Trong cuốn sách biên soạn, tập hợp các bài phê bình nghiên cứu của các học giả qua nhóm các bài viết thành các vấn đề, theo đó cuốn sách được chia làm 6 phần: phần 1 tập hợp các bài viết
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Thị Minh
THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ SONNET SHAKESPEARE TỪ GÓC NHÌN
KÝ HIỆU HỌC VĂN HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam)
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Chuyên ngành : Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam )
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ THU YẾN
TPHCM, NĂM 2019
Tên thành phố - Năm
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Lê Thu Yến, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này, cũng là người cho tôi học được đức khiêm tốn, nhẫn nại của một người làm khoa học, người mang đến cho tôi cảm giác ấm
áp của sự sẻ chia mỗi khi tôi nản chí Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ và làm điểm tựa tinh thần cho tôi trong suốt quá trình làm luận án
TPHCM, ngày 2 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả được trình bày trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong một công trình nào khác
TPHCM, ngày 2 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KÝ HIỆU HỌC VĂN HÓA VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ THỂ TÍNH TRONG VĂN HỌC THUỘC TRÀO LƯU NHÂN VĂN CHỦ NGHĨA 28
1.1 Ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa với việc nghiên cứu văn học 28
1.1.1 Ký hiệu học 28
1.1.2 Ký hiệu học văn hóa 34
1.1.3 Nghiên cứu văn học từ kí hiệu học văn hóa - một vài định hướng cơ bản 50
1.2 Chủ thể tính trong văn học trào lưu nhân văn chủ nghĩa 68
1.2.1 Khái niệm chủ thể tính 68
1.2.2 Chủ nghĩa nhân văn cùng quan niệm về chủ thể thời Nguyễn Du và Shakespeare 74
CHƯƠNG 2: CHỦ THỂ NỘI QUAN: VẤN ĐỀ THÂN XÁC 80
2.1 Ý thức về chữ thân 80
2.1.1 Thân xác con người trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare 80
2.1.2 Mối quan hệ giữa thân xác và tinh thần 87
2.2 Các kí hiệu của thân xác 99
2.2.1 Tóc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 99
2.2.2 Mắt trong thơ sonnet Shakespeare 116
CHƯƠNG 3: CHỦ THỂ TƯƠNG CHIẾU: NHỮNG SỨC CĂNG TRONG BẢN CHẤT NHỊ NGUYÊN CỦA CON NGƯỜI 131
Trang 63.1 Chủ thể trong quan hệ với cuộc đời 131
3.1.1 Phân biệt “tôi” với “thiên hạ” 131
3.1.2 Hướng về cuộc đời trần thế bằng tinh thần hoài nghi 146
3.2 Chủ thể trong quan hệ với chính mình 156
3.2.1 Hành động soi gương 156
3.2.2 Suy tư về văn chương 165
KẾT LUẬN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiến trình văn hóa, văn học của mỗi dân tộc đến một thời điểm nhất định sẽ kết tinh ở những cá nhân đặc biệt, những con người không chỉ cất lên tiếng nói riêng tư của trải nghiệm bản thân mà còn đại diện cho cả thế hệ mình Nói đến văn học Việt Nam, người ta không thể không nhắc đến Nguyễn
Du, người đi vào huyền thoại với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” đã làm đẹp thêm cho ngôn ngữ dân tộc, đi vào cả câu ca điệu
hò của người bình dân lẫn những suy tư sâu sắc nhất của người trí thức, cũng như nhắc đến văn học Anh là người ta nói đến Shakespeare, bậc thầy ngôn ngữ mang đến rất nhiều cách diễn đạt mới mẻ cho không chỉ thời đại mình mà
cả nhiều thế hệ sau Tính đại diện của Nguyễn Du và Shakespeare cho nền văn hóa dân tộc nơi họ sinh ra là một điều có lẽ không cần bàn cãi Song loài người – loài sinh vật có khả năng tạo ra ý nghĩa và sống trong thế giới ý nghĩa bên cạnh ý thức về tính khu vực, tính dân tộc, còn không ngừng băn khoăn về tính nhân loại Và có lẽ đó là lý do vì sao văn học so sánh bước vào thế giới của diễn ngôn khoa học, tạo điều kiện cho người nghiên cứu có thể đặt những tiếng nói tương đương ở một phương diện nào đó trong các tương quan đa dạng
Văn học so sánh, khởi đầu bằng nghiên cứu ảnh hưởng của Pháp, tiếp nối và mở rộng bằng nghiên cứu song hành của Mỹ, tiếp tục với các nghiên cứu tổng hợp theo tinh thần chống lại “thuyết lấy châu Âu làm trung tâm” (eurocentrism hay Western-centrism) của phái Liên Xô, đang ngày càng phát triển, hòa vào dòng chảy của nghiên cứu văn hóa Đại diện tiêu biểu của trường phái Liên Xô là Konrad Bằng các nghiên cứu của mình, ông đã khẳng định Phục Hưng là một hiện tượng mang tính toàn thế giới chứ không riêng gì
ở châu Âu Mặc dù người viết không hoàn toàn đứng về phía những người
Trang 8cho rằng ở Việt Nam cũng có một thời kì Phục Hưng theo đúng nghĩa như những gì đã diễn ra ở phương Tây thế kỉ 15-17, song có thể nói các phân tích của Konrad đã tạo một tiền đề nhất định cho sự so sánh Nguyễn Du và Shakespeare: con người sống trong điều kiện có sự xuất hiện của đô thị ngay trong lòng xã hội phong kiến, khi các giá trị văn hóa, tư tưởng cũ đang rạn nứt
và đổ vỡ, tiếng nói của họ dễ có những điểm chung đặc biệt với tư cách một chủ thể
1.2 Trong bối cảnh hiện tại, nghiên cứu văn học Việt Nam rất cần mở rộng, hòa nhập với xu thế chung của thế giới Trong đó, nghiên cứu văn học
từ kí hiệu học là một phương pháp nền tảng nhưng chưa thực sự được quan tâm chú ý, chưa có nhiều công trình nghiên cứu có hiệu quả Vậy ký hiệu học
có thể đóng góp gì cho so sánh văn học? So sánh văn học từ ký hiệu học sẽ thấy một vấn đề: các chất liệu âm thanh thì ngôn ngữ nào cũng có, nhưng việc
tổ chức các chất liệu ấy thì khác nhau Các chất liệu tư tưởng, cảm xúc thì cộng đồng nào cũng có, nhưng tổ chức chúng lại khác nhau Cần phân biệt giữa sự tương đồng trên bề mặt với sự tương đồng ở bề sâu Chẳng hạn, sự tương đồng về chủ đề trong sáng tác của một số tác giả trên thực tế lại có nghĩa rất khác nhau theo ký hiệu học Ngược lại, nhìn vấn đề ở bề sâu, người
ta đôi khi lại phát hiện ra những nét tương đồng mà nhìn trên bề mặt chẳng có
gì liên quan đến nhau So sánh văn học từ góc nhìn ký hiệu học mở ra khả năng nhìn vào bề sâu của các đối tượng mà thoạt tiên rất khác biệt Do vậy, so sánh văn học từ ký hiệu học sẽ giúp tránh cái nhìn giản lược trên bề mặt, tìm hiểu vấn đề ở bề sâu và hứa hẹn phát hiện những bản chất ngầm ẩn của hiện tượng
1.3 Người viết có cơ duyên làm việc với đối tượng từ luận văn thạc sĩ, xuất phát từ một so sánh về cảm thức thời gian ở hai tác giả Việc dấn bước tiếp trên con đường đã hé lộ tia sáng dù nhỏ bé mong manh là một thôi thúc
Trang 9thường trực của đam mê gắn liền với công việc của người nghiên cứu và giảng dạy Con đường ấy nhiều chông gai song cũng đầy vẫy gọi Nhiều năm đọc thơ chữ Hán, đọc và dịch sonnet, người viết cũng cảm thấy ký hiệu học là một phương pháp khả hữu vì trước hết nó giúp người đọc thâm nhập vào văn bản, độc lập với các yếu tố ngoài văn bản
Trên đây là những lý do thúc đẩy chúng tôi chọn “Thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa” làm
đề tài cho luận án của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Tác
phẩm của ông (chủ yếu là “Truyện Kiều”) đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Ở Việt Nam, tuy chưa có ngành “Kiều học” hay “Nguyễn Du học” như
“Shakespeare học” ở Anh, song sự quan tâm đến Nguyễn Du hầu như chưa
bao giờ giảm sút, biểu hiện cụ thể của điều này là các hội thảo khoa học về Nguyễn Du, các luận văn, luận án về Nguyễn Du vẫn tiếp tục đều đều xuất hiện qua các năm Song một thực tế cần phải thừa nhận là có sự chênh lệch rất lớn về số lượng, chất lượng các công trình nghiên cứu thơ chữ Hán so với
“Truyện Kiều” Nếu theo đúng nhận định của Mai Quốc Liên trong lời giới thiệu “Nguyễn Du toàn tập, tập 1”: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng
văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa
Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc”* thì sự chênh lệch này rõ ràng là một khiếm khuyết cần phải khắc phục Về các nguyên nhân dẫn đến thực tế này, chúng tôi sẽ bàn đến trong một bài viết khác, ở đây
* Lời nói đầu của Mai Quốc Liên trong “Nguyễn Du toàn tập, tập 1 – Thơ chữ Hán, NXB Văn học, 1996, trang 7”
Trang 10chỉ ghi nhận điều này trước khi đi vào cụ thể các nghiên cứu về thơ chữ Hán
Để thuận tiện cho việc tìm hiểu, chúng tôi phân tài liệu về thơ chữ Hán Nguyễn Du làm 2 dạng: dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác Nguyễn Du nói chung hoặc nói về các vấn đề khác nhưng có đề cập đến thơ chữ Hán; dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán làm đối tượng nghiên cứu chính
Dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác Nguyễn Du nói chung hoặc nói về các vấn đề khác nhưng có nhắc đến thơ chữ Hán
Về dạng tài liệu thứ nhất này, ý kiến đầu tiên có thể kể đến là của
Nguyễn Đăng Thục trong cuốn Thế giới thi ca Nguyễn Du Tác giả đã gợi lại không khí xã hội thời Lê mạt Nguyễn sơ qua các dẫn chứng lấy từ Hoàng Lê
nhất thống chí, từ đó phân tích tâm hồn Nguyễn Du thể hiện qua các sáng tác
của ông Khi nhắc đến thơ chữ Hán, tác giả chủ yếu gắn nó với tâm Thiền như một biện pháp giải thoát của nhà thơ khỏi tình cảnh bế tắc Đây cũng là một cách tiếp cận khá lạ so với đương thời, và bằng các nhận định của mình, Nguyễn Đăng Thục cũng phần nào hé lộ tư tưởng văn hóa trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trong “Chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du”, Đỗ Đức Dục khi tìm hiểu tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Du đã đặt ra vấn đề “để xác định được
đầy đủ thế giới quan của nhà thơ, cần phải xem xét toàn bộ tác phẩm của ông, tức là cả thơ chữ Hán và “Văn tế chiêu hồn”, trong đó tập thơ “Bắc hành tạp lục” có một vị trí đặc biệt quan trọng”* Tìm hiểu “Truyện Kiều” và thơ chữ Hán, ông chỉ ra “…có thể xem Nguyễn Du như người mở đầu cho chủ
nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam Chủ nghĩa hiện thực ở bước đầu đó còn có những hạn chế và mang những đặc thù do điều kiện xã hội – lịch sử và
do thế giới quan của bản thân nhà thơ: nó chưa hoàn toàn thoát ra khỏi ràng buộc của mĩ học phong kiến, nó chưa đạt tới điển hình xã hội mà mới dừng
* Đỗ Đức Dục (1989), Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, trang 57
Trang 11lại ở điển hình tâm lí, nó cũng chịu ảnh hưởng phong cách chung của thời đại
là phong cách trữ tình Cho nên có thể gọi đó là chủ nghĩa hiện thực tâm lí – trữ tình tạo nên cái âm hưởng chủ đạo cho cả nền văn học đương thời”* Tác giả chú ý đến các thay đổi trong tư tưởng Nguyễn Du qua các tập thơ chữ Hán
“…rõ ràng có sự khác biệt giữa hai tập đầu là “Thanh hiên thi tập”, “Nam
trung tạp ngâm” với tập cuối là “Bắc hành tạp lục” Trong hai tập trên, nói chung, hầu hết chỉ là những bài thơ trữ tình nói lên tâm sự riêng của Nguyễn
Du trong cảnh đầu bạc, ốm đau, lưu lạc, xa anh em, nhớ quê hương, và nhất
là cái tâm tư u uất khôn nguôi của nhà thơ, của một con người có tài năng mà cảm thấy mình rất bất lực, không làm được việc gì cho đời Chỉ đến “Bắc hành tạp lục” mới xuất hiện rất nhiều bài thơ kí sự, hoặc nửa trữ tình nửa kí
sự trong đó Nguyễn Du nói lên dõng dạc, đanh thép ý kiến của mình phê phán, đánh giá những nhân vật, sự kiện, những vấn đề chính trị, xã hội quá khứ cũng như đương thời”† Ông nhấn mạnh tư tưởng “tài mệnh tương đố” ở Nguyễn Du, xem xét các tác phẩm của Nguyễn Du như một quá trình dưới tác động của hiện thực Vấn đề có hay không nên dùng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực” để gọi tên một xu hướng trong văn học trung đại còn gây nhiều tranh luận, song tác giả cũng đã thể hiện một tinh thần làm việc nghiêm túc trong thế đối thoại với những người nghiên cứu cùng thời và trước đó Đây là một điều đáng ghi nhận
Trong cuốn Loại hình học tác giả văn học: Nhà Nho tài tử và văn hóa
Việt Nam, Trần Ngọc Vương xếp Nguyễn Du vào loại hình nhà Nho tài tử
cùng với Phạm Thái, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà… và lí giải sự xuất hiện của loại hình tác giả này trong một thời điểm đặc biệt: cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX khi mọi thay đổi to lớn diễn ra trên tất cả các phương diện: quan niệm văn học, tư tưởng thẩm mĩ, hệ thống chủ
* Đỗ Đức Dục, tlđd, trang 104
† Đỗ Đức Dục, tlđd, trang 112
Trang 12đề đề tài, hình tượng văn học trung tâm, hệ thống thể loại, ngôn ngữ văn học Tác giả lấy Nguyễn Du (bên cạnh Cao Bá Quát) là điển hình tiêu biểu cho
kiểu “nhà nho coi văn chương (hiểu theo nghĩa sáng tác văn học) là sự
nghiệp chính của đời mình” (108 - 109) Ông có cách phân tích cụ thể, thấu
đáo “Tuy làm quan đến bậc đại thần, Nguyễn Du vốn xuất chính bằng một
chức quan võ nhỏ Ông không có cái vinh quang đạt được bằng con đường quen thuộc là đỗ đạt cao trong các kí thi, sự nghiệp cai trị, hoạn lộ cũng không có thành tựu gì nổi bật Không thấy ông trăn trở nhiều theo hướng
“kinh bang tế thế” hay “trí quân trạch dân” Là “trai thời loạn” như những chàng trai trẻ tuổi nhiều tham vọng của thời đại mình, ông cũng ít nhiều tự vấn, tự thán về “chí làm trai” nhưng nổi bật hơn cả, rõ rệt hơn cả, ở ông, lại
là ý thức về tài năng văn chương và cùng với nó, là khả năng sống chết với tài năng đó Thơ chữ Hán của ông phản ánh khá rõ rệt điều đó”* Trần Ngọc Vương là người đi tiếp con đường của Trần Đình Hượu, đặt văn học Việt Nam trong chỉnh thể văn hóa Ông đã làm rõ một khái niệm do thầy mình đặt
ra – khái niệm “nhà Nho tài tử” và phần nào chứng minh đây là một hiện
tượng mang tính quy luật của cả vùng văn hóa Đông Á chịu ảnh hưởng Nho giáo Cách đặt vấn đề của ông rất thú vị và cho chúng tôi nhiều bài học kinh nghiệm quý báu
Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, khi
nói về sự vận động, phát triển của con người trong thơ, đã xuất phát từ một
đặc điểm văn hóa của thời đại “đô thị phát triển, dù là đô thị theo kiểu
phương Đông, gắn với trung tâm chính trị và đời sống kinh tế nông nghiệp, thì cũng tạo một môi trường cho ý thức thị dân phát triển, làm nảy sinh tư tưởng tự do, hưởng lạc Đến lượt mình tư tưởng ấy lại làm thay đổi diện mạo
* Trần Ngọc Vương (1995), Loại hình học tác giả văn học – Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB GD,
trang 110
Trang 13văn học”* từ đó lí giải sự thay đổi quan niệm về con người cá nhân Tác giả
lấy Nguyễn Du làm một trường hợp tiêu biểu “…cùng với ý thức về quyền
sống, ý thức về số phận con người được nêu cao Những nỗi buồn, nỗi oán hận trong các số phận oan trái trở thành niềm day dứt, thổn thức của nhà thơ Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh, khóc ca nữ La Thành, khóc người đánh đàn ở Thăng Long… Cả mấy tập thơ chữ Hán của ông đều là tiếng khóc than cho đời người bị phôi pha, tan nát, oan uổng”† Các nhận định trên là những gợi ý cho chúng tôi trong việc nghiên cứu Nguyễn Du từ góc nhìn văn hóa, cần luôn đặt nhà thơ trong dòng chảy của văn học dân tộc có tính đến các đặc điểm riêng biệt của từng thời kì
Trong một đề tài khá hiếm phân tích Nguyễn Du từ cái nhìn so sánh,
luận án tiến sĩ Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về
tư tưởng nghệ thuật, tác giả Hoàng Trọng Quyền đã so sánh Nguyễn Du –
Đỗ Phủ trên các phương diện quan niệm sáng tác, cảm quan hiện thực, tư
tưởng nhân văn, cảm hứng chủ đạo để thấy “hành trình tư tưởng thơ của các
tác giả là con đường tiến đến bản chất hiện thực (…) Trong diễn tiến tư tưởng nghệ thuật của các nhà thơ, các yếu tố tích cực của Nho, Phật, Lão có những ảnh hưởng nhất định nhưng chính hiện thực cuộc đời mới là yếu tố đóng vai trò quyết định”‡ Tác giả cũng lí giải về những điểm tương đồng và
về tư tưởng nghệ thuật của hai nhà thơ lớn này, có phần là do ảnh hưởng của
Đỗ Phủ đến Nguyễn Du, phần do tương đồng về thời đại, hoàn cảnh sống
cũng như khí chất “đồng thanh tương ứng”, “đồng bệnh tương liên” giữa hai
người Các dẫn chứng dùng để phân tích phần lớn là thơ chữ Hán, song
* Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 188
† Trần Đình Sử (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB GD, trang 190
‡ Hoàng Trọng Quyền (2005), Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về tư tưởng nghệ thuật, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm TPHCM, trang 201
Trang 14Hoàng Trọng Quyền chủ yếu dùng bản dịch thơ Do đặc trưng của đề tài, ông không đối chiếu với nguyên tác và cũng ít quan tâm đến nghệ thuật ngôn từ thơ
Bên cạnh đó, có một dạng tài liệu thường lấy chất liệu từ thơ chữ Hán,
đó là các sách viết về tiểu sử Nguyễn Du Dạng sách này thời gian gần đây có
xu hướng tăng lên Các cuốn tuy viết đã lâu song viết kĩ và có nhiều giá trị
tham khảo, thường được nhiều người nhắc đến là “Nguyễn Du – người tình và
Nguyễn Du – tình người” của Bùi Văn Nguyên, “Nguyễn Du” của Nguyễn
Lộc Các tác giả văn học trung đại Việt Nam, cho đến tận Tản Đà ở cuối thế
kỉ XIX, thường có ý thức phân biệt rất rõ hai mảng sáng tác của mình: một
loại được họ gọi là “văn chơi” và loại kia là “văn vị đời”, loại thứ nhất viết
bằng chữ Nôm và loại thứ hai viết bằng chữ Hán Khi cần viết về những vấn
đề nôm na bình dị trong cuộc sống, họ chọn ngay chữ Nôm – thứ chữ viết dân tộc mộc mạc, có thể biểu đạt trực tiếp suy nghĩ, tình cảm con người Song khi cần kí thác tâm sự, nói những vấn đề nghiêm túc, dường như thứ chữ Hán trang trọng cùng các thể loại được quy định chặt chẽ mới giúp họ vừa thổ lộ tâm tình, vừa khéo léo kín đáo giấu chúng đi dưới điệp trùng quy phạm, ước
lệ Nguyễn Du cũng không nằm ngoài quy luật này, ông nói về “Truyện
Kiều”: “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh”,
song trong thơ chữ Hán ông lại rất chân thành thể hiện con người thật của mình: con người hùng tâm tráng chí khi còn trẻ, con người đau đớn nỗi đau thất bại, tuyệt vọng trong hành trình sống Có lẽ thấu hiểu điều này, các nhà nghiên cứu khi viết tiểu sử Nguyễn Du khi cần lấy dẫn chứng cho các dẫn dắt của mình thuyết phục, có chiều sâu, họ đều sử dụng thơ chữ Hán để minh họa Điều này một lần nữa khẳng định mối quan hệ của thơ chữ Hán với các chặng đường đời, các tâm sự sâu kín của nhà thơ Cũng theo xu hướng nghiên cứu văn chương gắn với tiểu sử này là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 15“Nguyễn Du và con đường hoạn lộ qua thơ chữ Hán” Tác giả lần theo con
đường làm quan của Nguyễn Du để tìm hiểu tâm sự của nhà thơ về thời thế,
về bản thân, về phận người Tất nhiên, ta cần phân biệt giữa con người đời thực với nhân vật trữ tình trong thơ, với hình tượng tác giả - người kể Song các tư liệu trên cũng đã cung cấp nhiều cứ liệu quan trọng giúp khớp nối các yếu tố tiểu sử giúp hiểu đúng, hiểu sâu hơn văn bản
Dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán làm đối tượng nghiên cứu chính
Về dạng tài liệu thứ hai, chúng tôi lại chia ra các bài viết lẻ và các sách
chuyên luận Về các bài viết, có thể kể đến: Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm
sự của nhà thơ của Nguyễn Lộc, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán của Hoài Thanh, Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán của
Xuân Diệu, Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán của Nguyễn Huệ Chi, Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán của Trương Chính, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Du trong
những bài thơ chữ Hán của Đào Xuân Quý, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của
Mai Quốc Liên… Các bài viết đều đưa ra những nhận định khái quát về thơ
chữ Hán Nguyễn Du, khẳng định bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán là một
cứ liệu quan trọng nếu muốn thực sự đi sâu vào thế giới tâm hồn, thấu hiểu những suy tư kín đáo của Nguyễn Du Các tác giả đã phần nào chỉ ra, lí giải
thực chất cái gọi là “tâm sự hoài Lê” cùng thái độ chính trị phức tạp trong thơ
cụ Nguyễn Tiên Điền Dù có khi bất đồng ở chỗ này chỗ khác, các ý kiến trên thống nhất với nhau ở một điểm: khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo cùng nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của thơ chữ Hán, xem đây như một kho báu còn chưa được khai thác hết và vẫn hứa hẹn những điều bất ngờ
Hai vấn đề đặc biệt được các tác giả quan tâm gồm thứ nhất là cái tôi trữ tình của nhà thơ và thứ hai là các nhân vật được miêu tả trong thơ chữ Hán Cả hai đối tượng này lại được các nhà nghiên cứu soi chiếu trong mối
Trang 16quan hệ với thời đại Nguyễn Du sống, thời mà theo Nguyễn Huệ Chi “là một
thời kì giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau Trong đời sống tư tưởng của xã hội, từng mảng nhỏ của hệ thống giáo lí phong kiến cơ
hồ bị bung ra, bị lật xáo đến gốc, tạo nên không ít những cuộc khủng hoảng tinh thần Chiến thắng hiển hách của nông dân khởi nghĩa, rồi sự phục thù của những thế lực phản động, sức vang dội của những yêu cầu tự do và công
lý rồi việc lập trở lại một trật tự phong kiến đen tối vào bậc nhất… Tất cả những điều trái ngược đó khiến cho không khí thời đại càng thêm phức tạp, với những màu sắc phấn khởi và tuyệt vọng, lạc quan và bi quan, lẫn lộn”* Các nhà nghiên cứu lưu tâm chỉ ra các kiểu nhân vật được Nguyễn Du miêu tả trong thơ chữ Hán: người có tài có tình mà bất hạnh, người trung nghĩa bị gian thần hãm hại, người dân nghèo khổ hạnh đáng thương… Có giá trị tham khảo đối với chúng tôi hơn cả là các khía cạnh trong con người Nguyễn Du
qua thơ chữ Hán Theo Nguyễn Huệ Chi, “Nguyễn Du không phải con người
hành động mà là con người tư tưởng”† còn theo Xuân Diệu “Tập thơ chữ Hán
đựng đầy cái uất ức của Tố Như; như trên tôi đã nói: thơ trong này để lại cảm giác chung một buổi chiều thu tê tái Buổi chiều đó là xã hội phong kiến
ở Việt Nam, ở Trung Quốc, phản ánh trong tâm hồn Nguyễn Du”‡ Trương Chính thì nhấn mạnh sự phức tạp trong tâm sự Nguyễn Du và đề xuất phải xem xét tâm sự ấy từ nhiều khía cạnh, nhất là từ thơ chữ Hán
Ngoài ra có một số bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du trở thành đối tượng
được quan tâm trong các nghiên cứu phê bình, bình luận như các bài “Sở kiến
hành”, “Long Thành cầm giả ca”, “Phản chiêu hồn”, “Độc Tiểu Thanh kí”…
Các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu các tác phẩm này thường nghiên cứu từ góc
* Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và giới thiệu (1992), Nguyễn Du, NXB Tổng hợp Khánh Hòa, trang 112
† Vũ Tiến Quỳnh, tlđd, trang 115
‡ Nhiều tác giả (2011), Nguyễn Du tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, trang 177
Trang 17độ cảm hứng sáng tác, chỉ ra lòng thương mình, thương người thương đời của
nhà thơ Đặc biệt, riêng tác phẩm “Độc Tiểu Thanh kí” được nhiều nhà nghiên
cứu đánh giá là một trong các bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du Đáng chú ý là đã có nhiều người khám phá vẻ đẹp ngôn từ, chữ nghĩa, thể loại
của bài thơ này và có nhiều nhận xét có giá trị
Về các sách chuyên luận, có thể nói đến thời điểm hiện tại, công trình công phu, chi tiết về các khía cạnh nghệ thuật thơ chữ Hán phải kể đến là luận
án tiến sĩ Ngữ Văn của Lê Thu Yến: Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán
Nguyễn Du Trên cơ sở xử lí những vấn đề liên quan đến văn bản thơ, tác giả
xem xét thơ chữ Hán Nguyễn Du từ góc độ thi pháp trên các phương diện: hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ Tác giả, qua quá trình khái quát nghệ thuật đã đi đến định danh các kiểu hình tượng con người trong thơ Nguyễn Du theo những gì bộc lộ ra từ tâm hồn họ: con người lãng mạn, con người lo âu, con người đau khổ; gọi tên các kiểu thời gian: thời gian úa tàn, thời gian kí ức, thời gian khoảnh khắc; dựng lại các mô hình không gian: không gian nhỏ hẹp, không gian rộng lớn Trong phần ngôn ngữ, tác giả phân tích các kiểu câu, các loại từ được sử dụng trong thơ chữ Hán để thấy nét riêng của Nguyễn Du
Công trình gần đây nhất về thơ chữ Hán là cuốn Đọc và dịch thơ chữ
Hán của Thảo Nguyên Bên cạnh các bài dịch thơ, tác giả cũng đưa ra một số
lời bình chú có phần nghiệp dư nhưng nếu chú ý ta sẽ thu được một vài suy ngẫm thú vị
Như vậy, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du có thể
nói khá nhiều, song mối quan tâm chính của các tác giả là “Truyện Kiều”,
mối quan tâm dành cho thơ chữ Hán giữ vị trí khiêm tốn hơn Trong các công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán, các tác giả chủ yếu nghiên cứu khía cạnh nội dung rồi quy chiếu đến hiện thực huyền thoại hoặc theo lối miêu tả, phẩm
Trang 18bình, cảm thán Nghiên cứu thơ chữ Hán từ góc nhìn ngôn ngữ - kí hiệu học hầu như rất hiếm Đặc biệt, nhiều tác giả có xu hướng đồng nhất chủ thể trữ tình – một hình tượng được sáng tạo bằng ngôn ngữ trong thơ và Nguyễn Du với tư cách là một nhân vật lịch sử Nhiều tác giả chủ yếu nhìn ngôn ngữ của Nguyễn Du ở tầng thứ nhất là ngôn ngữ tự nhiên mà chưa đi sâu vào tổ chức của nó ở tầng thứ hai với tư cách là ngôn ngữ thứ cấp, ngôn ngữ được mã hóa nhiều lần, xếp chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên Đây là điều mà chúng tôi sẽ
cố gắng thực hiện trong luận án
2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ sonnet Shakespeare
Chúng tôi cũng phân chia tài liệu về thơ sonnet Shakespeare thành hai loại: tài liệu bằng tiếng Việt và tài liệu bằng tiếng Anh Các tài liệu bằng tiếng Việt rất ít ỏi và chủ yếu mang tính chất giới thiệu, nên chúng tôi cũng không bàn đến vấn đề phương pháp Riêng đối với mảng tài liệu bằng tiếng Anh, vì khá phong phú và có nhiều bài viết chuyên sâu, chúng tôi cũng sẽ đề cập đến hai vấn đề: nội dung văn hóa và phương pháp nghiên cứu sonnet Shakespeare
Tài liệu bằng tiếng Việt
Sonnet là thể thơ rất phổ biến ở phương Tây nhưng ở Việt Nam, thể thơ này chưa thực sự được biết đến một cách rộng rãi Shakespeare nổi tiếng ở Việt Nam từ cách đây hơn một thế kỉ, tuy nhiên người ta biết đến ông chủ yếu với tư cách là nhà viết kịch Đến nay hầu hết các tác phẩm kịch của ông đã được dịch ra tiếng Việt, còn sonnet Shakespeare thì vẫn chưa có bản dịch nghĩa nào mà chủ yếu là dịch thơ* Tài liệu bằng tiếng Việt về thơ sonnet Shakespeare do vậy càng hiếm hơn nữa Tài liệu sớm nhất mà chúng tôi tìm
được là cuốn Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh của tác giả Đỗ Khánh
Hoan – Trưởng ban văn hóa Anh – Mĩ Đại học Văn khoa Sài Gòn, xuất bản lần đầu năm 1971, được sửa chữa và in lần thứ hai năm 1974 Trong cuốn
* Tuyển tập Shakespeare in năm 2006 cũng chỉ có kịch
Trang 19sách này, tác giả đã phân tích quá trình lịch sử của ngôn ngữ Anh, nêu lên một cách khá đầy đủ các hình thức thi ca Anh, trong đó có sonnet mà ông gọi là
thể “thập tứ hàng thi” Khi nhận xét sơ bộ tiến trình phát triển của thể sonnet, ông có nhiều nhận định đáng chú ý: “Thập tứ hàng thi (Anh) kiểu
Shakespeare và thập tứ hàng thi kiểu Milton là những biến đổi đầy tính cách thí nghiệm đã được công nhận, bởi vì có nhiều bài thơ giá trị đã được sáng tác theo khuôn khổ này; tuy nhiên, nếu không có Shakespeare và Milton chắc
uy tín của chúng chưa hẳn lộng lẫy như thế”* Tác giả cũng khẳng định:
“Cũng như trong các kịch phẩm, qua tập thập tứ hàng thi gồm 154 bài,
Shakespeare tỏ ra hiểu cuộc đời, hiểu trái tim con người hơn ai hết Thêm vào
đó ông đã sử dụng một thứ ngôn từ thật thi vị đơn giản nhưng trau chuốt Không kể 37 kịch phẩm bất hủ, riêng thi phẩm này đã đủ đưa Shakespeare lên hàng thi hào của Anh quốc”† Do giới hạn của một cuốn sách khái quát về một đối tượng thuộc phạm vi rộng, tác giả không đưa ra dẫn chứng, cũng không phân tích, song các nhận xét của ông đã giúp chúng tôi rất nhiều trong bước đầu tìm hiểu sonnet Shakespeare Tài liệu thứ hai có thể kể đến là cuốn
W Secxpia thơ xônê chọn lọc của dịch giả Thái Bá Tân Tác giả đã chọn
dịch 77 bài sonnet tiêu biểu của Shakespeare kèm theo lời giới thiệu nhiều tâm huyết Trong phần này, Thái Bá Tân có giới thiệu sơ bộ về hình thức, bố cục và những yêu cầu nghiêm nhặt đã trở thành bắt buộc của thể sonnet cùng
quá trình phát triển của nó và đi vào sonnet Shakespeare : “Nhìn chung, mặc
dù chủ đề xen kẽ nhau khá phức tạp, đại khái ta có thể chia toàn tập 154 bài xônê của Shakespeare thành hai phần lớn – một phần nói về người bạn, và phần kia nói về người yêu Cụ thể hơn, có thể chia thành từng nhóm như sau:
- Từ xônê 1 đến xônê 26: ca ngợi vẻ đẹp của bạn, thuyết phục bạn lấy
vợ, có con để truyền lại vẻ đẹp ấy cho các thế hệ sau
* Đỗ Khánh Hoan (1974), Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh, Nxb Ba Vì, trang 117
† Đỗ Khánh Hoan, tlđd, trang 119
Trang 20- Từ xônê 27 đến xônê 32: nỗi buồn xa cách
- Từ xônê 33 đến xônê 42: những nghi ngờ và rạn nứt đầu tiên trong tình bạn
- Từ xônê 43 đến xônê 75: nỗi buồn và lo sợ
- Từ xônê 76 đến xônê 96: lòng ghen tuông và đố kị đối với các nhà thơ khác
- Từ xônê 97 đến xônê 99: mùa đông của sự chia li
- Từ xônê 100 đến xônê 126: niềm vui của tình bạn được khôi phục
- Từ xônê 127 đến xônê 127 đến xônê 152: tình cảm mâu thuẫn của nhà thơ đối với người yêu: “the Dark Lady”
- Hai bài 153 và 154 là hai xônê kết, ít liên quan đến toàn bộ “cốt truyện”, chủ yếu phỏng theo các bài xônê cổ điển có trước”* Nhà nghiên cứu
cũng chia sẻ những khó khăn trong quá trình đến với tác phẩm để thấy: “Cho
đến nay chưa hề có bản dịch thơ Sêxpia nào ra tiếng Việt, nghĩa là chúng ta hoàn toàn chưa biết đến một Sêxpia khác cũng vĩ đại như Sêxpia kịch, đó là Sêxpia thơ trữ tình Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản nhất là ở chỗ dịch thơ xônê của Sêxpia rất khó, hầu như vượt ra ngoài khả năng của người dịch, ngay cả những người dịch tài năng và kinh nghiệm.”†
Có thể nói trong tình hình tư liệu tiếng Việt còn ít ỏi, cuốn sách của Thái Bá Tân cùng các bản dịch thơ của ông là một nỗ lực đáng quý đưa thơ sonnet đến với độc giả Việt Nam
Tài liệu bằng tiếng Anh
Đối với dạng tài liệu này, chúng tôi cũng chia thành hai dạng: các bài viết lẻ đăng trên tạp chí và các sách chuyên khảo
Về dạng tài liệu thứ nhất, chúng tôi thu thập từ hai nguồn: tạp chí
* Thái Bá Tân (dịch) (1995), W Sexpia – Thơ xônê chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội, trang 14-15
† Thái Bá Tân, tlđd, trang 17
Trang 21Shakespeare Association*) và tuyển tập phê bình sonnet Shakespeare qua các thời đại do James Schiffer biên tập Theo đó, các tác giả chú ý đến một số vấn
đề sau:
Một là trình tự sắp xếp các bài sonnet Đây là nội dung chính trong bài viết của Cathy Shrank đăng trên tạp chí Shakespeare tập 5, số 3 năm 2009 Thơ sonnet Shakespeare lần đầu được xuất bản năm 1609 tại Luân Đôn dưới
tên là “SHAKE-SPEARES SONNETS”, bìa sách ghi “chưa từng được in trước
đó”, bên trong là 154 bài thơ theo trình tự từ sonnet 1 đến sonnet 154 Nhưng
vào năm 1640, John Benson xuất bản một cuốn sách dưới cái tên
“Shakespeare’s Poems”, ông đã sắp xếp lại các bài sonnet (nhập nhiều bài
thành các bài thơ dài hơn), thêm vào các tiêu đề mô tả và công bố cùng cùng với các bài thơ không được xem là do Shakespeare viết, ở phần phụ lục ông
còn thêm vào các bài thơ mà ông viết là “do các quý ông khác viết” bao gồm
các bài thơ của Ben Jonson, John Milton, Francis Beaumont và Robert Herrick Cuốn sách đã bị rất nhiều người chỉ trích là cắt xén, sửa đổi nguyên tác và bị cho là không có giá trị Nhưng theo Cathy Shrank, nhiều người đã chưa đánh giá đúng được giá trị của cuốn sách này Cathy Shrank cho rằng
thực ra cuốn sách là “một cách đọc sonnet Shakespeare” Các nhà kí hiệu học
Tartu – Moscow khi nghiên cứu văn bản từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa rất
quan tâm đến một khái niệm mà họ gọi là “khung” của tác phẩm Nó liên
quan đến bìa sách, lời đề tựa, phần mở đầu và phần kết thúc…, cho nên sự sắp xếp các yếu tố trong văn bản cũng là một vấn đề rất quan trọng Khi chọn nghiên cứu sonnet, đương nhiên chúng tôi chọn bản in đầu tiên được nhiều
* “Hiệp hội Shakespeare Anh” – tên viết tắt BSA, được thành lập năm 2002, là một hiệp hội chuyên nghiệp,
một tổ chức tự nguyện cống hiến cho việc học tập, thực hành và thưởng thức Shakespeare trên toàn lãnh thổ nước Anh Hiệp hội có một tập san chuyên ngành - được đánh giá là tập san hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về Shakespeare, số đầu tiên ra năm 2005, xuất bản online 4 lần 1 năm và ra bản in mỗi năm 1 lần Các bài viết về sonnet Shakespeare mà chúng tôi thu thập được chủ yếu là từ tập san chuyên ngành này
Trang 22người đồng thuận Song cách nghĩ của Cathy Shrank cũng là một kiến giải độc đáo, đưa ra nhiều gợi ý hay Nó cũng cho thấy một thực tế: việc nghiên cứu Shakespeare ở thời nào cũng có khả năng sinh ra các hiện tượng thú vị, Shakespeare đã lôi cuốn các thế hệ, các nền văn hóa không thuộc về mình, đến mức người ta gọi đó là “nghiên cứu văn hóa Shakespeare” (Shakespearean cultural studies)
Vấn đề thứ hai cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm là vấn đề
truyền thống trong các bài sonnet Chữ “truyền thống” (tradition) ở đây bao
gồm cả truyền thống tư tưởng lẫn truyền thống văn chương Sonnet Shakespeare không tách rời thời đại Phục Hưng khi mà niềm tin vào thần thánh, nhà thờ đang có nguy cơ đổ vỡ, các nhà tư tưởng, bên cạnh việc phục hồi các giá trị của nền văn minh Hy Lạp, cũng đặt niềm tin sâu sắc vào con người, vào tình yêu, vào tất cả những gì hiện hữu Sonnet Shakespeare đồng thời không tách rời hệ đề tài, lối biểu đạt của cội nguồn của nó – sonnet Ý cùng các nhà sáng tác sonnet Anh đi trước Chỉ có điều, đến ông, tất cả đều đạt độ kết tinh Và đây là một yếu tố bộc lộ khía cạnh văn hóa trong sonnet Shakespeare Vì văn hóa là kí ức cộng đồng bao gồm cả ý thức và vô thức, tác phẩm là một thông điệp dồn nén trong nó các trầm tích văn hóa Cũng giống như con người không thể sống tiếp mà không có quá khứ, cái mới chỉ có thể hình thành trên nền tảng của cái cũ
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến một số vấn đề khác như vần, nhịp, nhạc tính của thơ* cùng các nhân vật bí ẩn “a young man” và “a
sensual woman” là đối tượng mà Shakespeare muốn gửi gắm, nhắn nhủ trong
các bài thơ của mình Đặc biệt, vấn đề được xem như hiện tượng văn hóa thời
* Sonnet từ Ý vào anh đã có nhiều thay đổi về vần, nhịp, bố cục để thích nghi với ngôn ngữ và đôi tai thẩm âm của người Anh, trong đó Shakespeare là người có công lớn tạo nên phong cách riêng của sonnet Anh Cho nên, ông không phải người đầu tiên viết sonnet theo kiểu Anh, nhưng sau này người ta vẫn gọi sonnet Anh là sonnet kiểu Shakespeare để phân biệt với sonnet theo kiểu Ý
Trang 23đại – vấn đề đồng tính luyến ái trong sonnet cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm
Bên cạnh đó là rất nhiều các nghiên cứu chỉ quan tâm riêng đến một bài sonnet nào đó, tập trung khám phá giá trị nghệ thuật, nội dung của nó Theo Harold Bloom, ba bài sonnet có vị trí then chốt trong sonnet Shakespeare là sonnet 3, sonnet 64 và sonnet 116 Còn các bài sonnet hay được nhắc đến nhất
là sonnet 20, sonnet 134, sonnet 135, sonnet 136
Về dạng tài liệu thứ hai, các tác giả khi viết chuyên luận về sonnet Shakespeare thường có hai xu hướng: phân tích sonnet theo chủ đề và đi chi tiết cụ thể từng bài Tiêu biểu cho xu hướng thứ nhất là Dympna Callaghan, Michael Schoenfeldt cùng một số người khác; tiêu biểu cho hướng thứ hai là
Helend Vendler Trong cuốn “Shakespeare’s Sonnets”, Dympna Callaghan,
như ông tự bộc bạch, tập trung vào văn bản tác phẩm hơn là các vấn đề xung quanh tác giả Ông đặc biệt chú ý đến các vấn đề nổi trội trong sonnet như
“cái đẹp”, “tình yêu” và “thời gian” Ông cũng có ý thức đi tìm khuôn mẫu
của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm ở các hình mẫu thời đại, nằm trong truyền thống văn hóa phương Tây và so sánh Shakespeare với các nhà thơ trước đó, đặc biệt là Petrarch Nói chung, đây là một cuốn sách dễ đọc, cung cấp cho người đọc các kiến thức chung nhất về sonnet, nó được xem là cuốn sách nhập môn khi muốn bước vào thế giới sonnet Shakespeare Trong cuốn sách biên soạn, tập hợp các bài phê bình nghiên cứu của các học giả qua
nhóm các bài viết thành các vấn đề, theo đó cuốn sách được chia làm 6 phần: phần 1 tập hợp các bài viết về hình thức, cấu trúc sắp xếp các bài sonnet, phần
2 bàn về mối quan hệ giữa sonnet Shakespeare và sáng tác của các nhà thơ trước ông, phần 3 nói về các lí thuyết biên tập và tiểu sử, phần 4 dành nói về
* Chi tiết xin xem: “A Companion to Shakespeare’ Sonnets” (Michael Schoenfeldt)
Trang 24các bản chép tay và bản in sonnet qua quá trình lịch sử, phần 5, 6 và phần 7 dành nói về ba chủ đề chính trong sonnet: các mô hình của ham muốn, ý niệm
về bóng tối, kí ức trong sonnet Các phần còn lại nói về mối quan hệ của sonnet Shakespeare với các vở kịch và trường ca khác của ông Việc nhóm các tác giả với cách viết, quan điểm khác nhau theo cùng một chủ đề của người biên tập đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc có được cái nhìn đa
chiều về các vấn đề trong sonnet Trong Shakespeare’s Sonnets, Tiến sĩ
James K Lowers thuộc Đại học Hawaii có đưa ra những kiến giải về các vấn
đề cơ bản nhất của sonnet Shakespeare: thời điểm sáng tác (date of composition); trật tự và cách sắp xếp (order and arangement); các nghi vấn mang tính tự truyện (question of autobiography) liên quan tới các nhân vật
“the fair young man”, “the dark lady”, “the rival poet”; các chủ đề nổi trội
(dominant themes) và tập hợp các bài phê bình hay của các nhà nghiên cứu Tác giả xem ba trong số các chủ đề nổi trội của sonnet Shakespeare là sự bất
tử qua thế hệ sau (immortality through offspring), sự bất tử qua thơ ca (immortality through verse), sự bất tử qua tình yêu (immortality through love)
Công trình nghiên cứu công phu và kĩ lưỡng về thơ sonnet Shakespeare được nhiều người nhắc đến là của Giáo sư Đại học Harvard Helen Vendler:
The Art of Shakespeare’s Sonnets Trong cuốn sách này, bằng việc diễn giải
chi tiết 154 bài sonnet của Shakespeare, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hình tượng được ẩn giấu và đặc điểm phong cách các bài thơ, nêu lên được những tầng nghĩa quan trọng trong mỗi dòng thơ cũng như cách các phần kết hợp với nhau để tạo ra ý nghĩa Trước khi đi vào từng bài thơ, tác giả cũng dành một phần giới thiệu kĩ lưỡng về cấu trúc, giọng điệu của sonnet, về Shakespeare như một người kể chuyện, một nhà thơ Phương pháp của Helend Vendler khá
đa dạng, song chủ yếu là phương pháp phân tích ngôn ngữ học của chủ nghĩa
Trang 25cấu trúc Đây là một cuốn sách khó đọc song rất lí thú và có giá trị về phương pháp luận
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu về sonnet từ góc nhìn
kí hiệu học
Các nghiên cứu về sonnet từ góc nhìn ký hiệu học
Shapiro đặt ra vấn đề thơ Shakespeare đầy những sự trùng điệp âm thanh và chơi chữ, song câu hỏi về mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong sonnet thì vẫn chưa được trả lời, một phần vì chưa có một phương pháp để chỉ ra được là có
sự tương ứng như thế tồn tại Ông dựa vào sự phân biệt giữa các chuỗi âm
với các ý nghĩa chỉ sự tự do và ràng buộc, và khẳng định mối quan hệ giữa âm
và nghĩa vì thế mang tính hình hiệu Ông nhận định, trong số các tác phẩm của Shakespeare, ngoại trừ Hamlet, sonnet là tác phẩm được bàn đến nhiều nhất, song chưa có tác phẩm nào trả lời được cho câu hỏi: liệu âm có phải là tiếng vọng của nghĩa hay không Ông dẫn ra một vài nghiên cứu và chỉ ra các tác giả chưa chứng minh được sự song hành về âm có vai trò gì trong việc kiến tạo ý nghĩa mà theo các phân tích trước đó, nó chỉ như một thứ trang sức cho lời thơ hoặc phục vụ cho các hình thức song hành về cú pháp và ý nghĩa Tác giả bỏ qua nguyên âm vì các nguyên âm đương nhiên vang và mở, sau nguyên âm là đến các sonorant và sau đó mới đến các obstruent Bằng cách đếm số đơn vị sonorant (SUs) trong bài thơ rồi chia cho tổng số âm tiết, tác giả tìm được thương số thanh tính (sonority quotient - SQ) của tác phẩm
* Michael Shapiro (1998), Sound and Meaning in Shakespeare’s Sonnets, Linguistic Society of America,
Vol 74, No 1 (Mar., 1998), pp 81-103 Nguồn: https://www.jstor.org
† Trong bài viết, Shapiro cũng chú thích: sonorants bao gồm các âm mũi (được thể hiện bằng các chữ cái: m,
n, ng); âm nước ( được thể hiện bằng chữ cái r) và các âm lướt (được thể hiện bằng các chữ cái h, y, w); còn obstruents bao gồm các phụ âm còn lại, là các phụ âm đúng nghĩa
Trang 26Theo đó, những bài thơ có chỉ số SQ trên 0,300 có tính kêu vang và tính mở Gắn với nó là sức mạnh tự do, không rang buộc Ông chứng minh điều này bằng sonnet 55, một bài thơ có tỉ lệ SQ cao Ngược lại, những bài có tỉ lệ obstruents cao thì có nội dung gắn với sự chế định, ràng buộc, mất tự do Ông
cũng chứng minh bằng sonnet 33 và 34 Tuy nhiên, trong chương 5 cuốn “Art,
Culture and the Semiotics of Meaning”*, ở chương 5 – phần bàn về kí hiệu
học thơ ca, “The Semiotics of Poetry: that a Poem Mat Mean and Be”,
Jackson Barry đặt ra nghi vấn: liệu mối quan hệ giữa âm và nghĩa có thực sự
là quan hệ hình hiệu? Theo ông, để điều này có thể xảy ra, cần có hai điều kiện: thứ nhất là thanh tính được nhận ra, có thể chỉ vô thức, nhưng chắc chắn
là có tự trong bản thân nó đặc tính mở của cơ quan phát âm đã tạo ra nó Thứ hai, cảm giác vật lý của các âm mở cần nghe có vẻ như là mở Tuy nhiên ngay
cả khi có quan hệ hình hiệu giữa một đặc trưng vật lý của cái biểu đạt và bản chất trừu tượng của một trạng thái cảm xúc, thì sự phù hợp này vốn không dựa trên đặc trưng của âm mà dựa trên việc tạo ra âm đó, lại có vẻ không triển vọng Ông phản bác bằng một ví dụ cụ thể Theo Shapiro, chỉ số SQ của
lệ nghịch với nội dung tự do: bài thơ đầy dẫy các hình ảnh về tiền bạc, cho vay, quyền thừa kế… từ đó liên hệ đến chủ đề chính: sự giới hạn của kinh tế lên tự do của con người Tuy nhiên, sonnet 134, một bài thơ có chỉ số SQ là 0.207, dưới mức thanh tính trung bình song cao hơn sonnet 4, lại có nội dung tăm tối và bế tắc hơn nhiều so với sonnet 4 Ông so sánh nội dung hai bài thơ
để chứng minh nhận định của mình Từ đó ông chỉ ra: ít nhất trong cặp sonnet này, chất liệu về ngữ âm mở hơn có vẻ như không có mối quan hệ hình hiệu với nội dung về tự do và phóng khoáng hơn Tóm lại Jackson Barry cho rằng phân tích của Shapiro về âm và nghĩa trong sonnet Shakespeare sẽ gặp một
* Jackson Barry (1999), “Art, Culture and the Semiotics of Meaning”, St Martin’s Press, New York
† Cao nhất là sonnet 71, với chỉ số SQ là 0.393
Trang 27trở ngại vì khó mà cho rằng những âm nào đó có quan hệ hình hiệu với chủ đề
tự do vì các âm này được phát âm một cách tự do.Vậy là mối quan hệ giữa âm
và nghĩa trong thơ sonnet Shakespeare vẫn là vấn đề còn để ngỏ
Trong cuốn “Art, Culture, and the Semiotics of Meaning – Culture’s
Changing Signs of Life in Poetry, Drama, Painting, and Sculpture”*, ở chương 5, “The Semiotics of Poetry: That a Poem May Mean and Be”, Jackson Barry bàn về kí hiệu học thơ ca và có bàn về vấn đề vần trong sonnet
4 của Shakespeare Bỏ qua các câu hỏi về sự sinh sản, về việc nhận diện the young man, Barry tập trung vào câu hỏi: liệu vần có nghĩa không, và ông hi vọng mình có thể trả lời là có từ phương pháp của kí hiệu học Vần có nghĩa trên phương diện là, dù đôi khi không được chú ý một cách có ý thức, nó vẫn
có vai trò quan trọng đối với hiểu biết của chúng ta về ngôn ngữ và mối quan
hệ của ngôn ngữ với thế giới:
Unthrifty loveliness, why dost thou spend
Upon thyself thy beauty’s legacy?
Nature’s bequest gives nothing, but doth lend,
And, being frank, she lends to those are free
Then, beauteous niggard, why dost thou abuse
The bounteous largess given thee to give?
Profitless usurer, why dost thou use
So great a sum of sums yet canst not live?
For having traffic with thyself alone,
Thou of thyself thy sweet self dost deceive
Then how when nature calls thee to be gone,
What acceptable audit canst thou leave?
Thy unused beauty must be tombed with thee,
* Jackson Bary (1999), Art, Culture, and the Semiotics of Meaning – Culture’s Changing Signs of Life in Poetry, Drama, Painting, and Sculpture, Palgrave Macmillan, London, trang 57-75
Trang 28Which usèd lives th' executor to be
Tác giả khởi đầu bằng việc nhìn vào hình thức chuẩn của bài sonnet và chỉ ra lớp nghĩa trên bề mặt: này chàng trai, đừng keo kiệt với di sản mà Tự nhiên thừa kế cho anh Trên phương diện chất liệu nội dung, ông cũng điểm lại kiến thức về di sản hay tài sản thừa kế gắn với thời Phục Hưng phương Tây: tài sản không chỉ là tiền mà thường là đất đai đi kèm với huyết thống, dòng dõi, danh tiếng Chất liệu ấy đi vào sonnet 4 trong hình thức của di sản thừa kế từ Tự nhiên và hiện thực hóa trong phần thân của văn bản bằng các thuật ngữ tài chính: tài sản thừa kế, người thi hành di chúc, giao dịch, cho vay, người cho vay nặng lãi không có lãi… Ông cũng chỉ ra hàm ý của bài sonnet là “Dụ ngôn những yến bạc” trong Kinh Thánh (The Parable of the
và khiến của cải sinh sôi là người đầy tớ trung thành nhất
Tác giả cũng xem xét chất liệu của biểu hiện bằng cách nhìn vào lịch sử tiếng Anh sơ kì cận đại từ thời điểm Shakespeare cầm bút, 200 năm sau sự ra
đi của Chaucer, nhà thơ Trung cổ vĩ đại, khi những sự chơi chữ tạo ra tiếng cười cho các khán giả thời Elizabeth Jackson Barry tập trung vào ba khía cạnh của sonnet 4: thứ nhất là mô thức của lập luận chia phần chính của bài thơ thành hai tập hợp cú pháp: hỏi – trả lời; thứ hai là mô thức ngữ nghĩa được tạo lập xung quanh các từ “use/abuse” và thứ ba là các giả định về năng lực văn chương của Shakespeare Và nội dung thứ hai chính là nội dung ông phân tích nghĩa của vần Tác giả cho rằng, nếu hình thức là có nghĩa, thì vần cũng phải có nghĩa, dù hình thức này của chất liệu hầu như không có khả năng vượt ra ngoài tính chất liệu của nó Ông phân tích các từ hiệp vần “use”
và “abuse”, được nối với nhau bởi gốc từ “use” và được phân biệt bởi tiền tố
* Câu chuyện kể về một ông chủ trước lúc đi xa nhà đã đưa cho ba người đầy tớ mỗi người một số tiền để trông coi cho đến khi ông trở về Hai người làm số tiền sinh lời được khen thưởng và được giao thêm nhiều hơn, còn người đầy tớ chôn của cải xuống đất làm nó hư hao thì bị trách mắng, bị lấy lại số của đã được đưa
và bị đuổi về nơi tăm tối
Trang 29“ab”, thiết lập một hệ thống hình thức khác biệt Tất nhiên không chỉ riêng thơ mới có cách sử dụng này, nhưng các tác phẩm được xem là thơ thường cung cấp nhiều chất liệu cho các trò chơi như vậy hơn là các hình thức khác
Có điều chắc chắn là sonnet 4 thu hút sự chú ý của độc giả vào khái niệm use/abuse thông qua vị trí của nó – thuộc về chuỗi các bài sonnet sinh sản.Trong nhóm các bài sonnet này, chàng trai trẻ được cổ vũ hãy sử dụng (use) vẻ đẹp và cuộc sống thiên phú để duy trì của báu ấy cho thế hệ sau; thất bại của anh trong việc làm này sẽ tạo ra sự lạm dụng (abuse) bị kết án là ích
kỉ, tự cao, ngoan cố và lãng phí Nó có một hàm ý về tình dục, một dấu hiệu của sự thủ dâm Trong cặp vần use/abuse, hình thức của chất liệu, tức là sự tương đồng và khác biệt của các âm được thể hiện rõ thông qua tiền tố phủ định và từ gốc chung Ông so sánh với cách sử dụng vần tương tự trong sonnet 134:
The statute of thy beauty thou wilt take,
Thou usurer, that put’st forth all to use,
And sue a friend came debtor for my sake;
So him I lose through my unkind abuse
Để thấy rằng, trên bề mặt, các từ hiệp vần là có thể thay thế cho nhau trong hai bài thơ, song vì đặt trong các quan hệ cấu trúc khác nhau, tạo ra các đối lập nghĩa khác nhau Trong ngôn ngữ thông thường, đối lập use/abuse là đối lập giữa cách hành xử tốt và xấu Ở sonnet 4, nó không còn mang nghĩa trên mà chỉ liên quan đến việc sử dụng tài sản, của cải Đến sonnet 134, đó lại
là đối lập liên quan đến đạo đức: dù vẫn là đối lập xấu – tốt như trong ngôn ngữ tự nhiên Trong sonnet 4, use và abuse giới hạn ở trong bản ngã, đến sonnet 134 đã mở rộng liên quan đến cả các đối tượng khác
Như vậy là các vấn đề còn nghi vấn xung quanh sonnet (về thời điểm sáng tác, về bố cục sắp xếp các bài thơ, về các nhân vật bí ẩn trong thơ…);
Trang 30các chủ đề lớn (thời gian và sự chiến đấu với thời gian, vấn đề truyền thống, đam mê và ý chí…), những nét nghệ thuật chủ yếu (vần, nhịp, nhạc điệu, cách phát huy tối ưu thể loại…); các vấn đề văn hóa của thời đại (cuộc cải cách tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng, tư tưởng hoài nghi) dù chưa được giải quyết triệt để song đều đã được các tác giả nhắc đến một cách rải rác Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu sonnet cũng khá đa dạng: từ khảo cứu tiểu sử tới các phương pháp của chủ nghĩa cấu trúc và ngôn ngữ học Đây
là một thuận lợi rất lớn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy: các
đề tài nghiên cứu riêng biệt thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare khá phong phú song nghiên cứu so sánh thơ chữ Hán Nguyễn Du
và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa vẫn còn là một mảnh đất trống
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận án là so sánh thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, vận dụng các phương pháp của
kí hiệu học để chỉ ra các lớp nghĩa tiềm ẩn trong văn bản thơ, so sánh để thấy được nét chung và riêng của chúng
4 Đối tượng, phạm vi và dữ liệu nghiên cứu
Đối tượng chính của luận án là 250 bài thơ chữ Hán Nguyễn Du và 154 bài thơ sonnet Shakespeare, tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu cơ bản từ kí hiệu học, chúng tôi chủ yếu tập trung vào chủ thể trữ tình Lý do cụ thể cho điều này sẽ được giải thích ở phần cơ sở lý luận Về thơ chữ Hán Nguyễn Du, người viết chủ yếu nghiên cứu trên nguyên bản thơ chữ Hán* có đối chiếu
* Về giá trị kí hiệu học của chữ Hán trong thơ, có thể tham khảo thêm các phân tích của Francois Cheng,
Nguyễn Khắc Phi dịch (2006), “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” và Ernest Fenollosa (1920), “The Chinese Written Character as a Medium for Poetry”, in trong Ezra Pound (1920), “Instigation of Ezra Pound Together with an Essay on The Chinese Written Character by Ernest Fenollosa”, nguồn:
Trang 31trong hai cuốn: Thơ chữ Hán Nguyễn Du của nhóm Mai Quốc Liên, Nguyễn
bản dịch nghĩa của các tác giả đi trước song chủ yếu xem xét trên nguyên bản
để thấy được mối quan hệ của các yếu tố ngôn ngữ thứ cấp
Về văn bản thơ sonnet Shakespeare, tôi chủ yếu dựa vào hai bản chú giải được coi là uy tín nhất cho đến thời điểm hiện tại†: bản của Stephen
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận án là phương pháp phân tích văn bản của kí hiệu học trường phái châu Âu
Phù hợp với đối tượng nghiên cứu là văn bản thơ, chúng tôi sử dụng các khái niệm công cụ của kí hiệu học như: kí hiệu, cái biểu đạt, cái được biểu đạt, chất liệu, hình thức, các quan hệ song hành để phân tích chủ yếu ở cấp độ
http://www.gutenberg.org Nhưng cách phân tích của Fenollosa cũng có điểm bị Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân
phê phán nên cần thiết phải bàn thêm
* Sở dĩ chúng tôi phải dùng thêm một văn bản đối chiếu khác vì bản của Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân có một số sai sót như không thống nhất về chữ Hán và âm đọc trong một số bài thơ: phần chữ Hán của bài “Quỷ môn quan” gắn nhầm sang phần phiên âm của bài “Giáp thành Mã Phục Ba miếu”, còn phần chữ Hán của bài “Giáp thành Mã Phục Ba miếu” lại gắn nhầm với phần phiên âm của bài “Lạng thành đạo trung”, phần chữ Hán của bài “Lạng thành đạo trung” lại gắn sang phiên âm của “Quỷ môn quan”… Ngoài ra còn một số vấn đề khác về sự không trùng khớp giữa chữ Hán với phiên âm của một số chữ cụ thể gây bối rối khi chúng tôi tra từ điển
† Uy tín của hai cuốn sách chú giải được khẳng định bằng việc: hầu như tất cả các cuốn sách phân tích sonnet đều nhắc đến hai tác giả trên, hầu như bài giảng của bất cứ một giáo sư nào cũng bắt đầu bằng việc khuyên đọc hai cuốn sách trên, đặc biệt cuốn của Stephen Booth, cùng với cuốn “An Essay on Shakespeare’s Sonnets” của ông, vốn được coi là kinh điển trong lịch sử nghiên cứu sonnet Shakespeare Cũng giống như bất kì một nhà ngôn ngữ học nào sau Saussure trước khi thao tác đều phải xác lập vị trí, quan điểm của mình
so với ông, bất kì một nhà nghiên cứu sonnet nào trước khi thao tác cũng phải xác lập vị trí của mình so với Booth
‡ Stephen Booth (1977), Shakespeare’s Sonnets, Yale University Press, New Haven and London
§ Bản dịch của người viết được chú là NTM dịch
Trang 32từ vựng Chúng tôi không nhìn từ trên phương diện khái quát mà đi vào các danh từ cụ thể xuất hiện với tần số lớn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare Điều này xuất phát từ một nguyên tắc tồn tại từ buổi sơ khai của lịch sử nghiên cứu kí hiệu: những kí hiệu lặp đi lặp lại là dấu hiệu
lại ở thống kê rồi kết luận ngay là không đủ, nhất lại là với văn bản nghệ thuật, các yếu tố ngôn ngữ được mã hóa theo những cách hết sức phức tạp Cho nên, chúng tôi cố gắng đi tìm mối quan hệ của từ được lặp lại với các yếu
tố khác trong văn bản để chỉ ra nghĩa thứ cấp, cũng là những ý nghĩa xuyên suốt trong văn bản
Phương pháp cơ bản thứ hai được sử dụng trong luận án là phương pháp so sánh loại hình, đươc áp dụng để nghiên cứu so sánh các đối tượng vốn không có quan hệ trực tiếp về mặt lịch sử Phương pháp này dựa trên điểm tựa cơ bản là một số đặc trưng phổ quát trong kiểu tư duy và phương thức biểu đạt của con người ở các nền văn hóa xa nhau về không gian địa lý cũng như thời gian lịch sử
6 Đóng góp mới của luận án
Luận án có một số đóng góp như sau:
Về mặt lý thuyết, luận án góp phần đưa ra các định hướng của việc nghiên cứu văn học từ kí hiệu học văn hóa, từ các vấn đề nguyên tắc đến các
thao tác cụ thể Luận án cũng đóng góp vào giới thiệu lý thuyết về chủ thể -
vốn có một lịch sử lâu dài trong nghiên cứu xã hội nhân văn ở phương Tây song lại chưa phổ biến ở Việt Nam
Trang 33Về mặt thực hành, luận án tập trung nghiên cứu so sánh thơ chữ Hán
Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare, đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa thể
xác với tinh thần từ góc nhìn chủ thể Từ đó, luận án giúp nhìn một số vấn đề vốn quen thuộc từ một góc độ mới, có thể bổ sung cho các góc nhìn đã có Các thao tác phân tích còn có giá trị về mặt phương pháp luận, các kết luận có giá trị tham khảo đối với những người nghiên cứu tiếp sau
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm có ba chương:
Chương 1: Ký hiệu học văn hóa với việc nghiên cứu chủ thể tính trong văn học thuộc trào lưu nhân văn chủ nghĩa Đây là chương có ý nghĩa phương pháp luận, đặt nền móng cho việc nghiên cứu ở các chương sau Trong chương này, chúng tôi trình bày hai vấn đề chính: giới thiệu các khái niệm then chốt của ký hiệu học, ký hiệu học văn hóa, từ đó đưa ra một vài định hướng của việc nghiên cứu văn học từ ký hiệu học văn hóa; giới thiệu khái niệm chủ thể cùng quan niệm về chủ thể trong văn học thời Nguyễn Du và Shakespeare
Chương 2 và chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu văn bản cụ thể Chương 2 có tựa đề: Chủ thể nội quan: vấn đề thân xác Đây là chương trong
đó người viết phân tích cách thức chủ thể tự hình dung về mình thông qua các
ký hiệu chỉ thân xác
Chương 3: Chủ thể tương chiếu: những sức căng trong bản chất nhị nguyên của con người Chương này nghiên cứu sự trình hiện chủ thể thông qua các ký hiệu ngoài thân – một hình thức chủ thể soi chiếu từ đó ta thấy phần nào cách thức chủ thể nhìn nhận căn tính, ngã tính của mình
Trang 34CHƯƠNG I: KÝ HIỆU HỌC VĂN HÓA VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ THỂ TÍNH TRONG VĂN HỌC THUỘC TRÀO LƯU NHÂN VĂN
CHỦ NGHĨA
1.1 Ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa với việc nghiên cứu văn học
Roland Barthes trong “Những huyền thoại” đã đặt ra vấn đề từ trước và
đồng thời với khi Saussure tiên đoán sự ra đời của kí hiệu học như một ngành khoa học, các nghiên cứu của các ngành khác: phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, tâm lí học thực thể và phê bình mới đã và đang giải quyết các vấn đề của
kí hiệu học “Vả chăng khẳng định một ý nghĩa biểu đạt là tìm đến với kí hiệu
tượng, thuật ngữ, hệ phương pháp Trước hết, có lẽ nên nói sơ lược về lịch sử phát triển của kí hiệu học
1.1.1 Ký hiệu học
1.1.1.1 Lược sử sự phát triển của ký hiệu học
các kí hiệu - đã có một lịch sử rất lâu dài Thuật ngữ kí hiệu học có nguồn gốc
từ từ Hi Lạp “semeion” nghĩa là “kí hiệu” Từ này lần đầu tiên được bác sĩ
Galen thời văn minh Hi Lạp (thế kỉ 2) sử dụng Ông dùng từ ký hiệu để chỉ cái bây giờ chúng ta gọi là triệu chứng – symptom (người Hi Lạp cổ đại chưa biết tới ký hiệu học như một khoa học khái quát về các kí hiệu) Cũng có ý kiến cho rằng khoa học kí hiệu đã manh nha từ các ý kiến của Platon và Aristote về ngôn ngữ khi họ coi ngôn ngữ là “ký hiệu của quan niệm” Các
* Roland Barthes, người dịch : Phùng Văn Tửu (2008), Những huyền thoại, NXB Tri thức, trang 292
† Người ta thường sử dụng hai thuật ngữ để gọi tên ngành học này: semiology và semiotics Cách gọi semiology xuất phát từ Ferdinand de Saussure, còn cách gọi semiotics xuất phát từ Charles Sanders Peirce Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều sử dụng thuật ngữ semiotics
Trang 35nhà nghiên cứu đã tìm thấy, năm 1640, trong một công trình liên quan đến y học của Henry Stubbes, thuật ngữ semiotics lần đầu xuất hiện Năm 1690,
trong cuốn “An Essay concerning Human Understanding” (Luận về giác tính
con người), John Locke đã sử dụng từ này dưới dạng thức một thuật ngữ ngôn
ngữ học Ông gọi nó là semiotika và định nghĩa là “học thuyết về kí hiệu ”
Thế kỉ XIX, trong Trường Đại học Tartu có bộ môn Kí hiệu học thuộc khoa Y học
Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, những nền tảng thực
sự cho việc ra đời ký hiệu học như một ngành khoa học nghiên cứu về các hệ thống ký hiệu mới thực sự xuất hiện Về điều này, lịch sử ghi công hai nhân vật xuất chúng là Charles Sanders Peirce (1839 - 1914) – nhà triết học, nhà toán học, nhà logic học người Mĩ và Ferdinand de Saussure (1857 - 1913) – nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ
Trong cuốn sách học trò ghi lại các bài giảng của Saussure được xuất bản sau khi ông mất, ở phần nói về vị trí của ngôn ngữ trong các sự kiện nhân loại, có thể thấy Saussure đã dự báo về sự ra đời của kí hiệu học (Cao Xuân Hạo dịch là “phù hiệu học”) như sau:
“Vậy có thể quan niệm một ngành khoa học nghiên cứu đời sống của
các dấu hiệu trong lòng sinh hoạt xã hội ; nó sẽ là một bộ phận của tâm lí học
xã hội, và do đó, của tâm lí học đại cương; chúng tôi sẽ gọi nó là phù hiệu học (sémiologie – do từ Hy Lạp sẽmeion, “dấu hiệu”) Ngành học này sẽ cho
ta biết thế nào là dấu hiệu, nó tuân theo những quy luật nào Vì hiện nay chưa
có ngành học đó, cho nên không thể nói rõ nó sẽ ra sao; nhưng nó có quyền tồn tại; vị trí của nó đã được định sẵn từ trước Ngôn ngữ học chỉ là một bộ phận của ngành khoa học tổng quát này, những quy luật mà khoa phù hiệu học phát hiện sẽ có thể áp dụng được cho ngôn ngữ học, và như vậy ngành
Trang 36ngôn ngữ học sẽ được gắn liền vào một lĩnh vực được xác định rất rõ trong toàn thể các sự kiện nhân loại”*
Saussure phân tích các nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến ngành học này chưa thể xuất hiện, ông thấy trước việc xem các sự kiện như các dấu hiệu đặt trong hệ thống sẽ làm cho chúng hiện ra dưới ánh sáng mới
Không chỉ có vậy, cũng trong cuốn sách này, Saussure đưa ra các khái niệm, các quan điểm mà sau này sẽ trở thành những thuật ngữ chính yếu của
kí hiệu học: quan niệm về tính hai mặt của kí hiệu, quan niệm xem ngôn ngữ
là hệ thống cơ bản thiết yếu nhất trong các hệ thống kí hiệu, quan niệm về nghiên cứu hệ thống với cách ranh giới, về trục đối vị và trục kết hợp
Từ góc độ triết học, Peirce gắn kí hiệu học với logic học Tư tưởng
trung tâm của Peirce là ý niệm kí hiệu học như một quá trình đối thoại “Với
quan điểm của Peirce, logic học tồn tại một cách độc lập cả về mặt lí luận và thực tiễn Những nền tảng cơ bản của nó không phải là các chân lí đương nhiên mà là những sự “xác định và phân loại” (Tuyển tập C S Peirce, tập 3, mục 149) và những điều này rút cục đến từ bản chất và chức năng của các kí hiệu Kết quả là, logic có thể được nhìn nhận như một khoa học về các quy luật chung cần thiết của các kí hiệu (Sđd, tập 2, mục 227) Logic, đó chính là, khoa học về các kí hiệu”†
Kể từ đó, kí hiệu học đã từng bước phát triển, hình thành hai trung tâm, một ở Mỹ theo truyền thống của Peirce và các môn đệ của ông, gắn với các tên tuổi: Charles W Morris, N Chomsky, T A Sebeok, M Danesi, J Dili; một trung tâm khác ở châu Âu theo truyền thống của Saussure và Hjelmslev
Trang 37Chúng tôi chủ yếu theo phương pháp của nhánh thứ hai này Nhánh châu Âu lại nổi bật lên hai trường phái ít nhiều có điểm khác biệt nhau: trường phái kí hiệu học cấu trúc và hậu cấu trúc Pháp (còn gọi là trường phái Paris chịu ảnh hưởng của Jakobson, A Propp… gắn với tên tuổi Greimas) và trường phái Tartu – Moscow (Nga) với chủ soái là Lotman, Uspenski, Torodov, Pjagorski, Tinianov Theo Lotman, sự khác biệt chủ yếu của hai trường phái này là ở chỗ: một bên nghiên cứu kí hiệu học từ góc độ cấu trúc (ngôn ngữ) còn một bên nghiên cứu kí hiệu học từ các văn bản cụ thể Hướng thứ nhất sẽ dẫn đến việc tạo ra siêu kí hiệu học, còn hướng thứ hai tất yếu dẫn đến việc hình thành
kí hiệu học văn hóa
Roland Barthes (thời kì đầu) luôn lấy cấu trúc ngôn ngữ làm yếu tố trung tâm Ông thậm chí đã muốn đảo ngược quan điểm của Saussure: theo Saussure, trong tương lai sẽ xuất hiện ngành kí hiệu học mà ngôn ngữ học chỉ
là một bộ phận của nó, còn theo Barthes, do tất cả mọi phương pháp đều bắt nguồn từ ngôn ngữ học, kí hiệu học cũng chỉ là một bộ phận của ngôn ngữ học
Còn Lotman cho rằng bản chất của kí hiệu học là một môn khoa học thực nghiệm, và các nhà nghiên cứu quan tâm hàng đầu đến việc phân tích các chất liệu thực tế Khái niệm trung tâm đối với ông là văn bản Ông cùng các đồng sự đã đưa ra các dẫn chứng thuyết phục để cho thấy sự hạn chế của ngôn ngữ so với văn bản (lời nói) và đến lượt mình, lại đảo ngược mô hình của Saussure: không phải ngôn ngữ sản sinh ra văn bản mà chính văn bản tạo
ra ngôn ngữ
Tuy nhiên, dù theo khuynh hướng nào, kí hiệu học cũng đều gắn với lí thuyết thông tin, giao tiếp
Theo “Dictionary of Semiotics”(Từ điển kí hiệu học), vào khoảng hai,
ba thập kỉ cuối của thế kỉ 20, kí hiệu học, như một lí thuyết văn học đã khẳng
Trang 38định được vị trí của nó Hiện tại, ở châu Âu, kí hiệu học nằm trong chương trình văn chương trung học và là một trong các lí thuyết phê bình Hơn nữa, kí hiệu học còn là một phần của diễn ngôn truyền thông trong phim ảnh và quảng cáo trên toàn châu Âu Tuy nhiên, cũng như Daniel Chandler, Bronwen Martin khẳng định rằng trong khi nghiên cứu lí thuyết thuộc lĩnh vực này đã
có nhiều tiến bộ, song đối với nhiều người, ở nhiều khu vực (mà Việt Nam không là ngoại lệ), thuật ngữ kí hiệu học vẫn còn là một thuật ngữ xa lạ, có phần bí ẩn Vì thế, chúng tôi thấy cần thiết phải giới thiệu sơ nét về các vấn đề
cơ bản của kí hiệu học, bao gồm phương pháp, đối tượng nghiên cứu, các thuật ngữ kí hiệu học cùng một số phân ngành của kí hiệu học có liên quan đến văn học
1.1.1.2 Phương pháp, đối tượng nghiên cứu của kí hiệu học
Từ chỗ chỉ manh nha, kí hiệu học đã trở thành một ngành khoa học với
hệ thuật ngữ, phương pháp nghiên cứu riêng cùng khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
Phương pháp chủ yếu của kí hiệu học là phương pháp phân tích văn bản Bronwen Martin đưa ra bốn nguyên tắc mà phương pháp phân tích kí hiệu học đối với văn bản dựa vào như sau:
Thứ nhất, nghĩa không có sẵn trong các đối tượng, các đối tượng không
tự chúng có nghĩa Đúng hơn, ý nghĩa được xây dựng bởi cái được biết đến như là người quan sát giỏi, tức là bởi một chủ thể có khả năng đem đến hình thức cho các đối tượng Ví dụ: đứng trước một đồ dùng thuộc về một nền văn hóa khác biệt, ví dụ thuộc một châu lục khác, chúng ta có thể có khả năng không nắm được ý nghĩa của nó Tuy nhiên, cũng với đồ vật đó, ta có thể cho
nó một ý nghĩa dựa vào hiểu biết ta có và phù hợp với mục đích của ta
Thứ hai, kí hiệu học xem bất kì một văn bản nào như là một đơn vị tự trị, nghĩa là nối kết tự bên trong Những phân tích kí hiệu học bắt đầu bằng
Trang 39việc nghiên cứu ngôn ngữ và cấu trúc thực tế của văn bản, chỉ ra ý nghĩa được xây dựng như thế nào và tất nhiên đồng thời chỉ ra những ý nghĩa này là gì
Vì thế phương pháp phân tích kí hiệu học trở thành một sự khám phá về phương pháp và rõ ràng thành một công cụ có giá trị cho tất cả những người
đã tham gia vào nghiên cứu ban đầu
Thứ ba, kí hiệu học cho rằng cấu trúc truyện kể nằm dưới các diễn ngôn, chẳng hạn diễn ngôn chính trị, xã hội và luật pháp
Thứ tư, kí hiệu học đặt ra khái niệm các cấp độ của ý nghĩa, cấp độ sâu trừu tượng sinh ra cấp độ bề mặt Vì thế, văn bản cần phải được nghiên cứu ở các cấp độ sâu khác nhau này chứ không chỉ ở cấp độ bề mặt như ngôn ngữ học truyền thống vẫn làm
Theo Terence Hawkes, “Lĩnh vực kí hiệu học dĩ nhiên rất rộng lớn, bắt
đầu từ những nghiên cứu về hành vi giao tiếp của các loài động vật (kí hiệu học động vật - zoosemiotics) tới những phân tích về các hệ thống kí hiệu biểu tượng như giao tiếp thông qua điệu bộ cơ thể con người (kinesics và proxemics), các kí hiệu khứu giác (“sự mã hóa” các mùi hương), lý thuyết mĩ học và tu từ học”* Cũng theo ông, “các ranh giới của nó (nếu có) đều có sự
giáp giới với những gì thuộc về thuyết cấu trúc” và ông đặt ra khả năng đưa
cả hai vào một lĩnh vực rộng lớn hơn: lĩnh vực giao tiếp Tư tưởng của Hawkes tiêu biểu cho kí hiệu học cấu trúc Nhưng có thể thấy trong lịch sử kí hiệu học, khuynh hướng nghiên cứu chuyển dần từ cấu trúc (ngôn ngữ) sang lời nói
* Đinh Hồng Hải (2014) dịch trong Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lí thuyết, NXB Thế giới,
Hà Nội, trang 389
Trang 40Theo Lotman con*, đối tượng của kí hiệu học là ý nghĩa được biểu đạt,
kí hiệu học nghiên cứu “cơ cấu, ý nghĩa và hoạt động của các kí hiệu (các
bình diện tương ứng của các khoa học về các kí hiệu được gọi là cú pháp học, ngữ nghĩa học và dụng học) chứ không nghiên cứu, ví như, các mối liên hệ nhân quả giữa các đối tượng, các kí hiệu khác nhau, hoặc, ngay cả các kí hiệu và các đối tượng Khi nghiên cứu các kí hiệu, nhà kí hiệu học không quan tâm tới các vấn đề thuộc loại như tại sao, mà quan tâm đặc biệt tới vấn
đề cái gì và như thế nào”†
1.1.2 Ký hiệu học văn hóa
Tên của luận án “Thơ sonnet Shakespeare và thơ chữ Hán Nguyễn Du
từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa” đã phần nào nói lên hướng đi của luận án: theo các khuynh hướng lý thuyết của kí hiệu học châu Âu đi ra từ Saussure
kí hiệu học văn hóa chỉ là một nhánh của kí hiệu học; các lý thuyết gia của kí hiệu học châu Âu cho rằng: kí hiệu học chính là kí hiệu học văn hóa
1.1.2.1 Quan niệm về kí hiệu học văn hóa của các nhà kí hiệu học Tartu – Moscow trong thế đối sánh với các nhà kí hiệu học Tây Âu và Mĩ
Con trai Lotman, trong bài viết nêu lên các kiến thức cơ bản cần thiết
để hiểu lí thuyết của cha và những người cộng sự đã chỉ ra: “Trong các công
trình nghiên cứu kí hiệu học vẫn tồn tại hai hướng phân tích văn hóa cơ bản
* Iu M Lotman có ba người con trai, trong đó có người con trai trưởng Lotman Mikhain Iurevich (sinh 1952) hiện là giáo sư kí hiệu học và nghiên cứu văn học tại Đại học Tallin Để tránh nhầm lẫn giữa hai người, chúng tôi gọi Lotman và Lotman con
† M IU Lotman, người dịch: Lã Nguyên (2014), Kí hiệu học văn hóa ở trường phái kí hiệu học Tartu – Moskva, nguồn: https://languyensp.wordpress.com/
‡ Về kí hiệu học Mĩ khởi đầu từ Charles Sanders Peirce, người viết hi vọng có thể giới thiệu trong một công trình khác Kí hiệu học Mĩ do xuất phát từ những nguyên tắc khác nên đi tới những cách tiếp cận hoàn toàn khác