Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ – trường Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca
Trang 1Ngô Bích Phượng
CA DAO NAM BỘ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2Ngô Bích Phượng
CA DAO NAM BỘ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất
xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
TP Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Ngô Bích Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được hướng dẫn tận tình, theo dõi sát sao, đầy tinh thần trách nhiệm của PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Tôi xin bày tỏ lòng tri ân và kính chúc cô sức khỏe
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện tỉnh Tây Ninh đã
hỗ trợ tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo môi trường
và điều kiện học tập tốt để học viên hoàn thành khóa học
Trân trọng cảm ơn gia đình, quý bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn
TP Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Ngô Bích Phượng
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu
Danh mục các bảng
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 Sơ lược về đất và người Nam Bộ 11
1.2 Khái lược về văn hóa phong tục 18
1.3 Vài nét về ca dao Nam Bộ 20
1.4 Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát 25
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC GẮN VỚI VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI 32
2.1 Phong tục hôn nhân 32
2.1.1 Lễ dạm ngõ 33
2.1.2 Lễ hỏi 41
2.1.3 Lễ cưới 53
2.2 Phong tục tang ma 59
2.2.1 An táng 61
2.2.2 Tang chế 65
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG 71
3.1 Phong tục thờ cúng đa thần 71
Trang 63.1.1 Phong tục thờ Trời, Phật 72
3.1.2 Phong tục thờ Thần 79
3.1.3 Phong tục thờ Mẫu và Quan Công 87
3.2 Phong tục thờ cúng người thân trong gia đình 92
3.2.1 Thờ cúng tổ tiên, cha mẹ 93
3.2.2 Thờ cúng người thân khác 99
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ 28 Bảng 1.2 Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục 30
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khám phá vẻ đẹp của văn chương không chỉ là quá trình đi tìm cái hay của ngôn từ mà còn là khơi dậy sức sống của cả một nền văn hóa dân tộc Văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng là “kho báu” chứa đựng những giá trị tinh thần tốt đẹp của cả cộng đồng, biểu hiện qua những lối sống, phong tục, tập quán, nếp nhà Từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi soi vào tác phẩm văn học dân gian để đi tìm tính cách, tâm hồn của ông cha thuở trước Hành trình khám phá văn hóa phong tục trong văn học là một hành
trình thưởng lãm “cái ngon ngoài cả vị ngon, cái đẹp ngoài cả sắc đẹp” (Dẫn
theo SGK Ngữ văn 10, 2018)
Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu rõ nhất tâm hồn dân tộc Trong tất cả các thể loại của văn học dân gian, ca dao biểu hiện rõ nhất điệu hồn dân tộc, đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người Trong đó,
ca dao đã ngân vang biết bao cung bậc tâm trạng của con người trong các mối
quan hệ đời sống A N Ghersen đã diễn đạt một cách biểu cảm “Trong các
bài hát dân gian người ta nhận thấy sự diễn đạt sáng rõ nhất tất cả những khởi đầu của thơ ca, cuộc du ngoạn trong tâm hồn nhân dân” (Dẫn theo Vũ
Anh Tuấn, 2015)
Ca dao Nam Bộ đã góp phần diễn tả thế giới tinh thần phong phú của người dân vùng đất phương Nam Thể loại văn học này đã góp phần làm đầy hơn vẻ đẹp văn hóa của một miền đất mới Là một bộ phận của ca dao Việt Nam, ca dao Nam Bộ đã góp phần biểu hiện những cung bậc trữ tình của đời sống dân tộc Những giai điệu ngọt ngào lan tỏa theo dòng chảy thời gian, chuyên chở những tâm tư tình cảm, những khát vọng cao đẹp của con người, cùng truyền thống của vùng văn hóa trẻ
Cũng vì sự hấp dẫn và sức sống mãnh liệt, ca dao Việt Nam trở thành nguồn tài sản quý thu hút các nhà nghiên cứu, rất nhiều công trình nghiên cứu
Trang 10có chiều sâu về vẻ đẹp của thể loại này Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa phong tục trong ca dao nói chung,
trong ca dao Nam Bộ nói riêng Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Ca dao Nam
Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục” để góp phần làm rõ thêm một cái nhìn,
một cách tiếp cận về giá trị của thể loại văn học dân gian này
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những công trình sưu tầm ca dao Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ có sức hấp dẫn với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa – văn học, vì vậy, đã có nhiều công trình sưu tầm như:
Ca dao Đồng Tháp Mười (Đỗ Văn Tân), xuất bản năm 1984, Nxb Sở
VH – TT Đồng Tháp; Kiên Giang qua ca dao (Giang Minh Đoán), xuất bản năm 1997, Nxb Tp.HCM; Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long (trường Đại học Cần Thơ), xuất bản năm 1997, Nxb Giáo dục; Ca dao – Dân
ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng), xuất bản năm 1998, Nxb Đồng Nai; Văn học dân gian Bạc Liêu (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội; Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb Văn hóa – Thông tin; Văn học dân gian Bến Tre (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb Giáo dục; Văn học dân gian
An Giang (tập 3) (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb Giáo dục
Đây là những công trình sưu tầm có đóng góp lớn đến việc lưu giữ “kho báu” tinh thần của dân gian Nguồn tư liệu điền dã phong phú này đã được tác giả sắp hệ thống theo chủ đề: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu đôi lứa; tình cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội khác Đây là cơ sở ngữ liệu quan trọng
để chúng tôi chọn lọc những bài ca dao có phản ánh văn hóa phong tục phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 112.2 Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu những công trình về ca dao nói chung mà còn đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu ca dao của từng địa phương vùng Nam Bộ
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb TP Hồ Chí Minh Công trình này gồm hai phần: phần đầu tác giả khái quát những nét chính về nội dung và nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, phần sau là công trình sưu tầm ca dao Nam Bộ Đây là công trình vừa có ý nghĩa phương pháp luận cho việc nghiên cứu tổng thể về ca dao Nam Bộ vừa là thành quả của sự lao động nghiêm túc trong quá trình sưu tầm điền dã, tổng hợp ca dao Nam Bộ Công trình của tập thể tác giả này là nguồn tài liệu chính để chúng tôi kế thừa triển khai luận văn
Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long (1732 – 2000) xuất bản năm 2003, Nxb
Văn nghệ TP Hồ Chí Minh là đề tài nghiên cứu tìm hiểu quá trình hình thành văn hóa tỉnh Vĩnh Long từ năm 1732 đến năm 2000 của Ban tuyên giáo tỉnh Vĩnh Long Nội dung được chia làm hai phần Phần một giới thiệu khái quát đất và người Vĩnh Long Phần 2, các tác giả đã dành 30 trang để khảo sát thể loại ca dao, dân ca Vĩnh Long, chú trọng đến những bài ca dao phản ánh tên đất, tên người cùng vẻ đẹp của non sông và thắng tích địa phương Tác giả
cho rằng “Những lời thơ trữ tình, đằm thắm, ngọt ngào là những bài học đầu
đời về tình yêu đất nước và con người” (Nguyễn Chiến Thắng, 2003)
Miền Nam và văn học dân gian địa phương trong bộ Văn học miền Nam lục tỉnh (Tập 1) của Nguyễn Văn Hầu xuất bản năm 2012, Nxb Trẻ Tp Hồ
Chí Minh là một trong các tài liệu quý và hiếm khi nghiên cứu riêng về văn học dân gian Nam Bộ Bức tranh miền Nam từ ngày đầu mở cõi cũng như diện mạo của văn học dân gian nơi đây đã được trình bày cô đọng, súc tích trong tập sách này Cùng với các thể loại văn học dân gian, tác giả cung cấp
Trang 12một số cách nhìn nhận, đánh giá sơ lược về chủ đề, phương pháp, nghệ thuật
ca dao Nam Bộ Đây là kiến thức nền tảng, định hướng cho chúng tôi khi nghiên cứu và triển khai luận văn
Luận văn Thạc sĩ Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương – Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh – năm 2009 và Đặc điểm ca dao
Đồng Tháp của Trần Thị Thúy Hằng – Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh –
năm 2018 đã góp phần làm rõ điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của ca dao mỗi địa phương Phần phụ lục của hai luận văn
có nguồn tư liệu điền dã được tổng hợp, sắp xếp khá công phu Những công trình này đã giúp chúng tôi hiểu thêm những đặc trưng của vùng đất và con người kiến tạo nên nền văn hóa Nam Bộ
2.3 Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa
Đào Văn Hội trong Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao đã phân
chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thôn quê, ngoài xã hội và những câu hát vặt Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
phong tục miền Nam trong ca dao Tác giả cho rằng ca dao là “tấm gương
trong sáng phản ánh cả phong tục của giống nòi”, “là tiếng gọi của dân quê, linh hồn của dân tộc, không có thứ văn chương nào hơn được” (Đào Văn
Hội, 1961)
Năm 2004, Lê Anh Dũng trong bài viết “Văn hóa dân gian phản ánh
tín ngưỡng tổng hợp của người Việt” đăng trên trang web
http://www.nhipcaugiaoly.com đã trình bày một cách khái quát về dấu ấn của Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo cùng tín ngưỡng thờ Trời của người Việt đã
đi vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao Điều đó cho thấy tinh thần bình đẳng trước mọi tôn giáo và khả năng tiếp biến, chuyển hóa Tam giáo cho phù hợp với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng tổng hợp, tạo thành nét văn hóa truyền thống của người Việt
Trang 13Trên website: http://www.vusta.vn/vi/news/, Phan Thị Phượng (2010)
trong bài viết “Bàn về một khía cạnh tâm linh trong ca dao người Việt” đã
cung cấp một cách khái quát về những giá trị tâm linh thiết thực được in dấu
trong ca dao người Việt: “Ca dao cũng là một kho tàng lưu giữ những tín
ngưỡng của người Việt từ xa xưa rất phong phú, không những thế nó còn là pho sách khái quát được cả một vấn đề lớn của xã hội” Trên cơ sở đó, tác giả
đã làm rõ tín ngưỡng thờ cúng trong ca dao người Việt
Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ –
trường Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ cụ thể qua các phương diện: sinh hoạt đi lại – phương tiện giao thông; sinh hoạt lao động sản xuất; sinh hoạt ăn, mặc, ở; phong tục tập quán; tín ngưỡng; tôn giáo; lễ hội và diễn xướng dân gian; tính cách người Nam Bộ Đó là những kiến thức quí báu
để chúng tôi kế thừa khi triển khai luận văn
Qua bài viết Sự hợp dung văn hóa trong ca dao Việt Nam in trong tạp
chí khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh số 32 năm 2011, Đoàn Thị Thu Vân đã phân tích sự linh hoạt và dung hòa trong văn hóa ứng xử của người Việt được
thể hiện qua ca dao Từ đó, tác giả nhấn mạnh: “Ca dao Việt Nam đã thể hiện
một tinh thần hợp dung văn hóa rộng rãi và cởi mở”
Trong bài viết “Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao” in trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 360 tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Thị
Kim Ngân đã khẳng định ca dao phản ánh một cõi thiêng liêng, là nơi tín ngưỡng dân gian tồn tại và thể hiện bộ mặt sinh hoạt văn hóa của người Việt Tác giả cho rằng hình ảnh ông Trời trong ca dao là một đấng thiêng liêng mà
người dân tôn kính và cầu xin và khẳng định rằng: “Ca dao không phải chỉ là
giá trị văn hóa trực tiếp nảy sinh từ những nghi thức tín ngưỡng mà khúc hát tình gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân”
Trang 14Nguyễn Thanh Trang trong luận văn Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn
nhân trong ca dao người Việt – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
– năm 2014 đã tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao Việt Từ đó, tác giả khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc và đưa ra cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại
Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt của
Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb Khoa học Xã hội Đây là công trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao Việt Nam Ở phần đầu, sau khi đưa ra các khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân
ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình yêu lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt Đặc biệt, tác giả còn so sánh để tìm hiểu sự khác biệt của văn hóa dân gian về tình yêu, hôn nhân và
vợ chồng trong hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
và rút ra kết luận: “Ở Nam Bộ, tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu
đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái rõ nét hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ” (Nguyễn Nghĩa Dân, 2015) Ở phần sau, tác giả đã tuyển chọn và xếp
theo vần chữ cái tiếng Việt Điểm đặc biệt ở phần tuyển chọn có chú thích đầy
đủ những điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu, đồng thời đưa ra những bình luận sắc sảo Đây là công trình bổ ích, định hướng cho chúng tôi tìm hiểu phong tục hôn nhân được biểu hiện qua ca dao Nam Bộ
Năm 2015, Đoàn Thị Thùy Hương trong luận văn thạc sĩ Yếu tố sông
nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao) – trường Đại học
Trà Vinh – đã đưa ra cái nhìn khái quát về biểu hiện của văn hóa sông nước trong đời sống vật chất và tinh thần của người Nam Bộ qua ca dao
Trong luận văn Ứng xử của vợ chồng người Việt qua ca dao tục ngữ
Nam Bộ – trường Đại học Trà Vinh – năm 2015, Lê Kim Chiêu đã nghiên cứu
văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ Việc
Trang 15khảo sát giúp chúng tôi thấy được tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa trong cách ứng xử của con người đất phương Nam
Tín ngưỡng dân gian của người Việt xuất bản năm 2017 của nhà xuất
bản Văn hóa – Nghệ thuật có bài viết “Tín ngưỡng thờ ông Thiên và tính cách
người Việt” (khảo sát qua ca dao – dân ca, tục ngữ miền Tây) của Trần Minh
Thương Bài viết đã khẳng định sức sống mãnh liệt của niềm tin thiêng liêng này trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa
Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả
đã tìm hiểu cả chiều rộng và chiều sâu, có cái nhìn hệ thống về văn hóa được biểu hiện trong ca dao Tuy nhiên vấn đề văn hóa phong tục của ca dao vẫn
còn nhiều khoảng trống Cho nên khi triển khai đề tài “Ca dao Nam Bộ từ góc
nhìn văn hóa phong tục”, chúng tôi vừa kế thừa kiến thức quý giá của người
đi trước vừa tiếp tục khơi sâu tìm hiểu giá trị của văn hóa phong tục trong ca dao người Việt ở Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Về ca dao Nam Bộ có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, tuy nhiên, trong giới hạn về thời gian nghiên cứu, người viết chỉ tiến hành khảo sát, phân tích
biểu hiện văn hóa phong tục trong ca dao của người Việt ở Nam Bộ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong các tuyển tập:
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb TP Hồ Chí Minh
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản
năm 1994, Nxb Giáo dục
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần
Thơ, xuất bản năm 1997
Trang 16Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản
năm 2005, Nxb Trẻ
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất
bản năm 2006, Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm
2011, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản
năm 2011, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất
bản năm 2012, Nxb Trẻ
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),
xuất bản năm 2015, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,
năm 2009, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
4 Đóng góp của đề tài
Phần lớn các công trình nghiên cứu ca dao chủ yếu được tiếp cận từ phương diện ngôn ngữ học, thi pháp học, văn hóa học nhưng chưa có nhiều công trình khám phá vẻ đẹp của văn hóa phong tục ẩn tàng trong thể loại này
Vì thế, xuất phát từ mục đích nghiên cứu “Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn
hóa phong tục”, chúng tôi đi sâu phân tích các phương diện như phong tục
gắn với vòng đời con người, phong tục gắn với tín ngưỡng Hy vọng những đóng góp của luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn nét văn hóa phong tục độc đáo trong đời sống của đất và người Nam Bộ qua thể loại này Từ đó, khẳng định giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học dân gian Việt Nam
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp hệ thống: đặt ca dao Nam Bộ trong hệ thống thể loại
văn học dân gian Việt Nam nói chung để phát hiện điểm mới, nét đặc sắc của thể loại này Trên cơ sở đó, chúng tôi có cái nhìn hệ thống, toàn diện và tìm ra được nhiều điều thú vị liên quan đến truyền thống văn hóa dân tộc
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng kết quả nghiên cứu của
các ngành văn hóa học, dân tộc học, nhân học văn hóa… để khám phá các phong tục ẩn tàng trong ca dao Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn đời sống tinh thần dân gian
Phương pháp loại hình: ca dao là một thể loại có ở nhiều vùng miền
trong hệ thống tổng thể các thể loại văn học dân gian Khi nghiên cứu ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục, người viết chú ý đến dấu ấn văn hóa vùng miền trong ca dao để tìm ra điểm gặp gỡ cũng như khác biệt so với các thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện dân gian
Phương pháp thống kê: sử dụng kết quả thống kê nhằm có số liệu
khách quan, chính xác, tạo lập nên cơ sở nghiên cứu ban đầu về ca dao Nam
Bộ để có những kết luận khoa học, tránh sự võ đoán
Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng hợp để minh họa cho những lí lẽ, diễn giải, lập luận của cá nhân trên cơ sở khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao Nam Bộ
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục – những vấn
đề chung
Trang 18Trong chương 1, luận văn đề cập một số vấn đề có tính chất khái quát
về vùng văn hóa phong tục Nam Bộ và ca dao Sau khi giới thiệu về lịch sử hình thành mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ, chúng tôi tổng thuật các cách giới thuyết về văn hóa phong tục, khái niệm ca dao Việt Nam và đưa ra kết luận vài nét về cách tiếp cận ca dao người Việt ở Nam Bộ Đồng thời, chúng tôi cũng điểm qua nguồn tư liệu để khảo sát, phục vụ nghiên cứu
Chương 2 Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện phong tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma Thông qua việc thống kê, chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận bước đầu về dấu ấn phong tục gắn với vòng đời con người trong ca dao Nam Bộ
Chương 3 Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với tín ngưỡng Nhiệm vụ của chương này là khảo sát ca dao, từ đó mô tả, phân tích, phát hiện vẻ đẹp đời sống tín ngưỡng của người Việt qua thể loại văn học này trên các góc nhìn phong tục thờ cúng đa thần và phong tục thờ cúng người thân trong gia đình
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục tổng hợp ca dao Nam Bộ từ các nguồn tư liệu để khảo sát phân tích nhằm có cái nhìn hệ thống, sâu sắc vấn đề
mà đề tài nghiên cứu đặt ra
Trang 19Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nước Phù Nam đã xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện nay Trong thời kì hưng thịnh, nước Phù Nam phát triển thành một đế chế gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam, Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca, trung tâm vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam – một khu vực phát triển nhanh vào lúc bấy giờ, cư dân chủ thể này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển Những ngư dân với truyền thống về hàng hải cùng nguồn kinh nghiệm tích lũy lâu dài và tài nghệ trong làm thủy lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng trũng thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển cải thiện cuộc sống ổn định
Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt đầu quá trình suy yếu Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam –
Trang 20Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ Việt Nam Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam
Bộ Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại
bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp
Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít, người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy Song song đó, việc khai khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn toàn vào Srivijaya2
Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại Chân Lạp lúc này chỉ dồn sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào Trong khi đó, dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng này cũng không đậm nét
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt Chu Đạt Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau:
“Hầu hết là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ
thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây
Trang 21Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy.” (dẫn theo Trịnh Hoài Đức, 1972) Bắt đầu từ
cuối thế kỷ XIV, nước Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya hình thành vào giữa thế kỷ XIV Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431), Ayuthaya liên tiếp tiến công Chân Lạp Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, rơi vào thời kì suy vong Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không
có khả năng kiểm soát, cũng như quản lý vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam ở thời điểm bấy giờ
Trong bối cảnh Chân Lạp không đủ sức quản lý vùng đất phía Nam, từ đầu thế kỷ XVII, vùng đất Chân Lạp đã bắt đầu có lưu dân người Việt ở vùng đất Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đến khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt trên vùng này, tạo ra cho vùng đất này một cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn
Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm Đồng thời cư dân Việt ở vùng đất Nam
Bộ cũng bắt đầu tự do khai khẩn đất, làm ăn sinh sống, tự tạo lập cuộc sống mới cho chính mình Năm 1623, khi mà cư dân Việt đã có mặt hầu khắp miền Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế Đến năm 1628, sau cái chết của Chey Chetta II, chính quyền Chân Lạp bị chia rẽ, xuất hiện nhiều lỗ hổng, nhiều cuộc chiến đã diễn ra, điển hình là giữa các phe phái với nhau, với sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa Nguyễn Bối cảnh này vừa giúp cho người Việt có thể dễ dàng tiến hành khai phá những vùng đất hoang hoá ở đồng bằng sông Cửu Long vừa tạo điều kiện
Trang 22cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp
Song song đó, cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong khoảng thời gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà Thanh đến tiến hành khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất Nam Bộ, giúp đẩy nhanh quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ
Vào năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên trước sự tiến công cướp bóc của người Xiêm vào thời điểm đó, Mạc Cửu đã xin và được nội thuộc vào triều đình chúa Nguyễn Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Cho đến năm 1757, đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng
Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn
để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua Qua đó, quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn thành
Để thực thi chủ quyền, từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tiến hành
tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế Năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn
Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, họ tiếp tục con đường sự nghiệp của các chúa Nguyễn Tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lý trong cả nước Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa
bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam kỳ (vùng đất Nam Bộ ngày nay) Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự, triều đình còn khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, mở mang phát triển dinh điền, đồn điền, xây dựng thuỷ lợi, phát triển
Trang 23giao thông, nâng cao đời sống của người dân ở một mức độ tốt hơn, phát triển hơn
Như vậy, vùng đất phương Nam chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa Xét về thời gian, Phù Nam, Khme rồi sau này là Việt, Hoa, Chăm đã tạo nên các lớp văn hóa nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau Xét về không gian, có những vùng văn hóa tiếp giáp nhau, có khi giao nhau, hòa hợp vào nhau Từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, Văn hoá Phù Nam rồi đến văn hoá Khmer vào thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, hai nền văn hóa này đã tiếp thu mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng Đối với người Hoa, tuy rằng họ có mặt ở miền đất này muộn hơn nhưng vẫn kịp hình thành một nét văn hóa riêng độc đáo của chính mình, tô thêm cho bảng màu văn hóa miền Nam một màu sắc mới, sống động hơn, đẹp đẽ hơn Sau người Hoa là người Chăm, họ cũng đã trở thành một thành viên không thể thiếu trong cộng đồng Việt Nam
Riêng đối với người Việt, khi tới đây khẩn hoang lập ấp, họ đã luôn
trân trọng và cố gắng “làm sống lại những nền văn hóa thuộc cổ sử và sơ sử
đã lắng sâu dưới lòng đất thấp” (dẫn theo Trần Nam Tiến, 2018) Họ vừa giữ
gìn được bản sắc đậm đà của văn hóa riêng mình, vừa ở tư thế kế thừa, đón nhận, giao lưu văn hóa với các dân tộc người Khmer, Chăm, Hoa để cùng xây dựng một vùng văn hóa đặc sắc Vùng đất Nam Bộ vừa kế thừa những di sản tinh thần, văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp nhận những nhân tố mới từ thực tiễn lịch sử, sáng tạo nên những nếp sinh hoạt văn hóa mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống cư dân nơi vùng đất mới:
“Sớm biết thích ứng với hoàn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân
hòa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hòa với con người và văn hóa khác mà vẫn giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi khai thác vùng đất mới.” (Sơn Nam, 2017)
Trang 241.1.2 Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ
Trong hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế, Nam Bộ gồm 2 bộ phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Đông Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai Phạm vi của vùng bao gồm 6 tỉnh/ thành phố là: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,
Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh
Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nhất trong lịch sử phát triển của đất nước Phạm vi của vùng gồm 13 tỉnh/ thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Đồng bằng Nam Bộ bao gồm hai bộ phận có đặc điểm khác hẳn nhau
Đó là vùng đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên đất
đỏ ba dan (bazan) ở phía đông, thuộc Đông Nam Bộ; và khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long tương đối bằng phẳng ở phía tây, thuộc Tây Nam
Bộ
Nam Bộ nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và
hệ thống sông MeKong Nguồn nước mặt nơi đây khá dồi dào với hệ thống sông ngòi và kênh đào chằng chịt mang nước dàn trải rộng khắp đồng bằng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp
Nam Bộ từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống Theo những tài liệu cổ từ khoảng 300 năm trước đều nói: nơi đây như một vùng đất toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm hoặc những cánh đồng hoang vu không có một gốc cây, là nơi hàng trăm hàng nghìn con trâu rừng tụ tập thành bầy Nhưng chỉ trong vài thế kỉ, người Nam Bộ đã làm thu hẹp một diện tích khổng lồ rừng tự nhiên để phát triển kinh tế, biến vùng đất hoang vu thành thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trải qua hàng trăm năm, văn hóa vật chất và tinh thần của người Kinh
ở Nam Bộ đã hình thành những nét riêng so với miền đất tổ ở phía Bắc Sự
Trang 25khác biệt đó thể hiện trên nhiều phương diện: khung cảnh làng mạc, cấu trúc nhà cửa, cơ cấu xã hội Đặc biệt là sự thay đổi rõ rệt về ngôn ngữ, cá tính, thói quen, phong tục đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc riêng của vùng đất cực Nam tổ quốc
1.1.3 Con người Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đa dân tộc, nơi định cư và sinh sống của những tộc người có lịch sử, văn hóa rất khác biệt, đến từ khắp mọi vùng miền trong
cả nước Vùng đất Nam Bộ nắng nhiều, nước lắm, những rừng cây rậm rạp, đầm lầy, lau lách trong buổi đầu khẩn hoang đã góp phần làm nên diện mạo con người Nam Bộ Từ những mảnh đất khác nhau, những hành trang văn hóa của đất Thăng Long, vùng Ngũ Quảng và văn hóa Trung Hoa, họ đã cùng nhau hội ngộ ở nơi đây, cùng chạm khắc nên cá tính miền Nam và thuần phong mĩ tục Việt Nam Họ ra đi vì những khắc nghiệt của cuộc sống nhiều thăng trầm biến động, đó là những nông dân nghèo khó nhưng gai góc, những tội đồ bướng bỉnh, những lính thú cứng đầu, và cả những người Hoa không hàng phục nhà Minh Ở họ vừa có cái nền tảng văn hóa nghìn năm nơi quê cha đất tổ, vừa có những thích ứng hòa nhập và biến cải thành một đời sống,
tính cách, tâm hồn, tình cảm rất phương Nam: “Thiên nhiên Nam Bộ còn khá
rộng rãi và hào phóng với con người, đã thế, ở đây lại không có tâm lý phân biệt người chính cư và người ngụ cư nên người dân sẵn sàng bỏ đi nơi khác nếu ở nơi cũ, họ cảm thấy không còn sống được nữa, cả về vật chất lẫn tinh thần.” (Thạch Phương – Hồ Lê, 2014)
Những người sống không bị ràng buộc và cũng không bao giờ chấp nhận sự ràng buộc bởi một lý do sâu xa là tất cả những lưu dân có mặt ở nơi đây đều có chung một khát vọng tự do – khát vọng được giải phóng Họ đến đây khi nhà Nguyễn chưa thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế
ngự hết đất đai điền thổ “dân mở đất trước, nhà nước cai trị sau” (dẫn theo
Trang 26Trần Nam Tiến, 2018) Vì vậy, họ cảm thấy thực sự được tự do, thực sự được giải phóng, cả trong ý thức:
Trời sinh cây cứng lá dai Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều
Cái ý thức vẫy vùng sông nước ấy, cái hùng tâm tráng chí của những con người không khép mình khuất phục ấy đã được hun đúc trong hoàn cảnh mới, trở thành tinh thần bất khuất, hiên ngang, thành tâm thế cứng cỏi, ngang tàng, quyết liệt và táo bạo
Nam Bộ, dù thiên nhiên có ưu đãi thì thuở “tiền sử” của nó cũng là
một nơi “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma” Có
lẽ, vì vậy mà con người Nam Bộ đã biết kề vai sát cánh, chung lưng đấu cật với nhau trong một tình tương thân tương ái, giúp đỡ thật lòng và hết mình
“Lao xao sóng bủa dưới lùm/ Thò tay vớt bạn, chết chùm cũng ưng” Nói đến
họ – những người con đất Nam Bộ – chính là nói đến những con người trọng nghĩa, khinh tài, nhân nghĩa trước sau với nhau trong quan hệ bằng hữu, trong tình làng nghĩa xóm, dân ấp, dân lân
Qua không ham rộng ruộng lớn vườn Ham vì nhân nghĩa, cang thường mà thôi
Bằng bản lĩnh, trí tuệ của những con người quyết “dứt áo ra đi”, những lưu dân Việt đã làm nên sức sống mới cho vùng đất này Vì lẽ đó, sau nhiều thế kỉ bị hoang hóa, chiến tranh liên miên, Nam Bộ đã bừng nên sinh khí mới khi người dân Việt cùng người Hoa đến đây từ thế kỉ XVII Cùng với người dân bản địa, lưu dân Việt đã gieo trồng văn hóa riêng của đất và người Nam
Bộ, góp phần tạo nên một nền văn hóa – văn học dân gian đa dạng ở vùng đất mới này
1.2 Khái lược về văn hóa phong tục
Trong Cửa vào phong tục Việt Nam, Phạm Việt Tuyển (1974) đã định
nghĩa như sau:
Trang 27Phong tục là thói quen trong đời sống xã hội trải qua thời gian và không gian Những thói quen này nhập nhiễm tư tưởng và tình cảm cũng như chi phối đời sống thực tế hàng ngày của cá nhân, gia đình, xóm làng và
xã hội Những thói quen ấy có thể liện quan tới tín ngưỡng và tôn giáo, luân lí và pháp luật, văn nghệ và văn hóa
Bàn về phong tục, trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (2001) đã đưa ra nhận định: “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời
sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo”
Từ Xuân Lãnh (2019) đã lí giải về phong tục ở Lời nói đầu trong công trình Phong tục đất phương Nam như sau: “phong tục tập quán là nếp sống
của người dân được tích lũy từ nhiều đời, phản ánh cách nghĩ, cách sống của một dân tộc, là một bộ phận quan trọng hình thành nên nền văn hóa, góp phần tạo ra sắc thái riêng của dân tộc ấy”
Như vậy, khi định nghĩa về phong tục, các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ
nhau ở khía cạnh “phong tục là nếp sống, là thói quen được cộng đồng thừa
nhận, lưu truyền” Điều này có nghĩa là, phong tục, tập quán không tồn tại bất
biến mà có sự thay đổi theo thời gian lẫn không gian để phù hợp với tâm lí địa phương, vùng miền, dân tộc và xu thế phát triển của thời đại Phong tục tốt đẹp sẽ được bảo tồn, phát huy; ngược lại, những phong tục lạc hậu, không còn phù hợp sẽ bị đào thải
Theo công tình Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian,
Nguyễn Thị Bích Hà (2014) đã phân chia phong tục như sau: phong tục gắn với vòng đời con người gồm: phong tục lúc mang thai và sinh con, phong tục gắn với nam giới khi vào tuổi thành đinh, phong tục hôn nhân, phong tục lên lão, phong tục ma chay tang chế; phong tục tập quán gắn với sinh hoạt cộng đồng như: tục ăn trầu, nhuộm răng, ; phong tục tập quán gắn với tín ngưỡng như: tục thờ cúng thần linh, thờ cúng tổ tiên
Trang 28Ở luận văn này, với hướng nghiên cứu văn học dân gian từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi kế thừa và tiếp nhận cách hiểu về văn hóa phong tục như sau: phong tục là một thành tố của văn hóa, là biểu hiện cụ thể của các giá trị tinh thần (văn hóa tinh thần/ văn hóa phi vật thể) do con người sáng tạo, vừa
có sự kế thừa vừa có sự thích ứng phù hợp với các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội Phong tục có thể là biểu hiện cụ thể sinh động của tín ngưỡng hoặc là thói quen được lưu giữ trong cộng đồng Văn hóa phong tục là nét đặc trưng riêng của mỗi địa phương, cộng đồng, dân tộc, thời đại
1.3 Vài nét về ca dao Nam Bộ
1.3.1 Khái niệm ca dao
Qua nghiên cứu, chúng tôi phát hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau
Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc
Phi chủ biên, 1992) định nghĩa:
Ca dao còn gọi phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn
bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
Trang 29Trong công trình Văn học dân gian Việt Nam tái bản lần thứ 5, Đinh
Gia Khánh (chủ biên), chương III, phần Ca dao, Chu Xuân Diên (2001) cho rằng:
Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu,
âm điệu lưu loát, phong phú… Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao
là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca
Khái niệm ca dao được diễn giải trong công trình nghiên cứu Văn học
miền Nam Lục Tỉnh tập 1, như sau: “Dân ca bao gồm lời ca, giọng điệu và lề lối ca diễn; còn ca dao ngoài những sáng tác riêng, thì là những câu thơ, bài
ca được chắt lọc, rút tỉa ra trong các loại dân ca rồi gạn bỏ những tiếng đệm thường được dùng để đẩy đưa cho giọng hát” (Nguyễn Văn Hầu, 2012)
Theo Giáo trình văn học dân gian, chương VI, phần Ca dao, Phạm Thu Yến (2015) nêu định nghĩa: “Ca dao là thơ dân gian tồn tại ở dạng lời thơ
hoặc điệu hát, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân Với bản chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn tình cảm của nhân dân lao động”
Như vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới
rõ rệt Khái niệm ca dao dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất; đó là
bộ phận những câu hát mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách, đã trở thành cổ truyền của dân tộc Dù ca dao được quan niệm rộng hẹp khác nhau nhưng không mâu thuẫn về bản chất Một bài ca dao không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài ca dao dùng để hát
có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì sẽ thành dân ca
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng tôi
đề xuất cách hiểu ca dao như sau: Ca dao là sáng tác trữ tình dân gian, là sản phẩm chung của dân tộc, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
Trang 301.3.2 Khái niệm ca dao Nam Bộ
Từ cơ sở lý luận về ca dao Việt Nam, chúng tôi đề xuất cách hiểu về ca
dao Nam Bộ như sau: Ca dao Nam Bộ là những câu ca dao được sử dụng, lưu
truyền ở Nam Bộ hoặc được sáng tác ở Nam Bộ
Nội dung của ca dao Nam Bộ tập trung thể hiện các chủ đề sau: tình cảm của con người đối với quê hương, đất nước; tình yêu lứa đôi; tình cảm gia đình; phong tục và các mối quan hệ xã hội Các chủ đề này cũng nằm trong chủ đề phản ánh chung của ca dao các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam Sự giống nhau này góp phần khẳng định ca dao Nam Bộ là một bộ phận của ca dao Việt Nam
Tuy nhiên, cũng như các thể loại văn học dân gian, ca dao cũng mang đậm dấu ấn địa phương trong nội dung thể hiện Ca dao Nam Bộ phản ánh những nét đặc thù của vùng đất cực nam tổ quốc Đó là hình ảnh chốn rừng
rậm, khắc nghiệt “Cà Mau khỉ khọt trên bưng/ Dưới sông sấu lội, trên rừng
cọp um”; sự giàu có của thiên nhiên “Ai ơi về miệt Tháp Mười/ Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” và trên hết sự lao động của con người đã biến mảnh đất
hoang vu thành một vùng trù phú với nhiều sản vật nổi tiếng “Bến Tre giàu
mía Mỏ Cày/ Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn/ Bến Tre biển cá, sông tôm/ Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng” Đó là lịch sử đau thương
mà anh dũng “Bần gie đóm đậu sáng ngời/ Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai
linh” Đó là sự bộc trực, thẳng thắn trong tình yêu “Anh thương em từ thuở tóc bỏ lòng thòng,/ Đến bây giờ một ngọn ba bốn vòng cũng thương”
Như vậy, nằm trong hệ thống của ca dao Việt Nam, nên về hình thức, nội dung, ý nghĩa, ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các miền khác, vừa có nét chung của đặc trưng thể loại vừa có nét riêng gắn với hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên, xã hội, văn hóa, tâm lý, tính cách con người ở vùng đất phương Nam
Ca dao Nam Bộ là tiếng nói tâm hồn được cất lên thành làn điệu của
lưu dân xa xứ như cách nói của Đào Văn Hội (1961): “cười nên tiếng khóc,
Trang 31hát nên giọng sầu, hoặc gay gắt như nắng mùa hè, hoặc sảng khoái như tiếng gọi non sông” Ca dao gắn liền với cuộc sống người dân nơi đây: từ không
gian sinh hoạt đời thường, dân dã đến không gian sinh hoạt cộng đồng nghi
lễ, hội hè; đó là câu hò mênh mang sông nước, đó là bài ca dao đối đáp trong những ngày mùa, đó là câu hát nghi lễ trong ngày hội…
Tóm lại, trong hành trình về đất phương Nam, ca dao Nam Bộ cùng với các thể loại văn học dân gian khác đã góp phần làm giàu hơn màu sắc văn hóa của vùng đất mới
1.3.3 Mối quan hệ giữa ca dao và văn hóa phong tục
Phong tục hình thành từ đời sống thực tế của con người xa xưa, từ các tập tục, thói quen đến các nghi lễ tôn giáo Văn chương cũng không tách khỏi cuộc sống và con người Vì thế, phong tục đi vào văn chương một cách rất tự nhiên Đặc biệt là văn học dân gian, đây là mảnh đất tươi tốt để phong tục, tập quán ăn sâu, bám rễ
Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Thị Bích Hà
(2018) đã khẳng định:
Văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian Văn học dân gian liên quan chặt chẽ với mọi phương diện khác nhau của sinh hoạt đời sống xã hội Nó gắn bó với tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục tập quán, sinh hoạt lớn nhỏ trong các làng quê Việt Nam, với tính chất lưu giữ, minh giải, nâng cao và thể hiện bản sắc Văn học dân gian có cội nguồn từ đời sống sinh hoạt xã hội, nó được kết tinh và cách điệu từ sinh hoạt cộng đồng, rồi quay trở lại phục vụ cho đời sống sinh hoạt ấy thêm hiệu quả
Là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam, ca dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của quần chúng nhân dân, phản ánh lịch sử xã hội, và do vậy, nó là một nguồn tư liệu phong phú thể hiện phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử Nói cách khác, ca dao có nội dung phản ánh và biểu đạt rất rộng lớn Ca dao
Trang 32là nơi cất giữ tâm hồn dân tộc, có màu tươi xanh của ước vọng, có nỗi đau thân phận, cảnh ngộ trái ngang, có niềm nhớ thương vời vợi của nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau, ở các vùng miền khác nhau trên đất nước Những bài ca dao với những vần điệu trữ tình đã đi vào đời sống văn hóa – tinh thần của người dân Việt một cách nhẹ nhàng, dung dị, thanh tao Nó
không chỉ vẽ nên khung cảnh sinh hoạt lễ hội tưng bừng: “Ví dầu cá bống
xích đu/ Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu” những bức tranh sinh hoạt nơi
đồng lúa, dòng sông, rừng rậm, đồi núi: “Trèo lên thanh trục đứng cao,/ Thấy
lưng em cấy dạ nào không thương”; “Cha chài, mẹ lưới, con câu/ Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò”; “Ngó qua bên núi Tô Châu,/ Thấy cô gánh nước trên đầu cài ghim”… mà đó còn là giọng da diết của kẻ chung tình: “Song song đôi ngọn gươm vàng/ Thác thời chịu thác chứ buông nàng không buông”; giọng thành kính của người con thảo: “Nước trên nguồn đổ xuống/ Cây dưới cội mọc lên/ Ai ơi chữ hiếu lo bền/ Trước đền ơn nước, sau đền mẹ cha”; giọng dịu dàng, thân ái của vợ hiền: “Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh/ Bánh nào trắng bằng bánh bò bông/ Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng/ Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi nhau”, giọng hài hước,
mỉa mai: “Áo dài chẳng nệ quần thưa/ Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”;
“Bao giờ ông Chánh về Tây/ Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn”… Có thể ví ca
dao như một chuyến đò chuyên chở biết bao tình cảm của người dân Việt từ xưa đến nay, cùng với các thể loại văn học dân gian khác, ca dao đã góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn kho tàng văn hóa Việt Nam Theo cách nói của
Nguyễn Thị Bích Hà (2018): “Ca dao có giọt nước mắt và nụ cười, có cả nền
văn hóa Việt thấp thoáng che nghiêng” Có thể nói, những thói quen sinh hoạt
diễn ra trong đời sống hàng ngày của người lao động đều đi vào ca dao
Trong Lời bạt Dân ca miền Nam Trung Bộ, Xuân Diệu khẳng định:
“Những câu ca dao từ Nam chí Bắc như có đất, như có nước, như có cát, có
biển như có mồ hôi người, chúng ta sẽ cảm thấy dần dần tụ lại nơi khóe mắt
Trang 33một giọt ướt sáng ngời Đó là một giọt tinh túy chắt ra từ ruột của non sông”
(Dẫn theo Phạm Thu Yến, 2015)
Từ trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, ca dao đã biểu lộ văn hóa phong tục một cách phong phú Từ góc nhìn này, chúng ta có thể hiểu được “tảng băng trôi” mà phần chìm là giọt tâm hồn, là kí ức lưu giữ trong tâm thức dân gian những phong tục vòng đời, phong tục lễ hội, phong tục thờ cúng tổ tiên
Đặc điểm dân tộc được thể hiện rất rõ trong ca dao của bất kì dân tộc nào, trên cái nền chung ấy, mỗi bài ca dao lại có vẻ đẹp độc đáo riêng, làm nên diện mạo riêng của từng vùng văn hóa Ca dao Nam Bộ vẫn thể hiện đầy
đủ những chủ đề của ca dao Việt Nam Tuy nhiên, vùng đất phương Nam với lịch sử hình thành khá “đặc biệt” đã tạo nên những nét riêng độc đáo trong cách quan sát, cảm nhận, nếp sống, sinh hoạt giao tiếp của lớp người “lưu dân
tứ xứ” Do đó, ca dao Nam Bộ vừa phản ánh tâm hồn phóng khoáng của con người đất phương Nam trong hành trình mạo hiểm khám phá vùng đất mới vừa mang đậm dấu ấn văn hóa phong tục của người Việt ở vùng đất này
1.4 Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát
Trong quá trình sưu tầm tài liệu, chúng tôi nhận thấy có khoảng cách khá lớn trong việc lưu giữ ca dao giữa hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Ở Đông Nam Bộ, chưa có những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao riêng biệt của từng tỉnh nên chúng tôi tìm đọc các công trình địa chí của địa phương, cụ thể:
1 Địa chí Bình Dương (tập 4: Văn hóa – Xã hội), Phan Xuân Biên
(2010), Nxb Chính trị Quốc gia
2 Địa chí Bình Phước (tập 2: Kinh tế – Văn hóa – xã Hội), Lê Hữu
Phước, Giang Văn Khoa (2015), Nxb Chính trị Quốc gia
Trang 343 Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 2: Văn học – Báo chí
– Giáo dục), Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
4 Địa chí Tây Ninh (Chương VI Đời sống Văn hóa – Xã hội), Viện
Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (2006), Sở Văn hóa – Thông tin Tây Ninh
Những công trình này được biên soạn công phu, thuyết minh chi tiết về địa lí, lịch sử, kinh tế đặc biệt là truyền thống văn hóa – văn nghệ địa phương Mục ca dao dân ca được nhắc đến với nội dung chủ yếu là lịch sử vùng đất, vẻ đẹp quê hương và con người Do đó, số lượng ca dao sưu tầm không đáng kể
Kết quả tìm hiểu về ca dao ở Tây Nam Bộ thì khác hẳn, văn học dân gian có một sức sống mạnh mẽ trong lòng người dân xứ này Hầu như, mỗi tỉnh đều có những công trình địa chí ghi nhận lại lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, văn học địa phương Đặc biệt một số tỉnh còn có cả công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian địa phương như Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb TP Hồ Chí Minh Tài liệu gồm 2760 bài ca dao với các chủ đề: tình yêu quê hương đất nước (152 bài); tình yêu nam nữ (1965 bài); tình cảm gia đình (278 bài); tình cảm cha mẹ – con cái (116 bài); các mối quan hệ khác (249 bài) Chúng tôi tuyển chọn được 300 bài ca dao phản ánh phong tục Việt Nam
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản
năm 1994, Nxb Giáo dục Đây là tài liệu giảng dạy cho học sinh THPT tỉnh Tây Ninh Số lượng ca chỉ có 12 bài và chúng tôi chọn được 4 bài phù hợp với nội dung nghiên cứu
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần
Thơ, xuất bản năm 1997 Mục “Ca dao – dân ca” có số lượng ca dao 1003 bài chia theo các chủ đề: quê hương đất nước (36 bài); lao động sản xuất (27 bài);
Trang 35đời sống tình cảm (874 bài); phong tục tập quán và tâm lý xã hội (66 bài) Chúng tôi tổng hợp được 202 bài
Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản
năm 2005, Nxb Trẻ Phần ca dao có nội dung phong phú: ca dao về thiên nhiên, con người (170 bài); ca dao về tình yêu đôi lứa (503 bài); ca dao về tình cảm gia đình, quan hệ xã hội (295 bài); ca dao về thời cuộc (127 bài) Phần hò có hò trên sông (16 bài); hò trên đồng (19 bài); hò đối đáp (13 bài);
hò truyện (18 bài); hò thời sự (44 bài); hò xay lúa (1 bài) Trong 1206 đơn vị tác phẩm, chúng tôi tuyển chọn được 152 bài
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất
bản năm 2006, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Đây là công trình sưu tầm gồm có câu hát góp, hát và hò góp, hò xay lúa, câu hát đối đáp, câu hát huê tình, hò miền Nam Tổng cộng được 2273 bài và chúng tôi chọn được 147 bài
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm
2011, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao là: 676 bài gồm: quê hương đất nước 100 bài; tình yêu đôi lứa 410 bài; hôn nhân gia đình 98 bài; các mối quan hệ khác 68 bài Chúng tôi tổng hợp được
75 bài ca dao từ tuyển tập này
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản
năm 2011, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao có 311 bài, chúng tôi tuyển chọn 138 bài
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất
bản năm 2012, Nxb Trẻ Số lượng ca dao là 478 bài Chúng tôi tuyển chọn được 125 bài
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb Giáo dục, Hà Nội Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao
là 1460 bài được chia theo các chủ đề: ca dao về tình yêu quê hương đất nước
Trang 36và lao động sản xuất; ca dao về tình yêu nam nữ Chúng tôi tổng hợp được
216 bài
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),
xuất bản năm 2015, Nxb Giáo dục, Hà Nội Mục “Ca dao – dân ca” số lượng
ca dao là 1319 bài gồm các chủ đề: quê hương đất nước; lao động sản xuất; tình yêu nam nữ; tình cảm gia đình; các mối quan hệ khác Chúng tôi tuyển chọn được 155 bài
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,
năm 2009, trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, phần sưu tầm điền dã chúng tôi chọn được 8 bài
Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chưa thể tiến hành điều tra điền dã ở các tỉnh của Nam Bộ
Từ thực tế trên, nguồn tư liệu ca dao Nam Bộ chúng tôi khảo sát, nghiên cứu là từ những công trình điền dã công phu, được sắp xếp hệ thống, phân chia cụ thể, chứa đựng giá trị tinh thần quí báu của người dân đất phương Nam như:
Số lượng bài ca dao trong các tài liệu được chúng tôi thống kê theo bảng sau (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ
SƯU TẦM
SL
ca dao (bài)
SL bài trùng
SL dị bản
SL bài không trùng
2 Thơ văn Tây Ninh
3 VHDG Đồng Bằng
Trang 37STT NGUỒN TƯ LIỆU
SƯU TẦM
SL
ca dao (bài)
SL bài trùng
SL dị bản
SL bài không trùng
Trang 38Do tập hợp từ nhiều nguồn tư liệu nên số liệu cuối cùng chúng tôi có được chỉ ở mức độ gần đúng chứ chưa phải là chính xác tuyệt đối Chúng tôi chọn những bài không trùng nhau giữa các tài liệu, khoảng trên 1.188 bài (tính luôn dị bản) Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi tạm phân loại như sau: (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục
Trang 39Tiểu kết chương 1
Mở đầu chương 1, chúng tôi đã giới thiệu một số vấn đề có tính chất khái quát về đất và người Nam Bộ Quá trình hình thành và phát triển vùng đất này đã tạo nên chân dung văn hóa đầy cá tính của vùng đất mới Nam Bộ
Tiếp theo, chúng tôi tổng thuật các giới thuyết về khái niệm ca dao, từ
đó, chúng tôi đưa ra cách hiểu về ca dao Nam Bộ để xác lập đối tượng, phạm
vi nghiên cứu phù hợp với đề tài Đồng thời, chúng tôi đã trình bày khái niệm
về văn hóa phong tục cũng như chỉ ra mối quan hệ của ca dao và văn hóa phong tục để thấy được dòng chảy truyền thống của văn hóa Việt trên mảnh đất phương Nam Những âm điệu du dương, ngọt ngào, ca dao Nam Bộ đã tạo thành “điệu hồn” của dân tộc Nơi đó không chỉ chứa đựng tình cảm của con người mà còn phản ánh những giá trị văn hóa của ông cha Nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn phong tục giúp ta hiểu hơn giá trị truyền thống trong đời sống tinh thần, để trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc
Phần cuối chương, chúng tôi giới thiệu quá trình tìm hiểu, tập hợp nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu Số lượng tác phẩm mà chúng tôi thống kê, sưu tầm, chọn lọc là nguồn tư liệu quí giá để chúng tôi khảo sát, phân tích làm sáng tỏ văn hóa phong tục của người Việt qua ca dao Nam Bộ
Tóm lại, tất cả các vấn đề chung về vùng văn hóa Nam Bộ, ca dao Nam
Bộ cùng việc tổng hợp nguồn tư liệu là tiền đề để hiểu được bản chất của vấn
đề, xác lập cở sở lí luận, từ đó đi sâu vào các nội dung nghiên cứu ở hai chương tiếp theo
Trang 40Chương 2
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC GẮN VỚI
VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI
Phong tục là một nét đẹp góp phần làm nên văn hóa Việt Trên bước đường trường chinh tiến về phương Nam, những lưu dân Việt đã mang theo nét đẹp phong tục văn hóa từ cội nguồn Khi đến Nam Bộ, những phong tục
ấy được bảo tồn và phát triển tạo nên nét đặc sắc riêng của vùng văn hóa mới
Trong chương này, chúng tôi triển khai nghiên cứu ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người qua hai phương diện: hôn nhân và tang ma
2.1 Phong tục hôn nhân
Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì và phát triển gia đình Vì vậy, hôn nhân vừa ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân, liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái của văn hóa tộc người Đối với người Việt hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận hợp pháp về giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa Để thành vợ, thành chồng, cha mẹ đôi bên tiến hành tổ chức hôn lễ cho đôi trẻ Việc tổ chức hôn lễ này trở thành một phong tục đẹp trong văn hóa Việt Nam Theo
tập Biên khảo Nói về miền Nam, cá tính miền Nam và thuần phong mỹ tục
Việt Nam: “Hôn lễ được xem như quan trọng hàng đầu, dính dấp trực tiếp đến việc nối dõi dòng họ, sanh con đẻ cháu, để rồi dân đông, nước mạnh”
(Sơn Nam, 2017)
Quan niệm hôn nhân trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ đã được
phản ánh cụ thể trong ca dao: “Trai trưởng thành định đôi can lệ,/ Gái khôn
rồi đặng chữ vu qui/ Trăm năm có một lần đi,/ Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy chung” Bài ca dao là lời dặn dò về trách nhiệm trong hôn nhân, thấm đẫm
đạo lí của dân tộc Hôn nhân đời người chỉ có một lần nên phải biết giữ gìn