghiên cứu khi trình bày khuyến nghị nhằm giúp HS trở thành người viết độc lập Qua các con số thống kê cho thấy: HS sẽ đạt kết quả ngoài mong đợi về đọc viết nếu chúng có động cơ đọc viết rõ ràng và được học tập trong môi trường thân thiện, tích cực Tuy nhiên, “môi trường đọc viết”, “động cơ đọc viết” vẫn còn mới mẻ và chưa được triển khai rộng rãi trong trường TH ở Việt Nam hiện nay Mặc dù vậy, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cải cách giáo dục căn bản và toàn diện, đặc biệt yêu cầu đối với KNV trong môn Ngữ Văn của CT giáo dục phổ thông mới thì “môi trường đọc viết”, “động cơ đọc viết” sẽ dần dần trở thành một trong những yếu tố quyết định sự thành công của người viết Tài liệu còn cung cấp thêm thông tin: HS trong những lớp học dành nhiều thời gian để đọc, viết đến cuối năm lớp 1 đã
có thể viết được tác phẩm dài bao gồm viết hoa, dấu câu và ít mắc các lỗi chính tả (Michael Pressley et al 1998) Đây là phát hiện quan trọng để người viết làm cơ sở xây dựng tiêu chí đánh giá KNV đối với HS lớp 1 HS hoàn toàn có khả năng viết được từ một đến hai câu, viết đúng chính tả ngay từ lớp 1 nếu được hướng dẫn thực hiện BT khoa học, hấp dẫn, phù hợp với khả năng của mình Tuy nhiên, báo cáo chỉ dừng lại ở trình bày thực trạng và đề xuất khuyến nghị nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện, BT hỗ trợ nhằm hướng dẫn HS lớp 1 rèn KNV
Tài liệu “Writing and Spelling Strategies: Assisting students who have
additional learning support needs” của NSW Department of Education and
Training (Bộ Giáo dục và Đào tạo của New South Wales) đã cung cấp cái nhìn tổng thể về toàn bộ quá trình rèn KNV trong nhà trường Các tác giả nhấn mạnh quá trình chuẩn vị cho HS trước khi viết có ảnh hưởng quan trọng đối với sự thành công của bài viết Kiến thức cần trang bị cho HS mà tài liệu đề cập là kiến thức nền tảng,
mở rộng vốn từ ngữ liên quan đến vấn đề đang viết, công cụ hỗ trợ tìm kiếm kiến thức Trong tài liệu, tác giả đã giới thiệu ba chiến lược dạy học được thực hiện trên
mô hình lớp học: Scaffolded instruction (Cấu trúc dàn giáo), SRSD (chiến lược tự điều chỉnh), POWER (chuẩn bị, tổ chức ý tưởng, viết, chỉnh sửa, viết lại), các chiến lược này trang bị cho GV những nội dung cơ bản cũng như cách kiểm soát KNV của HS; đây cũng là công cụ hỗ trợ HS tự đánh giá bài viết của mình (qua hình thức phiếu BT cuối bài) Ngoài ra, tài liệu còn phân tích những khó khăn HS có thể gặp
Trang 22trong quá trình viết; tiêu chí đánh giá bài viết; cấu trúc văn bản, ngữ pháp thường gặp; chiến lược rèn KNV chính tả Tương ứng với mỗi hoạt động trong quá trình viết, tài liệu hướng dẫn chi tiết các bước thực hiện và các phiếu BT minh họa Ví dụ đối với hoạt động chiến lược phát triển KN ghi chú trong hoạt động tìm kiếm kiến thức liên quan đến bài, tài liệu sẽ cung cấp phiếu BT bằng hình thức hoàn thành sơ
đồ, hoàn thành bảng, v.v.; đối với hoạt động mở rộng vốn từ tác giả cung cấp văn bản (văn bản thông tin, văn bản nghệ thuật) liên quan đến vấn đề đang viết Mỗi hoạt động sẽ được thực hiện trên một phiếu BT, vì vậy trong một giờ luyện viết HS
có thể thực hiện từ ba đến bốn phiếu Hoạt động cung cấp vốn từ trước khi viết bằng các văn bản thông tin, văn bản nghệ thuật, chiến lược tổ chức ý tưởng bằng hình ảnh, sử dụng tranh ảnh minh họa kể lại câu chuyện hay cung cấp vốn từ trước khi viết thông qua hoạt động đọc văn bản là những gợi ý để chúng tôi xây dựng hoạt động cung cấp kiến thức nền cho HS Tuy nhiên, đối với HS lớp 1 thì các chiến lược ghi chú bằng sơ đồ, lập kế hoạch, v.v vẫn chưa phù hợp với trình độ của các
em, vì vậy, GV phải thay đổi bằng một chiến lược tương tự nhưng hình thức thực hiện sẽ dễ dàng hơn
Năm 2008, Steven Graham đã cung cấp cho chúng ta chiến lược dạy viết hiệu
quả qua tài liệu “Effective Writing Instruction For All Student” (Cấu trúc viết hiệu quả cho tất cả học sinh) Tác giả đã khẳng định: “Viết là một kĩ năng phức tạp Nó
đòi hỏi nỗ lực đáng kể và thời gian để làm chủ” (Steven Graham, 2008) Đồng thời
ông đã đưa ra bảy khuyến nghị dành cho GV để việc giảng dạy KNV đạt hiệu quả:
thứ nhất dành nhiều thời gian để viết; thứ hai nâng cao kiến thức của HS về cách viết; thứ ba tạo sự quan tâm, hứng thú và động lực để HS viết; thứ tư giúp HS trở thành một người viết có chiến lược; thứ năm hướng dẫn HS các KNV cơ bản; thứ sáu sử dụng công nghệ thông tin để làm công cụ viết; cuối cùng đánh giá sự tiến bộ
và nhu cầu của HS (Steven Graham, 2008) Tương ứng với mỗi khuyến nghị tác giả
đều trình bày các dạng BT, các hướng dẫn chi tiết làm chỗ dựa để GV phát triển theo tình hình thực tế của lớp học Môi trường hấp dẫn, thu hút sự chú ý của HS là một khởi đầu thuận lợi khi bắt đầu hướng dẫn HS viết; đa dạng các thể loại viết khác nhau để tăng hứng thú của HS là những hướng dẫn tác giả muốn gửi đến GV -
Trang 23người sẽ hướng dẫn HS trong suốt quá trình rèn luyện (Steven Graham, 2008) Những khuyến nghị của Steven đề cập trong tài liệu đều xuất phát từ thực tiễn lớp học; chính vì thế, đây là những gợi ý thiết thực, không chỉ phù hợp với quá trình dạy viết tiếng Anh mà ngay cả các ngôn ngữ khác cũng có thể áp dụng CT giáo dục Việt Nam đang được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực người học, đặc biệt là những thay đổi trong yêu cầu KNV; chính vì vậy, nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi tham khảo, xây dựng cơ sở lý luận để thiết kế
BT
“Primary Grade Writing Instruction: A National Survey” (Hướng dẫn viết ở
Tiểu học) cùng năm 2008, Steven Graham đồng tác giả với Laura Cutler đã công bố nghiên cứu quốc gia trên Journal of Educational Psychology (Tạp chí Tâm lý Giáo dục) Những khẳng định và khuyến nghị trong bài báo này đều dựa trên cơ sở của cuộc khảo sát GV TH ngẫu nhiên trên toàn nước Mỹ Trong tài liệu này, nhóm tác giả trình bày bảy khuyến nghị dành cho GV để cải cách việc hướng dẫn viết ở TH:
đầu tiên tác giả đều cập đến việc tăng thời gian viết của HS; tiếp theo là tăng thời gian viết văn bản; thứ ba, cân bằng thời gian luyện viết với giờ học KNV; thứ tư, tạo động lực viết cho HS; thứ năm, cần tạo sự kết nối giữa nhà trường và gia đình
để hỗ trợ HS rèn KNV; thứ sáu, sử dụng máy tính để viết và cuối cùng là cải thiện chuyên môn về hướng dẫn viết của GV Để thuyết phục quan điểm: “Nên cho học sinh rèn kĩ năng viết ngay từ lớp đầu tiên của bậc Tiểu học”, tác giả đã đưa ra dẫn
chứng: “Ở lứa tuổi này học sinh đã sẵn sàng để bắt đầu học văn bản; những vấn đề
về đọc viết có nguồn gốc từ Tiểu học nếu để đến các lớp sau mới giải quyết thì sẽ khó mang lại thành công” (Slavin, Madden, Karweit, 1989) Các dạng BT được
nhóm tác giả khuyến khích sử dụng để rèn KNV cho HS lớp 1 bao gồm: viết tường thuật (câu chuyện, câu chuyện về các nhân vật, thơ), viết để giới thiệu (thư), hoàn thành bảng tính, trả lời câu hỏi liên quan đến tài liệu đọc là những nội dung tác giả khuyến khích GV nên sử dụng để hướng dẫn viết Khác với những tài liệu trước, lần này tác giả đã đề cập đến các dạng BT nên được sử dụng; tuy nhiên quy trình thiết
kế, ngữ liệu dùng để soạn BT đã không được nhóm tác giả đi sâu vào phân tích Mặc dù vậy, những khẳng định trong nghiên cứu đã giúp chúng tôi có cơ sở vững
Trang 24chắc: HS lớp 1 hoàn toàn có khả năng viết câu và lớp 1 là giai đoạn HS đã sẵn sàng
để tiếp thu kiến thức liên quan đến văn bản Những khuyến nghị và các dạng BT được nhóm tác giả gợi ý là cơ sở để chúng tôi tham khảo trong quá trình thiết kế
BT, xây dựng các hoạt động rèn KNV tại lớp và tại nhà cho HS lớp 1
Tiếp tục vào tháng 6 năm 2012, Graham cùng các cộng sự xuất bản quyển
sách “Teaching elementary school students to be effecrive writers” Trong tài liệu tác giả trình bày bốn khuyến nghị và hướng dẫn cách thực hiện cụ thể: Khuyến nghị
một - dành cho HS ở trình độ thấp (mẫu giáo, lớp 1, lớp 2); tạo điều kiện để HS viết hàng ngày; khuyến nghị hai đưa ra ý kiến dạy HS sử dụng quá trình viết cho nhiều mục đích - dành cho HS từ lớp 3 trở lên; khuyến nghị ba đề cập đến vấn đề dạy KN nền tảng (viết tay, viết chính tả, xây dựng câu, đánh máy, xử lý văn bản một cách thành thạo) cho HS; khuyến nghị bốn (dành cho HS trình độ thấp) yêu cầu người dạy cần tạo cơ hội để HS được giao lưu, chia sẻ với nhau Có đủ thời gian để viết là
yếu tố thiết yếu của CT dạy viết hiệu quả HS cần thời gian để học KN và chiến lược viết cũng như cần thời gian để thực hành Thời gian tối thiểu để viết đối với
HS lớp 1 là sáu mươi phút trong ngày (ba mươi phút đầu dành để học KN, ba mươi phút sau dành để thực hành) Viết không nhất thiết phải thực hiện trong giờ học ngôn ngữ mà luyện viết có thể diễn ra ở các môn khác như khoa học, nghệ thuật, v.v Hiện nay, ở trường TH, GV chỉ tập trung rèn KNV cho HS trong giờ Tập viết, Chính tả, Tập làm văn mà chưa tích hợp với các môn học khác; điều này dẫn đến cơ hội luyện viết của HS bị giảm đi đáng kể Những khuyến nghị được các tác giả đề ra trong tài liệu đều nhằm mục đích hướng HS trở thành người viết độc lập Thông qua các giờ luyện viết, HS không chỉ được hình thành KNV, năng lực ngôn ngữ mà các
em còn được phát triển năng lực giao tiếp, năng lực quan sát, năng lực công nghệ thông tin, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, v.v Đây cũng chính là mục tiêu giáo dục mà Bộ giáo dục đang hướng tới Đối với HS lớp 1 thì chúng tôi quan tâm đến khuyến nghị một, ba, bốn Ba khuyến nghị trên là cơ sở, gợi ý để người viết phân chia thời gian hoạt động viết ở lớp cũng như tích hợp rèn kĩ thuật viết chữ, viết chính tả vào cùng phiếu BT luyện viết câu
Những nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể về KNV, tầm
Trang 25quan trọng của KNV đối với thành công của mỗi cá nhân, sự cần thiết của việc sớm rèn luyện KNV cho HS, v.v Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều tập trung xây dựng hoạt động, chiến lược viết hiệu quả cho HS; phần BT chỉ được các tác giả dừng lại ở định hướng các dạng tiêu biểu cho từng hoạt động Từ những định hướng chung, người dạy căn cứ vào đặc điểm riêng của HS ở lớp của mình để xây dựng hoạt động, xây dựng BT phù hợp Mỗi BT được xây dựng phải căn cứ vào đặc điểm riêng của HS ở lớp học, từng vùng miền khác nhau, nội, v.v Chính vì vậy, sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu, chúng tôi bắt đầu tiến hành đánh giá tìm hiểu thực trạng, nội dung CT, từ đó xây dựng BT rèn KNV phù hợp với đối tượng HS người Việt ở các trường công lập
b Các nghiên cứu ở Việt Nam về rèn kĩ năng viết
Vấn đề BT luyện viết dành cho HS lớp 1 đã được tác giả Lê Phương Nga,
Nguyễn Trí đề cập trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” xuất bản
năm 1999 Nội dung BT được tác giả trình bày gồm: BT luyện viết (HS tập tô hoặc luyện viết theo mẫu); BT kết hợp luyện Đọc và Viết (đọc các từ, câu rồi điền các phụ âm đầu hoặc vần vào chỗ trống, viết đúng tiếng còn thiếu trong đoạn văn đã đọc, ghép từ ở hai cột rồi viết lại, HS tự ghép vần ghép tiếng tự đọc lên rồi viết, nhìn vào tranh đọc lên từ đúng của nội dung tranh) (Lê Phương Nga & Nguyễn Trí, 1999) Nhìn chung, các kiểu BT được trình bày chỉ mang tính tái hiện, chưa thật sự
đề cao tính vận dụng, sáng tạo cho người học
Năm 2005, khi bàn về vấn đề rèn KNV tiếng Việt cho HS TH, tác giả Nguyễn
Trí đã trình bày hai vấn đề chính: các yêu cầu luyện tập KN Tiếng Việt, dạy học các
KN nghe, nói, đọc, viết trong phần VI “Dạy bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng
Việt cho học sinh TH” của chương II “Một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy
và học môn Tiếng Việt ở TH theo chương trình mới” trong tài liệu “Dạy và học môn Tiếng Việt ở TH theo chương trình mới” Ở TH, HS lớp 1 chỉ được rèn luyện KNV
chữ (Tập viết), KNV chính tả; đối với KN tạo lập ngôn bản viết (điền từ, đặt câu, quan sát, thuật lại nội dung bài học, trả lời câu hỏi) HS chỉ được bắt đầu học từ lớp
2 Nội dung rèn KNV tiếng Việt cho HS lớp 1 xoay quanh: BT luyện viết chữ gồm các dạng tập tô theo mẫu, tập viết từng chữ cái khi học âm vần và trong Vở tập viết,
Trang 26tập viết từng chữ, từng từ, từng câu trong Vở tập viết; loại bài viết chính tả gồm các bài chính tả (tập chép, nghe đọc), các BT chính tả (điền phụ âm đầu, vần, thanh) (Nguyễn Trí, 2005) Tài liệu đã trình bày khái quát nội dung rèn KNV cho HS lớp 1 trong CT giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (05/2006) Tuy nhiên, đối với những yêu cầu đổi mới trong giáo dục, đặc biệt là yêu cầu đối với KNV dành cho HS lớp 1 trong CT giáo dục phổ thông mới thì các BT được đề cập trong tài liệu, SGK đã không thể đáp ứng yêu cầu rèn KNV cho HS lớp 1 khi mà KN tạo lập ngôn bản viết
đã được đưa vào giảng dạy ngay từ lớp 1
Năm 2008, tác giả Đinh Hồng Thái, Trần Thị Mai đã có những đề cập ban đầu
về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho HS TH qua chương tám “Chuẩn bị cho trẻ học
tiếng Việt ở trường TH” trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” Nội dung trình bày của tác giả quan tâm đến việc làm quen với
từ, làm quen với câu, hình thành biểu tượng về câu và làm quen với thành phần của câu Trong những phương pháp gợi ý giảng dạy tác giả còn giới thiệu hình thức, BT đơn giản để trẻ làm quen với câu như: kể câu chuyện ngắn theo tranh, đặt câu về đồ chơi, đặt câu theo tranh, v.v Mặc dù trẻ Mầm non chưa được học cách đánh vần, đọc chữ, rèn chữ, v.v nhưng những khái niệm sơ giản về câu đã được hình thành từ giai đoạn trước khi vào lớp 1 của bậc TH
Rèn KNV cho HS lớp 1 cũng được tác giả Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga
trình bày trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” Tài liệu này tác giả
đã trình bày tám chủ đề: những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng Việt
ở TH; phương pháp dạy học Học vần; phương pháp dạy học Tập viết; phương pháp dạy học Chính tả; phương pháp dạy học Tập đọc; phương pháp dạy học Luyện từ và câu; phương pháp dạy học Tập làm văn; phương pháp dạy học Kể chuyện Trong
đó, KNV của HS lớp 1 được đề cập trong chủ đề phương pháp dạy học Tập viết và phương pháp dạy học Chính tả Nội dung Tập viết của lớp 1 bao gồm: viết đúng tư thế, giữ vệ sinh, viết cỡ chữ vừa và nhỏ, tập ghi dấu thanh đúng vị trí, làm quen với chữ hoa cỡ lớn, cỡ vừa theo mẫu quy định, tập viết các số đã học Ở Chính tả, rèn KNV qua hình thức tập chép (luyện viết chữ ghi âm, vần khó, ghi dấu câu, tập trình bày một đoạn văn ngắn); sang giai đoạn cuối học kì hai HS mới dần được làm quen
Trang 27với chính tả nghe đọc Các BT luyện viết cho HS lớp 1 trong giai đoạn hiện nay chỉ dừng lại ở hình thành kĩ thuật viết chữ; tập viết vẫn còn là nội dung trọng tâm trong quá trình rèn KNV cho HS lớp 1 Tuy nhiên, những thay đổi được đề cập trong CT giáo dục phổ thông năm 2018, cụ thể là yêu cầu đối với KNV khi viết sáng tạo được đưa vào giảng dạy ngay từ lớp 1 thì phương pháp, tài liệu giảng dạy của GV, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn, BT rèn KNV của HS phải được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Khi đề cập đến vấn đề dạy học chính tả cho HS TH, tác giả Lê Phương Liên
đã trình bày một số biện pháp hướng dẫn HS TH viết đúng chính tả qua tài liệu
“Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả” nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội năm 2017 Trong tài liệu, bên cạnh đi sâu vào trình bày các biện pháp hướng dẫn HS viết đúng chính tả, tác giả còn cung cấp thêm một số văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo quy định về chính tả, quy định cụ thể về cách viết hoa trong sách giáo khoa; một số lỗi chính tả HS thường gặp Theo tác giả, lỗi chính tả của
HS TH tập trung vào hai nguyên nhân chính: thứ nhất không nắm quy tắc chính tả, thứ hai là do ảnh hưởng của phương ngữ (Lê Phương Liên, 2017) Dựa vào kết quả phân tích trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, tác giả đã đưa ra ba biện pháp chính để hướng dẫn HS viết đúng chính tả: biện pháp học thuộc lòng (quy tắc chính
tả, luật chính tả, những từ hay viết sai), biện pháp luyện tập (BT về phụ âm đầu, phần vần, dấu thanh, BT tổng hợp) và biện pháp tra nhanh bảng chính tả Các dạng
BT được tác giả gợi ý để hướng dẫn HS luyện tập viết đúng chính tả gồm điền khuyết, lựa chọn, tìm lỗi sai (Lê Phương Liên, 2017) Những phân tích của tác giả
sẽ là gợi ý để người viết tham khảo trong quá trình xây dựng BT Tuy nhiên, đây là tài liệu sử dụng cho mọi đối tượng HS chưa đi sâu vào biện pháp rèn luyện chính tả cho HS lớp 1 Bên cạnh đó, các dạng BT chưa đa dạng, nội dung BT chỉ xây dựng kênh chữ, thiếu hình ảnh minh họa Vì vậy nếu chỉ sử dụng các dạng bài luyện tập chính tả theo gợi ý của tài liệu sẽ khó kích thích hứng thú của HS, đặc biệt là HS lớp 1, những HS có tư duy còn nặng về trực quan hình tượng
Năm 2017, luận văn “Xây dựng hoạt động tự điều khiển trong quá trình dạy viết cho học sinh lớp 1” của tác giả Hồ Hoàng Duyên đã trình bày vấn đề xây dựng
Trang 28hệ thống biện pháp, hoạt động hỗ trợ phát triển khả năng tự điều khiển trong quá trình dạy viết câu, đoạn ngắn cho HS lớp 1 Luận văn đã xây dựng năm hoạt động
để hướng dẫn HS rèn KNV câu: hoạt động phát triển khả năng thiết lập mục tiêu và động cơ viết; hoạt động sử dụng chiến lược viết câu, viết đoạn; hoạt động xác định
và tìm kiếm nguồn hỗ trợ khi gặp khó khăn; hoạt động lập kế hoạch trước khi viết
và tự kiểm soát, điều chỉnh; hoạt động tự đánh giá của HS Sau khi thực nghiệm đề tài trong ba tháng, kết quả mang lại rất khả quan: cụ thể 100% HS đều có thể trình bày thành đoạn văn ngắn trong đó 68,75% số HS có thể viết trên năm câu Tuy nhiên, giới hạn đề tài chỉ tập trung xây dựng hoạt động rèn viết, chưa đi sâu vào xây dựng BT rèn luyện sau hoạt động; phạm vi nghiên cứu đề tài là ở trường quốc tế Thời gian thực hiện hoạt động kéo dài từ năm mươi đến sáu mươi phút, vì vậy khi đưa các hoạt động này vào trường công lập cần phải điều chỉnh để phù hợp với thời gian tiết học từ ba mươi lăm đến bốn mươi phút Những nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu quý giá để người viết tham khảo và tiếp tục phát triển để xây dựng BT phù hợp với HS ở các trường quốc tế và những HS ở các trường công lập
Tất cả công trình đều đề cập đến vấn đề rèn luyện KNV cho HS lớp 1 Tuy nhiên, tài liệu rèn KNV câu, đoạn ngắn cho HS lớp 1 tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Đề tài này, người viết muốn đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện kĩ thuật viết chữ, KNV câu, đoạn ngắn cho HS lớp 1, tìm hiểu thực trạng, từ đó xây dựng BT rèn KNV cho HS lớp 1
1.1.2 Một số khái niệm công cụ
a Viết, kĩ năng viết
“Viết là KN học tập thể hiện dưới hình thức ghi lại bằng nét bút ở trên giấy
hoặc trên bảng các chữ cái, văn tự hoặc văn bản theo đúng qui tắc chính tả của một ngôn ngữ.” (Bùi Hiền, 2001)
Cho đến nay có rất niều định nghĩa về “kĩ năng” song về cơ bản đều thống nhất cho rằng KN là khả năng của con người trong việc vận dụng đúng đắn những tri thức, kinh nghiệm đã có nhằm đạt được mục tiêu, mục đích đã đề ra
KNV bao gồm nhiều khía cạnh: KNV chữ, KNV chính tả, KN dùng từ, KN đặt câu, KN tạo lập ngôn bản Ngoài KNV chữ, KNV chính tả, đề tài còn quan tâm
Trang 29đến tạo lập ngôn bản dạng viết Ngôn bản mà HS tạo ra là ý tưởng trong suy nghĩ của mỗi HS, không phải ý được ghi trong sách vở hay trên bảng Ngôn bản viết đề tài tập trung nghiên cứu ở cấp độ đơn giản là câu, đoạn ngắn
b Chính tả, lỗi chính tả
Chính tả
Theo Nguyễn Thiện Giáp (Từ điển Khái niệm ngôn ngữ học, 2016) “Chính tả
là hệ thống chuẩn cho chữ viết của một ngôn ngữ Nó gồm hệ thống chữ viết đặc biệt, một hệ thống chuẩn của cách viết và hệ thống chuẩn của dấu chấm câu” Định
nghĩa về chính tả, tác giả Vũ Thị Ân (Tiếng Việt giản yếu, 2009) nêu: “Chính tả là
hệ thống chữ viết được xem là chuẩn mực của một ngôn ngữ Khác với vấn đề chính
âm, việc viết đúng chính tả là điều bắt buộc mọi người phải tuân thủ” Tác giả
Hoàng Thị Tuyết (Lí luận dạy dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học phần II, 2013)
cho rằng: “Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất với cách viết
thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, bao gồm cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên riêng nước ngoài Chính tả là sự quy định có tính chất xã hội, không cho phép sự vận dụng các quy tắc mang tính chất sáng tạo cá nhân.”
Từ những cách hiểu trên, chúng tôi định nghĩa chính tả như sau: Chính tả là hệ thống các quy tắc về âm, vần, thanh điệu, cách viết hoa, cách đặt dấu chấm câu của một ngôn ngữ được cộng đồng người sử dụng một cách chính thức và rộng rãi Sự quy ước của chính tả mang tính chất bắt buộc qua hình thức chữ viết, đảm bảo người tạo lập và người tiếp nhận văn bản đều hiểu thống nhất nội dung
Lỗi chính tả
Lỗi chính tả là cách viết không đúng với quy tắc chính tả, không đúng về âm đầu, vần, thanh điệu hay các quy tắc viết hoa Hai nguyên nhân chính dẫn đến lỗi chính tả; một là do không nắm được các quy tắc chính tả tiếng Việt; hai là do ảnh hưởng cách phát âm địa phương (phương ngữ)
c Câu, đoạn văn
Câu
Theo Nguyễn Thị Lương (Câu tiếng Việt, 2013): “Câu là đơn vị ngôn ngữ
không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo
Trang 30những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (Từ điển
khái niệm ngôn ngữ học, 2016) cho rằng: “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, nó là
đơn vị giao tiếp nhỏ nhất, là ngôn bản nhỏ nhất” Đồng quan điểm với tác giả
Nguyễn Thiện Giáp, tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (Dùng từ viết câu và soạn thảo văn
bản, 2017) định nghĩa cụ thể: “Câu là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông
báo Câu thường phản ánh sự tình và có kiểu cấu trúc nhất định.”
Tóm lại, từ những đúc kết trên, chúng tôi định nghĩa câu như sau: Câu là đơn
vị giao tiếp nhỏ nhất, thường phản ánh sự tình, được tạo nên từ một tập hợp từ ngữ kết hợp với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng
Đoạn văn
Theo Nguyễn Thiện Giáp (Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, 2016): “Đoạn
văn là một đơn vị văn bản bao gồm một chuỗi câu, mang nội dung ngữ nghĩa hoàn chỉnh Một đoạn văn mới chỉ ra sự thay đổi chủ đề hoặc chủ đề nhỏ Trong ngôn ngữ học văn bản, các đoạn văn được coi như những chỉ tố của cấu trúc vĩ mô của bản Về hình thức, nó được mở đầu bằng một chỗ thụt đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng” Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (Dùng từ viết câu và soạn thảo
văn bản, 2017) định nghĩa: “Đoạn văn là đơn vị tạo thành văn bản Đoạn văn có thể
biểu đạt một hoặc hơn một tiểu chủ đề Đoạn văn có đặc trưng hình thức là phần
văn bản được định vị trong một khổ viết.”
d Bài tập, bài tập rèn kĩ năng viết
Tác giả Bùi Hiền (Từ điển Giáo dục học, 2001) đã định nghĩa như sau: “BT,
dạng bài học mô phỏng lại kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích rèn luyện khả năng vận dụng, củng cố để nắm vững lí thuyết và hình thành kĩ năng cần thiết theo CT môn học Mỗi môn học có những kiểu BT đặc trưng riêng: BT toán, BT vẽ, BT đọc, BT tập làm văn, BT thể dục v.v Có loại BT cho tập thể cùng làm, có loại dành riêng cho cá nhân thực hiện tại lớp hoặc ở nhà Để làm tốt một BT, HS phải nắm thật vững yêu cầu của đề bài, phân tích kĩ những vấn đề đòi hỏi phải vận dụng kiến thức đã học và tìm cách trình bày một cách sáng sủa và
Trang 31ngắn gọn nhất.” Tác giả Lê Hữu Tỉnh (Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ
cho học sinh Tiểu học, Luận án Tiến sĩ, 2001) đã đưa ra quan niệm: “BT là phương
tiện, KN là mục đích cần đạt tới BT là yếu tố không thể thiếu và có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hình thành KN sử dụng ngôn ngữ cho HS.”
Từ hai quan điểm trên, trong đề tài này chúng tôi sử dụng định nghĩa sau: BT
là nhiệm vụ học tập do GV đặt ra cho HS Trên cơ sở những dữ kiện đã biết, HS phải tư duy tìm ra cách giải quyết nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyện KN; qua đó phản
xạ chính xác, nhanh nhạy trước các tình huống tương tự
BT rèn KNV là kiểu BT đặc trưng của môn Tiếng Việt, hướng đến mục tiêu nâng cao KNV cho HS bằng cách vận dụng tri thức về từ ngữ, ngữ pháp, kiến thức văn hóa, xã hội, v.v nhằm biểu đạt tư tưởng, tình cảm của mình dưới dạng văn bản viết
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của học sinh lớp 1
a Đặc điểm về tâm sinh lý
HS lớp 1 (6 tuổi) là lứa tuổi có bước chuyển quan trọng trong quá trình thay đổi tâm lý Sự thay đổi môi trường hoạt động ở mẫu giáo sang môi trường TH có yêu cầu cao hơn (đi học đúng giờ, không nghỉ học, phải học và làm BT, v.v.) buộc
HS phải nhanh chóng hình thành thói quen mới Vì vậy, HS cần phải được chuẩn bị yếu tố tâm lý để đáp ứng những yêu cầu trên
Nhận thức và hành động của HS TH còn mang tính ngẫu hứng, hình ảnh tri giác, các biểu tượng được hình thành từ trước vẫn còn chi phối mạnh nhận thức và hành động của HS Hành động và nhận thức của HS ở giai đoạn này còn phụ thuộc nhiều vào sự định hướng từ bên ngoài của GV
Tri giác
Theo tác giả Bùi Văn Huệ, tri giác của HS TH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và không chủ động Ở các lớp đầu TH, tri giác của HS thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn Tri giác chỉ thật sự diễn ra khi HS được tương tác với sự vật: cầm nắm, sờ mó Những gì quen thuộc, phù hợp và mang lại cảm xúc hay những gì được GV hướng dẫn mới được các em tri giác Chính vì vậy, những tranh ảnh, đồ dùng trực quan có màu sắc sinh động, rực rỡ được HS tri giác tốt hơn Tri
Trang 32giác không thể tự phát triển mà phải được rèn luyện qua quá trình học tập và cần sự hướng dẫn của GV
Tri giác, sự phân tích của HS lớp 1 còn yếu vì vậy khi xây dựng BT, xây dựng các hoạt động trên lớp, người dạy nên vận dụng các điều sau đây: “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” Tức là trong quá trình hướng dẫn
HS chiếm lĩnh tri thức, GV phải tạo điều kiện để các em quan sát, thực hành, các
BT phải có yêu cầu, hướng dẫn cụ thể Hình ảnh minh họa sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực khi hướng dẫn HS luyện nói, luyện viết sáng tạo; những chi tiết riêng biệt khêu gợi sẽ kích thích HS sản sinh ý tưởng
Chú ý
Lứa tuổi HS TH, chú ý không chủ định phát triển Những gì mang tính mới
mẻ, bất ngờ, rực rỡ thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em Sự tập trung chú ý của
HS lớp 1 còn yếu, thiếu bền vững Chú ý của các em dễ bị phân tán Nhiều công trình nghiên cứu về chú ý đã khẳng định: HS TH thường chỉ tập trung và duy trì sự chú ý liên tục trong khoảng 30 đến 35 phút Vì vậy, các em thường quên điều cô giáo dặn cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu
Biết được điều này, người dạy nên giao cho HS những nhiệm vụ hay BT đòi hỏi sự chú ý và nên giới hạn về mặt thời gian Trong một giờ luyện viết, HS ngoài viết thì cần phải được tham gia các hoạt động khác, những hoạt động này vừa hỗ trợ cho việc luyện viết cũng đồng thời làm “mềm hóa” giúp giờ học giảm bớt căng thẳng
Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở HS lứa tuổi này nên trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và giữ gìn sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh và tốt hơn những định nghĩa, lời giải thích dài dòng
HS lớp 1 thường ghi nhớ một cách máy móc, các em thường có xu hướng ghi nhớ nguyên bản diễn biến câu chuyện, bài đọc mà chưa biết cách ghi nhớ dựa trên cơ sở hiểu nghĩa
Tưởng tượng
Tưởng tượng của HS TH được hình thành và phát triển trong hoạt động học và
Trang 33các hoạt động khác Khả năng tưởng tượng của HS lớp 1 tuy phát triển hơn trẻ mẫu giáo nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm dày dặn nhưng các hình ảnh tưởng tượng vẫn còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững, các em chỉ hình dung được được trạng thái đầu và cuối của đối tượng và luôn bỏ sót chi tiết Hình ảnh được tái hiện của các đối tượng vẫn còn chung chung
Vì vậy, để giúp HS phải triển trí tưởng tượng người dạy cần biến những kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có có cảm xúc, đề bài luyện nói, luyện viết phải hướng đến những đối tượng cụ thể, quen thuộc, HS đã nhìn thấy và tiếp xúc, câu hỏi phải mang tính gợi mở, thu hút HS vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để giúp các em phát triển trí tưởng tượng của mình một cách toàn diện
Tư duy
Tư duy của HS lớp 1 là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặn điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Theo J Piaget, tư duy của trẻ từ 2 đến 7 tuổi còn ở giai đoạn tiền thao tác Đây là giai đoạn trẻ sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ để diễn tả và hiểu nhiều từ thế giới xung quanh Thực chất của loại tư duy này là HS tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật HS các lớp đầu TH thường chỉ phán đoán một chiều, dựa theo một dấu hiệu duy nhất nên phán đoán của các em mang tính khẳng định
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý HS lớp 1, người dạy cần đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức các hoạt động trên lớp, phương tiện đồ dùng dạy học, ngữ liệu BT Tổ chức linh hoạt các hoạt động học tập (cá nhân, nhóm, cả lớp, v.v.) nhằm giúp HS vượt qua cảm giác mệt mỏi, chán nản Đặc biệt trong các giờ luyện viết, người dạy cần tránh yêu cầu HS phải viết liên tục trong 30 đến 35 phút mà thay vào đó cần thực hiện các hoạt động đan xen nhưng vẫn phục vụ cho quá trình luyện viết như
vẽ, tô màu chia sẻ với bạn
b Đặc điểm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ của HS lớp 1 tương đối mạch lạc, phát triển mạnh về ngữ âm, ngữ
pháp, từ vựng Khi nghe người khác nói có thể nắm được ý nghĩa câu chuyện Khi cần diễn đạt có đủ từ, đủ lời để người khác hiểu được ý mình và điều mình muốn
Trang 34nói một cách rõ ràng, ngắn gọn Theo Nguyễn Khắc Viện, HS lớp 1 có khả năng nhận diện từ, nhóm từ, câu Nhận ra được những từ liên quan đến tranh vẽ hoặc đến câu chuyện và liên kết các từ lại HS lớp 1 không chỉ sử dụng danh dừ, động từ mà các em còn sử dụng đại từ, tính từ, quan hệ từ, v.v trong các hoạt động giao tiếp hàng ngày Tuy nhiên, các em còn mắc nhiều lỗi phát âm do chịu ảnh hưởng của phương ngữ, một số âm khó, xa lạ Ví dụ: HS ở một số vùng miền thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữ hai thanh “hỏi” và “ngã” hoặc gặp lỗi phát âm các phụ
âm đầu như /s/ và /x/, /tr/ và /ch/, /n/ và /l/, v.v Ngoài ra, HS lớp 1 đã có thể sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ để một cách thành thạo, mặc dù quá trình đó diễn ra không có ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp có ý thức ở trường phổ thông (Hoàng Trường Giang và Vũ Thị Hải Anh, 2013) Những câu nói của HS đã xuất hiện nhiều cấu trúc ngữ pháp phức tạp, khi giao tiếp các em sử dụng nhiều câu phức hơn so với câu đơn; tuy nhiên do vốn từ còn ít, chưa biết sử dụng từ liên kết, chưa diễn đạt đúng trình tự logic của sự việc nên câu nói hay câu trả lời của HS lớp 1 còn lộn xộn, dài dòng Xét về ngôn ngữ viết, HS lớp 1 đã viết được hầu hết chữ hoa nhưng nhầm chiều, viết được cả họ và tên với cỡ chữ to nhỏ khác nhau Đến cuối năm lớp 1 thì chúng viết được chữ in hoa, chữ thường của từ và câu, phân biệt được
độ cao của chữ hoa, chữ thường HS lớp 1 thích chép câu, thích viết chính xác và tẩy xóa nhiều lần (Nguyễn Khắc Viện, 1998)
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp và hoạt động học tập vì vậy cần phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho HS ngay từ những năm đầu đời bằng cách hướng hứng thú của HS vào các loại sách báo có tranh và không có tranh minh họa,
có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, v.v đồng thời tạo
cơ hội để HS được viết báo, viết nhật ký, v.v
Với những đặc điểm về tâm sinh lí và ngôn ngữ đã nêu ở trên, chúng tôi định hướng thiết kế BT từ đơn giản đến phức tạp, phân chia các BT thành từng giai đoạn nhằm giúp cho việc luyện viết câu tuân thủ đúng quá trình nhận thức của HS lớp 1 Căn cứ vào tri giác và sự chú ý của HS lớp 1, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn tranh ảnh cho bài đọc, dùng tranh ảnh làm điểm tựa để HS bắt đầu luyện viết câu Tranh ảnh được lựa chọn phải đảm bảo màu sắc hài hòa, không quá sặc sỡ để tránh làm
Trang 35chậm tốc độ đọc, kìm hãm khả năng phân tích của HS Đối với rèn kĩ thuật viết chữ, việc yêu cầu HS viết lại nhiều lần các chữ, từ, câu trong giờ Tập viết sẽ khiến HS giảm sự chú ý, hình thành tâm lý sợ viết Chính vì vậy, người nghiên cứu đề xuất
BT rèn kĩ thuật viết chữ tích hợp trong quá trình luyện viết câu nhằm giúp giảm
“gánh nặng” trong quá trình rèn chữ của HS lớp 1
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
a Các giai đoạn của hoạt động lời nói và vấn đề rèn kĩ năng viết
Khi nghiên cứu về lý thuyết hoạt động lời nói, A N Lê- ôn- chép đã viết: “Để
giao tiếp được trọn vẹn, về mặt nguyên tắc, con người cần nắm được hàng loạt những kĩ năng Một là cần phải biết định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong những điều kiện giao tiếp Hai là cần biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội dung giao tiếp một cách đúng đắn Ba là cần phải tìm được những phương tiện hợp lý truyền đạt nội dung đó Bốn là đảm bảo mối liên hệ qua lại Nếu như một mắc xích nào đó của hoạt động giao tiếp bị phá hủy thì kết quả giao tiếp sẽ không có hiệu quả” Vận dụng lý này của A N Lê- ôn- chép, các nhà giáo dục hình
dung rõ hơn các về các KN ngôn ngữ cụ thể là KNV cần có của người học Bảng 1.9 sẽ trình bày mối quan hệ giữa cấu trúc lời nói với hệ thống KN tạo lập ngôn bản viết
Bảng 1.1 Bảng hệ thống hóa mối quan hệ giữa cấu trúc lời nói với hệ thống kĩ năng tạo lập ngôn bản viết
Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng tạo lập ngôn bản viết
viết ( KN tìm hiểu đề)
2 KN xác định tư tưởng cơ bản của bài viết
2 Lập chương trình
nội dung biểu đạt
3 KN tìm ý (thu thập tài liệu cho bài viết)
4 KN lập dàn ý (hệ thống hóa, lựa chọn tài liệu)
3 Hiện thực hóa chương
Trang 36Khi đi sâu vào phân tích hoạt động định hướng, một số nhà giáo dục cho rằng CT làm văn hiện nay chưa chú trọng khâu liên kết hành động nói năng với hoạt động giao tiếp của người nói; các đề bài tập làm văn hiện nay chưa gắn với hình huống, nhu cầu giao tiếp của HS (Nguyễn Trí, 2008) Biện pháp giải quyết là tạo nhu cầu giao tiếp cho HS, xây dựng đề bài luyện viết gắn với tình huống nói năng, làm cho HS cảm nhận được mình sẽ viết cho một đối tượng nào đó hoặc sẽ thể hiện tình cảm, mong ước đến với một đối tượng cụ thể
b Mối quan hệ giữa lời nói và vấn đề rèn kĩ năng viết
Trong quá trình rèn KN tạo lập ngôn bản viết, KN nói được hình thành trước như một hệ quả của nhu cầu giao tiếp tự nhiên KNV chỉ được hình thành qua quá trình học tập Vì vậy, khi xây dựng BT rèn KN tạo lập ngôn bản viết cho HS trước hết phải xây dựng các hoạt động rèn KN nói Trên cơ sở đó, HS hình thành ý tưởng, trau dồi vốn từ, rèn KN diễn đạt, quá trình viết diễn ra sau đó sẽ trở nên thuận lợi,
xa cách với cuộc sống
1.1.5 Lý luận về phát triển kĩ năng viết cho học sinh lớp 1
Dựa trên cơ sở lí luận về mặt giáo dục học - lí luận dạy viết chữ, chính tả, dạy học làm văn, chúng tôi lựa chọn các phương pháp dạy Tập viết, Chính tả, Tập làm
Trang 37văn từ quan điểm của các tác giả Steven Graham (2008), Đặng Kim Nga (2010) và
Lê Phương Nga (2010), Hoàng Thị Tuyết (2012) Từ những phương pháp đó, người viết liên tưởng đến việc rèn luyện KNV cho HS lớp 1
a Tầm quan trọng của phát triển kĩ năng viết sớm cho học sinh
Theo nhận định của các nhà giáo dục: KNV là một trong bốn KN quan trọng cần được rèn luyện và phát triển cho HS ngay từ khi bước vào bậc TH Việc phát triển KNV có vai trò quyết định đối với sự thành công trong học tập và công việc
sau này của mỗi cá nhân Giáo sư người Mỹ, Steven Graham đã nhận xét: “Những
người trẻ không học viết tốt có bất lợi đáng kể Tại trường học, điểm số của họ có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong các lớp học sử dụng các bài kiểm tra và báo cáo bằng văn bản là phương tiện chính để đánh giá tiến bộ” (Graham, 2006b) Trong
một báo cáo ở Mỹ năm 2004 – 2005 đã chỉ ra rằng: “Cơ hội của những người viết
kém đi học đại học bị giảm, khi viết ngày càng được sử dụng để đánh giá trình độ của người nộp đơn Tại nơi làm việc, viết là cánh cửa cho việc làm và thăng tiến, đặc biệt là tiền lương” (reports by the National Commision on Writing 2004 –
2005) Hiện nay, tại Việt Nam cũng như trên thế giới các bài thi, bài kiểm tra năng lực đều sử dụng hình thức viết là một trong những hình thức đánh giá chính Trong một cuộc khảo sát vào năm 2004 tại Anh, các giáo viên ở đây cho biết: Họ thường
sử dụng các bài kiểm tra, BT dạng viết để đánh giá quá trình học của sinh viên Bên cạnh đó, việc hỗ trợ trong quá trình học tập cũng được trao đổi thư điện tử, nhắn tin,
v.v Thậm chí, báo cáo còn bình luận thêm: “Chúng tôi đã nghe một nhân viên
cảnh sát bình luận rằng anh ta chỉ rút súng một lần trong năm, nhưng anh ấy đã sử dụng một cây bút mỗi ngày tại nơi làm việc.” (Steven Graham, Karen R Harris,
Tanya Santangelo, 2015)
Ở Mỹ, từ mẫu giáo, trẻ đã được vẽ hoặc viết nguệch ngoạch để mô tả ý nghĩa hình ảnh Sau đó, trẻ sớm được dạy cách viết tên của mình, học cách viết chữ trong bảng chữ cái (Bloodgood, 1999; Levin and Bus, 2003; Lenvin ang Aran, 2004) Tại Việt Nam, những năm gần đây, các nhà giáo dục đã đặc biệt quan tâm đến khả năng tiền đọc, viết của trẻ mẫu giáo Cùng nghiên cứu về đề tài khả năng tiền đọc viết của trẻ mẫu giáo, tác giả Mai Thị Nguyệt Nga và Nguyễn Thị Thanh Bình đã xác
Trang 38định KN viết của trẻ 5 – 6 tuổi gồm: Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách, biết tô màu và tạo các con chữ, KN tự kiểm tra đánh giá bài viết của mình theo bài mẫu hoặc theo sự hướng dẫn của cô (Mai Thị Nguyệt Nga và Nguyễn Thị Thanh Bình, 2014) Đồng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Thị Hải Thanh trong một nghiên cứu của mình cũng cho rằng: trẻ mẫu giáo thấy người lớn viết và thích bắt chước theo, đầu tiên là những nét nguệch ngoạch, dần dần sẽ hoàn chỉnh và chính xác hơn nhờ sự luyện tập của bản thân và sự hỗ trợ của người lớn Tác giả còn cho biết thêm: trẻ mẫu giáo có thể vẽ phác thảo, ghép chữ thậm chí tạo ra chữ viết riêng (Nguyễn Thị Hải Thanh, 2017)
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy rằng rèn KNV sớm cho HS đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà giáo dục trong và ngoài nước Hiện nay, rèn KNV không còn bắt đầu từ các lớp ở bậc TH mà được thực hiện ngay lứa tuổi mẫu giáo Sản phẩm của KNV không chỉ là những văn bản được trình bày ngay hàng thẳng lối mà có còn có thể là một bức tranh hay thậm chí là những nét vẽ nguệch ngoạc nhưng thông qua đó trẻ bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của riêng mình
b Phương pháp rèn kĩ năng viết
Mục đích hướng dẫn HS lớp 1 rèn KNV nhằm giúp các em hình thành các KNV chữ, câu, đoạn đáp ứng các yêu cầu về kĩ thuật viết, chính tả và bước đầu thể hiện ý kiến, quan điểm của bản thân bằng ngôn ngữ viết
Các BT được xây dựng trong đề tài vừa rèn KNV câu, đoạn đồng thời tích hợp rèn kĩ thuật viết chữ, KNV chính tả Chính vì vậy, đối với rèn kĩ thuật viết chữ cho
HS, chúng tôi tập trung sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp luyện tập theo mẫu Đối với KNV viết chính tả, chúng tôi quan tâm đến phương pháp dạy học về mối quan hệ giữa ý thức, vô thức và sự tự động hóa trong quá trình HS hình thành KN viết đúng chính tả, phương pháp quan tâm đến kinh nghiệm ngôn ngữ của người học và phương pháp dạy học phối hợp vận dụng nhiều biện pháp khác nhau
Trang 39Khi hướng dẫn HS rèn KN viết câu, đoạn, chúng tôi kết hợp sử dụng đa dạng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp làm mẫu, động não, trực quan, đàm thoại gợi mở, v.v
Phương pháp dạy học Tập viết
Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Trong phân môn Tập viết, phân tích ngôn ngữ chính là phân tích cấu tạo chữ, kích thước chữ, mối liên kết giữa các nét chữ trong chữ cái, dấu thanh trong chữ ghi tiếng Trong quá trình giảng dạy, GV cho HS quan sát các mẫu chữ trực quan (chữ mẫu phóng to, chữ mẫu GV viết trên bảng, chữ mẫu trong vở Tập viết) nhằm khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều cách: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập Bên cạnh đó, GV cần tạo điều kiện để HS chủ động phân tích hình dáng kích thước, cấu tạo chữ, tìm sự tương đồng, khác biệt giữa chữ cái đang học và chữ cái đã học
Phương pháp thực hành luyện tập
Phương pháp thực hành luyện tập được sử dụng trong quá trình tổ chức cho
HS tập viết chữ, hình thành KNV thành thạo cho các em Quá trình luyện tập viết được chia thành nhiều giai đoạn: giai đoạn đầu luyện viết các nét cơ bản; viết đúng hình dạng chữ cái, chữ số; sau đó mới tiến đến viết đúng kích cỡ, cân đối, rõ ràng Ngoài giờ Tập viết, KNV chữ cần được thực hiện thông qua các giờ của những môn học khác GV có thể hướng dẫn HS luyện tập theo các hình thức sau: tập viết hình dáng chữ (chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp, hình thức này thường dùng kiểm tra bài cũ, qua hình thức này giúp GV phát hiện lỗi sai, kịp thời sửa chữa; tập viết bằng hình thức huơ tay tạo ra các nét hình thành chữ trong không khí, hình thức này giúp HS ghi nhớ hình dạng chữ viết; luyện viết vào bảng con, vở kẻ ô li, v.v Khi luyện viết cho HS ở bất kì hình thức nào, GV cũng cần hướng dẫn HS viết đúng chiều, đúng quy trình và kích thước Đặc biệt trong quá trình luyện viết, GV cần chú ý đến tư thế ngồi, cách cầm bút, để vở, v.v của HS
Tóm lại, tổ chức dạy học tập viết cho HS lớp 1 có thể được tiến hành qua các bước sau:
Trang 40Bước 1: GV tổ chức cho HS quan sát mẫu và cách viết của GV GV vừa viết
vừa phân tích cấu tạo và quy trình viết
Bước 2: GV nhắc lại cách viết lại lần thứ hai HS dùng ngón trỏ viết nội dung
cần viết lên không khí hoặc mặt bàn
Bước 3: HS luyện tập theo mẫu vào bảng con hoặc vở tập viết
Bước 4: HS tự đánh giá bài viết của mình và của bạn theo hướng dẫn của GV
(Nguyễn Thị Ly Kha và Nguyễn Lương Hải Như, 2019)
Lê Phương Nga cũng đề ra phương hướng dạy chính tả tương tự Dựa trên kết quả thống kê lỗi chính của HS, GV xác định trọng điểm cần dạy cho HS lớp của mình
Phương pháp dạy học về mối quan hệ giữa ý thức, vô thức và tự động
hóa trong quá trình học sinh hình thành kĩ năng viết đúng chính tả
Quá trình chính tả tiếng Việt có ý thức được thể hiện qua “phương pháp chính
tả tích cực” và “phương pháp chính tả tiêu cực” (Lê Phương Nga, 1995) Phương
pháp tích cực là cách dạy học chính tả trong đó GV giới thiệu và hướng dẫn HS ghi nhớ những quy tắc, mẹo luật chính tả, sau đó vận dụng những hiểu biết ấy vào viết chính tả Đối với phương pháp tiêu cực, GV hướng dẫn HS nhận diện các lỗi sai trong bài làm của mình hay của bạn, phân tích các trường hợp sai chính tả, hướng dẫn HS cách sửa lỗi, rồi từ đó hướng HS tự ghi lại từ đã viết sai và rút kinh nghiệm hướng đến cái đúng Khi tự sửa lỗi trong bài viết của mình sẽ giúp người học sử dụng tiếng đang học ngày càng chính xác (Edge, 1989)
Quá trình chính tả tiếng Việt vô thức được thể hiện qua “phương pháp dạy học