1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành tâm lý học ở thành phố hồ chí minh

99 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H.Perho, nhà TLH người Phần Lan đã tiến hành nghiên cứu “Định hướng nghề nghiệp và nghệ thu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lí học với đề tài “Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả nghiên

cứu lần đầu tiên Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả,

số liệu nghiên cứu được trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018 Tác giả

Trần Thị Hà

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để đạt được kết quả như hôm nay, tôi xin chân thành bày tỏ lòng tri ân đến:

 Quý Thầy Cô trong khoa tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TPHCM và nhà trường

đã tạo môi trường học tập cho tôi được tham gia nghiên cứu khoa học

 Thạc sĩ Võ Minh Thành, người đã tận tình hướng dẫn và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

 Quý thầy cô trong ban giám khảo hội đồng khoa học

 Cùng tất cả những người thân, chị em và bạn bè đã khuyến khích động viên và tạo điều kiện cho tôi được hoàn thành tốt nhất có thể

Khóa luận tốt nghiệp hoàn thành với sự phấn đấu và cố gắng hết mình tuy nhiên cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin cảm ơn và ghi nhận những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô giáo và bạn bè!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

Tác giả

Trần Thị Hà

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 4

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4.Giả thuyết nghiên cứu 4

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6.Giới hạn nghiên cứu 4

7.Phương pháp nghiên cứu 4

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ 6

1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề 6

1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài………6

1.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.Lý luận về định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học 12

2.1.Khái niệm định hướng 12

2.2.Khái niệm nghề 13

2.2.1.Khái niệm 13

2.2.2.Đặc điểm 14

2.2.3.Phân loại nghề 14

2.2.4.Một số lĩnh vực nghề nghiệp chính trong Tâm lý học 15

2.3.Khái niệm định hướng nghề 21

2.4.Khái niệm sinh viên 25

2.5.Một số đặc điểm của sinh viên 26

Trang 4

2.6.Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học 28

2.6.1.Nội dung định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành TLH…… 29

2.6.2.Tiêu chí đánh giá định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học……… 32

3.Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHN của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học 36

3.1.Yếu tố khách quan 37

3.2.Yếu tố chủ quan 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ CỦA SINH VIÊN NĂM 4 NGÀNH TÂM LÝ HỌC Ở TP HCM 42

2.1.Tổ chức nghiên cứu thực trạng 41

2.1.1.Vài nét về địa bàn khảo sát 41

2.1.1.1.Khoa tâm lý học trường ĐHSP TP HCM 42

2.1.1.2.Khoa tâm lý học trường ĐH KHXH&NV 42

2.1.1.3.Tổ bộ môn Tâm lý học trường Đại Học Văn Hiến 43

2.1.2.Mô thức nghiên cứu 43

2.1.2.1.Mẫu nghiên cứu 43

2.1.2.2.Mô tả cách thức nghiên cứu 45

2.1.2.2.1.Công cụ nghiên cứu 45

2.1.2.2.2.Xử lý số liệu 45

2.2.Kết quả nghiên cứu 47

2.2.1.Nhận thức về khó khăn trong ĐHN của SV 47

2.2.2.Nhận thức về nghề và sự lựa chọn nghề của SV năm 4 ngành TLH 48

2.2.2.1.Nhận thức về nghề SV tốt nghiệp ngành TLH có thể làm……… 48

2.2.2.2.Sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai của bản thân SV theo từng CV 50

2.2.2.3.Nhận thức yêu cầu về phẩm chất của SV năm 4 ngành TLH 54

2.2.2.4.Nhận thức của SV về các năng lực cần thiết của các nhóm nghề TLH 59

2.2.2.5.Nhận thức yêu cầu về phẩm chất và năng lực của bản thân SV 65

2.2.3.Thái độ ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 69

2.2.3.1.Biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động ĐHN 69

Trang 5

2.2.3.2 Kết quả so sánh về biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động trong

quá trình ĐHN 71

2.2.4.Hành vi ĐHN của sinh viên năm 4 ngành TLH Error! Bookmark not defined 2.2.4.1.Kết quả về sự cân nhắc của SV trong quá trình ĐHN 71

2.2.4.2.Kết quả về biểu hiện hành vi ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 72

2.2.4.3 So sánh biểu hiện hành vi ĐHN của SV chuyên ngành TLH theo các tham số nghiên cứu 74

2.2.5.Mối tương quan giữa nhận thức, thái độ và hành vi ĐHN 75

2.2.6.Yếu tố ảnh hưởng ĐHN của SV 77

2.2.6.1.Kết quả chung về các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHNN của sinh viên 77

2.2.6.2.Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng định hưởng ngành học của SV theo các tham số 78

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

1.Kết luận 81

1.1.Về mặt lý luận 82

1.2.Về mặt thực tiễn 82

2.Các biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHN cho SV năm 4 chuyên ngành TLH 84

2.1.Cơ sở đề xuất 84

2.1.1.Dựa vào cơ sở lý luận của bài nghiên cứu 84

2.1.2.Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng 85

2.1.3.Dựa vào quá trình giao lưu, trao đổi với các bạn SV về ĐHN cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực Tâm lý học 85

2.2.Một số biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHN cho SV năm 4 chuyên ngành TLH……… 85

2.2.1.Các biện pháp thuộc về sinh viên 85

2.2.2.Các biện pháp thuộc về giảng viên 86

2.2.3.Các biện pháp thuộc về nhà trường 86

3.Kiến nghị 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

4 ĐHSP TPHCM Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê thành phần mẫu 44

Bảng 2.2 Tổng hợp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 46

Bảng 2.3 Kết quả về vấn đề khó khăn của SV trong ĐHN……… 47

Bảng 2.4 Kết quả hiểu biết của sinh viên về nghề có thể làm sau khi tốt nghiệp…… 48

Bảng 2.5 Kết quả lựa chọn nghề của SV theo từng CVError! Bookmark not defined Bảng 2.6 Kết quả nhận thức về phẩm chất đối với nhóm nghề giảng dạy 54

Bảng 2.7 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV theo nhóm nghề TV - TL 55

Bảng 2.8 Kết quả nhận thức về phẩm chất theo nhóm nghề NCKH 56

Bảng 2.9 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với QL-TCNS 57

Bảng 2.10 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với nhóm nghề khác có UDTLH…… 59

Bảng 2.11 Kết quả về nhận thức của SV về năng lực đối với nhóm Giảng Dạy 60

Bảng 2.12 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết đối với nhóm TV - TL Error! Bookmark not defined Bảng 2.13 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết của SV với nhóm nghề NCKH……… 62

Bảng 2.14 Kết quả nhận thức của SV về năng lực cần thiết đối với nhóm nghề QL-TCNS 63

Bảng 2.15 Kết quả về nhận thức năng lực thiết yếu của SV với nhóm nghề khác có UDTLH 64

Bảng 2.16 Kết quả nhận thức về phẩm chất hiện có của SV 66

Bảng 2.17 Kết quả về nhận thức năng lực hiện có của SV 66

Bảng 2.18 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo trường 68

Bảng 2.19 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo tham số giới tính 68

Bảng 2.20 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết theo tham số hộ khẩu 69 Bảng 2.21 Kết quả biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động ĐHN Error!

Bookmark not defined

Trang 8

Bảng 2.22 Kết quả so sánh về biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động trong quá trình ĐHN Error! Bookmark not defined Bảng 2.23 Kết quả về sự cân nhắc của SV trong quá trình ĐHN 72 Bảng 2.24 Kết quả về biểu hiện hành vi ĐHN của SV năm 4 ngành TLH 73 Bảng 2.25 Kết quả so sánh biểu hiện hành vi ĐHN của SV chuyên ngành TLH theo các tham số nghiên cứu 75 Bảng2.26 Kết quả so sánh mức độ tương quan giữa nhận thức, hành vi và thái độ……… 75 Bảng 2.27 Kết quả chung về các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHN của sinh viên 77 Bảng 2.28 Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng ĐHN của SV theo các tham số……… 79

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI diễn ra cùng với sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ mới kết hợp với nền kinh tế thị trường đã mang lại cho con người cuộc sống hiện đại và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người Điều này làm cho số lượng công việc tăng cao, cùng với việc xuất hiện nhiều ngành nghề mới, lạ trong xã hội khiến cho nhiều bạn trẻ bối rối và gặp khó khăn trước việc lựa chọn nghề nghiệp, hướng đi phù hợp cho bản thân mình

Thế giới toàn cầu đang đứng trước một vấn đề nan giải là vấn đề việc làm trong giới trẻ hiện nay Bộ trưởng Việc làm của Anh Quốc, ông Chris Graling mới đây đã phải ví

nó như là “những quả bom nổ chậm” Năm 2015, theo như kết quả đã điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay của họ là vấn đề việc làm Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm, 37% SV có việc làm nhưng đa

số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại [43] Một trong những nguyên nhân khi ra trường sinh viên không có việc làm là định hướng nghề nghiệp không rõ ràng Định hướng nghề không rõ ràng của SV có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức trong quá trình học cũng như cơ hội kiếm được việc làm của sinh viên sau khi ra trường Nhiều nhà quản lý nhân sự ở các công ty nước ngoài có chung nhận định: “Lao động trẻ thiếu

và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp, quan trọng hơn là họ chưa có định hướng nghề rõ ràng Đại đa số có tư tưởng xin việc vì quyền lợi bản thân chứ chưa nghĩ nhiều về công việc, chưa thật sự tâm huyết và sống chết vì nó…” Trong môi trường công việc với xu thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, nếu không có định hướng nghề rõ ràng, làm sao sinh viên có thể bảo đảm yếu tố gắn bó với công việc ở các cơ quan tuyển dụng [42]

Nghề là khái niệm chung dành để chỉ những công việc sẽ gắn với bản thân của mỗi người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng trong đời Do đó, việc định hướng nghề là một điều tối cần thiết đối với các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường Theo một khảo sát tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM (2014) có: 52,6 %

Trang 11

sinh viên năm cuối chưa có kế hoạch tìm việc cho mình; 46,3 sinh viên hiện nay chưa

có ý định tự trau dồi về nghề nghiệp; 44,8 % sinh viên không hình dung về nghề nghiệp của mình sau 5 năm Đây là những con số chứng minh sự băn khoăn của các bạn sinh viên với nghành nghề mình đang theo học cũng như định hướng về nghành nghề mình

sẽ làm trong tương lai [41]

Cuộc khảo sát năm 2011, được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Chính sách thuộc trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu SV thuộc

5 khóa khác nhau đã tốt nghiệp cho thấy, 70% SV chưa có định hướng cụ thể nào cho nghề của họ sau khi tốt nghiệp Theo T.V.T, người tham gia nghiên cứu, thì mức độ mù

mờ trong định hướng nghề của SV rất cao Một bộ phận không nhỏ SV ngay từ khi lựa chọn ngành học và trong quá trình học đã không có sự định hướng cụ thể và không được

ai hướng dẫn về các nghề gắn với ngành học của mình [34]

Giai đoạn SV là giai đoạn có đầy đủ điều kiện thuận lợi để bản thân cá nhân mỗi người tự xây dựng và hoàn thiện bản thân mình Ở giai đoạn này, SV có thời gian, có sự chủ động học tập, có đủ nhạy bén của tư duy để nắm bắt nhịp sống của xã hội đang diễn

ra như thế nào và kịp thời bổ sung theo nhịp sống đó Hoạt động chủ đạo của sinh viên

là hoạt động chuẩn bị nghề nghiệp Trong giai đoạn này, sinh viên trực tiếp tham gia vào việc học nghề và trải nghiệm các công việc cụ thể của nghề Vì vậy, tiếp tục hướng nghiệp cho sinh viên là điều rất cần thiết để tạo sự ổn định tâm lý và tâm thế tích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội [16] Như vậy, khoảng thời gian này là khoảng thời gian mà SV phải định hướng được nghề cho chính mình một cách thật nghiêm túc và chính xác, mình sẽ theo hướng nào và mình sẽ làm nghề gì trong tương lai sắp tới Đồng thời, đây cũng là giai đoạn phải chuẩn bị, trang bị những kiến thức cần có và sâu sắc về hướng mình chọn và nghề mình sẽ đảm nhận trong tương lai Tuy vậy, không phải tất cả SV đều ý thức được tầm quan trọng của việc ĐHN, có thể

do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên Nghiên cứu kịp thời để SV ý thức được tầm quan trọng của việc ĐHN là rất cần thiết

Ngành Tâm lý học là một ngành khoa học non trẻ ra đời mới hơn một thế kỷ qua, Tâm lý học ngày nay đã phát triển với những bước tiến mạnh mẽ bởi sự cần thiết và tính

Trang 12

ứng dụng của nó trong mọi lĩnh vực của cuộc sống con người Hiệu quả đặc biệt của Tâm lý học không chỉ đối với việc phát triển cá nhân, giải quyết những vấn đề con người – xã hội mà còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả trong các hoạt động đa dạng và phong phú của con người [28] Vì vậy, đứng trước sự phong phú và đa dạng trong các ngành nghề của Tâm lý học, lại càng đòi hỏi SV chuyên ngành phải trang bị và định hướng cho mình được ngành nghề phù hợp từ sớm là điều rất thiết thực và đáp ứng cao yêu cầu của xã hội hôm nay

Có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập đến ĐHN Năm 1995, Meir, Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tương quan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp Các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H.Perho, nhà TLH người Phần Lan đã tiến hành nghiên cứu “Định hướng nghề nghiệp và nghệ thuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” hay một nhà TLH Phần Lan khác, M.V.Volanen nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp và thích ứng việc làm ở thanh niên” [5] Ở nước ta, thực tế cho thấy, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ĐHN, tác giả Trần Thị Dương Liễu nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học ở một số trường đại học tại Tp HCM” [20] hay nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thúy Hằng với đề tài “Định hướng nghề của sinh viên ngành Tâm lý học-Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM [15] Nhìn chung, các nghiên cứu đều nói đến ĐHN của HS, SV và thanh niên nói chung, tuy nhiên cũng chưa có tác giả nào đề cập và đi sâu vào tìm hiểu ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học Chính vì vậy, người nghiên cứu muốn tìm hiểu nhằm giúp sinh viên ngành Tâm lý học có một tâm thế tốt để ra trường, có một định hướng nghề đúng và thiết thực càng sớm càng tốt để bước vào thế giới nghề nghiệp một cách thật sẵn sàng và vững chắc

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tác giả chọn đề tài: “Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả việc ĐHN cho SV năm 4 ngành Tâm lý học

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên chính quy năm thứ 4 ngành Tâm lý học ở Tp HCM

4 Giả thuyết nghiên cứu

SV năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tại Tp HCM có lựa chọn nghề ở mức độ thấp Một số SV vẫn chưa có định hướng nghề

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận liên quan đến ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học

5.2 Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành TLH

6 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung: ĐHN của SV năm 4 chuyên ngành TLH

- Về địa điểm và đối tượng khảo sát: Chỉ nghiên cứu những SV chính quy năm 4

(niên khóa 2017 - 2018) ngành Tâm lý học tại 3 trường đại học tại Tp HCM: Đại học

Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Văn Hiến và Đại học Sư Phạm Tp HCM

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm

rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu

- Cách thức tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu cần thiết phục vụ cho

việc nghiên cứu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn

Trang 14

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp

chính của đề tài

- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía SV

- Cách thức tiến hành: Xây dựng bảng hỏi, khảo sát ngẫu nhiên trên 250 SV để

tìm hiểu về biểu hiện của ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học

7.3 Phương pháp thống kê toán học

- Mục đích: Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu

- Cách thức tiến hành: Sử dụng phần mềm SPSS

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ

1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề

1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Tư tưởng định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân của mỗi người trong xã hội Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập [20]

Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850-1940, gắn liền với những

cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattel, Alfred Binet, Frank Parson, Robert Yerkes, E.K Strong Cuối những năm 1800, một hệ thống công nghiệp với quy

mô lớn ra đời, đã làm thay đổi môi trường mạnh mẽ, môi trường làm việc và điều kiện sống Để đáp ứng được các yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện, một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, những điều kiện khách quan trên để phôi thai và cho ra đời một ngành khoa học Tham vấn nghề Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsons thành lập vào năm 1908 ở Boston Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho thanh niên có nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề phù hợp với năng lực, sở trường của mình [11]

Đầu thế kỷ XX, ở Đức, Anh, Pháp, Mỹ đã có phòng tư vấn chĩ dẫn cho thanh niên tìm việc làm, ở đó thanh niên, học sinh được tư vấn về việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai của họ [18]

Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J.L Holland (1919-2008) đã nghiên cứu

và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp của con người Tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương xứng có thể chọn để đạt được kết quả làm việc và thành công cao nhất Đến năm 1948,

Trang 16

cuốn sách hướng nghiệp “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về định hướng nghề nghiệp, nội dung cuốn sách đề cập đến sự phát triển của công nghiệp Tiếp tục phát triển đến năm 1970, năm 1980 ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề Những nhà nghiên cứu ở đây cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề-Career guidance” vào giảng dạy ở trường trung học, sau đó là từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn học tập hay

cố vấn tâm lý làm việc Năm 1974, cuốn sách nghiên cứu định hướng của nhà TLH người Mỹ, J.L Holland lại tiếp tục bàn về định hướng nghề với dụng cụ tư vấn, những đặc điểm môi trường và con người dẫn đến việc chọn nghề, học nghề, gắn bó và thành công với nghề nghiệp của con người được xuất bản mới đều được Holland sửa đổi theo quan niệm mới của ông và theo đề xuất của khách hàng hay của các nhà phê bình Năm

1995, Meir, Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tương quan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp [20] Ngoài những nghiên cứu ở các nước nói trên, các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H Perho, nhà TLH Phần Lan đã nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp và nghệ thuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” kết quả cho thấy, trong động cơ học tập của sinh viên ngành

Sư Phạm ước muốn nhận được điểm tốt mạnh hơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi

Từ đó, ông kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trình) tuyển sinh ngành Sư Phạm M.V Volanen một người nghiên cứu Phần Lan khác lại tìm hiểu quá trình thích ứng nghề nghiệp và định hướng việc làm ở thanh niên Kết quả cho thấy, những đánh giá chủ quan của thời kỳ quá độ ảnh hướng đến định hướng việc làm nhanh hơn nhiều so với bản thân thời kỳ quá độ và ảnh hưởng của những năm tháng làm việc đầu tiên đến định hướng việc làm phụ thuộc và quá trình thích ứng nghề nghiệp Z Ransen Bakh đã nghiên cứu

về định hướng giá trị của sinh viên gắn với quá trình định hướng nghề nghiệp và các kế hoạch cuộc sống Trong nghiên cứu định hướg giá trị của thanh niên, các nhà nghiên cứu chú ý đến định hướng nghề nghiệp của nhóm xã hội này Như vậy, nhìn chung trọng tâm nghiên cứu của các nước phương Tây chủ yếu sử dụng các phương tiện, thiết bị chuyên môn nhằm tham vấn chuyên sâu với mục đích xác định xu hướng và sự phù hợp nghề của thanh niên Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức, trong công trình “Nghiên cứu

Trang 17

những vấn đề thanh niên ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức” (1976), đã nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên công nhân Đức Các tiêu chí có ý nghĩa quan trọng nhất trong công việc và động cơ làm việc được xem là những chỉ báo về định hướng giá trị của họ [5]

Lĩnh vực này cũng thu hút sự quan tâm của các nhà TLH Nga Xung quanh vấn đề lựa chọn nghề nghiệp, A.E Golomstoc, E.A Klimov, chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi chọn nghề Về nhận thức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu N.D Levitop, V.A Kruchetxki, A.V Petroxki đã đề cập đến ý nghĩa của sự hiểu biết nghề định chọn đối với học sinh Vì học sinh chưa có quan niệm rõ ràng về đa số các nghề nên không thể định hướng đúng đắn trong các nghề đó Dự định chọn nghề của học sinh được các nhà nghiên cứu quan tâm: V.V Votzinxkaia, V.S Soukin, V.P Gribanop, X.N Tritaikova, N.N Đakhop… [11]

Ở Liên Xô cũ, vào những năm 29,30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp cho học sinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan tâm Nhà giáo dục học lỗi lạc N.K Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh thiếu niên Theo bà, công tác hướng nghiệp giúp cho trẻ phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động

cơ chọn nghề trong sáng Dựa trên các luận điểm chọn nghề của C.Mác và Lê Nin các nhà giáo dục Liên Xô trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ sẽ

là cơ sở cho họ chọn nghề đúng đắn, phù hợp giữa năng lực cá nhân, sở thích và nhu cầu xã hội Trong những năm 1970, nhà TLH Lao Động Liên Xô E.A Kalimop đã đưa

ra trắc nghiệm “Xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá” với 30 câu hỏi Cùng thời gian đó A.E Colomtoc cũng đưa ra trắc nghiệm đo hứng thú nghề nghiệp với

78 câu hỏi, cùng thời điểm đó nhiều nhà khoa học ở Liên Xô cũ xem “Tam giác hướng nghiệp” của K.K Platonov là yêu cầu chuẩn xác cho việc chọn ngành nghề Tác giả của tam giác hướng nghiệp vạch ra 3 yếu tố cơ bản: Đặc điểm cá nhân, tính chất nghề nghiệp

và nhu cầu xã hội [20]

Trang 18

Một số nhà Tâm lý học Xô Viết khác như Ph.B Beredin, V.A Xmirnop nghiên cứu khía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; Ph.E Vasiluc, N.D Levitov, G.M Anderiep nghiên cứu sự thích ứng xã hội của thanh niên với nghề nghiệp [5]

Như vậy, điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới, cho ta thấy hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai ĐHN cho học sinh, sinh viên là một xu thế tất yếu của mỗi thời đại Đồng thời, từ những lý luận trên ta có thể thấy được đa số các nước trên thế giới có sự quan tâm, chú trọng và đầu tư rất khoa học và nghiêm túc trong việc ĐHN cho mỗi cá nhân

1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu ĐHN ở Việt Nam theo các chuyên gia đã có những bước phát triển mạnh

mẽ vào những năm 1970, 1980, tiếp thu những thành tựu của thế giới và thực tiễn nghiên cứu trong nước

Từ những năm 1994-1995, Trần Thị Minh Đức với đề tài cấp bộ về “Định hướng nghề nghiệp của SV và HS ở một số trường THPT và ĐH ở Hà Nội”, mã số B94; 0507

đã mở ra một xu hướng nghiên cứu ĐHN cụ thể, thực tế và bám sát những đối tượng mà

xã hội lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm Cũng trong năm 1994, Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục đã tiến hành nghiên cứu “Một số đặc điểm xu hướng nghề nghiệp của SV trong

sự chuyển đổi kinh tế-xã hội mới” do Trần Ninh Giang làm chủ nhiệm Kết quả phản ánh tình hình KT-XH chi phối mạnh mẽ đến việc chọn nghề của SV, từ đó phát triển xu hướng lựa chọn nghề nghiệp thiên về kinh tế và công nghiệp ở SV [20]

Từ năm 1991-1995, nhiều đề tài KX thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước đã tiếp cận: “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” mã số KX-07-10 do Thái Duy Duyên làm chủ nhiệm, đã khảo sát trên các đối tượng thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức và chủ doanh nghiệp trẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Nghệ An, Hồ Chí Minh về “Nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên và định hướng giá trị của thanh niên” nội dung nghiên cứu tập trung vào xem xét các vấn đề lý tưởng, niềm tin của thanh niên, việc làm, nghề nghiệp, rèn luyện, bồi dưỡng tài năng, tình yêu hôn nhân và gia đình Năm 1989, Lê Quang Sơn trong luận án tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của

Trang 19

thanh niên Việt Nam hiện đại” đã xem định hướng giá trị như là những thái độ của nhân cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấu trúc lại trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách [5]

Hướng nghiệp ở Việt Nam đã có những phát triển mãnh mẽ vào thập niên 70 của thế

kỷ XX, đặc biệt là vào năm 1977 với các nghiên cứu đầu tiên về HN do các chuyên gia tâm lý như Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong…tiến hành Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Tất Dong với hai cuốn sách “Giúp bạn chọn nghề” và “Hướng nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới mới” số 91/1994 đã đề cập một cách

hệ thống về hứng thú nghề nghiệp cũng như những vấn đề cơ bản về nội dung, phương pháp HN cho HS Theo ông, hứng thú môn học, hứng thú nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy việc chọn nghề và thực hiện khả năng của mình là động cơ mạnh nhất, quan trọng nhất của việc lựa chọn nghề nghiệp của HS Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu khác của ông như “Hướng nghiệp cho nữ sinh phổ thông trung học” (1973), “Phụ nữ và nghề nghiệp” (1978)…cũng đã đóng góp to lớn trong ĐHN tại Việt Nam [30] Theo tổng cục dạy nghề, viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã cho xuất bản cuốn sách “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” năm 1986 đã nói về việc hướng nghiệp cho tuổi trẻ, sách giúp cho học sinh trung học phổ thông tìm hiểu về nghề nghiệp

Tác giả Chu Văn Thảo với công trình “Nghiên cứu giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh tại các trung tâm KTTH HN ở tỉnh Bắc Ninh” đã nhấn mạnh rằng đa số học sinh trung học trước khi chọn nghề chưa hiểu hết ý nghĩa và tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học, các em chưa hiểu rõ về nghề nghiệp chưa đánh giá đúng năng lực bản thân, sự hiểu biết về nghề của các em còn đơn giản, nghèo nàn so với thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú, đa dạng Thiếu thông tin về thị trường lao động đã làm các em lúng túng khó khăn khi chọn nghề Nhìn chung, nhận thức của HS về nghề nghiệp còn chung chung [18]

Năm 2008, tác giả Trần Đình Chiến với công trình nghiên cứu “Xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” đã phản ánh thực trạng chọn nghề của HS nơi đây HS chọn nghề theo địa vị, danh tiếng trong

xã hội, chưa quan tâm đến sự phù hợp giữa nghề với bản thân mình Tác giả Nguyễn

Trang 20

Quang Uẩn cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu về đặc điểm xu hướng nghề của học sinh thành phố theo các chỉ số: mức độ nhận thức nghề, tính ổn định của thái độ đới với nghề, qua đó cho thấy đặc điểm chung về xu hướng nghề của HS trung học, xác định được nghề mà học sinh biết nhiều nhất cũng như thái độ đánh giá của học sinh về các nghề [36]

Năm 2009, với cuốn “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên các chuyên ngành thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin” được xuất bản cũng đề cập đến vấn đề ĐHN cho các

SV chuyên ngành, kết luận cho thấy tự bản thân SV chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc

về đặc trưng của các nghề thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin [12] Từ đó, ta thấy vấn đề ĐHN cho SV được nghiên cứu rộng trên nhiều lĩnh vực rất cần thiết và quan trọng Bên cạnh đó cũng có những đề tài luận văn, khóa luận nghiên cứu về ĐHN Cụ thể như “Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Vĩnh Long” của tác giả Lê Thị Ngọc Giàu (2015) kết luận: Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên trường ĐH SPKT Vĩnh Long chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nhà trường cao nhất Từ đó, đòi hỏi nhà trường phải có những biện pháp đúng đắn để giúp cho sinh viên định hướng tốt nghề của mình [14] Tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Trúc với đề tài

“Định hướng giá trị nghề của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Nha Trang (2015) [32] Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Dương Liễu (2014) là “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học ở một số trường Đại học tại tp HCM” kết luận: Định hướng ngành học và nghề nghiệp của sinh viên còn chủ quan, cảm tính, chưa dựa trên cơ sở khoa học sự phù hợp về tính cách năng lực của bản thân với ngành nghề theo học [20] Đề tài của Phạm Thị Thúy Hằng “Định hướng nghề của sinh viên ngành Tâm lý học-Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM, kết luận: Sinh viên chuyên ngành tâm lý có định hướng nghề ở mức khá tốt [15] Nhìn chung, các tác giả có nghiên cứu

về định hướng nghề cho HS, SV nói chung Nhưng cũng chưa có ai đi sâu vào để tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề ĐHN cho SV năm 4 ngành Tâm lý học, đặc biệt đây là giai đoạn mà SV chuẩn bị ra trường, chuẩn bị bước vào môi trường công việc theo hướng mình chọn Để đáp ứng nhu cầu mà xã hội đặt ra cho SV, thì mỗi SV cần phải định

Trang 21

hướng như thế nào, cần phải trang bị những gì? Vì vậy, đây cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài này để đi sâu vào tìm hiểu

2 Lý luận về định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

2.1 Khái niệm định hướng

Theo từ điển Tiếng Việt, định hướng là “xác định phương hướng” [24]

Theo từ điển Hán Việt, định trong từ “定” phiên âm tiếng La Tinh là “dìng” được hiểu là xác định, chắc chắn đã được xác định Hướng trong từ “向” phiên âm tiếng La Tinh là “xiàng” được hiểu là chí hướng, hướng về, nhìn về, hướng động tác nhằm, về, đến [33]

Theo từ điển Tiếng Anh, định hướng trong từ “Orientation” là những hoạt động cụ thể có tính mục đích nhằm hướng đến những đối tượng cụ thể [38]

Định hướng theo cách hiểu thông thường nghĩa là sự lựa chọn, là xác định cho mình một lối đi một cách làm hay rộng hơn là hành động, lối cư xử sao cho phù hợp với bản thân và với sự tồn tại xung quanh

Theo tác giả Phạm Thị Thúy Hằng định hướng là hành động xác định một hướng đi

cụ thể cho hoạt động nào đó trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc

kỹ những đặc điểm từng đối tượng sao cho phù hợp nhất với mọi điều kiện khách quan

và chủ quan của chủ thể [15]

Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (Viện KHXHVN), năm 2008, định hướng là khuynh hướng của một hoạt động cụ thể, thể hiện sự am hiểu thông thạo vấn đề và gắn liền với những kỹ năng nắm bắt làm chủ trong một hoàn cảnh hay bối cảnh nào đó [10]

Từ việc học hỏi và xem xét kinh nghiệm của các tác giả đi trước, người nghiên cứu nhận thấy đồng quan điểm với tác giả Phạm Thị Thúy Hằng về khái niệm định hướng

Từ đó, người nghiên cứu đưa ra quan niệm về định hướng trong đề tài này như sau:

Định hướng là hành động để xác định, đưa ra một hướng đi cụ thể cho một hoạt động nào đó dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc kỹ đặc

Trang 22

điểm của từng đối tượng có liên quan nhằm lựa chọn được một hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể

Theo tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Giúp bạn chọn nghề”, thì nghề là nhóm những chuyên môn gần nhau Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, trong

đó, con người bằng sức mạnh thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất hoặc những giá trị tinh thần [8]

Theo từ điển Tâm lý học, nghề được trình bày là “công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” Nghề không chỉ là một hoạt động tạo ra của cải vật chất phục vụ cho

xã hội mà nghề còn phục vụ cho nhu cầu của bản thân người lao động Đó không chỉ là những nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần [31]

Theo tác giả E.A.Klimov, nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động

mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển [36]

Tóm lại: Người nghiên cứu quan niệm về nghề trong đề tài này như sau:

Trang 23

Nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những năng lực và phẩm chất nhất định phù hợp với yêu cầu của từng dạng lao động, từ đó con người có thể tạo ra được các sản phẩm về vật chất cũng như tinh thần đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển.

2.2.2 Đặc điểm

- Một nghề trong xã hội là công việc chuyên môn trong một lĩnh vực hoạt động nhất định, nó đòi hỏi người làm việc phải có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các phẩm chất đạo đức

- Hoạt động nghề có mục đích rõ ràng, không những mang lại lợi ích cho xã hội

mà còn cho nhu cầu của con người

- Là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của

- Nghề nghiệp trong toàn cầu rất đa dạng, người ta ước tính vào năm 2012 trên thế giới có hơn 2000 nghề với hành chục nghìn chuyên môn khác nhau Ở Mỹ có khoảng 40.000 chuyên môn trong xã hội [5] Hiện nay có tới 70.000 nghề và hàng chục nghìn chuyên môn (2017) Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới

500 nghề bị đào thải, khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề TCCN, CĐ, ĐH) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau Do đó, có nhiều cách phân loại để tạo thành những nghề và nhóm nghề nhất định [15]

- Theo tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Tư vấn hướng nghiệp”(2002) có 7 loại nghề : Nghề tiếp xúc với con người, nghề kỹ thuật, nghề thợ, nghề trong lĩnh vực văn

Trang 24

học nghệ thuật, nghề tiếp xúc với thiên nhiên, nghề con người với dấu hiệu và nghề hành chính

- Căn cứ vào mối quan hệ giữa con người và đối tượng lao động E.A.Klimov cho rằng có 5 nhóm nghề: Nghề tiếp xúc với con người, nghề kỹ thuật, nghề trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, nghề tiếp xúc với thiên nhiên và nghề con người với dấu hiệu Cách phân loại như trên không phải chia các nghề theo ngành kinh tế mà theo những đặc điểm tâm lý gần hoặc giống nhau được xếp vào một nhóm sao cho dễ lựa chọn [9]

- Sổ tay hướng nghiệp (1998), có 101 nghề được đề cập đến với tất cả các lĩnh vực trong xã hội [26]

Như vậy, có rất nhiều cách phân loại về nghề Mỗi cách phân loại đều dựa vào dấu hiệu nào đó về nghề Từ đó khó có thể đưa ra kết luận phân loại nào là phù hợp nhất Ở

đề tài này chúng tôi quan tâm đến nghề nghiệp và những chuyên môn thuộc chuyên ngành Tâm lý học

2.2.4 Một số lĩnh vực nghề nghiệp chính trong Tâm lý học

Ở các nước phát triển, các ngành nghề về Tâm lý học rất phổ biến và có uy tín trong

xã hội Ở Việt Nam, do chỉ mới được thành lập vào những năm của thế kỷ XX, số lượng đội ngũ cán bộ chưa nhiều, uy tín nghề chưa cao vì thế chưa được phổ biến trong xã hội Nghề tâm lý học có đặc điểm là bao gồm các tri thức, kỹ năng và phẩm chất chuyên ngành mà người học tiếp thu và rèn luyện được trong quá trình đào tạo theo chuyên ngành Tâm lý học cho phép bản thân họ có thể tiến hành hoạt động trong lĩnh vực tâm

lý và được pháp luật thừa nhận

Thế giới: các lĩnh vực nghề nghiệp trong TLH trên thế giới rất phong phú và đa

dạng Những lĩnh vực được đề cập sau đây là những lĩnh vực chính đã tồn tại và đang tiếp tục phát triển ở các nước trên thế giới (Nghiên cứu và lược dịch từ tài liệu của APA

- Career in Psychology - 2011) [15] Gồm có:

1/ Lĩnh vực Tâm lý Lâm Sàng (Clinical Pychology)

Các nhà TLH lâm sàng khám và điều trị các rối loạn cảm xúc và tâm thần Họ có thể làm việc ở các học viện, bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng

Trang 25

hoặc hành nghề tư và thường chuyên sâu vào một rối loạn hay bệnh nào đó Cử nhân và thạc sĩ tâm lý không được phép hành nghề độc lập nhưng họ có thể làm việc dưới sự giám sát và hướng dẫn của các học vị tiến sĩ

2/ Tâm lý học Cộng Đồng (Community Psychology)

Các nhà TLH cộng đồng quan tâm đến những hành vi trong đời sống hằng ngày trong môi trường gia đình, khu dân cư công sở Công việc chính của họ là tìm hiểu những nhân tố tạo ra những hành vi bình thường và bất thường trong những môi trường ấy cùng với việc chăm sóc sức khỏe tinh thần và ngăn chặn những rối loạn

3/ Tâm lý học Tham Vấn (Counseling Psychology)

Các nhà tham vấn tâm lý giúp thân chủ tháo gỡ, ra quyết định và ứng phó với áp lực trong cuộc sống Họ thường làm việc ở các học viện, ngày nay các nhà tham vấn thường

có xu hướng làm việc trong các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần, bệnh viện, bệnh viện quân y và các phòng khám tư nhân

4/ Tâm lý học Phát Triển (Developmental Psychology)

Các nhà TLH phát triển nghiên cứu sự phát triển về mặt tâm lý của con người từ lúc

sơ sinh cho đến lúc tuổi già Họ mô tả, đo lường, giải thích những thay đổi về hành vi liên quan đến độ tuổi, sự phát triển cảm xúc, những đặc trưng tâm lý của từng độ tuổi

và sự phát triển tâm lý bất bình thường Nhiều người có học vị tiến sĩ làm trong các học viện, nghiên cứu các đề tài khoa học, làm cố vấn chương trình cho các trung tâm chăm sóc sức khỏe, trường học bệnh viện, các phòng khám nhi Ngoài ra, họ còn quan tâm

đến vấn đề lão hóa và làm việc với đối tượng người già

5/ Tâm lý học Giáo Dục (Educational Psychology)

Các nhà TLH Giáo Dục nghiên cứu vấn đề học tập của con người, thiết kế các tài liệu phương pháp hỗ trợ cho người học ở mọi lứa tuổi Nhiều người làm việc trong môi trường đại học, một số khác ngiên cứu về những đề tài liên quan về vấn đề học tập như đọc, viết, toán học và khoa học Ngoài ra, họ còn làm việc trong các cơ quan trong chính phủ hay trong lĩnh vực kinh doanh, thiết kế và thực thi các chương trình huấn luyện Tất

cả họ phải có học vị tiến sĩ

6/ Tâm lý học Thực Nghiệm (Experimental Psychology)

Trang 26

Nhà TLH thực nghiệm là một nhóm các nhà tâm lý học nghiên cứu và giảng dạy về những tiến trình hành vi cơ bản Những tiến trình này bao gồm học tập, nhận thức, năng lực, con người, động cơ, trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp và các quá trình sinh lý cơ bản của hành vi như: ăn uống, đọc, hiểu và giải quyết vấn đề Ngoài ra, họ cũng nghiên cứu trên động vật để hiểu hơn về hành vi con người Hầu hết họ làm việc tại các học viện giảng dạy, hướng dẫn và giám sát sinh viên nghiên cứu đề tài Họ cũng làm việc tại các viện nghiên cứu ngành kinh tế, công nghiệp và làm cho chính phủ Đòi hỏi tất cả

họ phải có học vị tiến sĩ trở lên

7/ Tâm lý học Tổ Chức/Công Nghiệp (Industrial - Organizational Psychology)

Các nhà TLH Tổ Chức/Công Nghiệp nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và công việc, cụ thể là cấu trúc và sự thay đổi của tổ chức, năng suất lao động của công nhân, sự hài lòng về công việc, tuyển chọn, luân chuyển, huấn luyện và phát triển nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa con người và máy móc Trong môi trường kinh doanh, công nghiệp hay chính phủ, họ thiết kế công việc theo dây chuyền, đề xuất những thay đổi để giảm tính đơn điệu trong công việc và tăng cường trách nhiệm cho công nhân, đưa ra những khuyến cáo với các phương pháp quản trị,…Họ phải có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ

8/ Tâm lý học Thần Kinh (Neuro Psychology)

Họ nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ chế sinh học cụ thể trong não bộ và hành vi mối quan hệ giữa cấu trúc não bộ với chức năng và những thay đổi về vật lý, hóa học khi chúng ta trải qua những cảm xúc khác nhau Họ làm việc ở các khoa thần kinh học, khoa giải phẫu thần kinh, khoa tâm thần và khoa nhi trong các bệnh viện hay phòng khám Để hành nghề đòi hỏi họ phải có học vị tiến sĩ, nhiều vị trí khác bắt buộc phải có học vị sau tiến sĩ

9/ Tâm lý học Định Hướng và Đo Lường (Psychometries and Quantitative Psychology)

Họ nghiên cứu những phương pháp lĩnh hội và ứng dụng TLH, chuẩn hóa các trắc nghiệm hay xây dựng những bộ trắc nghiệm mới sử dụng trong môi trường học đường, tham vấn, trong công nghiệp và kinh doanh Họ được đào tạo bài bản về toán học, lập

Trang 27

trình máy tính, thống kê và công nghệ nên có thể hỗ trợ người nghiên cứu TLH và các lĩnh vực khác thiết kế và đọc kết quả Học vị tiến sĩ làm việc tại các trường ĐH, các cơ quan chính phủ, thạc sĩ làm việc cho các công ty trắc nhiệm và nghiên cứu tư nhân

10/ Tâm Lý Học Đường (School Psychology)

Họ giúp đỡ các nhà giáo dục đẩy mạnh sự phát triển tri thức, xã hội và cảm xúc của học sinh, xây dựng những môi trường thuận lợi cho việc học và sức khỏe tâm thần Họ

có thể đánh giá và thiết kế chương trình cho những học sinh cá biệt hay giải quyết những vấn đề nảy sinh trong lớp học Đôi khi họ cũng tham vấn cho giáo viên và tham khảo ý kiến của phụ huynh cũng như giáo viên để giúp các em học sinh

11/ Tâm lý học Xã Hội (Social Psychology)

Các nhà TLH Xã Hội họ nghiên cứu cách thức tương tác của con người với nhau và tìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với cá nhân Họ nghiên cứu cả cá nhân

và nhóm, những hành vi có thể quan sát hay những suy nghĩ thầm kín Họ thường nghiên cứu các lý thuyết về nhân cách, sự hình thành và thay đổi thái độ, sự tương tác giữa người với người…

12/ Tâm lý học Gia Đình (Family Psychology)

Các nhà TLH Gia Đình nghiên cứu, giáo dục, ngăn chặn những xung đột trong gia đình, điều chỉnh những vấn đề trong hôn nhân và giúp đỡ gia đình phát triển bình thường Với tư cách nhà cung cấp dịch vụ, họ thiết kế những chương trình hỗ trợ hôn nhân, chuẩn bị tiền hôn nhân, cải thiệm mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giúp đỡ cha mẹ

có con cái đặc biệt Hầu hết họ được đào tạo về tham vấn và lâm sàng Họ làm việc trong các trường y khoa, bệnh viện hành nghề tư nhân, học viện và các tổ chức cộng đồng

13/ Tâm lý học Sức Khỏe (Health Psychology)

Họ quan tâm nghiên cứu những ảnh hưởng tâm lý đối với sức khỏe của con người và điều trị bệnh tật Với tư cách là nhà TLH ứng dụng hoặc lâm sàng, họ thiết kế và thực hiện những chương trình giúp bệnh nhân bỏ thuốc lá, giảm cân, giảm áp lực và bảo vệ

cơ thể Với tư cách là nhà nghiên cứu họ tìm hiểu những điều kiện và thực tiễn gắn liền với bệnh tật và sức khỏe Hầu hết họ lấy văn bằng từ các lĩnh vực khác của TLH như

Trang 28

lâm sàng hoặc tham vấn nhưng họ quan tâm nghiên cứu chính và thực hành trong lĩnh vực TLH về sức khỏe

14/ Tâm lý học Lão Hóa (Geropsychology)

Họ quan tâm đến những vấn đề xã hội học, sinh lý học, nghiên cứu sự phát triển của người cao tuổi và sự lão hóa Họ giải quyết những vấn đề an sinh xã hội trong tâm lý người già Họ làm việc tại các học viện, trung tâm nghiên cứu, các tố chức chăm sóc sức khỏe, phòng khám tâm thần hoặc những cơ quan dịch vụ dành cho người già

15/ Tâm lý học Pháp Lý (Forensic Psychology)

Họ quan tâm đến pháp lý dưới góc nhìn của TLH và những câu hỏi về TLH trong những bối cảnh pháp lý Họ giúp đỡ các thẩm phán quyết định cha hay mẹ có quyền chăm sóc con cái, đánh giá nạn nhân của các vụ tai nạn để xem xét người đó có vấn đề

về sức khỏe tâm thần hay tâm lý không Họ đánh giá khả năng tâm thần của bị cáo, tham vấn cho tù nhân, nạn nhân của tội ác, giúp đỡ họ đương dầu với cuộc sống bình thường Một số người có cả học vị tiến sĩ về tâm lý và pháp luật Người có học vị tiến sĩ có thể làm tại các khoa TLH, các trường luật, các tố chức nghiên cứu, cơ quan chăm sóc sức

khỏe cộng đồng, tòa án, cơ quan luật

16/ Tâm lý học Phụ Nữ và Nam Giới (Psychology of Women and Men)

Họ nghiên cứu những nhân tố xã hội và tâm lý ảnh hưởng đến sự phát triển giới tính

và hành vi, mối quan hệ giữa hoocmone giới tính và hành vi, sự phát triển và vai trò của giới tính, tình dục và sự lạm dụng, những phản ứng khi bị hãm hiếp…Họ thường làm việc ở những viện điều dưỡng, trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng các trường đại học các khoa tâm thần cũng như các trung tâm công tác xã hội

17/ Tâm lý học Thể Thao (Sport Psychology)

Là lĩnh vực ứng dụng các nguyên tắc tâm lý nhằm cải thiện quá trình thi đấu thể thao

và tạo sự thích thú cho người tham gia thể thao Tại Olympics năm 1996, hơn 20 nhà TLH thể thao làm việc với các vận động viên và huấn luyện viên của Mỹ Có thể nói đây là mảnh đất giàu tiềm năng, các nhà TLH cần khai phá

18/ Tâm lý học Xuyên Văn hóa (Cultural Cross Psychology)

Trang 29

TLH Xuyên Văn Hóa tìm hiểu vai trò của yếu tố văn hóa trong việc hiểu hành vi suy nghĩ và cảm xúc Các nhà TLH Xuyên Văn Hóa so sánh bản chất của các quá trình tâm

lý ở nền văn hóa khác nhau, đặc biệt quan tâm đến những hiện tượng tâm lý mang tính phổ biến toàn cầu hay mang đặc trưng của từng nền văn hóa

19/ Tâm lý học Phục Hồi Chức Năng (Rehabilitation Psychology)

Họ làm việc với các nạn nhân của các vụ tai nạn và đột quỵ, những người có các khuyết tật về phát triển gây ra bởi chứng bại não, động kinh và tự kỷ Họ giúp thân chủ thích ứng với những tình huống và phát triển, giải quyết vấn đề liên quan đến sự thích ứng của cá nhân, quản lý các mối quan hện nhân cách Họ làm việc với các chuyên gia sức khỏe nhằm ngăn ngừa tình trạng khuyết tật, gồm cả vấn đề được tạo ra bởi bạo lực

và lạm dụng chất Họ cũng làm việc trong tòa án như những chuyên gia làm chứng về những ảnh hưởng của khuyết tật và những nhu cầu phục hồi chức năng

20/ Tâm lý học Tiến Hóa (Evolutionary Psychology)

Họ thường hứng thú với những nghịch lý và những vấn đề về tiến hóa Chẳng hạn một số hành vi thích ứng cao trong sự tiến hóa của con người trong quá khứ không còn thích hợp với thế giới hiện đại Họ nghiên cứu cách thức tác động của các nguyên lý tiến hóa như sự biến đổi, thích ứng và sự chọn lọc ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc và hành

vi của con người Ngoài ra, họ còn tập trung nghiên cứu mẫu hành vi di truyền có tác động đến những cơ hội sống sót, nghiên cứu về sự giao cấu, hành vi gây hấn, giúp đỡ

và giao tiếp [15]

Việt Nam:

Theo danh mục nghề tổng cục thống kê đã ban hành năm 2010, nghề nghiệp thuộc chuyên ngành Tâm lý học tại Việt Nam là những nghề mang tính đặc thù cao Nghề TLH ở Việt Nam là nhóm nghề có mã số 2445 (nghề chuyên môn kỹ thuật bậc cao) thuộc nhóm nghề KHXH [48]

Tâm lý học ngày nay, càng ngày càng được xã hội biết đến nhiều hơn vì nhu cầu ngày càng bức thiết hơn, nên các SV sau khi tốt nghiệp hệ cử nhân ra trường có thể đảm nhận

và đủ khả năng thực hiện các công việc theo các nhóm nghề chính sau (dựa trên mục tiêu đào tạo hiện nay (2017) tại 3 trường ĐH KHXH&NV, ĐHSP TPHCM, và ĐHVH (Phụ lục 2, 3, 4, 5):

Trang 30

1/ Nhóm nghề Tham vấn - Trị liệu tâm lý

2/ Nhóm nghề Quản lý - Tổ chức nhân sự

3/ Nhóm nghề khác có ứng dụng về tâm lý

4/ Nhóm nghề Giảng dạy về tâm lý

5/ Nhóm nghề Nghiên cứu khoa học tâm lý

Họ có thể làm việc tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học trên cả nước Nghiên cứu tại các Viện nghiên cứu về tâm lý, con người…Tham vấn và trị liệu tâm lý tại các bện viện, hay trung tâm Làm việc trong các công ty, tổ chức phi chính phủ như nghiên cứu thị trường, quản lý nhân sự, nhân viên Marketing…Làm việc cho các đài truyền hình, truyền thông - quảng cáo, viết chương trình, tổ chức sự kiện hay làm việc cho các

tổ chức bảo vệ bà mẹ trẻ em, trại cai nghiện và phục hồi nhân phẩm,…

2.3 Khái niệm định hướng nghề

Theo Nguyễn Văn Hộ, ĐHN là một quá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lý về không gian, thời gian về nguồn lực tương ứng với những

gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó [9]

Theo từ điển Tâm lý học, của tác giả Nguyễn Văn Lũy - Lê Quang Sơn, định hướng nghề nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp thanh thiếu niên làm quen với thế giới nghề nghiệp Định hướng nghề nghiêp tạo điều kiện cho việc chọn nghề phù hợp với năng lực

và thiên hướng cá nhân cũng như với những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho con người [22]

Theo nhà TLH xô viết E.A Klimov, sự định hướng vào việc hình thành phong cách

cá nhân của hoạt động Ông thừa nhận nguyên tắc thống nhất giữa ý thức - hoạt động: 1/ Thừa nhận có những phẩm chất tâm lý cá nhân không được giáo dục vẫn giúp cho thực hiện kết quả hoạt động nào đó

2/ Có những phương án theo cách thức khác nhau nhưng ngang bằng hiệu quả (sản phẩm lao động) phù hợp với những điều kiện hoạt động nghề nghiệp

Trang 31

3/ Có những khả năng rộng lớn để khắc phục những biểu hiện yếu của từng năng lực riêng khi chú ý luyện tập chúng hoặc bù trừ bằng phương tiện của các năng lực khác nhau hay cách thức làm việc

4/ Sự hình thành những năng lực cần thiết có tính đến những đặc trưng riêng của nhân cách nghĩa là tính đến những điều kiện bên trong của sự phát triển cũng như những điều kiện bên ngoài [15]

Từ việc học hỏi và rút kinh nghiệm của các tác giả đi trước cũng như kết hợp với khái niệm về định hướng và khái niệm về nghề, người nghiên cứu quan niệm ĐHN trong đề tài này như sau:

Định hướng nghề là hành động xác định một hướng đi cụ thể cho hoạt động lao động dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc kỹ những đặc điểm liên quan đến nghề sao cho phù hợp nhất với mọi điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể

Như vậy, ta có thể hiểu ĐHN gồm:

1/ Xác định hướng đi trong nghề dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và cân nhắc kỹ những đặc điểm của đối tượng liên quan đến nghề

2/ Xem xét và so sánh với điều kiện và hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể sao cho phù hợp nhất

Các tín hiệu cơ bản cần cho việc ĐHN

- Phải đảm bảo cung cấp hệ thống thông tin đa diện về con người, thế giới nghề nghiệp và nghiên cứu xã hội đối với nghề

- Định hướng nghề có mục đích là hướng vào việc lựa chọn nghề một cách phù hợp, có nghĩa là tìm hiểu thông tin liên quan đến nghề và những gì liên quan nhằm quyết định đúng đắn nghề mà mình chọn

Đặc điểm định hướng nghề

Định hướng nghề là một thành phần quan trọng của công tác hướng nghiệp Vì vậy,

để có một cái nhìn tổng thể và rõ ràng hơn, sau đây tác giả đưa vào một số đặc điểm về công tác hướng nghiệp nói chung

Trang 32

Công tác hướng nghiệp đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin sau cho

SV ra trường: Tri thức về hệ thống các nghề thuộc chuyên ngành mà SV đã chọn học, yêu cầu đặc điểm cụ thể của từng nghề; tri thức về nhu cầu lao động của xã hội đối với

hệ thống các nghề thuộc chuyên ngành; những hiểu biết về nhân cách đặc biệt là năng lực của bản thân SV

Để thực hiện 3 nội dung trên, công tác hướng nghiệp có các hình thức sau: Giáo dục nghề nghiệp và tuyên truyển nghề nghiệp:

- Nhiệm vụ của giáo dục nghề nghiệp:

o Giúp SV làm quen với một số nghề cơ bản, phổ biến của ngành học trong xã hội, đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển các nghề nghiệp cùng với những yêu cầu tâm lý do nghề nghiệp đó đặt ra cho người lao động

o Tạo điều kiện ban đầu để SV phát triển năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã hình thành

o Giáo dục SV thái độ lao động đúng đắn, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong

dự định nghề của SV

- Nhiệm vụ của tuyên truyền nghề nghiệp:

o Làm cho SV chú ý đến những nghề nghiệp đang phát triển thuộc ngành học và

có nhu cầu cấp thiết về nhân lực trong xã hội

o Giới thiệu các gương lao động sáng tạo, thành công nghề nghiệp và đời sống xã hội, qua đó điều chỉnh động cơ, hứng thú chọn nghề của SV

Như vậy, ĐHN nằm trong hướng nghiệp, ĐHN tập trung vào quá trình nhận thức về nghề để từ đó, chủ thể có những thái độ và hành vi tích cực hướng đến nghề lựa chọn Bên cạnh đó, ĐHN cũng là quá trình mà cá nhân chủ thể tìm hiểu về bản thân trong sự tương thích với nghề, từ đó chủ thể có sự trau dồi và rèn luyện hướng đến việc đáp ứng các yêu cầu về nghề và sự phát triển nghề trong tương lai

Quá trình ĐHN của SV trải qua 4 giai đoạn như sau:

- GĐ1: Trước khi bước vào trường, đây là giai đoạn hình thành ĐHN trong quá

trình học tập ở phổ thông và làm quen với thế giới nghề nghiệp, xác định nghề tương lai

Trang 33

- GĐ2: Những học kỳ đầu tiên tại trường ĐH, CĐ, là giai đoạn đào tạo nghề, hình

thành và điều chỉnh ĐHN, phát triển kỹ năng, kỹ xảo về nghề, phẩm chất cần thiết

- GĐ3: Học kỳ cuối của khóa học tại trường CĐ, ĐH, là giai đoạn SV tham gia

vào thực tập nghề, thâm nhập nhân cách vào lao động nhằm hình thành phát triển toàn diện với nghề được chọn

- GĐ4: Sau khi tốt nghiệp ĐH CĐ, là giai đoạn SV tích cực tham gia chủ động vào

hoạt động nghề nghiệp, học hỏi và lĩnh hội những gì liên quan đến nghề nhằm đạt được

sự cân bằng và gắn bó lâu dài với nghề [20]

ĐHN cũng là quá trình hình thành nhân cách nghề của chủ thể Nó được diễn ra theo các hướng cơ bản sau:

1/ Xu hướng nghề và các năng lực cần thiết của nghề được hình thành, củng cố và phát triển;

2/ Hoạt động nhận thức, đặc biệt là quá trình nhận thức được “nghề nghiệp hóa”; kì vọng đối với nghề nghiệp được phát triển; khả năng tự giáo dục, tu dưỡng được nâng cao;

3/ Tính độc lập và tâm thế sẵn sàng đối với nghề nghiệp được củng cố

Quá trình này diễn ra trong suốt quá trình học tập từ năm nhất đến năm cuối ở trường nghề [35]

Trong quá trình ĐHN để giúp SV có sự sẵn sàng về mặt tâm lý bước vào nghề, theo tác giả Phạm Tất Dong cần có sự chuẩn bị như sau:

- Xây dựng chương trình tìm hiểu nghề thông qua các phương tiện khác nhau

- Có kế hoạch học thật chắc, thật sâu những môn học có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai

- Xây dựng kỹ thuật nâng cao năng lực kỹ thuật thông qua việc hỏi và thực hành

kỹ thuật Cần kết hợp chặt giữa việc nâng cao lý luận và thực hành kỹ năng

- Phải có kế hoạch tự giáo dục, tu dưỡng bản thân [22]

Sự phù hợp nghề dưới góc độ tâm lý

Trang 34

Phù hợp nghề được xem là sự hài hòa, sự ăn khớp hay sự tương xứng trong cặp người

- nghề, là sự tương ứng giữa những phẩm chất đạo đức, năng lực với những yêu cầu cụ thể của công việc trong nghề đối với người lao động

Theo tác giả, sự phù hợp nghề có nhiều mức độ như sau:

- Không phù hợp: không có phẩm chất và năng lực nào phù hợp với nghề chuyên

môn

- Phù hợp một phần: Nhiều phẩm chất không đáp ứng được hay những năng lực

đáp ứng cho nghề là rất ít

- Phù hợp phần lớn: Những phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của cá

nhân đáp ứng hầu hết các yêu cầu cơ bản của nghề

- Phù hợp hoàn toàn: Con người có sự hài hòa với nghề và đáp ứng được tất cả

những yêu cầu chuyên môn của nghề đặt ra

Sự phù hợp nghề sẽ là chỉ báo cho biết cá nhân ấy có phù hợp với nghề hay không Một người được xem là phù hợp với nghề nào đó, nếu họ có những phẩm chất hay khả năng đáp ứng cao những yêu cầu của nghề nghiệp

Sự phù hợp nghề cũng thể hiện ở các dấu hiệu sau: Tốc độ làm việc, sự chính xác của công việc và mức độ tổn hại bản thân bởi nghề

2.4 Khái niệm sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ La Tinh là “Studens”, nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức của nhân loại Sinh viên là những người đang chuẩn

bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội [16] Khái niệm này được dùng tương đương với “Student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp

để chỉ những người theo học ở bậc Đại học, Cao đẳng được phân biệt với HS đang theo học phổ thông

Thông thường sinh viên được hiểu là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong

và sau quá trình học

Trang 35

X.L.Rubinstein, ông quan niệm SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất hay tinh thần cho xã hội Nhóm SV này rất cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội, SV là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ trí thức được đào tạo trở thành những lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xã hội tích cực [20]

Tóm lại: Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất hay tinh thấn cho xã hội

2.5 Một số đặc điểm của sinh viên

Đặc điểm sinh lý

Về tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17-25 tuổi, một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành về giải phẩu và sinh lý của tuổi thanh niên là đặc trưng cho lứa tuổi sinh viên [16] Trong giai đoạn này có sự chín muồi về giới tính, các SV đều phát triển đến một trình độ về hệ cơ xương, thần kinh, sinh dục và tuyến nội tiết Đây là thời kỳ hình thành rõ nét về bên ngoài, chiều cao, tầm vóc cũng dần vào ổn định và hoàn thiện

Khả năng tự đánh giá bản thân: Sinh viên khao khát muốn biết họ là ai, là người như thế nào, có năng lực gì Tự đánh giá của sinh viên có 4 đặc điểm sau:

Trang 36

1/ Tự đánh giá của sinh viên có chủ kiến rõ ràng và đã có sự đối chiếu với các chuẩn chung của xã hội Sinh viên, khi đánh giá bản thân thường chủ yếu dựa vào nhận thức của mình

2/ Sự phản tỉnh về các phẩm chất tâm lý của mình là một trong những đặc trưng điển hình Phản tỉnh là sự quay vào bên trong bản thân của ý thức, làm cho các phẩm chất tâm lý của cá nhân được phản ánh rõ nét hơn

3/ Tự đánh giá của sinh viên có chiều sâu và khái quát hơn Sinh viên không chỉ ý thức và đánh giá về cái tôi hiện thực, mà còn đánh giá cái tôi lý tưởng, cái tôi năng động 4/ Sự tự đánh giá của sinh viên được thực hiện theo hai cách Cách thứ nhất, so sánh mức độ kỳ vọng, mong muốn của mình với kết quả đạt được

Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi sinh viên là hoạt động chuẩn bị nghề nghiệp ở sinh viên thường đặt ra cho mình các câu hỏi: Mình học ngành này liệu đã hợp với mình hay chưa? Sẽ trở thành con người như thế nào về phương diện lựa chọn ngành nghề tương lai? Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức, trí tuệ và thẫm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Trong giai đoạn này sinh viên có

sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang và định hướng giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp, đồng thời bắt đầu thể nghiệm mình trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau Mặc dù nhân cách được hình thành và phát triển trong suốt cả đời người, nhưng trong thời kỳ học nghề là gia đoạn hình thành mạnh mẽ nhất về xu hướng nhân cách người lao động [16] Hạn chế của SV là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ và hành động, đặc biệt trong việc tiếp thu những cái mới Đôi khi tính nhạy cảm, ưa thích cái mới, lạ kết hợp với sự bồng bột của tuổi trẻ sẽ làm cho SV gặp khó khăn trong việc lựa chọn và quyết định nghề cho bản thân

Như vậy, SV có những nét tâm lý điển hình là: Tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển, có nhu cầu khát vọng thành đạt, dám đối mặt với những thách thức, có nhiều ước mơ và trải nghiệm mới SV có hạn chế trong việc chọn lọc và tiếp thu kiến thức, cái mới Những yếu tố này có ảnh hưởng đến việc chọn nghề và học tập của SV Hoạt động chủ đạo của họ là học tập để tiếp thu kiến thức chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai Trong giai đoạn này, sinh viên trực tiếp tham gia vào việc trải nghiệm các công việc cụ thể của nghề Đây cũng là giai đoạn cá nhân

Trang 37

tiếp tục tích lũy kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các yếu tố tâm lý phù hợp với công việc của nghề trong tương lai Vì vậy, tiếp tục hướng nghiệp cho sinh viên là điều rất cần thiết để tạo sự ổn định tâm lý và tâm thế tích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội

Chung quy lại, đặc điểm của lứa tuổi này rất phong phú và phức tạp SV năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tích cực tham gia thực tập nghề nghiệp, thâm nhập nhân cách vào lao động nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với ngành nghề thuộc chuyên ngành Tâm lý học

2.6 Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học

Lựa chọn nghề là công việc quan trọng và hết sức ý nghĩa đối với mỗi sinh viên Quyết định chọn nghề hay ĐHN phải là sản phẩm của quá trình tư duy của cá nhân và kết hợp với nhiều yếu tố khác

Sinh viên năm 4 là những sinh viên đang ở trong giai đoạn 3 và chuẩn bị cho giai đoạn 4, họ chuẩn bị kết thúc học kỳ cuối tại các trường, họ tham gia vào thực tập nghề, thâm nhập nhân cách vào lao động nhằm hình thành và phát triển toàn diện với nghề được chọn Như vậy, theo tác giả, quá trình ĐHN của cá nhân tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2 và 3 Với nhà trường việc hướng dẫn cho SV của mình định hướng nghề tương lai là nhiệm vụ quan trọng Chính định hướng này sẽ là động cơ thúc đẩy từng SV tích cực học tập các môn liên quan với nghề đã chọn Vì vậy, phải khuyến khích, động viên

SV nói lên dự định nghề tương lai của mình

Sinh viên năm 4 trực tiếp tham gia vào việc học nghề và trải nghiệm các công việc

cụ thể của từng nghề Đây là giai đoạn cá nhân vừa tích lũy kiến thức, hình thành kỹ năng, và các yếu tố tâm lý phù hợp với các công việc của nghề trong tương lai vừa tham gia thực tập nghề nghiệp Mặc dù đang học và thực tập nghề nhưng trong giai đoạn này tâm lý nghề của cá nhân thường không ổn định, hay dao động Vì vậy, tiếp tục hướng nghiệp cho sinh viên là điều cần thiết để tạo ra sự ổn định tâm lý và tâm thế tích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội

Trang 38

Năm 4 cũng là lúc mà SV phải trang bị đầy đủ để chuẩn bị ra trường bước vào ngành nghề chính thức Sự chuẩn bị này nhằm tạo ra một tâm trạng, một sự định hướng, một tâm thế đối với công việc sắp làm Trạng thái tâm lý ấy được gọi là sự sẵn sàng về mặt tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Trạng thái ấy thường thể hiện ở các mặt sau đây:

- Có được những hiểu biết tương đối rõ ràng về lao động xã hội, về vai trò và vị trí của nghề mà mình yêu thích, mình định chọn Nắm được những tri thức cần thiết để theo chọn nghề đó

- Có hứng thú học tập những môn học liên quan mật thiết với nghề tương lai

- Có một số kỹ năng, kỹ xảo lao động chân tay và lao động trí óc đối với việc sử dụng những công cụ lao động phổ biến nhất trong nghề mình chọn

- Có một số phẩm chất nhân cách cần thiết cho công việc lao động nghề nghiệp: Những phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật

2.6.1 Nội dung định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học

ĐHN của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học được biểu hiện ở nhiều mặt gồm: Nhận thức, Thái độ và Hành vi của cá nhân đối với bản thân và đối với nghề thông qua

dự định ban đầu về nghề, cũng như định hướng về việc duy trì, phát triển nghề tương lai thuộc chuyên ngành Tâm lý học Có thể trình bày một cách khái quát như sau:

1/ Nhận thức của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học về bản thân và nghề

Nhận thức về bản thân

Nhận thức về những phẩm chất và năng lực hiện có của bản thân

Sinh viên nhận thức về những điều kiện chủ quan của bản thân vốn có Dựa trên các yếu

tố về cấu trúc nhân cách như sở thích, hứng thú, nhu cầu, tính cách, khí chất, năng lực

và một số yếu tố khác như ngoại hình, sức khỏe tâm lý

Nhận thức về nghề

Trang 39

Nhận thức đúng về nghề làm cơ sở cho tình cảm, ý chí nảy sinh từ đó có quan điểm, lập trường tư tưởng và hành động đúng đắn trong quá trình định hướng nghề Nghề là một lĩnh vực khách quan, muốn chiếm lĩnh nó trước hết phải hiểu biết về nó Nhận thức

về nghề là quá trình cá nhân tìm tòi, khám phá những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong nghề Vì vậy, để ĐHN được tốt SV phải có nhận thức đúng và đủ về ngành nghề mà mình chọn

Trong nghiên cứu này tác giả quan niệm, nhận thức về nghề là quá trình cá nhân tìm tòi phát hiện và phản ánh những đặc trưng cơ bản của nghề, những yêu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp, những yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người hành nghề Sinh viên có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về thuận lợi và khó khăn, tầm quan trọng, nội dung và tính chất của nghề

Nhận thức về nghề bao gồm:

- Mục đích, ý nghĩa của nghề, đối tượng nghề hướng đến, công cụ và phương tiện

sử dụng, sản phẩm của nghề, thời gian và không gian thực hiện, yêu cầu của nghề và các lĩnh vực ứng dụng khác…

- Nhận thức về mức độ tương hợp hay sự phù hợp nghề giữa phẩm chất và năng lực bản thân có với những phẩm chất và năng lực cần thiết trong nghề

- Nhận thức về sự đáp ứng nhu cầu của xã hội: Vị thế của nghề trong xã hội hiện nay, sự phân công lao động và mức độ cần thiết của nghề đối với xã hội

2/ Thái độ của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học về ĐHN

Thái độ là một bộ phận cấu thành một thuộc tính toàn vẹn của ý thức tạo ra trạng thái tâm lý sẵn sàng phản ứng lại các tác động khách quan sẵn sàng hành động với đối tượng theo một hướng nhất định Được biểu hiện ra ở quá trình nhận thức, từ việc nhận thức được đối tượng ngành nghề mà mình chọn, SV có thái độ tích cực, phù hợp với ngành nghề ấy

Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu về thái độ tức là nghiên cứu về xúc cảm –tình cảm Thông qua nghiên cứu sự yêu mến, hài lòng, dễ chịu, đồng cảm, mừng rỡ hoặc khó chịu, uất ức, đối với những khía cạnh có liên quan đến quá trình ĐHN, tức là có tình cảm hay không có tình cảm đối với đối tượng nghề tương lai và ở sự rung động quan tâm, chú ý đến các đối tượng nghề như thế nào Thái độ biểu hiện ở việc thể hiện về mặt

Trang 40

cảm xúc thích hay không thích, yêu hay ghét, thái độ tích cực là mức độ ảnh hưởng của thái độ với tính tích cực của cá nhân và biểu hiện của nó trong tính tích cực này Mức

độ tích cực của thái độ được xem xét, thông qua các phản ứng cảm xúc đơn giản hoặc trong các hành vi tích cực cụ thể hướng vào sự thay đổi môi trường xung quanh

3/ Hành vi của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học trong quá trình ĐHN

Trên cơ sở sự hiểu biết đã được hình thành, sinh viên có được những thái độ tích cực đối với hoạt động ĐHN để sẵn sàng tham gia hoạt động nghề sau khi ra trường một cách nghiêm túc SV cũng phải thể hiện tính tích cực, tự giác vượt qua những khó khăn nhất định trong quá trình hình thành thái độ cần thiết với hoạt động Như vậy, khi SV ý thức được đầy đủ khó khăn, tầm quan trọng ý nghĩa của hoạt động ĐHN, từ đó có thái độ đúng đắn, tự giác tham gia các hoạt động đồng thời thực hiện các hành vi tương ứng trong quá trình ĐHN

Trong đề tài này hành vi ĐHN của sinh viên được thể hiện thông qua quá trình cân nhắc kỹ càng, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức và năng lực cần thiết đáp ứng cho việc định hướng nghề tương lai cho bản thân

Hành vi chọn nghề của sinh viên cũng phải dựa trên sự xem xét, phân tích thật cẩn thận và chu đáo Thể hiện qua việc ham học hỏi thêm kiến thức cho bản thân, thường xuyện tự kiểm điểm và tự đánh giá, tự tu dưỡng, giáo dục lại bản thân để xem mình tiến

bộ được bao nhiêu, từ đó ra kế hoạch cho việc tự tu dưỡng, rèn luyện kế tiếp để đáp ứng cho những yêu cầu mà nghề tương lai đặt ra

2.6.2 Tiêu chí đánh giá ĐHN của sinh viên năm 4 chuyên ngành TLH

Trong đề tài này, để xây dựng tiêu chí đánh giá ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học, người nghiên cứu dựa trên các cơ sở:

o Phác họa họa đồ nghề tâm lý (Phụ lục 2) [27]

o Chương trình đào tạo (Phụ lục 3, 4,5)

Từ đó, người nghiên cứu xây dựng lên các tiêu chí đánh giá ĐHN của SV năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tại Tp HCM như sau:

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w