Trong lĩnh vực Vật lý, lý thuyết xác suất và thống kê mô tả các quá trình xảy ra ngẫu nhiên, tạo ra công cụ Toán học của các ngành khoa học như Vật lý thống kê, Cơ học lượng tử, Vật lý t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA VẬT LÝ
PHAN THANH TRÀ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HỆ THỐNG HÓA LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP
CỦA MÔN XÁC SUẤT THỐNG KÊ
ỨNG DỤNG VÀO GIẢI NHỮNG BÀI TOÁN VẬT LÝ
Chuyên ngành: Sư phạm Vật lý
TP Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA VẬT LÝ
HỆ THỐNG HÓA LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP
CỦA MÔN XÁC SUẤT THỐNG KÊ
ỨNG DỤNG VÀO GIẢI NHỮNG BÀI TOÁN VẬT LÝ
Người thực hiện: Phan Thanh Trà Người hướng dẫn khoa học: ThS Tô Thị Hoàng Lan
TP Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giảng viên khoa Vật lý trường Đại Học
Sư Phạm TP Hồ Chí Minh đã dạy dỗ, trang bị cho tôi kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài khóa luận
Cũng nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình 4 năm đại học và quá trình thực hiện đề tài khóa luận này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2020
Sinh viên
Phan Thanh Trà
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Dữ liệu thời gian rơi tự do từ độ cao 3 mét so với mặt đất 59
Bảng 3.2 Dữ liệu đo thời gian rơi của quả bóng ở độ cao 2 mét 60
Bảng 3.3 Dữ liệu điểm kiểm tra 15 phút môn Vật lý lớp 11A5 61
Bảng 3.4 Kết quả đo số hạt neutrino trong một ngày 71
Bảng 3.5 Dữ liệu thời gian thời gian ném quả bóng đến độ cao 2 mét 73
Bảng 3.6 Chiều dài của lò xo theo khối lượng quả nặng 76
Bảng 3.7 Dữ liệu lực phá hủy chất nổ theo tuổi chất nổ 78
Bảng 3.8 Dữ liệu mối quan hệ giữa chỉ số khúc xạ và mật độ thủy tinh 79
Bảng 3.9 Dữ liệu mối quan hệ giữa thời điểm và vận tốc chuyển động 80
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2.1 Mô tả trạng thái spin lượng tử [28] 15
Hình 3.1 Mô tả phân bố Maxwell – Boltzmann 30
Hình 3.2 Mô tả phân bố Bose – Einstein 31
Hình 3.3 Sơ đồ mạch điện gồm 4 bóng đèn ghép với nhau 35
Hình 3.4 Sơ đồ mạch điện gồm 5 linh kiện ghép với nhau 37
Hình 3.5 Hệ thống các thiết bị ghép nối với nhau 40
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ii
MỤC LỤC iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Định hướng nghiên cứu của đề tài 5
4 Mục tiêu đề tài 6
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu luận 6
7 Cấu trúc khóa luận 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÁC SUẤT THỐNG KÊ DÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH VẬT LÝ 7
1.1 Mục tiêu của học phần XSTK trong chương trình đào tạo dành cho sinh viên ngành Vật lý 7
1.2 Khái quát về nội dung XSTK sử dụng trong các học phần chuyên ngành Vật lý 7
1.3 Cấu trúc nội dung kiến thức XSTK ứng dụng trong giải quyết các vấn đề Vật lý 9
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH NỘI DUNG KIẾN THỨC TRỌNG TÂM VÀ NHỮNG CHỦ ĐỀ BÀI TẬP XÁC SUẤT THỐNG KÊ TRONG CÁC GIÁO TRÌNH 11
2.1 Phân tích chương 1: “Đại cương về xác suất” 12
2.2 Phân tích chương 2: “Đại lượng ngẫu nhiên Vectơ ngẫu nhiên Các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên” 18
2.3 Phân tích chương 3: “Một số quy luật phân phối xác suất thông dụng” 22
Trang 62.4 Phân tích chương 4: “Các định lý giới hạn” 23
2.5 Phân tích chương 5: “Lý thuyết mẫu” 25
2.6 Phân tích chương 6: “Ước lượng tham số của biến ngẫu nhiên” 25
2.7 Phân tích chương 7: “Kiểm định giả thuyết thống kê” 26
2.8 Phân tích chương 8: “Sơ lược về lý thuyết tương quan và hồi quy tuyến tính” 27
CHƯƠNG 3 HỆ THỐNG HÓA NỘI DUNG LÝ THUYẾT VÀ XÂY DỰNG BÀI TẬP XÁC SUẤT THỐNG KÊ ỨNG DỤNG GIẢI NHỮNG BÀI TOÁN VẬT LÝ 29
3.1 Chương 1: “Đại cương về xác suất” 29
3.2 Chương 2: “Đại lượng ngẫu nhiên Vectơ ngẫu nhiên Các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên” 41
3.3 Chương 3: “Một số quy luật phân phối xác suất thông dụng” 50
3.4 Chương 4: “Các định lý giới hạn” 56
3.5 Chương 5: “Lý thuyết mẫu” 59
3.6 Chương 6: “Ước lượng tham số của biến ngẫu nhiên” 62
3.7 Chương 7: “Kiểm định giả thuyết thống kê” 68
3.8 Chương 8: “Sơ lược về lý thuyết tương quan và hồi quy tuyến tính” 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự hình thành và phát triển của lý thuyết xác suất luôn gắn liền với thực tiễn
Có thể nói rằng mầm mống của lý thuyết xác suất đã có từ thế kỷ thứ III trước công nguyên với các trò chơi may rủi Những con xúc xắc hình lập phương và đồng chất bằng đất nung được tìm thấy trong các ngôi mộ cổ chứng tỏ rằng các trò chơi liên
quan đến phép thử ngẫu nhiên đã có từ rất lâu qua các trò chơi với xúc xắc rất phổ
biến ở vùng Lưỡng Hà từ thời Ai Cập cổ đại
Tuy nhiên, lý thuyết xác suất thống kê (XSTK) chỉ mới phát triển từ khoảng cuối thế kỉ XVII Lý thuyết xác suất nghiên cứu quy luật của các hiện tượng ngẫu nhiên và có quan hệ mật thiết với thống kê – một công cụ để nghiên cứu thực nghiệm Ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà triết học người Anh H.G Wells đã dự báo: “Trong một tương lai không xa, kiến thức thống kê và tư duy thống kê sẽ trở thành một yếu tố không thể thiếu trong học vấn phổ thông của một công dân giống như khả năng biết đọc, biết viết vậy” [21] Hiện nay, XSTK ngày càng được phát triển cả về mặt lý thuyết và thực tiễn, đóng vai trò rất quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực từ các ngành khoa học, công nghệ đến các ngành kinh tế, chính trị Do đó, XSTK đã trở thành một học phần thiết yếu trong các trường đại học nói chung và các trường đại học có đào tạo ngành Vật lý nói riêng
Trong lĩnh vực Vật lý, lý thuyết xác suất và thống kê mô tả các quá trình xảy ra ngẫu nhiên, tạo ra công cụ Toán học của các ngành khoa học như Vật lý thống kê, Cơ học lượng tử, Vật lý thực nghiệm, Thống kê được xem là một phương tiện để thu được thông tin có giá trị từ các dữ liệu thử nghiệm Trong các nghiên cứu của lĩnh vực Vật lý hiện đại, ta thường không thể đo trực tiếp các đại lượng mà thông qua việc phân tích thống kê cho phép đưa ra kết luận đáng tin cậy từ các hiện tượng vật lý Việc sử dụng thống kê trong xử lý kết quả trực tiếp là tìm giá trị trung bình và sai số của chúng, ước tính các tham số và kiểm tra giả thuyết đưa ra
XSTK có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực Vật lý, tuy nhiên một số công trình nghiên cứu và giáo trình XSTK hiện nay chủ yếu nghiên cứu những ứng dụng của nó trong kinh tế, trong y học hoặc trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật nói chung mà chưa đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu Vật lý Bên cạnh đó, hiện nay tại khoa Vật
lý – Trường Đại Học Sư Phạm TP HCM vẫn sử dụng giáo trình môn XSTK dùng cho các trường kinh tế và khoa học kỹ thuật nên còn thiếu những vấn đề liên quan đến Vật lý Việc này dẫn đến sinh viên khó thấy được sự cần thiết của bộ môn và sử
Trang 8dụng nó trong chuyên môn của mình Do đó, hệ thống hóa nội dung kiến thức và xây dựng hệ thống bài tập XSTK ứng dụng vào giải quyết các vấn đề trong Vật lý là rất cần thiết
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “HỆ THỐNG HÓA
LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP CỦA MÔN XÁC SUẤT THỐNG KÊ ỨNG DỤNG VÀO GIẢI NHỮNG BÀI TOÁN VẬT LÝ” cho sinh viên khoa Vật lý trường Đại
Học Sư Phạm TP HCM
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Các công trình của tác giả Việt Nam
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu
về chủ đề dạy học XSTK Tiêu biểu có thể kể đến các luận án tiến sĩ nghiên cứu về ứng dụng của bộ môn XSTK, nhằm tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn XSTK ở các trường sư phạm, kinh tế, kỹ thuật, y học
và quân đội, chẳng hạn:
Phan Thị Tình (2011) trong luận án tiến sĩ với đề tài “Tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học môn XSTK và quy hoạch tuyến tính cho sinh viên Toán đại học sư phạm” [19] đã đề xuất được 6 biện pháp sư phạm nhằm tăng cường vận dụng Toán học vào thực tiễn trong dạy học môn XSTK ở trường Đại học sư phạm: xây dựng cầu nối một số kiến thức và bài toán trong môn học với kiến thức toán phổ thông, tăng cường các tình huống xây dựng và củng cố kiến thức qua việc thâm nhập thực tiễn, tăng cường một số yếu tố lịch sử trong quá trình dạy học môn học, sử dụng hợp lý hệ thống bài toán thực tiễn trong môn học, luyện tập cho sinh viên một số hoạt động thành phần trong các bước vận dụng toán học vào thực tiễn, cho sinh viên tiếp cận với các hình thức đề và các dạng câu hỏi trong đề kiểm tra đánh giá năng lực toán học phổ thông của học sinh theo PISA Các ví dụ minh hoạ trong luận án là tư liệu tham khảo cần thiết cho giảng viên và sinh viên toán Đại học sư phạm về dạy và học toán theo định hướng tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn
Ngô Tất Hoạt (2012) với đề tài luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả dạy học XSTK
ở trường Đại học sư phạm kỹ thuật theo hướng bồi dưỡng một số thành tố năng lực kiến tạo kiến thức cho sinh viên” [10] đã nghiên cứu đặc điểm của kiến thức XSTK, thực tế dạy và học XSTK ở một số trường Đại học sư phạm kỹ thuật, đề xuất một số năng lực kiến tạo kiến thức từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học XSTK ở các trường Đại học sư phạm kỹ thuật: năng lực dự đoán, suy luận có lý – phát hiện vấn đề;
Trang 9năng lực kiểm nghiệm – giải quyết vấn đề; năng lực biểu diễn, thu thập và xử lý số liệu thống kê
Với đề tài “Dạy học XSTK ở trường Đại học Y”, Đào Hồng Nam (2014) [16] đã trình bày vấn đề về mối quan hệ giữa XSTK với y học: từ toán học đến những nghiên cứu thực tiễn Đồng thời, trong luận án của mình, tác giả cũng khẳng định sự quan trọng của kiểm định giả thuyết thống kê trong hoạt động nghề nghiệp và nghiên cứu của các bác sĩ Luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các trường xây dựng chương trình đào tạo ngành y, các tác giả viết giáo trình XSTK dành cho sinh viên y khoa và cho giảng viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ y tế
Luận án của Nguyễn Thị Thu Hà (2014), “Dạy học XSTK theo hướng tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn cho sinh viên khối kinh tế, kỹ thuật” [6]đã đề xuất được những biện pháp dạy học XSTK theo định hướng tăng cường vận dụng XSTK vào các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật phù hợp với chương trình, nội dung học phần XSTK ở các trường đại học khối kinh tế, kỹ thuật hiện nay ở Việt Nam Các biện pháp được đề xuất như: khai thác các tình huống thực tiễn để gợi động cơ, tạo hứng thú học tập cho sinh viên; tăng cường khai thác ví dụ, bài toán XSTK có nội dung, thuật ngữ liên quan đến ngành nghề cho sinh viên; tập luyện cho sinh viên một số kỹ thuật vận dụng quy trình giải một bài toán thực tiễn trong dạy học XSTK; khắc phục sai lầm thường gặp của sinh viên khi vận dụng XSTK vào một số tình huống thực tiễn; tập dượt cho sinh viên bước đầu nghiên cứu khoa học theo hướng vận dụng XSTK vào lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật từ những bài tập thực hành đơn giản đến những bài tập lớn, dự án
Phạm Thị Hồng Hạnh (2016) trong luận án tiến sĩ với đề tài “Dạy học XSTK cho sinh viên ngành kế toán của các trường cao đẳng công nghiệp theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp” [7] đã làm sáng tỏ ý nghĩa, vai trò của môn XSTK với thực tiễn nghề kế toán, từ đó đề xuất 5 biện pháp sư phạm và cách thực hiện các biện pháp này trong dạy học môn XSTK theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành kế toán ở các trường cao đẳng công nghiệp
Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Dạy học XSTK ở các trường đại học trong quân đội theo hướng tăng cường rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học viên” Lê Bình Dương (2019) [5] đã phân tích thực trạng dạy học XSTK ở một số trường đại học trong quân đội, từ đó làm rõ nhu cầu phát triển kỹ năng siêu nhận thức và xác định
cơ hội rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học viên trong dạy học XSTK Luận án
đã đề xuất một số biện pháp sư phạm trong dạy học XSTK ở một số trường đại học trong quân đội theo hướng tăng cường rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học viên như: rèn luyện khả năng dự đoán, lập kế hoạch thông qua hoạt động tìm hiểu vấn đề,
Trang 10chuyển đổi ngôn ngữ, liên tưởng và huy động kiến thức đã có để giải quyết các nhiệm
vụ đặt ra; đặt câu hỏi góp phần định hướng, rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức; rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức thông qua hoạt động giải quyết nhiệm vụ học tập; thiết
kế và tổ chức dạy học một số tình huống sai lầm; sử dụng hình thức dạy học theo dự
án nhằm tạo cơ hội cho học viên thực hiện các hoạt động dự đoán, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá khi vận dụng XSTK giải quyết các nhiệm vụ thực tế
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước nói trên có đề cập đến lĩnh vực dạy học XSTK dành cho sinh viên các ngành sư phạm Toán, sinh viên sư phạm
kỹ thuật, sinh viên ngành y, sinh viên ngành kinh tế, học viên các trường quân đội…Việc khai thác những ứng dụng của XSTK trong lĩnh vực Vật lý vẫn chưa được nghiên cứu
Ngoài các công trình nghiên cứu là các luận án tiến sĩ kể trên thì trong nước có rất nhiều tài liệu tham khảo về bộ môn XSTK: “Xác suất thống kê” của Tô Văn Ban (2010) [1], “Lý thuyết xác suất và thống kê toán học” của Nguyễn Quang Báu (2009) [2], “Giáo trình Xác suất thống kê” của Dương Ngọc Hảo (2011) [8], “Giáo trình Xác suất và thống kê” của Nguyễn Đình Huy (2019) [12], “Xác suất thống kê và quá trình ngẫu nhiên” của Nguyễn Chí Long (2008) [14], “Lý thuyết xác suất và thống kê toán học” của Hoàng Ngọc Nhậm (2012) [17], “Lý thuyết xác suất và thống kê toán học” của Nguyễn Cao Văn (2012) [22],… Các giáo trình này dùng để giảng dạy và là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học trong nước Nội dung của các giáo trình được sắp xếp theo trình tự chặt chẽ nhằm giúp sinh viên hiểu được các khái niệm, công thức và các phương pháp của xác suất để nghiên cứu các hiện tượng ngẫu nhiên Ngoài ra các giáo trình còn trang bị những phương pháp cơ bản nhất của thống kê toán như: phương pháp mẫu để thu thập và xử lí thông tin, phương pháp ước lượng, phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê,… Các giáo trình này được viết theo quan điểm thực hành, chú trọng việc áp dụng các phương pháp của xác suất, thống kê toán trong nghiên cứu kinh tế và khoa học kỹ thuật nhiều hơn trình bày thuần túy toán học Nội dung kiến thức trong các giáo trình được minh họa bằng những ví
dụ trong hầu hết các lĩnh vực từ các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ đến các ngành kinh tế, chính trị Ngoài phần bài giảng và ví dụ minh họa, các giáo trình có đưa ra số lượng lớn bài tập, những bài tập này giúp sinh viên dễ nắm bắt và hiểu sâu sắc nội dung bài giảng, rèn luyện kỹ năng vận dụng xác suất và thống kê toán trong các ngành khoa học kỹ thuật cũng như trong các vấn đề thực tiễn của kinh tế - xã hội Như vậy, có thể thấy đa phần các giáo trình XSTK được sử dụng ở các trường đại học hiện nay đã xây dựng hệ thống kiến thức và bài tập XSTK dành cho sinh viên
Trang 11các ngành kinh tế, sư phạm, kỹ thuật,… mà vẫn chưa có giáo trình nào đề cập cụ thể đến những ứng dụng của XSTK trong giải quyết các bài toán Vật lý
2.2 Các công trình của tác giả nước ngoài
XSTK có nhiều ứng dụng quan trọng trong khoa học và kỹ thuật, vì vậy lĩnh vực này cũng rất được quan tâm bởi các tác giả nước ngoài Có rất nhiều giáo trình XSTK của nước ngoài dành cho sinh viên các ngành khoa học và kỹ thuật Trong khuôn khổ giới hạn của khóa luận và từ nguồn tài liệu tham khảo sẵn có, chúng tôi nghiên cứu hai quyển giáo trình XSTK dành cho ngành khoa học kỹ thuật ứng dụng
là “Probability & Statistics for Engineering and the Sciences” của Jay L Devore (2012) [26] và “Probability & Statistics for Engineers & Scientists" của Ronald E Walpole, Raymond H Myers, Sharon L.Myers, Keying E Ye (2012) [27] Bên cạnh các khái niệm cơ bản về XSTK; các định nghĩa, định lý được trình bày mang tính thực hành và giảm tính chất lý thuyết hàn lâm, nhiều ví dụ thực tế, bài tập cuối mỗi chương thuộc các lĩnh vực khác nhau liên quan đến khoa học, kỹ thuật, kinh tế,…được đưa ra, trong đó phần lớn các bài tập thuộc lĩnh vực khoa học và kỹ thuật
Bên cạnh các giáo trình XSTK dành cho các ngành khoa học kỹ thuật nói chung, trong lĩnh vực Vật lý nói riêng có các giáo trình XSTK như “Probability and Statistics
in Particle Physics” của A G Frodesen và O Skjeggestad (1997) [23], “Probability
in Physics: An Introductory Guide” của Andy Lawrence (2019) [24], “Probability and Statistics in Experimental Physics” của Byron P Roe (2012) [25], “Probability for Physicists” của Simon Širca (2016) [28] Các giáo trình này giới thiệu những ứng dụng của XSTK trong các lĩnh vực của Vật lý nói chung cũng như lĩnh vực Vật lý lý thuyết và Vật lý thực nghiệm nói riêng
Nhìn chung, các giáo trình XSTK ở nước ngoài đã trình bày những nội dụng kiến thức liên quan đến lĩnh vực Vật lý nhiều hơn các giáo trình trong nước Tuy nhiên, các câu hỏi và bài tập liên quan đến lĩnh vực Vật lý vẫn còn hạn chế
3 Định hướng nghiên cứu của đề tài
Từ những phân tích trên, khoá luận này tập trung vào 4 câu hỏi:
- XSTK có những ứng dụng nào trong việc học các môn chuyên ngành Vật lý
và nghiên cứu những vấn đề Vật lý?
- Những nội dung trọng tâm nào của XSTK được đề cập trong các giáo trình trong và ngoài nước, theo cách tiếp cận nào?
Trang 12- Những chủ đề chính được đề cập trong hệ thống các câu hỏi và bài tập như thế nào? Những câu hỏi nào liên quan đến lĩnh vực Vật lý đã được đề cập?
- Có thể khai thác những chủ đề nào trong Vật lý được giải quyết thông qua XSTK?
4 Mục tiêu đề tài
Hệ thống hóa nội dung lý thuyết và xây dựng hệ thống bài tập môn XSTK ứng dụng vào trong giải những bài toán Vật lý
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của lý thuyết xác suất và thống kê toán
- Nghiên cứu ứng dụng của XSTK trong giải quyết các vấn đề Vật lý
6 Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu luận
- Nghiên cứu các luận án tiến sĩ chuyên ngành XSTK
- Nghiên cứu các giáo trình XSTK của các trường đại học
- Nghiên cứu sách bài tập ứng dụng XSTK trong Vật lý
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề nghiên cứu Xác suất thống kê dành cho sinh viên ngành Vật lý
Chương 2 Phân tích nội dung kiến thức trọng tâm và những chủ đề bài tập Xác suất thống kê trong các giáo trình
Chương 3 Hệ thống hóa nội dung lý thuyết và xây dựng bài tập Xác suất thống
kê ứng dụng giải những bài toán Vật lý
Trang 13CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÁC SUẤT THỐNG KÊ
DÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH VẬT LÝ
Trong chương này chúng tôi sẽ nêu mục tiêu và vai trò của học phần XSTK trong chương trình đào tạo dành cho sinh viên khoa Vật lý trường Đại Học Sư Phạm
TP Hồ Chí Minh Bên cạnh đó chúng tôi sẽ cấu trúc lại các nội dung mà XSTK ứng dụng trong Vật lý thành các chương cụ thể
1.1 Mục tiêu của học phần XSTK trong chương trình đào tạo dành cho sinh
viên ngành Vật lý
Theo đề cương chi tiết học phần XSTK dành cho sinh viên khoa Vật lý trường
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh ban hành năm 2018 đã đề ra các mục tiêu sau: 1.1.1 Về phẩm chất:
Sau khi học xong học phần này, sinh viên
- nắm được các khái niệm cơ bản: xác suất, phân phối xác suất, số đặc trưng và một số mô hình toán thống kê…;
- nắm được tính chất, cách tính và quan hệ giữa các khái niệm nêu trên;
- hiểu được ý nghĩa thực tế của các khái niệm đã học khi vận dụng các khái niệm toán học này để giải quyết một vấn đề thực tế nào đó
1.1.2 Về năng lực chuyên môn:
- Biết cách áp dụng các khái niệm đã học để giải quyết một số vấn đề trong thực
tế cuộc sống;
- Vận dụng được các công thức thống kê để giải quyết một số bài toán thực tế
1.2 Khái quát về nội dung XSTK sử dụng trong các học phần chuyên ngành Vật
lý
Xem xét nội dung các môn học trong chương trình đào tạo cử nhân của khoa Vật lý trường Đại học Sư Phạm TP HCM, những lĩnh vực sau đây có sử dụng kiến thức XSTK để nghiên cứu
Trong học phần Cơ lượng tử, để giải quyết các bài toán liên quan đến việc chuẩn hóa hàm sóng, tìm xác suất để hạt có thể tồn tại trong vùng không gian nào đó hay tính xác suất để đo được trạng thái spin hướng lên, hướng xuống cần đến các kiến
Trang 14thức về hàm mật độ phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên Ngoài ra, các kiến thức về các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên như kỳ vọng toán, phương sai, độ lệch chuẩn cũng được sử dụng trong học phần để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, độ bất định của các đại lượng Vật lý
Học phần Vật lý thống kê sử dụng các kiến thức của XSTK như tổ hợp, công thức tính xác suất gián đoạn hoặc liên tục, hàm mật độ xác suất, các công thức tính giá trị trung bình, phương sai và độ thăng giáng Ngoài ra, học phần còn sử dụng một
số quy luật phân phối xác suất thông dụng trong XSTK như phân phối nhị thức, phân phối Poisson, phân phối mũ và phân phối chuẩn
Học phần Phương pháp thực nghiệm Vật lý cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản để tiến hành một thí nghiệm vật lý, các kỹ năng và công cụ để xử lí số liệu thực nghiệm, phương pháp đánh giá số liệu cũng như các sai số thường gặp, xác định mối tương quan giữa các đại lượng Tương tự với học phần Phương pháp thực nghiệm vật lý, học phần Xử lí số liệu hạt nhân mô tả ngắn gọn cấu trúc cơ bản của hệ
đo bức xạ hiện đại, các nguồn sai số hệ thống trong bài toán đo hoạt độ bức xạ và các hiệu chính, phương pháp làm khớp hàm giữa hai phân bố thực nghiệm và lý thuyết Nội dung của hai học phần này liên quan đến những khái niệm cơ bản của XSTK như biến cố ngẫu nhiên, xác suất, tần suất, hàm phân phối xác suất, hàm mật độ xác suất Bên cạnh đó, các hàm phân phối cơ bản trong XSTK cũng được ứng dụng trong xử
lí số liệu thực nghiệm như hàm phân phối nhị thức, phân phối Poisson, phân phối Chi bình phương, phân phối Student,…Các phương pháp ước lượng tham số đặc trưng của tổng thể, kiểm định giả thuyết về phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên, phép phân tích mối quan hệ tương quan giữa hai đại lượng ngẫu nhiên và phương trình hồi quy tuyến tính cũng được sử dụng trong học phần
Học phần Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Vật lý sử dụng các kiến thức thống kê thông dụng như: mẫu thống kê, các tham số đặc trưng của mẫu (trung bình mẫu, phương sai mẫu, độ lệch chuẩn mẫu), ước lượng và kiểm định giả thuyết trung bình tổng thể
Như vậy, các nội dung cơ bản của XSTK được ứng dụng trong việc học các môn chuyên ngành đối với sinh viên khoa Vật lý gồm: biến cố ngẫu nhiên và các công thức tính xác suất; đại lượng ngẫu nhiên; các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên như trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn; các quy luật phân phối xác suất thông dụng; mẫu thống kê và các tham số đặc trưng của mẫu; ước lượng và kiểm định giả thuyết các tham số đặc trưng của tổng thể, kiểm định quy luật phân phối xác
Trang 15suất; phân tích mối tương quan giữa hai đại lượng ngẫu nhiên và công thức hồi quy tuyến tính
1.3 Cấu trúc nội dung kiến thức XSTK ứng dụng trong giải quyết các vấn đề Vật lý
Dựa trên những kiến thức của XSTK cần thiết trong việc học các học phần
chuyên ngành dành cho sinh viên ngành Vật lý đã nêu ở phần 1.2, chúng tôi đề xuất
cấu trúc mạch kiến thức cần thiết cho sinh viên khoa Vật lý như sau:
Chương 1: Đại cương về xác suất
1.6 Công thức xác suất đầy đủ và công thức Bayes
Chương 2: Đại lượng ngẫu nhiên, vectơ ngẫu nhiên Các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên
2.1 Đại lượng ngẫu nhiên
2.2 Hàm phân phối xác suất Hàm mật độ xác suất
2.3 Vectơ ngẫu nhiên
2.4 Các đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên
2.4.1 Kỳ vọng toán
2.4.2 Phương sai
2.4.3 Độ lệch chuẩn
2.4.4 Hiệp phương sai và hệ số tương quan
Chương 3: Một số quy luật phân phối xác suất thông dụng
3.1 Các phân phối rời rạc
3.1.1 Phân phối nhị thức
3.1.2 Phân phối Poisson
3.2 Các phân phối liên tục
3.2.1 Phân phối chuẩn
3.2.2 Phân phối mũ
3.2.3 Phân phối Chi-bình phương
3.2.4 Phân phối Student
Chương 4: Các định lý giới hạn
Trang 164.1 Định lý giới hạn Poisson
4.2 Định lý giới hạn Moirve – Laplace
4.3 Định lý giới hạn trung tâm
4.4 Bất đẳng thức Chebyshev Luật số lớn
Chương 5: Cơ sở lý thuyết mẫu
5.1 Một số khái niệm về mẫu
5.2 Các đặc trưng mẫu
5.3 Tính chất của đặc trưng mẫu
Chương 6: Ước lượng tham số của biến ngẫu nhiên
6.1 Ước lượng điểm
6.2 Ước lượng khoảng
6.2.1 Ước lượng khoảng trung bình tổng thể
6.2.2 Ước lượng khoảng tỷ lệ tổng thể
6.2.3 Ước lượng khoảng phương sai tổng thể
Chương 7: Kiểm định giả thiết thống kê
7.1 Các khái niệm
7.2 Kiểm định giả thuyết về tỉ lệ tổng thể
7.3 Kiểm định giả thuyết về trung bình của tổng thể
7.4 Kiểm định giả thuyết về phương sai của tổng thể
7.5 Kiểm định giả thuyết về phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên
Chương 8: Sơ lược về lý thuyết tương quan và hồi quy tuyến tính
8.1 Phân tích tương quan tuyến tính
8.2 Phân tích hồi quy tuyến tính
Trang 17Nhóm các giáo trình trong nước:
- [2] Nguyễn Quang Báu (2009) Lý thuyết xác suất và thống kê toán học Hà
Nội: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Giáo trình này được sử dụng giảng dạy cho sinh viên ngành Vật lý, khoa học vật liệu, khoa học và công nghệ hạt nhân, vô tuyến điện tử tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
- [8] Dương Ngọc Hảo (2011) Giáo trình Xác suất thống kê TP HCM: NXB
Đại Học Quốc Gia TP HCM Đây là giáo trình được sử dụng cho việc giảng dạy và học tập ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM
- [12] Nguyễn Đình Huy (Chủ biên), Đậu Thế Cấp, Lê Xuân Đại (2019) Giáo trình Xác suất và Thống kê TP HCM: NXB Đại Học Quốc Gia TP HCM Giáo trình
này được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên ở trường Đại học Bách khoa TP HCM
- [17] Hoàng Ngọc Nhậm (2012) Lý thuyết xác suất và thống kê toán TP
HCM: NXB Kinh Tế TP HCM Đây là quyển giáo trình chính được sử dụng giảng dạy cho sinh viên khoa Vật lý – Trường Đại học Sư phạm TP HCM
Nhóm các giáo trình nước ngoài
- [26] Ronald E Walpole, Raymond H Myers, Sharon L.Myers, Keying E
Ye (2012) Probability & Statistics for Engineers & Scientists London: Pearson
Education International
- [28] Simon Širca (2016) Probability for Physicists USA: Springer
Để thuận tiện cho việc trình bày, chúng tôi sẽ ký hiệu nhóm các giáo trình trong nước là GT1 và nhóm các giáo trình nước ngoài là GT2
Trong chương này chúng tôi sẽ phân tích nội dung kiến thức trọng tâm và những chủ đề bài tập XSTK được trình bày trong hai nhóm giáo trình GT1 Và GT2 theo cấu
trúc các chương mà chúng tôi đã đưa ra trong phần 1.3
Trang 182.1 Phân tích chương 1: “Đại cương về xác suất”
2.1.1 Phân tích nội dung kiến thức
Nội dung trọng tâm của chương 1 là trình bày các khái niệm cơ bản của xác suất: các kiến thức về giải tích tổ hợp; khái niệm phép thử và biến cố, mối quan hệ
và các phép tính giữa các biến cố; khái niệm xác suất, công thức tính xác suất; xác suất có điều kiện; công thức Bernoulli; công thức xác suất đầy đủ; công thức Bayes
Cả hai tài liệu GT1 và GT2 đều có đầy đủ các nội dung này Tuy nhiên, giữa GT1 và GT2 có một số điểm khác nhau
Điểm khác nhau đầu tiên giữa hai tài liệu là về mạch sắp xếp nội dung các kiến thức GT1 trình bày khái niệm đi kèm với quy tắc và định lý liên quan đến khái niệm
đó, còn GT2 trình bày hết các khái niệm rồi mới đến các quy tắc và định lý Do đó, mạch kiến thức của GT1 có tính liên kết hơn mạch kiến thức của GT2
Về cách tiếp cận lý thuyết xác suất, trong khi GT1 trình bày trực tiếp các khái niệm toán học thì GT2 có sự dẫn dắt mở đầu:
Có lẽ sự khát khao vô tận của loài người đối với bài bạc đã dẫn đến sự phát triển ban đầu của lý thuyết xác suất Trong việc nỗ lực tăng số tiền thắng cược của mình, các người chơi bài kêu gọi các nhà toán học cung cấp chiến lược cho các trò chơi may rủi khác nhau Một số nhà toán học cung cấp các chiến lược này là Pascal, Leibniz, Fermat và James Bernoulli Như một kết quả của sự phát triển lý thuyết xác suất, suy luận thống kê, với tất cả các dự đoán và khái quát hóa của nó đã phân nhánh vượt xa các trò chơi may rủi sang nhiều lĩnh vực có liên quan đến sự may rủi như chính trị, kinh doanh, dự báo thời tiết và nghiên cứu khoa học Để những dự đoán và khái quát hóa được hợp lý chính xác thì
sự hiểu biết về xác suất cơ bản là điều rất cần thiết
Chúng ta muốn nói gì khi chúng ta đưa ra tuyên bố “John có thể dành chiến thắng trong trận quần vợt” hoặc “Tôi có cơ hội 50-50 nhận được số chẵn khi gieo một con súc sắc” hoặc “Tôi không có khả năng thắng trong việc chơi lô tô tối nay” hoặc “Hầu hết lớp tốt nghiệp của chúng tôi sẽ kết hôn trong vòng 3 năm tới”? Trong mỗi trường hợp chúng ta đang thể hiện một kết quả mà chúng
ta không chắc chắn, nhưng do thông tin trong quá khứ hoặc từ sự hiểu biết về cấu trúc của phép thử, chúng ta có mức độ tin cậy về tính hợp lệ của tuyên bố [27, tr 52-53]
Việc dẫn dắt này cho thấy ý nghĩa của các kiến thức trong thực tiễn và kết nối với thực tiễn
Trang 19Bên cạnh đó, các GT1 đưa ra 3 định nghĩa xác suất: cổ điển, thống kê và hình học một cách chi tiết hơn GT2 Cụ thể, tác giả Nguyễn Quang Báu chỉ ra ưu, nhược điểm của định nghĩa xác suất theo quan điểm cổ điển, nêu thêm ứng dụng của định nghĩa xác suất theo quan điểm thống kê và định nghĩa xác suất theo quan điểm hình học như sau:
Cách tính xác suất dựa trên định nghĩa xác suất theo quan điểm cổ điển có ưu điểm là đơn giản và trực quan, nhưng có hạn chế là phạm vi sử dụng của nó không lớn, chỉ dành cho loại phép thử gồm một số hữu hạn các kết cục và mọi kết cục đều có cùng một khả năng xuất hiện mà thôi
Định nghĩa về xác suất theo quan điểm thống kê
Ứng dụng
Trong thực tế khi ứng dụng định nghĩa xác suất theo quan điểm thống kê ta không thể thực hiện một phép thử lớn vô hạn được và không thể tính chính xác xác suất biến cố A theo công thức được mà người ta thường lấy giá trị của tần suất xuất hiện biến cố A trong một loạt khá lớn các phép thử làm giá trị gần đúng của xác suất ( ),P A phương pháp xác định xác suất theo quan điểm thống
kê được áp dụng có hiệu quả trong việc tìm ra quy luật diễn biến phức tạp về thời tiết, về tỷ lệ phế phẩm, truyền tin qua các tầng điện ly, lập kích thước quần
áo may sẵn, nghiên cứu công hiệu của thuốc men, trong nhân chủng học, xã hội học,…
Định nghĩa xác suất theo quan điểm hình học
Định nghĩa xác suất theo quan điểm thống kê khắc phục được hạn chế của định nghĩa xác suất theo quan điểm cổ điển về đòi hỏi các kết cục của phép thử phải đồng khả năng xuất hiện Để khắc phục hạn chế của định nghĩa xác suất cổ điển
về đòi hỏi số kết cục của phép thử xác định cụ thể và hữu hạn (đồng thời vẫn giả thiết các kết cục đồng khả năng) người ta đưa ra định nghĩa xác suất theo quan điểm hình học
Xét một phép thử có vô hạn các kết cục đồng khả năng Giả sử ta có thể biểu
diễn tập hợp mọi kết cục này bởi một miền hình học G nào đó (một đoạn thẳng,
một miền phẳng, một mảnh mặt cong hay một khối không gian) và những kết cục thuận lợi cho biến cố A xuất hiện bởi một miền hình học con g thuộc G .Với giả thuyết trên, xác suất của biến cố A được tính như là tỉ số giữa “kích thước” miền g trên “kích thước” miền G, tức là:
Trang 20Giả sử có một hệ thống thiết bị gồm nhiều linh kiện ghép thành Ta gọi xác suất
để một linh kiện hoạt động tốt (không có sự cố) trong khoảng thời gian T(1 giờ, 24 giờ hay một đơn vị thời gian nào đó) là độ tin cậy của linh kiện ấy Tương tự ta gọi độ tin cậy của một hệ thống là xác suất để hệ thống hoạt động tốt trong khoảng thời gian ấn định
Một vấn đề kỹ thuật đặt ra là: cho biết độ tin cậy của từng linh kiện, hãy tính
độ tin cậy của hệ thống
[2, tr 21]
Bài toán đặt ra vấn đề tính xác suất để hệ có thể hoạt động tốt trong khoảng thời gian nào đó Để giải bài toán này, ta cần biết được mối quan hệ giữa các linh kiện trong hệ (ghép nối tiếp, ghép song song hay ghép hỗn hợp) và số linh kiện có trong
hệ thống Để minh họa cụ thể cho dạng toán này, giáo trình [2] có đưa ra bài toán ví
dụ như sau:
Một hệ thống gồm 40 linh kiện loại A với độ tin cậy của mỗi chiếc p = A 0,99;
25 linh kiện loại B với độ tin cậy mỗi chiếc p = B 0,9và 5 linh kiện loại C với
độ tin cậy mỗi chiếc p = C 0, 75. Giá thành mỗi linh kiện loại A, B, C tương ứng là 1, 1, 5 (đơn vị tiền)
Hãy lập một hệ thống dự phòng toàn bộ, đánh giá độ tin cậy và giá thành rồi so sánh với một hệ thống dự phòng từng cụm theo kiểu không dùng loại A, lắp thêm một bộ loại B và hai bộ loại C (hình vẽ)
[2, tr.24]
Để minh họa cụ thể cho tính chất độc lập của các biến cố, GT2, cụ thể giáo trình [28] đã đưa ra một ví dụ minh họa cụ thể trong lĩnh vực cơ học lượng tử như sau:
Trang 21Vòng quay trong một hệ lượng tử có thể có hai hình chiếu: 1
2 + (spin “hướng
lên”, ) hoặc 1
2
− (spin “hướng xuống”, ) Hướng của vòng được đo hai lần liên tiếp Chúng ta thực hiện phép gán các biến cố như sau: biến cố A là “spin
trong phép đo đầu tiên”, biến cố B là “spin trong phép đo lần hai”, biến
cố C là “cả hai phép đo đều hiển thị cùng một phép chiếu” Không gian mẫu
cho các cặp định hướng đo được là S = , , , , trong khi ba biến cố được chọn tương ứng với các tập con là: A= , ,B= , và
Trang 22Ngoài ra, một vấn đề về các phân bố Maxwell – Boltzmann, phân bố Bose – Einstein và phân bố Fermi – Dirac trong Vật lý thống kê cũng được GT2 đặt ra để giải quyết trong chương này
Tưởng tượng một hệ gồm n hạt, trong đó trạng thái của mỗi hạt được mô tả bằng các giá trị p (thành phần của vectơ vị trí hoặc động lượng tuyến tính, số lượng tử quay,…) Mỗi trạng thái của hạt có thể được biểu diễn bằng một ô lượng tử p như vậy, đó là một điểm trong không gian p chiều Trạng thái của toàn bộ hệ thống được chỉ định bởi n ô lượng tử của các điểm đó
Chúng ta phân chia không gian pha thành N ô (N n) Trạng thái của hệ thống được mô tả bằng cách chỉ định phân phối trạng thái giữa các ô Chúng ta quan tâm đến xác suất của một ô đã cho bị chiếm bởi một số lượng hạt quy định Ta xem xét ba bài toán: Các hạt có thể phân biệt được, mỗi ô có thể bị chiếm bởi một số lượng hạt tùy ý và tất cả các phân phối như vậy đều có thể xảy ra như nhau Chúng ta nói rằng các hạt tuân theo thống kê Boltzmann: một
ví dụ về một hệ thống như vậy là hệ các phân tử khí Các hạt không thể phân biệt được nhưng các ô vẫn có thể bị chiếm giữ bởi nhiều hạt tùy ý và tất cả các phân phối như vậy đều có khả năng xảy ra như nhau Đây là nền tảng thống kê Bose của Einstein được tuân theo bởi các hạt có spin nguyên như các hạt photon Các hạt không thể phân biệt được, mỗi ô chỉ có thể chứa một hạt do tuân theo nguyên lý Pauli, tất cả các phân phối đều có khả năng xảy ra như nhau Trường hợp này đề cập đến số liệu thống kê Dirac của Fermi áp dụng cho các hạt có spin bán nguyên, ví dụ như electron, proton và nơtron
[28, tr.18]
Định lý Bayes là một định lý có ý nghĩa quan trọng trong lý thuyết xác suất Để giúp người học hiểu rõ hơn về việc áp dụng định lý Bayes, GT1 có đưa ra một bài toán ví dụ liên quan đến ngành kỹ thuật vô tuyến điện tử như sau:
Có một hệ thống truyền thông tin như hình vẽ Tại máy phát có thể xảy ra một trong hai biến cố: phát tín hiệu (biến cố )B và không phát tín hiệu (biến cố B).
Tại máy thu cũng có thể xảy ra một trong hai biến cố: nhận được tín hiệu (biến
cố )A và không nhận được tín hiệu (biến cố A). Vì ảnh hưởng can nhiễu của tạp âm lên kênh truyền tin nên có thể xảy ra hiện tượng ở máy phát có tín hiệu phát đi mà máy thu không nhận được hoặc ngược lại máy phát không phát mà máy thu vẫn nhận được tín hiệu (tín hiệu giả do tạp âm gây ra)
Trang 23Để xác định độ tin cậy của hệ thống truyền tin, cần tính các xác suất P B A( )
và P B A (xác suất để thật sự có tín hiệu phát đi khi ở máy thu nhận được tín ( )
hiệu và xác suất để thật sự không có tín hiệu phát đi khi máy thu không nhận được tín hiệu)
[2, tr.40, 41]
Như vậy, về mạch kiến thức, cả GT1 và GT2 không khác nhau nhiều Mặc dù GT1 thiếu dẫn dắt ban đầu nhưng có đề cập khá nhiều ví dụ trong lĩnh vực liên quan đến Vật lý kỹ thuật, còn GT2 đề cập đến những bài toán liên quan đến lĩnh vực Cơ học lượng tử và Vật lý thống kê
i = Hãy viết các biến cố sau theo A i và A i = i, 1, 2,3
a) Mạch có dòng điện chạy qua
b) Mạch mất điện
[8, tr.22]
Trang 24Giả sử sơ đồ của một mạng điện như hình vẽ Nếu các linh kiện hoạt động độc lập với nhau và xác suất hoạt động của mỗi linh kiện A B C D lần lượt là , , ,
[27, tr.71]
Một trạm tín hiệu chỉ phát hai loại tín hiệu A và B với xác suất tương ứng là
được như tín hiệu B, còn 1/8 tín hiệu B bị méo thành tín hiệu A
a) Tìm xác suất thu được tín hiệu A
b) Giả sử thu được tín hiệu ,A tìm xác suất thu được đúng tín hiệu lúc phát
2.2.1 Phân tích nội dung kiến thức
Trong chương này, cả GT1 và GT2 đều đề cập đến các khái niệm cơ bản của đại lượng ngẫu nhiên và vectơ ngẫu nhiên: định nghĩa và phân loại đại lượng ngẫu nhiên, phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên, hàm phân phối xác suất, hàm mật độ xác suất, vectơ ngẫu nhiên và các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên Tuy nhiên GT1 xây dựng kiến thức theo hình thức diễn dịch nghĩa là xây dựng nội dung lý thuyết trước sau đó đưa ra các ví dụ minh họa, GT2 thì xây dựng kiến thức
Trang 25theo hình thức quy nạp, nghĩa là dẫn dắt người học bằng một vấn đề hoặc một bài toán cụ thể sau đó mới đưa ra nội dung lý thuyết Ví dụ:
Giá trị trung bình mẫu là giá trị trung bình số học của dữ liệu Bây giờ hãy xem xét những điều sau đây Nếu tung 2 đồng xu 16 lần và X là số lần mặt ngửa xuất hiện sau mỗi lần ném, do đó các giá trị của X có thể là 0,1 và 2 Giả sử rằng kết quả phép thử không có mặt ngửa, một mặt ngửa và hai mặt ngửa lần lượt là 4,7 và 5 Giá trị trung bình xuất hiện mặt ngửa sau mỗi lần ném hai đồng xu là:
Bây giờ chúng ta sẽ viết lại biểu thức giá trị trung bình xuất hiện mặt ngửa sau mỗi lần ném của hai đồng xu như sau:
16 là các phân số của tổng số lần ném dẫn đến kết quả không
có mặt ngửa, một mặt ngửa và hai mặt ngửa tương ứng Các phân số này cũng
là tần số tương đối cho các giá trị khác nhau của X trong phép thử Trên thực
tế chúng ta có thể tính được giá trị trung bình hoặc trung bình của một tập hợp
dữ liệu bằng cách biết các giá trị riêng biệt xảy ra và tần số tương đối của chúng
mà không có bất kỳ hiểu biết nào về tổng số quan sát trong bộ dữ liệu Do vậy, nếu 4
16 lần tung kết quả không có mặt ngửa,
Trang 26trung bình của phân phối xác suất của X và viết nó là hoặc đơn giản hơn X
là Các nhà thống kê thường gọi ý nghĩa này là kỳ vọng toán học hoặc giá .
trị kỳ vọng của biến ngẫu nhiên X và ký hiệu nó là E X( )
như sau:
( ) ( )
( )
2 ,
B
r − m Hạt nhân có thể xem như quả cầu tích điện dương bán kính 7.10−15m Các electron điện tử dành bao nhiêu thời gian trong hạt nhân, tức là xác suất mà nó tồn tại trong quả cầu bán kính R là bao nhiêu? Tất
Trang 27cả những gì mà chúng ta đang tìm kiếm là giá trị kỳ vọng của toán tử ( )r = 1.
Do tính chất đối xứng góc, phần tử thể tích chỉ đơn giản là dV = 4r dr2 , do đó:
Một kết quả gần như giống hệt nhau thu được bằng cách giả sử rằng thực tế
không đổi trên khoảng 0,R là hợp lý, vì , R r B. Trong trường hợp này, chúng ta thu được ( ) 3( 3 ) ( )( )3 6
và hệ số tương quan Tuy nhiên phần lớn các câu hỏi đều xoay quanh các lĩnh vực
về kinh tế và đời sống, có rất ít bài tập liên quan đến lĩnh vực Vật lý Chúng tôi tìm thấy hai bài toán sau:
Bài 1 Một yếu tố quan trọng trong nhiên liệu của tên lửa rắn là sự phân bố kích
thước của các hạt Một số vấn đề sẽ xảy ra nếu kích thước của hạt quá lớn Từ
dữ liệu sản xuất trong quá khứ, người ta đã xác định rằng phân bố kích thước hạt (tính bằng micromet) được xác định bởi:
b) Tìm hàm phân phối F x ( )
c) Xác suất mà một hạt ngẫu nhiên được chế tạo từ nhiên liệu vượt quá 4 micromet là bao nhiêu?
Bài 2 Các phép đo của các hệ thống khoa học luôn có sai số, nhiều hơn các hệ
thống khác Có nhiều cấu trúc cho lỗi đo lường và các nhà thống kê dành rất nhiều thời gian để mô hình hóa các lỗi này Giả sử sai số đo của một đại lượng vật lý X nhất định được quyết định bởi hàm mật độ
Trang 28b) Tính xác suất để một lỗi ngẫu nhiên trong phép đo nhỏ hơn 0,5.
c) Đối với một phép đo cụ thể không mong muốn nếu độ lớn của sai số x vượt quá 0,8. Xác suất mà điều này xảy ra là bao nhiêu?
[27, tr.95]
2.3 Phân tích chương 3: “Một số quy luật phân phối xác suất thông dụng”
2.3.1 Phân tích nội dung kiến thức
Các quy luật phân phối xác suất gồm hai nhóm là quy luật phân phối của biến ngẫu nhiên rời rạc và quy luật phân phối của biến ngẫu nhiên liên tục Các quy luật phân phối của biến ngẫu nhiên rời rạc gồm: phân phối nhị thức và phân phối Poisson Các quy luật phân phối của biến ngẫu nhiên liên tục gồm: phân phối đều, phân phối chuẩn, phân phối mũ, phân phối Chi-bình phương và phân phối Student Đối với nội dung các quy luật phân phối xác suất trong chương này, chúng tôi nhận thấy GT1 và GT2 có sự tương đồng với nhau về nội dung kiến thức các quy luật phân phối Bên cạnh việc trình bày nội dung lý thuyết, các giáo trình đều đưa ra các ví dụ minh họa
và ứng dụng cụ thể cho từng quy luật phân phối Tuy nhiên, những ví dụ và ứng dụng được đưa ra trong GT1 chưa tiếp cận đến các lĩnh vực của Vật lý Với GT2, giáo trình [28] có đưa ra những ví dụ minh họa liên quan đến các lĩnh vực Vật lý tương ứng với những quy luật phân phối xác suất Chẳng hạn, với quy luật phân phối Poisson, giáo trình [28] đưa ra bài toán ví dụ như sau:
Trung bình trong một ngày, bề mặt Trái đất (bán kính R=6400km) bị 25 thiên thạch đâm vào Tính xác suất trong 10 năm có ít nhất một trong số N =7.109
cư dân trên Trái đất sẽ bị thiên thạch đâm vào Biết diện tích bề mặt trung bình của con người là 0, 2m2. [28, tr 133]
2.3.2 Phân tích phần bài tập
Các câu hỏi và bài tập về những quy luật phân phối xác suất liên quan đến lĩnh vực Vật lý trong cả hai hệ thống tài liệu vẫn chưa được đề cập đến nhiều Cụ thể, chúng tôi chỉ tìm thấy ba câu hỏi liên quan đến lĩnh vực Vật lý như sau:
Trang 29Một máy đếm để gần một nguồn phóng xạ sao cho xác suất để một hạt phát ra
từ nguồn phóng xạ được ghi lại trong máy đếm là 10 −4 Giả sử rằng trong thời gian quan sát có 40000 hạt được phóng ra từ nguồn phóng xạ
(a) Tìm xác suất sao cho máy đếm ghi được trên sáu hạt
(b) Tìm xác suất sao cho máy đếm không ghi được hạt nào cả
(c) Tính số hạt ít nhất mà nguồn phóng xạ cần phát ra sao cho với xác suất lớn
[12, tr.78]
Sự nhiễu tín hiệu trong các mạch điện thường có bản chất là phân phối chuẩn Giả sử rằng sự nhiễu tín hiệu (biến ngẫu nhiên X) thường được phân phối với giá trị trung bình X =0V và phương sai 2 8 2
= −
(1) Tính xác suất tín hiệu nhiễu vượt quá giá trị 10−4 V và xác suất giá trị của
nó nằm trong khoảng giữa − 2.10−4 V và 10 V−4
(2) Xác suất mà giá trị nhiễu vượt quá 4
10 V− là bao nhiêu, biết rằng nó dương? (3) Tính giá trị kỳ vọng của X
[28, tr.119]
Các hạt tích điện được đếm bằng một máy dò có hiệu suất không lý tưởng, xác suất máy phát hiện hạt là p 1. Giả sử X là số hạt đi qua máy dò trong khoảng thời gian cố định t có phân phối Poisson với giá trị trung bình Xác suất
phát hiện r hạt trong khoảng thời gian t là bao nhiêu?
[28, tr 140]
2.4 Phân tích chương 4: “Các định lý giới hạn”
2.4.1 Phân tích nội dung kiến thức
Các định lý giới hạn gồm: định lý giới hạn Poisson, định lý giới hạn Moivre – Laplace, định lý giới hạn trung tâm, định lý Chebyshev
Định lý Chebyshev cho ta thấy rằng mặc dù từng đại lượng ngẫu nhiên độc lập
có thể nhận giá trị sai khác nhiều so với kỳ vọng toán của chúng nhưng trung bình số học của số lượng lớn các đại lượng ngẫu nhiên lại nhận giá trị gần bằng trung bình số học của các kỳ vọng toán của chúng với xác suất rất lớn “Trong thực tế, định lý Chebyshev được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Chẳng hạn, trường hợp riêng của nó là cơ sở cho phép đo lường trong vật lý” [17, tr.140] Với cơ sở là định lý
Trang 30Chebyshev, trong các phép đo vật lý người ta sẽ tiến hành đo nhiều lần và lấy giá trị trung bình của các kết quả đo làm giá trị thực của đại lượng cần đo Bên cạnh đó, định lý Chebyshev còn là cơ sở cho phương pháp trong thống kê
Trong các bài toán thực nghiệm, ta thường gặp tình huống cần xác định khả năng xuất hiện của một biến cố trong nhiều phép thử và sử dụng phân phối nhị thức
để tính xác suất Tuy nhiên, phân phối nhị thức chỉ phù hợp trong trường hợp số lượng các phép thử tương đối nhỏ, còn khi số lượng phép thử quá lớn và xác suất quá nhỏ thì ta sẽ tính xác suất bằng phân phối Poisson thông qua định lý giới hạn Poisson Định lý giới hạn trung tâm dùng để tính xấp xỉ các xác suất thông qua quy luật phân phối chuẩn:
Giả sử X X1, 2, ,X n, là các đại lượng ngẫu nhiên độc lập và có cùng phân phối xác suất E X( )i =, ( ) 2
Trong thực hành người ta thường lấy giá trị n 30 Các định lý giới hạn trung tâm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc áp dụng thống kê toán học trong thực tế
Chẳng hạn, các sai số của phép đo trong vật lý thường do tổng ảnh hưởng của nhiều đại lượng ngẫu nhiên, mà mỗi đại lượng ngẫu nhiên ảnh hưởng không đáng kể, nên sai số trong phép đo sẽ có phân phối xấp xỉ chuẩn
[17, tr.143,144]
Cả GT1 và GT2 đều trình bày đầy đủ nội dung các định lý giới hạn trong xác suất Tuy nhiên, đối với GT1, các định lý giới hạn được tách riêng thành một chương hoặc trong một nội dung riêng của chương Còn đối với GT2, các định lý giới hạn được trình bày đan xen vào các quy luật phân phối
2.4.2 Phân tích phần bài tập
Các định lý giới hạn trong xác suất có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực kinh
tế và khoa học kỹ thuật Nội dung các câu hỏi và bài tập về chủ đề này cũng có nét tương đồng với các câu hỏi chủ đề về các quy luật phân phối xác suất ở chương 3
Trang 31Đối với những câu hỏi về các quy luật phân phối xác suất ta sử dụng các định
lý giới hạn như định lý giới hạn Poisson hoặc định lý giới hạn trung tâm để đưa các phân phối về dạng phân phối Poisson hoặc phân phối chuẩn để làm bài Với những bài toán đề bài yêu cầu ước lượng hoặc đánh giá xác suất theo một điều kiện nào đó
ta sẽ sử dụng bất đẳng thức Chebyshev để giải quyết bài toán đó
Mặc dù định lý Chebyshev và định lý giới hạn trung tâm có ý nghĩa đối với các phép đo vật lý, tuy nhiên các câu hỏi và bài tập trong các giáo trình chưa đề cập đến những ứng dụng của các định lý giới hạn này trong các phép đo lường vật lý
2.5 Phân tích chương 5: “Lý thuyết mẫu”
2.5.1 Phân tích nội dung kiến thức
Chương “Lý thuyết mẫu” là chương đầu tiên chuyển sang phần thứ hai của môn học, là phần thống kê toán Trong chương này, cả hai giáo trình GT1 và GT2 đều trình bày đầy đủ các nội dung: tổng thể và mẫu, cách chọn mẫu, các tham số đặc trưng của mẫu Các ví dụ cũng được đưa ra đầy đủ để minh hoạ cho các công thức
2.5.2 Phân tích phần bài tập
Bài tập chủ yếu của chương này là các bài tập tính toán các tham số đặc trưng của mẫu như trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn Nội dung các câu hỏi và bài tập của GT1 và GT2 chỉ đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật nói chung Những bài toán mẫu nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực Vật lý không được trình bày trong các giáo trình
2.6 Phân tích chương 6: “Ước lượng tham số của biến ngẫu nhiên”
2.6.1 Phân tích nội dung kiến thức
Nội dung kiến thức của chương này nhằm giới thiệu một số khái niệm cơ bản liên quan đến bài toán ước lượng tham số của biến ngẫu nhiên Có hai phương pháp ước lượng được đề cập trong chương này là phương pháp ước lượng bằng hàm ước lượng, còn gọi là ước lượng điểm và phương pháp ước lượng bằng khoảng tin cậy còn gọi là ước lượng khoảng Với phương pháp ước lượng điểm, các tiêu chuẩn không chệch, hiệu quả, vững được nghiên cứu nhằm tìm ra hàm ước lượng tốt nhất Nội dung trọng tâm của chương này là phương pháp ước lượng khoảng với độ tin cậy cho trước đối với các tham số cơ bản của biến ngẫu nhiên cũng là các tham số của tổng thể được nghiên cứu gồm trung bình tổng thể ( ) tỷ lệ tổng thể , ( )p và phương sai của tổng thể s( )2 Phương pháp ước lượng khoảng có nhiều ứng dụng trong các
Trang 32ngành khoa học xử lý số liệu kinh tế, y học, sinh học, vật lý học,… Cả hai GT1 và GT2 đều đa số đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, y học, nhưng chưa đề cập đến lĩnh vực Vật lý, chỉ GT2 có đề cập đến một ví dụ:
Phép đo khối lượng của một hạt nhỏ trong 11 lần đo mang lại giá trị trung bình
2.7 Phân tích chương 7: “Kiểm định giả thuyết thống kê”
2.7.1 Phân tích nội dung kiến thức
Trong chương này, cả GT1 và GT2 đều xây dựng nội dung một số phép kiểm định thống kê như sau:
- Kiểm định giả thuyết trung bình của tổng thể
- Kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai tổng thể
- Kiểm định giả thuyết về tỷ lệ tổng thể
- Kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai tỷ lệ
- Kiểm định giả thuyết về phương sai của tổng thể
- Kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai phương sai
- Kiểm định giả thuyết về phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên
- Kiểm định giả thuyết về tính độc lập
Trong khuôn khổ giới hạn của khóa luận, chúng tôi chỉ nghiên cứu phép kiểm định các tham số cơ bản là trung bình ( ) phương sai , ( )2 của tổng thể phân phối chuẩn, tỷ lệ tổng thể ( )p trên các mẫu đã được cho thông tin và phép kiểm định về phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên
Thông qua việc tìm hiểu và phân tích phép kiểm định tham số thống kê và phép kiểm định phân phối xác suất trong các giáo trình, chúng tôi nhận thấy GT1 và GT2
có sự tương đồng với nhau trong việc nghiên cứu các phép kiểm định giả thuyết thống
kê, từ việc xét bài toán kiểm định đến việc nêu các quy tắc kiểm định của từng tham
Trang 33số Với mỗi phép kiểm định, các giáo trình đều có đưa ra các ví dụ cụ thể để minh họa cho từng phép kiểm định giúp người học hiểu được cách vận dụng từng phép kiểm định vào các bài toán cụ thể Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy cả hai nhóm tài liệu chưa đưa ra những bài toán kiểm định liên quan đến lĩnh vực Vật lý, chỉ có tài liệu [28] đã đưa ra ví dụ bài toán kiểm định trung bình và phương sai tổng thể liên quan đến lĩnh vực Vật lý như sau:
Bằng cách sử dụng 12 nhiệt kế hoàn toàn giống nhau để đo nhiệt độ, chúng tôi thu được số liệu như sau:
n = điện cực, phương sai của phép đo 2 ( )2
x
s = m Với mức ý nghĩa thống kê là 5%, kiểm tra xem chiều dài dây điện cực trong tổng thể có dao động quá mức không?
[28, tr 265]
2.7.2 Phân tích phần bài tập
Các bài tập về kiểm định giả thuyết thống kê trong GT1 và GT2 xoay quanh nhiều vấn đề như kinh tế, giáo dục, y học, sinh học, khoa học kỹ thuật,…Tuy nhiên, các bài toán kiểm định liên quan đến các lĩnh vực của Vật lý học chưa được trình bày trong các giáo trình
2.8 Phân tích chương 8: “Sơ lược về lý thuyết tương quan và hồi quy tuyến tính”
2.8.1 Phân tích nội dung kiến thức
Trong nhiều bài toán thực tế, ta thường gặp hai đại lượng ngẫu nhiên có mối quan hệ với nhau, trong đó có một đại lượng dễ khảo sát còn đại lượng kia khó khảo sát hơn Khi đó ta cần tìm mối liên hệ giữa hai đại lượng ngẫu nhiên để từ đó dự đoán được đại lượng khó khảo sát Nội dung chính của chương này nghiên cứu về mối liên
hệ giữa hai đại lượng ngẫu nhiên với hai phương pháp là phân tích tương quan với hệ
Trang 34số tương quan Pearson và phương trình hồi quy tuyến tính Cả GT1 và GT2 đều triển khai đầy đủ những nội dung này nhưng khác nhau về tiến trình xây dựng kiến thức GT1 xây dựng kiến thức theo trình tự nhắc lại khái niệm hệ số tương quan đã được học ở chương trước sau đó đặt vấn đề để dẫn dắt đến khái niệm hệ số tương quan mẫu Còn đối với GT2, trước tiên tác giả xây dựng khái niệm hệ số tương quan mẫu sau đó liên hệ với hệ số tương quan được xác định ở chương trước
2.8.2 Phân tích phần bài tập
Cả GT1 và GT2 đều đưa nhiều bài toán về tương quan và phương trình hồi quy tuyến tính trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong kinh tế Đối với lĩnh vực Vật lý, phương pháp hồi quy tuyến tính có ứng dụng trong việc nghiên cứu sự thay đổi của một đại lượng theo đại lượng khác Tuy nhiên các chủ đề bài tập trong cả GT1 và GT2 chưa đề cập đến các bài toán hồi quy trong lĩnh vực khoa học Vật lý
Trang 353.1 Chương 1: Đại cương về xác suất
3.1.1 Nội dung kiến thức
- Nhắc lại kiến thức về giải tích tổ hợp: quy tắc cộng, quy tắc nhân, chỉnh hợp, hoán vị, tổ hợp;
- Các khái niệm cơ bản như: phép thử, kết cục, biến cố và xác suất;
- Công thức tính xác suất theo định nghĩa cổ điển: định nghĩa, phương pháp liệt
kê, phương pháp sử dụng đại số tổ hợp;
- Công thức tính xác suất theo định nghĩa thống kê;
- Mối quan hệ giữa các biến cố: tổng, tích, độc lập, xung khắc, nhóm đầy đủ, đối lập;
- Các công thức tính xác suất: công thức nhân xác suất, công thức cộng xác suất, công thức xác suất đầy đủ, công thức Bernoulli và công thức Bayes
3.1.2 Đề xuất cách tiếp cận nội dung chương “Đại cương về xác suất”
Để so sánh hoặc đánh giá một hoặc nhiều biến cố về khả năng xuất hiện trong một phép thử tương ứng, người ta gán cho mỗi biến cố một con số không âm sao cho với hai biến cố bất kỳ, biến cố nào có khả năng xuất hiện nhiều hơn thì gán cho số lớn hơn, các biến cố có cùng khả năng xuất hiện thì gán cho cùng một con số Con số được gán cho các biến cố được gọi là xác suất của biến cố Ta xét bài toán tính xác suất của biến cố sau:
Một mạch điện gồm hai bộ phận mắc nối tiếp, với khả năng làm việc tốt trong một khoảng thời gian nào đó của bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai là 0,95 và 0,98
Ở một thời điểm trong khoảng thời gian trên người ta thấy mạch điện ngừng làm việc (do bộ phận nào đó bị hỏng) Tính xác suất mạch điện ngừng làm việc do bộ phận thứ hai hỏng
Trang 36Đối với bài toán tính xác suất trên, ta thấy rằng với các công cụ tính xác suất đã được học trong chương trình phổ thông sẽ không thể giải quyết được bài toán này một cách tường minh Nội dung kiến thức trong chương này sẽ giúp chúng ta có thể giải quyết tường minh bài toán trên
3.1.3 Xây dựng bài tập chương “Đại cương về xác suất”
Trong lĩnh vực Vật lý thống kê, phân bố Maxwell – Boltzmann, phân bố Fermi – Dirac và phân bố Bose – Einstein là ba phân bố trọng tâm của lĩnh vực này Để tính xác suất các hạt được tìm thấy trong các phân bố này, ta sử dụng công thức giải tích
tổ hợp và công thức tính xác suất cổ điển Xét bài toán sau:
Bài 1.1 Xét mô hình một khối khí gồm n hạt (phân tử), thể tích của hệ được chia thành q hộp (qn) Chúng ta đặt ngẫu nhiên n hạt vào q hộp Tìm xác suất p
để các hạt được tìm thấy ở n hộp chọn trước (mỗi hạt chỉ ở trong một hộp) Xét các trường hợp sau:
a) M – B (Maxwell – Boltzmann) – các hạt coi là khác nhau, tất cả các khả năng đều có thể được;
b) F – D (Fermi – Dirac) – không thể phân biệt được các hạt, một hộp chứa nhiều nhất một hạt;
c) B – E (Bose – Einstein) – không thể phân biệt được các hạt, tất cả các khả năng đều có thể được;
Trang 37Vậy xác suất để các hạt được tìm thấy ở n hộp chọn trước là: !.
n
n p q
q C
Hình 3.2 Mô tả phân bố Bose – Einstein
Mỗi hộp có thể chứa nhiều hơn 1 hạt
C + − n q
−
+ −
Xét một bài toán tính xác suất điển hình trong phân bố Bose – Einstein như sau:
Bài 1.2 Xét một hệ thống gồm hai chất rắn Einstein, A và B trao đổi năng lượng với nhau Mỗi chất rắn chứa 1 nguyên tử Giả sử hệ thống trao đổi tổng cộng 6 đơn vị năng lượng, các chất rắn được đưa đến gần và tương tác, tổng năng lượng được giữ cố định Biết rằng mô hình chất rắn Einstein tuân theo phân bố Bose – Einstein, nghĩa là số trạng thái vi mô của mỗi chất rắn được tính theo công thức
1
1 !
n
n q
n q C
Trang 38b) Giả sử hệ thống này đang ở trạng thái cân bằng nhiệt, xác suất tìm thấy tất
cả năng lượng trong chất rắn A là bao nhiêu?
c) Tính xác suất tìm thấy chính xác một nữa năng lượng trong chất rắn A
Hướng dẫn giải
a) Số trạng thái vi mô khác nhau của hệ thống:
Năng lượng của hệ: E=E A+E B =n A +n B =(n A+n B) =6
Vậy tổng số trạng thái vi mô của hệ thống là 462 trạng thái
b) Giả sử hệ thống này đang ở trạng thái cân bằng nhiệt, xác suất tìm thấy tất
cả năng lượng trong chất rắn A:
2.11
đủ và công thức Bayes Ta xét các bài toán sau:
Bài 1.3 Bản tin điện báo gồm tín hiệu chấm (.) và tín hiệu vạch (-) Qua thống
kê cho thấy 2
5 tín hiệu chấm khi truyền đi bị bóp méo thành tín hiệu vạch và 1
3 tín hiệu vạch khi truyền đi bị bóp méo thành tín hiệu chấm Biết tỷ số giữa tín hiệu chấm
Trang 39và vạch trong truyền đi là 5:3 Xác định xác suất tín hiệu truyền đi được nhận đúng nếu:
a) Nhận được tín hiệu chấm (.);
b) Nhận được tín hiệu vạch (-)
Hướng dẫn giải
Gọi T1 là biến cố truyền đi tín hiệu chấm (.);
T2 là biến cố truyền đi tín hiệu vạch (-);
a) Xác suất sao cho nhận đúng tín hiệu đi nếu đã nhận được tín hiệu (.)
Gọi A là biến cố nhận được tín hiệu chấm (.)
8 5 .
1 42
P T P A T
P T A
P A
b) Xác suất sao cho nhận đúng tín hiệu đi nếu đã nhận được tín hiệu (-)
Gọi B là biến cố nhận được tín hiệu vạch (-)
8 3 .
1 22
P T P B T
P T B
P B
Bài 1.4 Một nhóm các nhà khoa học đang nghiên cứu về nguy cơ xảy ra sự cố
tại một nhà máy điện nguyên tử sẽ gây ra sự rò rỉ phóng xạ Các nhà khoa học nhận thấy các sự cố chỉ có thể là do: hỏa hoạn, sự gãy đỗ của vật liệu hoặc sai lầm của con người Biết rằng hai hay nhiều hơn hai sự cố không bao giờ cùng xảy ra
Nếu có hỏa hoạn thì sự rò rỉ phóng xạ xảy ra khoảng 20% số lần Nếu có sự gãy
đổ của vật liệu thì sự rò rỉ phóng xạ xảy ra khoảng 50% số lần và nếu có sự sai lầm của con người thì sự rò rỉ sẽ xảy ra khoảng 10% số lần Nhóm nghiên cứu cũng tìm
Trang 40được xác suất để hỏa hoạn và sự rò rỉ cùng xảy ra là 0,0010; sự gãy đổ vật liệu và sự
rò rỉ phóng xạ cùng xảy ra là 0,0015; sai lầm của con người và sự rò rỉ phóng xạ cùng xảy ra là 0,0012
B là biến cố “xảy ra gãy đổ”;
C là biến cố “xảy ra sai lầm của con người”;
Theo công thức xác suất có điều kiện ta có:
Xác suất có hỏa hoạn là: ( ) ( ( ) ) 0, 001 0, 005;