Lý do chọn đề tài Môn Tiếng Việt trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dụ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LY KHA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2019
Người viết
Hoàng Thúy Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn, tôi rất may mắn nhận được
sự hỗ trợ, động viên của quý Thầy, Cô và bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha, người đã tận tình hướng dẫn tôi, cho tôi những góp ý và định hướng đúng đắn
để hoàn thành đề tài Cô cũng là người động viên tinh thần, khiến tôi thêm quyết tâm khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học) cùng các Thầy, Cô thuộc Phòng Sau đại học tại Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Các Thầy, Cô không chỉ truyền, dạy cho chúng tôi những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thiết thực với vai trò là những người nghiên cứu mà còn có những hướng dẫn cụ thể để chúng tôi nắm rõ hơn những quy định khác liên quan đến việc hoàn thành luận văn
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, tập thể giáo viên và các em học sinh trường Tiểu học Vĩnh Phú - những người đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực nghiệm tại trường
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn tới những đồng nghiệp yêu quý cùng các bạn trong lớp Cao học Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học) K28 đã cho tôi những góp
ý, chia sẻ nhiều tài liệu giúp tôi thêm thuận lợi hoàn thành luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2019
Học viên
Hoàng Thúy Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.1.2 Một số khái niệm công cụ 21
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 23
1.1.4 Các lí thuyết vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 36
1.2.1 Chương trình, tài liệu dạy học 36
1.2.2 Thực trạng kĩ năng nói của học sinh lớp 1 và việc rèn kĩ năng nói cho các em 47
Tiểu kết chương 1 56
Chương 2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1 57
2.1 Các căn cứ và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 57
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập và một số gợi ý cho giáo viên trong việc biên soạn ngữ liệu phục vụ việc rèn kĩ năng nói cho học sinh 59
2.2.1 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 59
2.2.2 Một số gợi ý cho giáo viên trong việc biên soạn ngữ liệu phục vụ việc rèn kĩ năng nói cho học sinh 61
Trang 62.3 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói 63
2.3.1 Bài tập nói khởi động 65
2.3.2 Bài tập rèn kĩ năng nói câu 66
2.3.3 Bài tập rèn kĩ năng nói trong tình huống 75
2.3.4 Bài tập rèn kĩ năng nói theo chủ đề 87
2.3.5 Bài tập kể chuyện 94
Tiểu kết chương 2 102
Chương 3 THỰC NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1 104
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 104
3.2 Chọn mẫu thực nghiệm 104
3.2.1 Tiêu chí chọn mẫu 104
3.2.2 Mô tả mẫu 104
3.3 Tổ chức thực nghiệm 105
3.3.1 Nguyên tắc thực nghiệm 105
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 105
3.3.3 Quy trình thực nghiệm 105
3.4 Nội dung thực nghiệm 115
3.5 Kết quả thực nghiệm và bàn luận về kết quả 115
3.5.1 Kết quả thực nghiệm 115
3.5.2 Bàn luận về kết quả thực nghiệm 121
Tiểu kết chương 3 125
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
DANH MỤC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 135 PHỤ LỤC
Trang 7CT GDPT: chương trình giáo dục phổ thông
TN : thực nghiệm
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các chủ đề và mức độ cần đạt về kĩ năng nói của học sinh lớp 1
trong Chương trình Giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành 39 Bảng 1.2 Yêu cầu cần đạt và nội dung kiến thức về kĩ năng nói của học sinh
lớp 1 trong chương trình Ngữ văn 2018 40 Bảng 1.3 Trình độ chuyên môn và số năm dạy lớp 1 của giáo viên tham gia
khảo sát 48 Bảng 1.4 Đánh giá kĩ năng nói của học sinh lớp 1 49 Bảng 1.5 Tổng hợp ý kiến của giáo viên về một số nội dung liên quan đến
việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 50 Bảng 1.6 Tổng hợp ý kiến của cán bộ quản lí về một số nội dung liên quan
đến việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 53 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá kĩ năng nói của nhóm đối chứng trước thực
nghiệm 116 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá kĩ năng nói của nhóm thực nghiệm trước thực
nghiệm 117 Bảng 3.3 Kết quả đánh giá kĩ năng nói của nhóm đối chứng sau thực
nghiệm 118 Bảng 3.4 Kết quả quan sát sự hứng thú học tập của học sinh 121
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 28
Sơ đồ 1.2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói trong sách Tiếng Việt 1 44
Sơ đồ 2.1 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói 64
Sơ đồ 3.1 Tốc độ nói (tiếng/phút) của học sinh 120
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ban hành
kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (sau đây gọi tắt là Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành) nhấn mạnh chủ trương: “Hình thành và phát triển ở học sinh
các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc - viết - nghe - nói) để học tập và giao tiếp trong
môi trường hoạt động của lứa tuổi” Cụ thể, chương trình rèn luyện cả bốn kĩ năng đọc
- viết - nghe - nói và dành nhiều sự quan tâm đến việc dạy nói: dạy nói trong giao tiếp
(thông thường và nghi thức chính thức), dạy nói thành bài (trong phát biểu, thuyết trình) Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành kèm theo Thông tư số
32/2018/TT-BGDĐT (sau đây gọi tắt là chương trình môn Ngữ văn 2018) đặt ra mục
tiêu ở cấp tiểu học: “Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản” Ở lớp 1, chương trình đề ra những yêu cầu cụ thể về nói và nghe Trong đó, các yêu cầu cần đạt về kĩ năng nói bao gồm: “Nói rõ ràng, thành câu Biết nhìn vào người nghe khi nói Đặt được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng vào nội dung câu hỏi Nói và đáp lại được lời chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, phù hợp với đối tượng người nghe Biết giới thiệu ngắn về bản thân, gia đình, đồ vật yêu thích dựa trên gợi ý Kể lại được một đoạn hoặc cả câu chuyện đơn giản đã đọc, xem hoặc nghe (dựa vào các tranh minh hoạ
và lời gợi ý dưới tranh)” Có thể thấy, việc hình thành và phát triển kĩ năng nói là một mục tiêu cụ thể trong các chương trình với những yêu cầu ngày một chi tiết, nâng cao
hơn Như vậy, rèn kĩ năng nói là một phần không thể thiếu trong việc hình thành và
phát triển năng lực ngôn ngữ cũng như các năng lực khác cho học sinh theo mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Theo Nguyễn Quang Ninh, chức năng giao tiếp và chức năng tư duy là hai chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ Ngôn ngữ và tư duy cùng xuất hiện một lúc Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy Con người không thể tư duy nếu thiếu ngôn ngữ Quá trình đi tìm từ và câu để nói là quá trình làm cho ý nghĩ, khái niệm trở nên rõ ràng Do đó, phát triển kĩ năng nói sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và năng
Trang 11lực giao tiếp Kĩ năng này còn đem lại cho các em nhiều lợi ích trong học tập (như trình bày được ý tưởng, diễn đạt để thầy, cô và bạn bè hiểu những suy nghĩ của bản
thân, phản biện, tham gia quá trình đánh giá trong lớp học (theo Thông tư BGDĐT và Thông tư 22/2016/ TT-BGDĐT), v.v cũng như trong mối quan hệ của các
30/2014/TT-em với con người và môi trường xung quanh (giao tiếp, mô tả, khám phá thế giới quanh em, v.v ) Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 sẽ giúp các em không bỡ ngỡ với kiểu bài Tập làm văn nói ở các lớp trên Mặt khác, các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng những trẻ không nhận được sự trợ giúp đầy đủ để phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng lời thường gặp khó khăn trong giao tiếp xã hội và phát triển cảm xúc khi chúng lớn lên.Hơn nữa, dù học sinh đã biết nói, biết nghe trước khi học tiểu học nhưng vốn ngôn ngữ ít, năng lực ngôn ngữ còn hạn chế cộng thêm việc phải làm quen với môi trường mới, không thể tránh khỏi những khó khăn trong giao tiếp cũng như học tập
Do đó, việc phát triển kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho việc học, cho bản thân học sinh mà còn có ích cho cuộc sống của các em
Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành là chương trình đầu tiên xây dựng nội dung dạy nói riêng và đề ra mức độ học sinh cần đạt được ở kĩ năng này Đây là sự thay đổi lớn so với các chương trình trước đó Nội dung dạy nói được thể hiện trong sách Tiếng Việt 1 với vai trò là một hoạt động trong giờ Học vần, Tập đọc Tuy nhiên, qua quá trình sử dụng sách, giáo viên đã đặt ra nhiều câu hỏi về sự đa dạng của bài tập rèn kĩ năng nói, sự phù hợp của các chủ đề luyện nói với vốn sống của học
sinh hay cách đưa ra yêu cầu trong sách, v.v Những “vấn đề cần bàn” này đã khiến
giáo viên gặp những khó khăn nhất định trong việc rèn kĩ năng nói cho học sinh
Nếu ở chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành, nội dung và yêu
cầu cần đạt về các kĩ năng trong môn Tiếng Việt được sắp xếp theo thứ tự “Đọc - Viết
- Nghe - Nói” thì trong chương trình môn Ngữ văn 2018 trật tự này đã được đổi thành
“Đọc - Viết - Nói - Nghe” Cùng với một số thay đổi trong những yêu cầu cần đạt về
kĩ năng nói trong chương trình môn Ngữ văn 2018, trật tự này đã thể hiện vị trí và sự quan tâm lớn hơn của chương trình dành cho kĩ năng nói Ngoài ra, chương trình còn nhắc tới nói và nghe trong mối quan hệ tương tác Đây là điểm mới so với chương
Trang 12trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành Điều này phản ánh đúng thực tế mối quan hệ giữa kĩ năng nói và kĩ năng nghe cũng như mối quan hệ của chúng với các kĩ năng ngôn ngữ khác Mặc dù đọc, viết vẫn là những kĩ năng được kể đến đầu tiên nhưng kĩ năng nói, nghe đã dần được quan tâm hơn Hơn nữa, thời lượng thực hiện chương trình môn Ngữ văn 2018 ở lớp 1 là 450 tiết/năm, tăng 70 tiết so với kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành Vì thế, giáo viên sẽ có nhiều thời gian trong việc rèn luyện kĩ năng nói và các kĩ
năng khác cho học sinh để đạt mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ Rõ ràng, kĩ
năng nói đã được quan tâm nhiều hơn trong chương trình môn Ngữ văn 2018 Điều
này đòi hỏi giáo viên cần có những thay đổi trong nhận thức cũng như việc tổ chức các hoạt động dạy - học nhằm giúp người học đạt được những yêu cầu mà chương trình đặt ra
Trong bối cảnh sắp tới sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa lớp 1 theo chương trình
giáo dục phổ thông 2018, sử dụng từ năm học 2020 - 2021, việc lựa chọn tài liệu dạy
học nào để phù hợp với đặc điểm học sinh tại địa phương giúp đạt được các mục tiêu của chương trình dành cho học sinh lớp 1 trở thành nhiệm vụ của người quản lý, giáo viên và phụ huynh Nội dung dạy nói được thể hiện trong sách giáo khoa môn Tiếng
Việt có thể trở thành một trong những tiêu chí lựa chọn sách Theo đó, một số vấn đề
có thể phát sinh như có những ngữ liệu rèn kĩ năng nói trong cuốn sách giáo khoa được chọn chưa thích hợp, giáo viên có thể lựa chọn ngữ liệu ở nhiều cuốn sách giáo khoa để rèn kĩ năng nói hay không hay làm sao để giáo viên có thể biên soạn được những ngữ liệu phục vụ việc rèn kĩ năng nói phù hợp với học sinh, v.v
Xuất phát từ những lí do trình bày ở trên cùng với mong muốn xây dựng được hệ thống bài tập để rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, làm tăng hiệu quả trong việc rèn kĩ
năng sử dụng tiếng Việt, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng bài tập rèn kĩ năng nói cho
học sinh lớp Một” Nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn ngữ liệu
dạy học, cụ thể là hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 phù hợp với
Trang 13các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, tăng hứng thú của các em khi tham gia các hoạt động rèn kĩ năng nói
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nội dung và cách tổ chức các bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
5 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu các bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 bao quát được những yêu
cầu như: Xây dựng trên cơ sở khoa học với nội dung hấp dẫn; Kích thích được nhu cầu và hứng thú nói của HS; Khai thác được vốn sống, vốn ngôn ngữ sẵn có của
học sinh đồng thời cung cấp cho học sinh những quy tắc trong giao tiếp thì có thể
phần nâng cao chất lượng của việc rèn kĩ năng nói cũng như sẽ giúp các em có thể sử dụng tốt kĩ năng này trong cả học tập và cuộc sống
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước để làm rõ các khái niệm và các vấn đề
có liên quan làm cơ sở lí luận của đề tài Các khái niệm công cụ và vấn đề lí luận cơ
bản cần được làm rõ gồm: bài tập, nói, lời nói, kĩ năng nói, năng lực, năng lực ngôn
ngữ, lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại
Trang 146.2 Nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu vấn đề rèn kĩ năng nói trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành, chương trình giáo dục phổ thông 2018, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018; khảo sát chương trình, hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh trong sách Tiếng Việt 1 hiện hành; khảo sát tình hình rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 tại một số trường Tiểu học ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Trên cơ sở
đó, tìm ra những ưu điểm cũng những vấn đề còn tồn tại của việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 và xác định hướng đề xuất của đề tài
6.3 Xây dựng bài tập, thực nghiệm và kết luận
Đề xuất hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 với quy trình rõ ràng
Thực nghiệm một số bài tập đã xây dựng Từ kết quả thực nghiệm kết luận tính khả thi của đề tài và đưa ra những kiến nghị cần thiết
cứu rèn kĩ năng nói, nhấn mạnh kĩ năng này trong hoạt động giao tiếp nhưng vẫn rèn
kĩ năng nói - nghe tương tác
Đề tài tập trung xây dựng các nhóm bài tập với một số dạng bài cụ thể nhằm hỗ trợ rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp lớp 1 trong học kì II
8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
Tiếp cận duy vật - biện chứng: Tôn trọng mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và
người học, giữa nội dung giáo dục và kết quả giáo dục
Trang 15Tiếp cận hệ thống: Hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói được xây dựng và phân loại
thành các kiểu/ nhóm khác nhau Tuy nhiên, không thể tránh khỏi trường hợp một số bài tập có thể vừa mang đặc điểm của nhóm bài tập này, vừa mang đặc điểm của nhóm bài tập khác trong cùng hệ thống
Tiếp cận phát triển: Nội dung bài tập được xây dựng từ dễ đến khó, từ quen thuộc,
gần gũi tới mới lạ, phức tạp phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí và nhận thức của học sinh
Tiếp cận lịch sử cụ thể: Mỗi học sinh có quá trình, hoàn cảnh và lịch sử phát triển
cũng như kinh nghiệm, phong cách, thói quen, khả năng học tập ngôn ngữ khác nhau
8.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tài liệu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan tới đề tài: kĩ năng nói, phát triển kĩ năng nói, dạy nói, việc xây dựng các bài tập rèn kĩ năng nói, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lí của học sinh lớp 1, v.v Phân tích, khái quát hóa lí luận để xác lập căn cứ khoa học và khung lý thuyết của nghiên cứu cũng như tìm hiểu kinh nghiệm trong việc phát triển kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn, quan sát trực tiếp: Thu thập thông tin về số lượng từ khi
học sinh nói, thái độ, sự hứng thú và cách sử dụng từ ngữ khi nói các chủ đề quen thuộc và không quen thuộc Quan sát quá trình dạy và học luyện nói trong giờ Tiếng Việt Phỏng vấn, lấy thông tin từ giáo viên, cán bộ quản lý về thực trạng rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Phương pháp điều tra: Sử dụng các câu hỏi được in sẵn dành cho cán bộ quản lý
và học sinh để tìm hiểu về thực trạng rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Phương pháp phân tích, thống kê, phân loại, so sánh: Đây là các phương pháp
được sử dụng khi chúng tôi khảo sát, thống kê hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói trong sách Tiếng Việt 1 hiện hành Từ đó phân tích những ưu điểm, hạn chế của hệ thống bài tập này Chúng tôi cũng tiến hành phân tích kết quả thu được qua quá trình phỏng vấn
Trang 16học sinh tại các thời điểm trước và sau thực nghiệm, quá trình thực nghiệm So sánh các kết quả thu được để đưa ra những kết luận về tính khả quan của đề tài
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đây là phương pháp nghiên cứu đặc thù,
được tiến hành nhằm đánh giá tác động những bài tập rèn kĩ năng nói đề tài xây dựng lên học sinh qua quá trình thực nghiệm Từ đó đánh giá được những ưu điểm, hạn chế của các bài tập trong việc phát triển kĩ năng nói cho học sinh
9 Đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu hướng tới việc tạo được nguồn ngữ liệu hỗ trợ việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, phù hợp với những yêu cầu cần đạt và những định hướng của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông 2018
10 Vấn đề đảm bảo tính khách quan và đạo đức khi nghiên cứu
Người nghiên cứu tôn trọng các đối tượng tham gia vào quá trình nghiên cứu Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tham gia vào quá trình nghiên cứu đều được trao đổi rõ ràng mục đích của từng việc làm Người nghiên cứu tôn trọng quyền tự nguyện tham gia của tất cả các đối tượng Những thông tin thu thập chỉ sử dụng cho quá trình nghiên cứu
11 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cấu trúc thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Chương 2: Quy trình xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Chương 3: Thực nghiệm hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO
sinh lí của học sinh lớp 1; Các lý thuyết vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài (lý
thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại) Cơ sở thực tiễn bao
gồm Chương trình, tài liệu dạy học (nhìn từ bình diện rèn kĩ năng nói); Thực trạng kĩ
năng nói của học sinh lớp 1 và việc rèn kĩ năng nói cho các em
Trong cuốn sách Phương pháp dạy Tiếng mẹ đẻ, tác giả Lê A và Vương Toàn
đã đưa ra năm nguyên tắc khi dạy Tiếng mẹ đẻ của Phê-đô-ren-cô L.L Đó là: nguyên
tắc chú ý đến mặt vật chất của ngôn ngữ, nguyên tắc thông hiểu ý nghĩa của ngôn ngữ, nguyên tắc đánh giá tính biểu cảm của lời nói, nguyên tắc phát triển cảm quan của ngôn ngữ và nguyên tắc phát triển lời nói miệng trước lời nói viết Ở trang 93-94, hai
tác giả giới thiệu nhận định của Phê-đô-ren-cô L.L: “Với trẻ, lời nói viết là giai đoạn
thứ hai trong sự lĩnh hội lời nói chung và trẻ không thể lĩnh hội được lời nói viết nếu không nắm được lời nói miệng.” (Lê A, Vương Toàn, 1997)
Báo cáo “A Program To Develop the Listening and Speaking Skills of Children
in a First Grade Classroom” (Một chương trình phát triển kĩ năng nghe và nói của học
sinh lớp Một) của tác giả Julie Anne Wilson, đại học Virginia, Mỹ tháng 5 năm 1997
mô tả lại một chương trình phát triển kĩ năng (KN) nghe nói cho học sinh (HS) lớp 1
Trang 18với 17 HS tham gia Ở phần đầu báo cáo, tác giả nói tới tầm quan trọng của nghe, nói
và chỉ ra những nghiên cứu chứng tỏ trẻ em đồng thời học bốn KN nghe, nói, đọc, viết
từ những ngày đầu chứ không phải học nghe, nói trước và học đọc, viết sau như cách truyền thống mà mọi người thường nghĩ Trong đó nhấn mạnh những trẻ có thể diễn giải suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói có nhiều khả năng thành công hơn ở
trường học trong khi những HS không phát triển tốt kĩ năng nghe - nói có nguy cơ chịu ảnh hưởng cả đời vì sự thiếu hụt KN này Một số phương pháp phát triển KN nghe -
nói cũng được đề cập như đặt câu hỏi, kể chuyện, diễn kịch và sự tích hợp trong chương trình ngoại khóa, v.v Ngoài ra, ở trang 10 của tài liệu, những việc giáo viên (GV) cần làm để phát triển KN nghe - nói cho HS được nhắc tới: “Giáo viên cần tạo ra một môi trường mà học sinh cảm thấy an toàn để chia sẻ suy nghĩ của mình Đây là
bước đầu tiên trong việc phát triển kĩ năng nghe - nói Giáo viên hãy là thành người
nói và lắng nghe ân cần.” (Julie Anne Wilson, 1997)
Nghiên cứu Effects of Creative, Educational Drama Activities on Developing
Oral Skills in Primary School Children của tác giả Abdulhak Halim Ulaş đăng trên tạp
chí American Journal of Applied Sciences 5 (7) trang 876-880 năm 2008 là một
nghiên cứu đã được thực hiện để xem các khóa học giảng dạy ngôn ngữ bản địa sử dụng các hoạt động kịch nghệ sáng tạo có hiệu quả hơn trong việc phát triển các KN giao tiếp bằng miệng ở HS tiểu học (TH) hơn các khóa học giảng dạy ngôn ngữ bản địa truyền thống hay không Trong nghiên cứu này, các các yếu tố về KN giao tiếp bằng miệng của HS TH như phát âm và giải thích được quan tâm Nhà nghiên cứu sử dụng hai nhóm HS năm thứ tư đang theo học tại một trường TH ở trung tâm thành phố
tỉnh Erzurum, Thổ Nhĩ Kỳ, trong năm học 2006 - 2007 Kĩ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên
đã được sử dụng để hình thành các nhóm thực nghiệm (số lượng 32) và nhóm đối chứng (số lượng 33) Người nghiên cứu quan sát để đánh giá các KN giao tiếp bằng miệng và thu thập dữ liệu Hiệu lực của hình thức này đã được xác minh bằng cách giới thiệu nó với các chuyên gia và độ tin cậy của nó đã được xác nhận bởi bảy nhà giáo dục Công cụ đo lường này đã được áp dụng trên các nhóm thực nghiệm (TN) và đối chứng cả trước TN và sau TN Phương pháp truyền thống, sử dụng sách giáo khoa, lấy GV làm trung tâm, được triển khai trong nhóm đối chứng trong khi bài học hướng
Trang 19dẫn ngôn ngữ bản địa đã được thực hiện bằng cách sử dụng các hoạt động kịch trong nhóm thực nghiệm Sau 14 tuần, cả hai nhóm tham gia làm bài kiểm tra Phân tích dữ liệu đã chứng minh một sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm TN và nhóm đối chứng ở
KN giao tiếp bằng miệng Việc áp dụng các hoạt động kịch trong dạy ngôn ngữ bản địa đã cải thiện sự phát triển các KN phát âm, giải thích so với phương pháp sách giáo khoa truyền thống, lấy GV làm trung tâm Ở cuối phần Giới thiệu, trang 876, tác giả nhấn mạnh: “Bất kể được áp dụng ở đâu, kịch sáng tạo có thể được xem xét một phương pháp học tập cũng là một công cụ để thể hiện bản thân như nghệ thuật Phạm
vi của kịch sáng tạo có thể được ngắn gọn giải thích thông qua sáu nguyên tắc học tập: học sinh học nội dung có ý nghĩa tốt hơn nội dung khác; việc học diễn ra là kết quả của học sinh tương tác với môi trường của mình; học sinh càng sử dụng các cơ quan cảm giác nhiều hơn trong khi học tập thì việc giữ lại các bài học càng lớn; một học sinh học tốt nhất bằng cách làm và trải nghiệm; việc thực hành hiệu quả là rất quan trọng trong học tập tình cảm, đạo đức; việc học trở nên dễ dàng và lâu dài hơn trong môi trường giáo dục nơi có nhiều hơn một kích thích.”
Cuốn sách How To Teach Speaking của Scott Thornbury xuất bản lần đầu năm
2005, nhà xuất bản Longman Đây là cuốn sách dạy nói tiếng Anh nhưng GV dạy Tiếng Việt (TV) có thể học được nhiều nội dung về dạy nói được tác giả trình bày trong cuốn sách này Những khái niệm, nội dung ngôn ngữ liên quan tới dạy nói được tác giả nhắc đến như người nói làm gì (sản xuất lời nói, tự động, khớp nối, tự giám sát
và sửa chữa, v.v ), người nói cần biết những gì (kiến thức văn hóa - xã hội, kiến thức
ngôn ngữ) cùng với việc phân tích rõ các ví dụ minh họa Bên cạnh đó, các phương pháp có thể sử dụng khi dạy nói cũng được giới thiệu cụ thể như kịch, thuyết trình, nhập vai, thảo luận Tác giả còn bàn về việc đánh giá KN nói và các tiêu chí cụ thể để đánh giá KN này được trình bày trong chương cuối
Cuốn sách The Skill Approach in Education: From Theory to Practice (Phương
pháp tiếp cận KN trong giáo dục: từ lí thuyết đến thực hành) do Firdevs Güneş và Yusuf Söylemez biên tập, xuất bản lần đầu năm 2018, nhà xuất bản Cambridge Scholars Publishing Nội dung cuốn sách bàn về những KN cần thiết trong giáo dục
Trang 20Sách được chia làm năm phần, mỗi phần bàn về một nhóm KN Trong đó, KN nói trôi
chảy là nội dung của chương X, thuộc phần thứ hai - nhóm các KN cơ bản (Basic
Skills in Education) Mối quan hệ giữa khả năng nói và sự thành công đã được các tác giả đề cập: “Sự thành công có được nhờ sức mạnh ảnh hưởng của việc nói được coi là
tỷ lệ thuận với chất lượng cuộc sống của các cá nhân trong một xã hội Chất lượng này
sẽ đạt được giá trị thông qua việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp mạnh mẽ của các
cá nhân trong cuộc sống.” (Firdevs Güneş, Yusuf Söylemez, 2018) Khi mô tả về các lí thuyết và mô hình dạy nói ứng dụng, các tác giả nhắc tới quan điểm dạy ngôn ngữ của Piaget và Vygotsky Bên cạnh đó, các tác giả nói tới những yếu tố giúp HS nói trôi chảy, nguyên nhân khiến HS nói không trôi chảy Về việc phát triển KN nói trôi chảy, điều đầu tiên các tác giả nhắc đến là GV cần tạo môi trường để HS cảm thấy thoải mái
và không có những vướng mắc tâm lí khi nói Ngoài ra, GV cần chú ý tới việc làm mẫu của mình Những kĩ thuật để kiểm soát việc nói của HS như: sử dụng hình ảnh, phát triển chủ đề theo tưởng tượng, bỏ qua một số lỗi nhỏ, các phương pháp làm việc nhóm, động não cũng được nhắc tới
Nghiên cứu Predicting Reading Comprehension in Early Elementary School:
The Independent Contributions of Oral Language and Decoding Skills (Dự đoán khả
năng đọc hiểu ở trường tiểu học sớm: Những đóng góp độc lập của ngôn ngữ nói và kỹ năng giải mã) của Panayiota Kendeou, Paul van den Broek, Mary Jane White và Julie S.Lynch đăng trên tạp chí Joural of Education Psychology số 101, kì 4, năm
2009, trang 765-778 là một nghiên cứu đáng được quan tâm về mối quan hệ giữa
khả năng đọc hiểu ở đầu cấp TH và ngôn ngữ nói Trong nghiên cứu, nhóm tác giả
đã kiểm tra ngôn ngữ nói và KN giải mã của hai nhóm trẻ em: 4 và 6 tuổi và kiểm tra lại chúng sau hai năm với số lượng trẻ ở mỗi nhóm lần lượt là 113 và 108 Kết quả được trình bày tại trang 774 cho thấy: “khả năng nói và khả năng giải mã ở độ tuổi mầm non có thể dự đoán từng khả năng này trong hai năm sau đó; kĩ năng ngôn ngữ nói và kĩ năng giải mã có mối quan hệ mật thiết với nhau ở trường mầm non nhưng trở nên yếu hơn ở các lớp trên; ngôn ngữ nói và kĩ năng giải mã dự đoán độc lập khả năng đọc hiểu ở lớp hai.” (Panayiota Kendeou, et al., 2009) Mối quan hệ này sẽ giúp GV thấy được tầm quan trọng của việc phát triển KN nói cho học sinh ở đầu cấp TH
Trang 21Như vậy, tầm quan trọng của phát triển KN nói, mối quan hệ giữa KN này với các KN ngôn ngữ khác cũng như với sự thành công trong học tập và cuộc sống đã được các tác giả, nhà nghiên cứu trên thế giới chứng minh Họ cũng chỉ ra được những việc GV cần làm để phát triển KN nói cho HS như tạo ra môi trường an toàn để HS không e ngại khi nói hay bỏ qua các lỗi nhỏ, v.v Các công trình tập trung vào các phương pháp phát triển KN nói song chưa đi sâu vào việc ảnh hưởng của ngữ liệu dạy học tới kết quả dạy học trên một đối tượng cụ thể (HS đầu cấp TH)
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Vấn đề dạy nói, xây dựng bài tập để dạy hội thoại nhằm phát triển năng lực giao tiếp, v.v là nội dung của nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành
Tác giả Phan Phương Dung, Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài viết Về vấn đề
dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt đăng
trên Tạp chí Giáo dục số 5 (6/2001) trang 31, 32 đã nhấn mạnh một số quy tắc cơ bản trong giao tiếp như: phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (bao gồm hoàn cảnh cụ thể diễn
ra cuộc giao tiếp và hoàn cảnh xã hội lịch sử); tôn trọng thứ bậc trong giao tiếp, coi trọng, đề cao đối tượng giao tiếp và quan tâm tới mức độ quan hệ đối với đối tượng giao tiếp Về vấn đề dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho HS qua môn TV
ở cả ba cấp học (TH, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông) tác giả đưa ra nhận xét
“đã chú ý nhưng chưa đồng đều, chưa đúng mức ở các cấp học” Ở TH, tác giả nhấn mạnh việc khai thác lời nói mẫu, phân tích ngữ liệu để HS thấy các yếu tố văn hóa, gắn cách nói, cách viết, dùng từ đặt câu ở các tình huống với các vai giao tiếp, nội dung và mục đích nói khác nhau
Về dạy nói cho học sinh lớp 1 qua môn Tiếng Việt; Xây dựng bài tập dạy học hội thoại cho học sinh đầu bậc tiểu học theo nguyên tắc giao tiếp và Quy trình tổ chức các bài tập giao tiếp trong dạy hội thoại cho học sinh tiểu học là ba bài viết của tác giả
Nguyễn Thị Xuân Yến, Đại học Sư phạm Huế đăng trên Tạp chí Giáo dục số 2/2004
trang 32-34; số 103 (12/2004) trang 18-20 và số 111 (4/2005) trang 23-25 Các bài viết
xoay quanh nội dung dạy hội thoại, giao tiếp cho HS TH Tác giả đã có nhiều nhận xét xác đáng cho nội dung dạy học nói ở lớp 1 trên các bình diện: nội dung, thực tế dạy học và đưa ra những giải pháp để việc dạy nói đạt hiệu quả Về nội dung, tác giả phân
Trang 22thành ba nhóm như sau: Luyện nói trong phân môn Học vần Luyện nói câu chứa tiếng có vần cần luyện Dạy hội thoại Dạy độc thoại Các giải pháp được đề xuất tương ứng với mỗi dạng bài luyện nói Tác giả đồng thời xây dựng hai loại bài tập dạy học hội thoại cho lớp 1 và lớp 2: loại bài tập nhận biết và loại bài tập sáng tạo Mỗi loại bao gồm các nhóm bài tập khác nhau Trong đó, người viết phân tích về các yếu tố liên quan như mục đích giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, vai giao tiếp Quy trình tổ chức thực hành các bài tập giao tiếp trong dạy hội thoại cũng được tác giả đề xuất với sáu bước cơ bản: mô tả dữ kiện của bài tập; xác định lệnh; thực hiện lệnh; phân tích kết quả ở bước 3 với dữ kiện và lệnh của bài tập; điều chỉnh, sửa chữa kết quả của bài tập
và rút ra kết luận về cách lĩnh hội và tạo lập lời nói trong ngôn bản hội thoại Quy trình này đã được tác giả thực nghiệm và nhận thấy nó đã góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hội thoại
Các bài viết Nghi thức lời nói trong hoạt động giao tiếp và rèn luyện nghi thức
lời nói cho học sinh tiểu học và Tìm hiểu nội dung dạy học Nghi thức lời nói trong
sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học của Đặng Thị Lệ Tâm, Đại học Sư phạm - Đại học
Thái Nguyên đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, số 11 (2010); trang 3-7 và số 03 (2012); trang 157-162 Tác giả đã giúp người
đọc có thể hiểu rõ hơn về “nghi thức lời nói” khi đưa ra những khái niệm, lý thuyết có liên quan trong bài viết của mình Ngoài việc phân tích để người đọc thấy rõ tầm quan trọng và mục tiêu của việc dạy nghi thức lời nói trong môn TV, tác giả đưa ra những nhận xét chung về bài tập luyện nghi thức lời nói cho HS TH trong chương trình hiện hành Ở bài viết thứ hai, tác giả đi sâu phân tích nội dung dạy học nghi thức lời nói từng lớp với những ví dụ minh họa cụ thể trước khi rút ra những nhận xét chi tiết hơn
về nội dung, đề tài, ngữ liệu để dạy, hệ thống bài tập dạy nghi thức lời nói
Cũng bàn về dạy nghi thức lời nói, bài viết Dạy Nghi thức lời nói cho học sinh
tiểu học quan phân môn Tập làm văn của tác giả Chu Thị Hà Thanh, Đại học Vinh
đăng trên tạp chí Giáo dục số 253 - (kì I - 1/2011) trang 35, 36 đi sâu về dạy nội dung
này trong phân môn Tập làm văn lớp 2 Theo tác giả, con đường tốt nhất để hình thành năng lực giao tiếp cho HS là luyện tập thực hành trong đó HS sử dụng vốn sống, vốn giao tiếp của mình để xử lí các tình huống giao tiếp giả định một cách chân thực nhất
Trang 23Từ việc phân tích cụ thể đặc điểm cấu tạo kiểu bài tập dạy nghi thức thức lời nói, tác giả đưa ra phương pháp dạy học nội dung này (thực hành luyện tập kết hợp với phân tích tình huống để nhận thức rõ ràng các nhân tố giao tiếp) Theo đó, trò chơi đóng vai
là hình thức tổ chức dạy học nghi thức lời nói thiết thực nhất Trong bài viết của mình, tác giả đưa ra quy trình dạy học các nghi thức lời nói cho HS lớp 2 với bốn bước cụ thể (Giải thích tình huống giao tiếp; Hướng dẫn HS thực hành giao tiếp; Thực hành hoạt động giao tiếp; Nhận xét, đánh giá, kết luận)
Hai tác giả Trần Thị Quỳnh Nga (Đại học Sư phạm - Đại học Huế) và Lê Thị
Minh Nguyệt (Đại học Sư phạm Hà Nội) đã cùng phân tích mối quan hệ giữa nguyên
tắc giao tiếp và dạy học TV trong bài viết Về nguyên tắc giao tiếp trong dạy học Tiếng
Việt ở tiểu học đăng trên tạp chí Giáo dục số 271 (kì 1 - 10/2011) trang 34, 35, 45 Ở
bài viết này, các tác giả đã giải thích lí do dạy ngôn ngữ phải gắn với giao tiếp Nguyên tắc giao tiếp quy định mục tiêu, chi phối như thế nào đến nội dung, phương pháp và quá trình dạy học trong chương trình TV ở cấp TH; GV cần làm gì để đạt được hiệu quả dạy học; Nguyên tắc giao tiếp chi phối đến hoạt động đánh giá kết quả học tập là nội dung chính của bài viết Trong bài viết, các tác giả đã nhắc đến mạch
KN nói thể hiện qua nội dung dạy học hội thoại - dạy các nghi thức lời nói đơn giản,
các bài tập phân vai, bài tập tình huống có trong chương trình hiện hành Theo người viết, những bài học này không chỉ rèn cho HS KN nói mà còn hướng đến các KN sống cần thiết trong xã hội hiện đại
Tác giả Trần Thị Hiền Lương, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã xác định
những biện pháp rèn KN phát âm, KN hội thoại, KN độc thoại dựa trên những yêu cầu
rèn KN nói cho HS theo chương trình TV TH trong bài viết Biện pháp nâng cao hiệu
quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học trong môn Tiếng Việt đăng trên tạp chí Giáo
dục số đặc biệt (tháng 3/2015) trang 116-119 Giáo viên có thể tham khảo và vận dụng
một số cách làm mà tác giả đề xuất trong bài viết theo quan điểm “HS chỉ có thể có
được lời nói tự nhiên khi các em thực sự sống trong tình huống giao tiếp đó” Ngoài ra,
người viết cũng cung cấp một số biểu hiện của năng lực khoa học theo dự thảo PISA
2015
Trang 24Trong bài viết Rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt – nhìn
từ chương trình, sách giáo khoa sau năm 1975, tạp chí Khoa học của Trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh số 6 (71) năm 2015, trang 81-88, giáo viên Võ Thị
Tuyết Mai đã có những nhận xét về mục tiêu, nội dung và phương pháp rèn kĩ năng nói trong chương trình TV từ sau 1975 đến nay trên cơ sở phân tích cứ liệu là các quyển sách giáo khoa TV 1 Tác giả đã đề xuất một vài ý kiến cần tiến hành đồng bộ trên các bình diện nội dung và phương pháp cũng như việc bồi dưỡng giáo viên thông qua các chuyên đề hay cần có những hướng dẫn cụ thể để GV có thể thay thế nội dung chương trình sách giáo khoa cho phù hợp với vùng miền để việc rèn KN nói cho HS đạt hiệu quả
Bài viết Giáo dục năng lực giao tiếp trong môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học tại
Việt Nam nhìn từ góc độ lí thuyết về thể loại theo trường phái Sydney của tác giả Ngô
Thị Bích Thu, Đại học New England, Australia đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời
sống số 1 (243) - 2016 trang 76-83 là bài viết vận dụng lý thuyết về thể loại theo
trường phái Sydney để hiểu về giáo dục năng lực giao tiếp tại Việt Nam bằng cách so sánh các thể loại văn bản được sử dụng trong một số môn học ở bậc TH tại Australia
và Việt Nam Người viết đã đưa ra một số kết luận về tình hình giáo dục năng lực giao tiếp trong chương trình TH hiện hành và đề xuất việc lựa chọn các thể loại văn bản cho chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) cấp TH sắp thực hiện nhằm đạt được mục tiêu giáo dục năng lực giao tiếp cho HS mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra với giáo dục TH Theo đó, sau khi kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, HS sẽ không thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày và học tập tốt các môn học khác nếu việc dạy năng lực giao tiếp chỉ thực hiện ở môn Ngữ văn mà trọng tâm chỉ tập trung vào kiến thức văn học và ngôn ngữ văn chương
Bài viết Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt
nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học của Ngô Quỳnh Nga, trường
Tiểu học Phú Xá, thành phố Thái Nguyên được đăng trên Tạp chí Giáo dục số 418 (kì
II, tháng 11/2017) trang 26-29 Trong bài viết của mình, tác giả đã đưa ra cơ sở lí luận
và thực tiễn của việc xây dựng năm loại bài tập dạy học hội thoại cho HS TH bao gồm bài tập phát triển năng lực ngữ pháp, bài tập phát triển năng lực văn bản, bài tập phát
Trang 25triển năng lực hành ngôn, bài tập phát triển năng lực ngôn ngữ xã hội Do năng lực ngữ pháp được hình thành trong quá trình lâu dài nên tác giả đưa ra cách xây dựng bốn dạng bài tập còn lại cùng quy trình dạy học cụ thể kèm kết quả TN các loại bài tập trên
Tóm lại, phát triển năng lực giao tiếp, dạy học hội thoại, xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại, giao tiếp, v.v cho HS TH đã trở thành nội dung của nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ và giáo dục Nhiều tác giả đã bàn tới những khái niệm được nhắc đến nhiều trong CT GDPT 2018 như năng lực, năng lực giao tiếp, v.v dù tại thời điểm viết bài, chương trình chưa được thông qua Điều này chứng tỏ sự quan tâm của GV, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học dành cho việc nâng cao hiệu quả dạy học ngôn ngữ nói chung và phát triển KN nói cho HS TH nói
riêng cũng như xu thế tất yếu của việc đổi mới trong dạy - học TV Các tác giả đều
khẳng định việc rèn KN nói cần được thực hiện thông qua các tình huống giao tiếp Tuy nhiên, các tác giả còn lại tập trung chủ yếu bàn về vấn đề phương pháp dạy học, nội dung dạy học giao tiếp, hội thoại trong toàn bộ chương trình TV ở TH hoặc xây dựng hệ thống bài tập cho một số lớp hoặc cả cấp TH mà không đi sâu về xây dựng bài tập dạy nội dung này cho HS lớp 1
Rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 cũng là nội dung nghiên cứu của nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh
Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục Nội dung và phương pháp dạy học luyện
nói trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 của Đỗ Thị Thanh Vân (2005) là một công trình
nghiên cứu về dạy - học luyện nói Tại thời điểm thực hiện đề tài, sách giáo khoa TV 1
hiện hành mới được đưa vào giảng dạy Tuy nhiên, tác giả đã có cái nhìn tổng quan về nội dung dạy học luyện nói, đưa ra những đánh giá về nội dung này trong sách giáo khoa cũng như những hướng dẫn ở sách GV Việc phân loại hệ thống bài tập dạy luyện nói trong sách TV 1 được tác giả thực hiện đồng thời đề xuất một số bài tập và phương pháp có thể vận dụng khi dạy học nội dung này
Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu những nội dung cơ bản về hoạt động giao tiếp, hoạt động hội thoại, nguyên tắc giao tiếp trong dạy học TV ở TH và phân tích thực tiễn hoạt động rèn KN nghe nói thông qua hệ thống bài tập trong sách TV hiện hành,
Trang 26trong luận án Xây dựng hệ thống bài tập dạy học ngôn bản ở giai đoạn đầu bậc tiểu
học theo nguyên tắc giao tiếp, tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến đã thiết kế hệ thống bài
tập dạy học hội thoại với quy trình tổ chức dạy học rõ ràng cho HS các lớp 1, 2, 3 Hệ thống bài tập được chia thành hai nhóm: bài tập nhận biết và bào tập sáng tạo Trong mỗi nhóm bao gồm các dạng bài tập khác nhau đảm bảo các yếu tố trong giao tiếp như ngữ cảnh, mục đích, vai, v.v
Tác giả Ngô Hiền Tuyên đã chọn đề tài “Rèn kĩ năng nghe nói cho học sinh lớp
1 trong dạy học Tiếng Việt” trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học của mình năm 2012
Tác giả đã khảo sát chương trình, hệ thống bài tập rèn KN nghe - nói trong sách TV 1, khảo sát tình hình rèn KN nghe - nói cho HS lớp 1 trong thực tiễn để tìm ra những ưu điểm và hạn chế của việc rèn KN nghe - nói cho HS Tác giả cũng đề xuất hệ thống bài
tập rèn KN nghe - nói cho HS lớp 1 gồm 2 nhóm: nhóm bài tập rèn KN nghe - nói qua phát âm và nhóm bài tập rèn KN nghe - nói qua hoạt động giao tiếp Ở mỗi nhóm bao
gồm các loại, kiểu bài tập khác nhau Cùng với đó, tác giả đề xuất quy trình dạy học, biện pháp tổ chức các bài tập đồng thời thiết kế một số giờ dạy mẫu nhằm cụ thể hóa quy trình
Luận án tiến sĩ “Dạy học nghi thức lời nói cho học sinh tiểu học trong môn
Tiếng Việt” của tác giả Đặng Thị Lệ Tâm năm 2012 đã đề cập đến những nội dung cơ
bản về nghi thức lời nói, thực tiễn tổ chức hoạt động rèn KN sử dụng nghi thức lời nói hiện nay Tác giả đồng thời đề xuất một số phương pháp dạy học các kiểu bài rèn KN
sử dụng nghi thức lời nói trong môn TV ở TH (lớp 1, 2, 3) và xây dựng hệ thống bài tập nhằm tăng cường rèn luyện các nghi thức lời nói Hệ thống bài tập được tác giả xây dựng bao gồm: bài tập nhận diện (cấu trúc hội thoại và các nhân tố hội thoại); bài tập chữa sai nghi thức lời nói trong hội thoại và bài tập xây dựng (lựa chọn nghi thức lời nói, sử dụng nghi thức lời nói và xây dựng hội thoại)
Luận văn thạc sĩ: “Kiểu bài luyện nói và kiểu bài kể chuyện với hoạt động rèn
kĩ năng nói cho học sinh lớp Một” của tác giả Võ Thị Tuyết Mai năm 2015 đã vận
dụng lí thuyết hội thoại vào rèn KN nói cho HS Trên cơ sở phân tích những yêu cầu
về KN nói, nội dung rèn KN nghe - nói cho HS cũng như kiểu bài luyện nói và kiểu bài kể chuyện trong chương trình TV hiện hành, tác giả đã xây dựng hệ thống bài tập
Trang 27rèn KN nói cho HS lớp 1 bao gồm: bài tập luyện nói và bài tập kể chuyện Bài tập luyện nói trong luận văn được chia làm bốn dạng gồm bài tập luyện phát âm, bài tập rèn KN nói trong việc dùng từ, bài tập rèn KN nói trong việc đặt câu và bài tập rèn KN nói thông qua tình huống giao tiếp Các dạng bài tập luyện nói được trình bày chủ yếu dưới dạng trò chơi Bài tập kể chuyện bao gồm bài tập tư duy tích cực, sử dụng sơ đồ
và bài tập đóng vai Với mỗi dạng bài tập tác giả lại chia nhỏ thành các kiểu bài tập khác nhau
Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội thoại, rèn KN nghe - nói đã trở thành nội
dung của nhiều đề tài nghiên cứu trên cơ sở lí luận về giao tiếp, hội thoại Các tác giả
tập trung vào cả hai KN (nghe - nói) hoặc nội dung ngôn bản hội thoại (nói - viết) trên
đối tượng HS lớp 1, lớp 1 và lớp 2 hoặc cả cấp TH song nhiều dạng bài tập chưa thực
sự phù hợp với vốn ngôn ngữ của HS (Loại 1, kiểu 1 - Ngô Hiền Tuyên, 2012) hay chưa hiệu quả để rèn KN nói khi hình thức thực hiện bài tập là lựa chọn đáp án (Đỗ Thị Thanh Vân, 2005)
Bàn về vấn đề dạy hội thoại, rèn kĩ năng nói là nội dung trong những cuốn sách viết về lí luận, phương pháp dạy - học Tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong cuốn Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết
ở tiểu học theo hướng giao tiếp, Nhà xuất bản Giáo dục - 1999 đã đề cập đến các chức
năng của ngôn ngữ, của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp với ngôn bản Đặc biệt tác giả
đã đưa ra khái niệm về hội thoại, các cuộc vận động, quy tắc, cấu trúc của hội thoại và
dạy tập làm văn nói ở TH theo hướng giao tiếp
Tác giả Nguyễn Trí đã viết cuốn Một số vấn đề về dạy hội thoại cho học sinh
tiểu học xuất bản năm 2008, Nhà xuất bản Giáo dục Cuốn sách gồm 3 chương Ở
chương đầu, tác giả đã chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu về hội thoại mà người GV cần nắm trên cơ sở phân tích một số dẫn chứng cụ thể Trong chương tiếp theo, tác giả bàn về vấn đề dạy hội thoại ở TH dựa trên chương trình môn TV ở TH ban hành năm 2000 để làm nổi bật về vị trí, nội dung và phương pháp dạy hội thoại Chương 3 là chương quan trọng nhất với mỗi GV vì trong chương này tác giả hướng dẫn dạy hội thoại với việc trình bày các kiểu bài tập dạy hội thoại có trong sách TV hiện hành đồng thời đưa ra quy trình dạy hội thoại Tác giả chia các bài tập theo hai
Trang 28nhóm: các kiểu bài tập dạy hội thoại ở lớp 1 và các kiểu bài tập dạy hội thoại ở lớp 2,
3, 4, 5 Ở mỗi kiểu bài tập, tác giả đều có phần mô tả cấu trúc bài tập và hướng dẫn thực hiện Đây có thể nói là một trong những cuốn sách đầu tiên nói về vấn đề dạy hội thoại trong trường TH với những chỉ dẫn hữu ích
Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam, năm 2012 được xem là cuốn sách hữu ích dành cho GV TH để tìm hiểu về
phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học môn TV ở TH nói riêng cũng như các vấn đề liên quan tới dạy học bộ môn này Với cách viết giản dị cùng nhiều ví dụ thực tế, hai tác giả Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Minh Thuyết đã giúp người đọc hiểu rõ về vị trí, mục tiêu của môn TV, những đặc điểm của chương trình, sách giáo khoa TV TH hiện hành kèm một vài định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa cùng với các phương pháp xuất phát từ yêu cầu đổi mới, biện pháp dạy học đặc thù, sự vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống theo tinh thần đổi mới và việc đánh giá kết quả học tập Đáng chú ý là việc trình bày quan niệm về dạy học theo quan điểm giao tiếp để rèn các KN đọc, viết, nghe, nói thông qua việc tổ chức cho HS tham gia hoạt động giao tiếp trong những tình huống giao tiếp cụ thể mà các giờ học tạo ra Các tác giả cũng diễn giải KN nói thành các KN bộ phận Bên cạnh đó, người viết sách giới thiệu quy trình rèn luyện KN nói trên cơ sở giới thiệu các kiểu bài tập rèn luyện KN nói kèm giáo án và phân tích giáo án Khi nói về việc tổ chức các bài tập rèn luyện KN nói, các tác giả nhấn mạnh một vài điểm trong dạy bài kể chuyện Đó là phát triển KN đối thoại thông qua hình thức trao đổi giữa HS kể chuyện và HS làm
khán giả về chi tiết, nhân vật, v.v GV cần có quan niệm đúng về kể sáng tạo - không
phải là kể khác nguyên văn mà là kể tự nhiên, sống động, kể bằng ngôn ngữ, giọng điệu của mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện Tuy nhiên, các tác giả tập trung nhiều vào việc rèn KN nói trong phân môn Kể chuyện và Tập làm văn
Trong cuốn Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (Phần 1 và Phần 2) của tác
giả Hoàng Thị Tuyết, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm
2017, đã nhắc tới việc dạy đọc viết chữ được kết hợp chặt chẽ với dạy các KN viết, nghe, nói và kể chuyện trong dạy học vần Tác giả cũng đưa ra vấn đề sử dụng câu hỏi
và các mức độ nhận thức của Câu hỏi - Bài tập - Hoạt động học tập trong dạy học TV
Trang 29và việc phát triển KN đặt câu hỏi cho HS trong dạy học TV Dù không bàn tới việc dạy nói ở lớp 1 như một nội dung riêng nhưng vấn đề phát triển KN đặt câu hỏi cho
HS cũng chính là phát triển năng lực ngôn ngữ, tư duy nói chung đồng thời phát triển
KN nói cho HS nói riêng
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Ly Kha, Phạm Hải Lê và Nguyễn Lương Hải Như đã
trình bày nhiều nội dung liên quan đến việc rèn luyện và phát triển KN nghe - nói cho
HS trong cuốn sách Cơ sở Tiếng Việt ở tiểu học (Phong cách học) xuất bản năm 2019,
Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Đây là cuốn sách tham khảo hữu ích cho giáo viên TH và những người quan tâm tới kiến thức phong cách học và việc vận dụng nó vào dạy học TV khi được viết bởi các tác giả tham gia viết sách giáo
khoa TV TH mới với lối viết hướng tới người sử dụng - không hàn lâm cũng không
đơn giản hóa vấn đề Các ngữ liệu minh họa được dẫn từ sách giáo khoa Ngữ văn và
bộ sách giáo khoa TV TH mới Trong phần viết về nội dung phong cách chức năng ngôn ngữ hội thoại trong môn TV, các tác giả đã trình bày phạm vi ngôn ngữ hội thoại trong môn TV Theo đó, HS được học và thực hành những nội dung về phong cách chức năng ngôn ngữ hội thoại thông qua các phân môn: Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn và tích hợp qua hoạt động giao tiếp khi thực hiện các bài học Đặc biệt,
ngoài việc thể hiện nội dung rèn luyện KN nghe - nói cho HS, các tác giả còn giới
thiệu các tiêu chí thường dùng để đánh giá KN nói bao gồm việc thực hiện các nghi thức giao tiếp; dùng từ xưng hô đúng vai; nói và đáp lời cảm ơn, xin lỗi, v.v.; rõ ràng
về đề tài, loại thể, v.v.; nội dung bám sát với đề tài; sử dụng câu mang màu sắc hội thoại; điều chỉnh ngữ điệu, nhịp điệu, tốc độ, âm lượng đúng với nội dung, v.v
Tài liệu tập huấn dạy học Tiếng Việt 1 (bộ sách Chân trời sáng tạo) của tác giả
Nguyễn Thị Ly Kha và Nguyễn Lương Hải Như, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam -
2019 không chỉ giới thiệu cho người đọc về quan điểm biên soạn, những điểm mới, cấu trúc của sách mà còn hướng dẫn chi tiết về phương pháp dạy học các KN Trong
đó phương pháp dạy học KN nghe - nói được giới thiệu trước các KN khác (đọc, viết)
thể hiện sự quan tâm của các tác giả bộ sách giáo khoa TV 1 mới dành cho hai KN
này Có nhiều kiểu bài để rèn luyện nói - nghe trong sách như: dạy nói - nghe kết nối bài học, dạy nói và nghe theo nghi thức giao tiếp, dạy hỏi - đáp tương tác, dạy mở rộng
Trang 30vốn từ và phát triển lời nói, dạy nghe - nói trong kể chuyện, dạy nói sáng tạo theo gợi
ý Đáng chú ý là hoạt động kể chuyện và hoạt động nói sáng tạo trong các bài học -
hoạt động vừa thể hiện sự quan tâm đến phát triển năng lực người học vừa thể hiện quan điểm giao tiếp; quan điểm khai thác kinh nghiệm ngôn ngữ, kinh nghiệm xã hội
và tăng cường các cơ hội thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ cho HS theo định hướng chung của sách Tại trang 16-17, hai tác giả lưu ý: “Trong dạy nói, giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích mẫu, cách làm và thực hành Giáo viên sử dụng các phương pháp, kĩ thuật giúp học sinh động não suy nghĩ, đặt câu hỏi và trình bày các ý kiến, quan điểm cá nhân, cách thức giải quyết nội dung nói được yêu cầu.” (Nguyễn Thị Ly Kha và Nguyễn Lương Hải Như, 2019)
Rõ ràng dạy nói, dạy hội thoại ở lớp 1 nói riêng và cả cấp TH nói chung là nội dung được nhiều tác giả viết sách quan tâm Nội dung các cuốn sách đã bàn tới việc rèn luyện KN nói cần được thực hiện trong tất cả các phân môn của môn TV trên cơ sở kết hợp rèn luyện các KN khác, dựa trên quan điểm dạy học giao tiếp trong đó chú ý đến phương pháp, kĩ thuật được sử dụng để tổ chức hoạt động cũng như khai thác kinh nghiệm ngôn ngữ của HS
1.1.2 Một số khái niệm công cụ
Chúng tôi xin được trình bày một số khái niệm công cụ liên quan đến nội dung
đề tài để người đọc có thể rõ hơn những nội dung chúng tôi đề cập tới
1.1.2.1 Bài tập
Theo Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền, 2001), bài tập là dạng bài học mô phỏng
lại kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích rèn luyện khả năng vận dụng, củng cố để nắm vững lí thuyết và hình thành KN cần thiết theo chương trình môn học
Những bài tập được trình bày trong luận văn này là dạng bài học và thao tác thực hành nhằm hình thành KN nói cho học sinh theo chương trình môn TV 1 hiện hành cũng như những yêu cầu trong chương trình môn Ngữ văn 2018
1.1.2.2 Nói, lời nói, hình thức nói
Theo Nguyễn Trí, nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm Đầu
tiên, người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn ngôn ngữ để diễn tả nội dung
Trang 31đó Sau đó người nói sử dụng bộ máy phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã được xác định
Lời nói là kết quả của sự vận dụng các phương tiện khác nhau của ngôn ngữ để
truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tương ứng (Nguyễn Thiện Giáp, 2000)
Nói trong hội thoại là truyền đạt thông tin của người nói tới người nghe Các
vai trò người nói, người nghe sẽ được chuyển đổi giữa các nhân vật tham gia Trong
đó, người nói của thể kèm các yếu tố phi ngôn ngữ (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, v.v.) để
bổ sung cho lời nói của mình, làm tăng hiệu quả giao tiếp Ở đây, chúng tôi xét người nói là một nhân vật tham gia hội thoại với tư cách là người nói 1 (SP1)↔ người nói 2 (SP2) hoặc SP1 với các hình thức nói: nói trong hội thoại và nói thành bài trong một hoạt động giao tiếp nhất định
Nói thành bài là hoạt động nói khi người nói tổ chức lời nói của mình theo một
nội dung, yêu cầu nhất định nào đó, hướng tới một hoặc một số người nghe cụ thể Người nói đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động giao tiếp này Người nghe có thể phản hồi ngay lập tức đối với nội dung người nói trình bày bằng những yếu tố phi ngôn ngữ hoặc bằng lời sau khi người nói trình bày
1.1.2.3 Kĩ năng, kĩ năng nói
Kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những
mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Ở mức cao hơn, KN còn là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhau (Bùi Hiền, 2001)
Trong đề tài, chúng tôi nhắc đến kĩ năng nói là khả năng thực hiện hành động
nói (cao hơn nữa là nói linh hoạt, sáng tạo) phù hợp với mục tiêu và điều kiện giao tiếp
cụ thể
1.1.2.4 Năng lực, năng lực ngôn ngữ
CT GDPT 2018, chương trình môn Ngữ văn 2018 và chương trình các môn học
khác đều đặt yêu cầu phát triển năng lực làm cơ sở xây dựng Việc dạy - học TV ở TH
theo chương trình hiện hành dù không nhắc đến năng lực như một mục tiêu xây dựng
Trang 32chương trình nhưng cũng đã thể hiện những nội dung liên quan đến yếu tố này như ưu tiên rèn KN Vì thế trong luận văn của mình, chúng tôi dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu để làm rõ hơn các khái niệm này
Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau Nó có thể được hiểu
là khả năng hay khả năng đáp ứng những yêu cầu hoặc khả năng làm chủ kiến thức,
KN, thái độ để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, v.v Nhưng tựu chung lại,
“năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá
trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng
và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018)
Năng lực ngôn ngữ được giải thích trong chương trình Ngữ văn 2018 là khả
năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, v.v.) để đọc, viết, nói và nghe
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1
Việc tìm hiểu về sự phát triển thể chất, tâm sinh lí của HS lớp 1 sẽ giúp GV có
cơ sở khoa học trong việc lựa chọn nội dung cũng như phương pháp dạy học
Nếu lấy đặc điểm giao tiếp và hoạt động chủ đạo làm cơ sở, các nhà tâm lí học
đã phân chia sự phát triển của trẻ em như sau:
+ Từ 0 đến 1 tuổi: Giao tiếp có tính chất xúc cảm trực tiếp với người lớn
+ Từ 1 đến 3 tuổi: Hoạt động với đồ vật, đồ vật trong vui chơi là đối tượng hoạt động của trẻ
+ Từ 3 đến 6 tuổi: Hoạt động vui chơi, trẻ đi vào các quan hệ chuẩn mực trong cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề
+ Từ 6 đến 11, 12 tuổi: Hoạt động học tập
+ Từ 11, 12 đến 15 tuổi: Hoạt động giao tiếp
+ Từ 15 đến 17 tuổi: Hoạt động nghề nghiệp
(Phan Ngọc Yến, et al., 2006) Nếu lấy hoạt động chủ đạo và đặc trưng tâm lí làm cơ sở, các nhà tâm lí học đã chia sự phát triển tâm lí con người từ lúc sơ sinh tới lúc trưởng thành các giai đoạn
Trang 33khác nhau (xem thêm Phụ lục) Trong đó, lứa tuổi HS TH thuộc giai đoạn đầu của tuổi
HS với hoạt động chủ đạo là học tập với các đặc trưng tâm lí như lĩnh hội nền tảng tri thức và phương pháp, công cụ nhận thức; hiếu động; ham tìm tòi, khám phá Như vậy,
dù chia theo các đặc điểm cơ bản nào thì lứa tuổi HS TH cũng là giai đoạn mà hoạt động học tập là chủ đạo Trong đó, lớp 1 chính là thời điểm các em bắt đầu làm quen với môi trường học tập khác so với khoảng thời gian trước đó
Về thể chất, học sinh lớp 1 có thể tiến hành những vận động cơ bản của người
một cách mềm mại, nhanh và chính xác Bộ xương của các em tuy bước vào giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn và phát triển chưa hoàn thiện, cân đối, đặc biệt là xương bàn tay, ngón tay còn yếu Vì thế khi tổ chức các hoạt động rèn KN nói, GV cần quan tâm đến tư thế, đứng, ngồi, v.v phù hợp với nội dung nói và đề phòng cong, vẹo, gù xương cũng như việc giúp các em có tư thế đẹp khi nói
Hệ thần kinh đang trong thời kỳ phát triển mạnh: não bộ phát triển cả về khối lượng, trọng lượng lẫn cấu tạo Đây cũng là giai đoạn mà sự hình thành các phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh và nhiều So với lứa tuổi trước, sự cân bằng giữa hai quá trình thần kinh cơ bản đã tốt hơn nhiều; tuy nhiên hưng phấn vẫn còn mạnh dẫn đến khả năng ức chế của hệ thần kinh còn yếu Do bộ óc và hệ thần kinh đang phát triển tiến dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích Thầy, cô giáo cần chú ý đến những đặc điểm này để tạo ra được những kích thích với HS khi dạy các nội dung rèn KN nói như giọng điệu của GV khi giảng bài hay những hình ảnh màu sắc, ấn tượng, v.v Đặc biệt trong những tiết Kể chuyện, các kích thích về mặt cảm xúc bằng giọng kể hay đồ dùng dạy học đa phương tiện không chỉ giúp HS ghi nhớ nội dung mà còn cảm nhận được ý nghĩa câu chuyện Mặt khác, GV cần giúp HS hình thành tính tự chủ, kiên trì,
sự kìm hãm bản thân trước những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết giữ gìn trật tự trong lớp đặc biệt khi cô và các bạn đang nói Bên cạnh đó, GV không được nạt
nộ HS nếu các em không thực hiện được các yêu cầu của bài tập rèn KN nói vì như thế ngoài việc làm tổn thương đến tình cảm còn gây tác hại đến sự phát triển của hệ thần kinh và bộ óc của HS
Tuy đây là thời kỳ cơ tim phát triển mạnh, mạch máu thoáng nên khả năng cung
cấp và lưu thông máu tốt hơn so với lứa tuổi trước nhưng nhịp tim nhanh (85 - 90
Trang 34lần/phút) huyết áp động mạch thấp làm cho các em chóng mệt và dễ xúc động vì hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh Do đó, GV có thể sắp xếp để HS có thời gian nghỉ giữa tiết nhất là trong phân môn Học vần, Tập đọc khi hai tiết học thường được xếp liền với nhau để tránh việc các em mệt mỏi khi tham gia các hoạt động luyện nói vì hoạt động này được tổ chức cuối tiết học GV có thể tận dụng việc HS dễ xúc động để giáo dục đạo đức, giáo dục KN sống cho các em thông qua những tình huống giao tiếp, tình
huống truyện gây tác động đến xúc cảm khi dạy - học nói nhưng cần tránh gây cho HS
những xúc động mạnh tiêu cực làm ảnh hưởng đến hoạt động của tim
Về tâm lý, tri giác của HS TH mang tính không chủ định, đại thể, ít đi vào chi
tiết nên ít phân hóa, mang tính xúc cảm Trong quá trình tri giác các em thường tập trung vào một vài chi tiết nào đấy của đối tượng và cho đấy là tất cả Cho nên, khi xem bức tranh hoặc đọc bài HS thường hay nhảy cóc từ đối tượng này sang đối tượng khác, phần này sang phần khác, dòng này sang dòng khác hoặc bỏ sót các chi tiết, các từ HS nhận ra ở các đối tượng không phải là những dấu hiệu cơ bản, bản chất mà là những gì trực tiếp gây cho các em cảm xúc Do đó, những gì rực rỡ, sinh động được các em tri giác rõ ràng hơn những ảnh hình ảnh tượng trưng và sơ lược Tri giác của HS thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Đối với các em, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái gì đó với sự vật, như cầm, nắm, sờ mó, v.v và những gì phù hợp với nhu cầu, những gì tham gia trực tiếp vào cuộc sống và hoạt động, những gì GV chỉ dẫn thì mới được các em tri giác Chính vì vậy, GV cần chú ý khi chuẩn bị các phương tiện dạy học phục vụ việc rèn KN nói, có gợi ý để HS biết quan sát tranh, cho các em tiếp xúc với những sự vật được chuẩn bị làm phương tiện dạy học, v.v để HS tri giác tốt hơn, tạo hiệu quả trong việc rèn KN nói GV nên theo dõi và nhắc nhở HS hoặc yêu cầu HS nói lại nếu các em quên hoặc bỏ sót từ trong khi nói
Khi rèn KN nói cho HS, GV cần có những gợi ý, hướng dẫn để các em có thể
so sánh các đối tượng, sự vật cần nói tới bởi tư duy của HS lớp 1 là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng Thao tác phân tích và tổng hợp của các
em còn sơ đẳng HS tiến hành các thao tác này chủ yếu chủ yếu bằng hoạt động thực tiễn khi tri giác trực tiếp đối tượng Các em đã biết tiến hành so sánh nhưng thao tác này vẫn chưa được hình thành một cách đầy đủ HS lớp 1 thường nhầm lẫn so sánh với
Trang 35kể lại một cách đơn giản các đối tượng cần so sánh Trừu tượng hóa và khái quát hóa
là thao tác khó với các em HS vẫn còn tiếp nhận các dấu hiệu bên ngoài và đượm màu sắc xúc cảm Để HS làm tốt các thao tác tư duy, so sánh, khái quát trong rèn KN nói,
GV nên làm mẫu ở những bài học đầu tiên, phân tích mẫu để các em nhận ra nội dung
cụ thể, khái quát, mối liên quan giữa nội dung nói với vấn đề cần nói
Chú ý của HS lớp 1 chưa bền vững, khối lượng chú ý hẹp Vì thế, trẻ không thể một lúc nhìn thấy mọi dấu hiệu của đối tượng Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ khác thường đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của trẻ mà không cần bất kỳ một sự nỗ lực nào của ý chí Chú ý không chủ định của HS càng trở nên đặc biệt tập trung và bền vững khi tài liệu học tập có tính trực quan sinh động hoặc khơi gợi ở trẻ những dung cảm tích cực Vì vậy, để tổ chức tốt sự chú ý của HS trong việc rèn KN nói, việc sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học một cách hợp lý khoa học nhằm tạo hứng thú là điều kiện quan trọng HS sẽ tập trung chú ý hơn khi thực hiện những hành động mới, những yêu cầu mới
Trong rèn KN nói, đặc biệt là tiết Kể chuyện, GV nên tổ chức các bài tập yêu cầu HS tưởng tượng trên những đối tượng cụ thể như nhân vật trong truyện, hình ảnh trong tranh vì chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng của HS khi học lớp 1 đã nhiều hơn
dù còn mờ nhạt, không rõ ràng và phải dựa vào những đối tượng cụ thể
Ở HS đầu cấp TH, trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em ghi nhớ, giữ gìn và nhớ lại các tài liệu trực quan tốt hơn tài liệu
bằng lời Khi ghi nhớ tài liệu bằng lời thì việc nhớ và tái hiện các từ gắn với các sự vật
cụ thể tốt hơn các từ có nội dung trừu tượng Thế nên GV cần gắn nội dung đoạn truyện, câu chuyện với tranh minh họa hoặc các từ ngữ gợi sự hồi hộp, bất ngờ vì tình cảm cũng ảnh hưởng lớn đến độ bền vững và độ nhanh của sự ghi nhớ HS dễ nhớ và nhớ lâu những gì làm cho các em xúc cảm mạnh (ngạc nhiên, thích thú, sợ hãi v.v )
Ngôn ngữ của học sinh lớp 1 phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ
vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được học nhiều môn và phạm
vi tiếp xúc được mở rộng so với trước đây Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Tuy nhiên các em thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa Việc hiểu nghĩa bóng của từ còn khó khăn đối với các em Các em đã nắm được
Trang 36một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi nhất là khi viết Do đó, GV cần tạo ra các tình huống cụ thể trong các bài tập rèn KN nói, tận dụng vốn ngôn ngữ sẵn có của HS trong thực hiện các bài tập nhưng cũng cần chú ý sửa sai cho các em
1.1.4 Các lí thuyết vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Chương trình TV hiện hành được xây dựng trên quan điểm giao tiếp, tích hợp
và tích cực hóa hoạt động của HS Một trong những quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ văn 2018 là lấy việc rèn luyện các KN giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực Hơn nữa, nói chính là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa con người với con người thông qua một loạt KN hoạt động mã hóa, tạo lập lời nói và giải mã, tiếp nhận lời nói Còn hội thoại là một hình thức của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Do đó, để đạt được mục tiêu rèn KN nói cho HS, chúng tôi lấy lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và lý thuyết hội thoại làm cơ sở lí luận
1.1.4.1 Lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
a) Định nghĩa về giao tiếp
Có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp
Một hoạt động giao tiếp diễn ra khi trong những điều kiện nhất định, ở một môi trường nhất định có một số người sử dụng hệ thống tín hiệu để truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, ý muốn v.v của mình về một thực tế khách quan như mình mong muốn Trong giao tiếp miệng, mặt đối mặt có vai nói vai nghe và hai vai này luân lưu nhau có mục đích (Đỗ Hữu Châu, 2005)
Giao tiếp được hiểu là hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác, v.v giữa các thành viên trong xã hội (Hoàng Hòa Bình và Nguyễn
Minh Thuyết, 2012)
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc dạng viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, 2018)
Trang 37Tựu chung lại, có thể xem giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa con người với con người trong xã hội bằng ngôn ngữ nhằm truyền đạt cho nhau thông tin,
tư tưởng, nhận thức hoặc tình cảm, thái độ, v.v đối với nhau hoặc đối với một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Sơ đồ 1.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Theo sơ đồ trên, giao tiếp diễn ra khi có hai người (người phát và người nhận) - nhân vật giao tiếp Khi có nội dung D xuất hiện trong đầu (mảng hiện thực khách quan người phát nhận thức), người phát tìm cách truyền nó đến người nhận Nhưng do nó thuộc lĩnh vực tinh thần nên người phát phải tìm cách mã hóa nó Để vật chất hóa nội dung ấy, người phát sử dụng ngôn ngữ Quá trình chuyển nội dung D từ lĩnh vực tinh thần sang vật chất gọi là mã hóa ngôn ngữ Đây là quá trình sản sinh, tạo lập văn bản (nói hoặc viết)
S - S’ trong sơ đồ lần lượt là vốn sống, vốn kiến thức, hiểu biết của người phát
và người nhận tại thời điểm giao tiếp Vốn sống, những hiểu biết và kiến thức được tích lũy qua học tập và đời sống nên vô cùng phong phú Do đó, người phát không thể đưa hết chúng vào trong lời nói của mình Tuy nhiên, nó sẽ làm nền, giúp người phát thể hiện vấn đề một cách hàm súc, sâu sắc hơn Không có vốn sống, người phát khó có thể tạo ra lời nói có nội dung giao tiếp và người nhận cũng không thể tiếp nhận đầy đủ nội dung giao tiếp mà người phát muốn truyền đi Vì vậy, trong việc rèn KN nói cho
Trang 38HS, cần thiết phải trang bị cho các em vốn sống, vốn hiểu biết trước khi tham gia giao tiếp
Người phát sử dụng ngôn ngữ để mã hóa nội dung muốn truyền đạt Vì thế, ngoài vốn sống, người phát cũng cần có vốn ngôn ngữ nhất định Vốn ngôn ngữ là những hiểu biết về ngôn ngữ nói chung và những kĩ năng sử dụng những hiểu biết về ngôn ngữ trong một tình huống giao tiếp cụ thể Vốn ngôn ngữ càng phong phú thì khả năng diễn đạt của người phát càng tinh tế và hiệu quả giao tiếp càng cao Do đó, HS phải được cung cấp những kiến thức về ngôn ngữ nói chung cũng như ngôn ngữ thích hợp trong những tình huống giao tiếp điển hình để có thể đạt hiệu quả cao trong rèn luyện KN nói
Khi nhận được nội dung D dưới dạng ngôn ngữ (âm thanh/ chữ viết), người nhận phải tìm cách giải mã để khôi phục thông tin D được người phát truyền đi Thông tin nhận được là D’ vì khi mã hóa nội dung D giữa lời nói và người phát đã có một khoảng cách Từ lời nói đến người nhận lại có một khoảng cách thứ hai Vì vậy, D thường không trùng với D’ Do vốn sống, vốn ngôn ngữ của người phát và người nhận không trùng nhau nên việc lí giải lời nói của người nhận cũng sẽ khác với người phát Việc rút ngắn khoảng cách giữa D và D’ càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu vì hiệu quả giao tiếp được đo bằng mức độ gần nhau giữa D và D’
Lời nói được tạo ra trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhiễu Nhiễu là những yếu tố ảnh hưởng xấu đến hiệu quả, chất lượng giao tiếp Mỗi dạng giao tiếp có một loại nhiễu khác biệt Trong giao tiếp trực tiếp (bằng miệng), đó có thể là tiếng ồn, tiếng động, tần số âm thanh, v.v Vì vậy, để làm tăng
hiệu quả giao tiếp cần phải khử nhiễu Trong dạy - học, người GV cần chú ý khử nhiễu
chẳng hạn như hạn chế những tiếng ồn, việc nói ngọng, nói đớt của HS, v.v
Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình diễn ra trong quan hệ tương tác: tạo lập văn bản (do người nói, người viết thực hiện) và lĩnh hội văn bản (do người nghe, người đọc thực hiện) Như vậy, dưới dạng âm thanh, D được mã hóa thành lời nói Người phát là người nói, người nhận là người nghe Hoạt động giao tiếp dưới dạng âm thanh ngôn ngữ là hoạt động nói (mã hóa) và hoạt động nghe (giải mã) Trong phạm vi
đề tài, luận văn nghiên cứu hoạt động giao tiếp bằng âm thanh ngôn ngữ, tức là nghiên
Trang 39cứu hoạt động nói và nghe
b) Các nhân tố giao tiếp
“Trong hoạt động giao tiếp có sự chi phối của các nhân tố: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và cách thức giao tiếp.” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018)
Nhân vật giao tiếp là người trực tiếp tham gia hoạt động giao tiếp - người phát
và người nhận Khi giao tiếp người phát thường chỉ có một nhưng người nhận có thể nhiều hơn một Tuổi tác, quan hệ, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết, v.v của nhân vật giao tiếp thể hiện rõ trong lời nói của họ Trong các hoạt động rèn KN nói, GV và HS chính là những nhân vật giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp có thể được hiểu là những đặc điểm về điều kiện tự nhiên,
điều kiện xã hội, lịch sử, v.v trong đó hoạt động giao tiếp diễn ra Ở nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là tình huống giao tiếp (hay ngữ cảnh) bao gồm các yếu tố: thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, v.v tồn tại trong quá trình giao tiếp “Hoàn cảnh giao tiếp có ảnh hưởng quyết định đối với việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, đến mục đích, nội dung giao tiếp và người tham dự giao tiếp.” (Nguyễn Thị Ly Kha, et al., 2019) Nó tạo ra những quy định về cách thức nói năng, ứng xử mà người tham gia giao tiếp đó phải thực hiện Các hoạt động rèn KN nói tại lớp với những yêu cầu cụ thể từ bài tập hoặc yêu cầu do GV đưa ra tạo ra hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể GV cũng cần tạo ra hoàn cảnh giao tiếp tốt (môi trường lớp học) để việc rèn
KN nói diễn ra hiệu quả
Nội dung giao tiếp là mảng hiện thực được đề cập đến trong lời nói Nội dung
đó có thể là những sự vật, hiện tượng của tự nhiên, của xã hội được người nói, người nghe nhận thức, hay cũng có thể là những tư tưởng, tình cảm, hoặc những tưởng tượng, v.v của người phát Như đã trình bày, các nhân vật giao tiếp có vốn sống, vốn ngôn ngữ và hiểu biết cũng như nhu cầu, hứng thú, v.v khác nhau nên không thể lúc nào người phát cũng cũng thể hiện hết và chính xác những ý định trong đầu của mình bằng lời nói Ngược lại, người nghe có thể không tiếp nhận đầy đủ thông tin mà người nói muốn truyền đạt Chính vì vậy, trong giao tiếp, người nói cần chú ý điều chỉnh nội dung phù hợp với người nghe để tăng hiệu quả giao tiếp Với vai trò là một người nói,
Trang 40GV nên có sự lựa chọn để truyền tải nội dung giao tiếp phù hợp với HS - đối tượng
người nghe có những đặc điểm khác mình Ngoài ra, GV cần chú ý khuyến khích HS đặt câu hỏi thắc mắc để làm rõ hơn nội dung các em được nghe từ cô hoặc từ bạn hay
tổ chức các hoạt động hỏi - đáp trong khi rèn KN nói để người nói và người nghe hiểu
rõ nội dung giao tiếp
Phương tiện giao tiếp chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ được sử dụng như chất liệu
tạo thành lời nói trong giao tiếp Không có ngôn ngữ thì không có lời nói Giao tiếp chỉ được diễn ra hiệu quả khi tất cả nhân vật giao tiếp sử dụng chung tiếng nói Trong dạy
- học nói cho HS, GV phải giúp HS sử dụng hiệu quả tiếng Việt trong giao tiếp
Mục đích giao tiếp trả lời câu hỏi “Cuộc giao tiếp này nhằm làm gì?” hoặc “Để
làm gì?” Một cuộc giao tiếp có thể có một hoặc một vài mục đích Mục đích đó có thể
là trao đổi thông tin, phê phán, thông báo, v.v Chính đích giao tiếp sẽ quyết định toàn
bộ diễn biến và kết quả của cuộc giao tiếp Hiệu quả giao tiếp sẽ được đánh dấu bằng những mục đích giao tiếp đã đạt được Với các bài tập, HS cần được hướng dẫn để nhận ra mục đích của cuộc giao tiếp mình sẽ thực hiện
Cách thức giao tiếp là cách trình bày và cách tiếp nhận nội dung giao tiếp Mỗi
cách trình bày mang lại hiệu quả giao tiếp khác nhau Việc lựa chọn cách thức giao tiếp phù hợp là yếu tố quan trọng trong việc mang lại hiệu quả giao tiếp Cách thức tiếp nhận nội dung cũng quyết định hiệu quả giao tiếp Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như đặc điểm giới tính, hiểu biết, vốn ngôn ngữ, v.v của người nhận
Các nhân tố giao tiếp được trình bày ở trên luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động giao tiếp Chúng là những điều kiện đảm bảo cho hoạt động giao
tiếp diễn ra hiệu quả Trong quá trình dạy - học TV, để rèn kĩ năng nói GV cần giúp
HS xác định các nhân tố giao tiếp trong tình huống giao tiếp cụ thể để các em có thể tham gia các hoạt động giao tiếp một cách hiệu quả
c) Ngôn bản
Theo Đỗ Xuân Thảo, Lê A: “Ngôn bản là là chuỗi kết hợp các yếu tố ngôn ngữ tạo nên lời của nhân vật giao tiếp.” (Đỗ Xuân Thảo và Lê A, 1997) Như vậy, ngôn bản chính là sản phẩm dạng nói lẫn dạng viết của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong
luận văn của mình, chúng tôi quan tâm tới ngôn bản nói là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ