Nếu GVMN có đủ nhận thức và được tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng phương pháp dạy học theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên thì tạo cơ hội học tập mới và nâng cao c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Thanh Hương
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO
DỰ ÁN VÀO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Thanh Hương
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO
DỰ ÁN VÀO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ THỊ NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3dụng phương pháp dạy học theo dự án vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Trà Vinh” là công trình nghiên cứu riêng của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Ngân
Tôi xin cam đoan:
- Luận văn là sản phẩm nghiên cứu của tôi
- Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Tác Giả
Võ Thanh Hương
Trang 4em đồng nghiệp…đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin tri ân sâu sắc
và lời cảm ơn sâu sắc đến: TS Vũ Thị Ngân đã nhiệt tình định hướng và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm, trường Đại học Trà Vinh và Khoa Giáo dục mầm non, Phòng Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho tác giả trong quá trình làm việc, học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và GVMN trường mầm non thực hành Sư phạm Trà Vinh đã tạo nhiệt tình ủng hộ và điều kiện thuận lợi tôi trong suốt quá trình thử nghiệm
Tuy đã có nhiều cố gắng trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp nhưng luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được
sự góp ý của quý Thầy, Cô, Chị, Em đồng nghiệp và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trà Vinh, ngày 29 tháng 5 năm 2020
Tác giả
Võ Thanh Hương
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA ở nước ngoài 6
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA trong nước 7
1.2 Khái niệm công cụ 9
1.2.1 Khái niệm về dạy học và PPDH 9
1.2.2 Khái niệm về DA và PPDH theo DA 11
1.2.3 Khái niệm tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên 15
1.2.4 Khái niệm ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 17
1.3 Tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 18
1.3.1 Đặc điểm hoạt động khám phá TGTN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 18
1.3.2 Ý nghĩa tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 20
1.3.3 Mục tiêu hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 23
1.3.4 Nội dung khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 25
1.4 Ứng dụng PPDH theo DA trong khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 27
1.4.1 Định hướng đổi mới PPDH 27
Trang 61.4.4 Các giai đoạn xây dựng kế hoạch dạy học theo DA thực hiện
hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 33
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH 40
2.1 Nội dung và đối tượng tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Trà Vinh 40
2.1.1 Nội dung 40
2.1.2 Đối tượng 40
2.2 Công cụ tìm hiểu thực trạng 42
2.2.1 Khảo sát thực trạng nhận thức của GVMN về đổi mới PPDH và nhận thức của GV về PPDH theo DA trong hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 42
2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng PPDH và PPDA tổ chức hoạt động khám phá chủ đề của GVMN 42
2.3 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Trà Vinh 44
2.3.1 Kết quả điều tra về nhận thức của GVMN về đổi mới PPDH và nhận thức của GV về PPDH theo DA trong hoạt động khám phá TGTN 44
2.3.2 Kết qủa tìm hiểu về nhận thức của GV về việc đổi mới PPDH và ứng dụng PPDH theo dự án vào tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua PP phỏng vấn 58
2.3.3 Kết quả thực trạng sử dụng PPDH theo dự án trong tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu g iáo 5-6 tuổi 65
Tiểu kết chương 2 75
Trang 7TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TẠI
TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM TRÀ VINH 76
3.1 Cơ sở đề xuất thử nghiệm 76
3.1.1 Cơ sở lí luận 76
3.1.2 Nguyên tắc xây dựng phương án thử nghiệm dự án 78
3.1.3 Đề xuất phương án thử nghiệm 79
3.2 Tổ chức thử nghiệm 80
3.2.1 Bối cảnh và đối tượng thử nghiệm 80
3.2.2 Dự án khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 81
3.3 Tổ chức thử nghiệm và kết quả thử nghiệm dự án “lá cây” 93
3.3.1 Mục đích thử nghiệm 93
3.3.2 Đối tượng thử nghiệm 93
3.3.3 Qui trình xây dựng phương án thử nghiệm 93
3.4 Các yêu cầu tổ chức thử nghiệm DA 94
3.5 Nội dung thử nghiệm 95
3.6 Kết quả tổ chức thực hiện các kế hoạch 97
3.7 Đánh giá thử nghiệm ứng dụng PPDH theo DA “chiếc lá” 105
3.7.1 Mục đích và cách thức thực hiện 105
3.7.2 Kết quả tổ chức hoạt động khám phá TGTN theo DA 108
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.2 Ý kiến của GVMN về việc đổi mới PPDH 44
Bảng 2.3 Ý kiến của GVMN về xu hướng đổi mới PPDH 45
Bảng 2.4 Mức độ sử dụng các PPDH trong quá trình tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mầm non 47
Bảng 2.5 Ý kiến của GVMN về thực trạng quá trình tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mầm non hiện nay 48
Bảng 2.6 Thực trạng về nhận thức của GVMN về PPDH theo DA 50
Bảng 2.7 Hình thức tiếp cận về PPDH theo DA của GVMN 51
Bảng 2.8 Nhận thức của GV về PPDH theo DA 53
Bảng 2.9 Mức độ gặp khó khăn của GV khi thực hiện PPDH theo DA 54
Bảng 2.10 Kết quả phỏng vấn GVMN về việc đổi mới PPDH 58
Bảng 2.11 Kết quả phân tích về việc ứng dụng PPDH theo DA trong quá trình khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi 60
Bảng 2.12 Kết quả phỏng vấn về việc thực hiện PPDH theo DA 63
Bảng 2.13 Kết quả 7 buổi quan sát hoạt động học trong trong chủ đề “cây xanh và môi trường” và chủ đề “một số loài hoa” cho trẻ 5-6 tuổi 65
Bảng 2.14 Kết quả 10 buổi quan sát hoạt động góc trong trong chủ đề “cây xanh và môi trường” và chủ đề “một số loài hoa” cho trẻ 5-6 tuổi 71
Bảng 3.1 Bảng thông tin giáo viên lớp thử nghiệm 81
Bảng 3.2 Bảng dự kiến trước về nhận thức của trẻ về “chiếc lá” 85
Bảng 3.3 Bảng điều tra nhận biết của trẻ về “lá cây” 99
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá quá trình tổ chức hoạt động khám phá TGTN tự nhiên theo DA 105
Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn về quá trình thực hiện DA 108
Trang 9Hình 3.2 Một số tranh vẽ của trẻ về lá cây 99
Hình 3.3 Nhóm lá kép quan sát và trò chuyện cùng cô 101
Hình 3.4 Trẻ thực hiện phiếu điều tra cho các lá cây 102
Hình 3.5 Một số sản phẩm vẽ về quá trình phát triển của chiếc lá 103
Hình 3.6 Một số sản phẩm mô hình vườn rau của bé 103
Hình 3.7 Hình ảnh 1 số sản phẩm của trẻ trưng bày sản phẩm 104
Trang 10Sơ đồ 3.1 Dự kiến mạng nội dung cho chủ đề “chiếc lá” 86
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ mạng nội dung sau khi thăm dò sự hứng thú của trẻ 101
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chương trình GDMN 2009 và trong văn bản hợp nhất đã được Bộ giáo dục thông qua năm 2017 đã chủ trương thực hiện giáo dục cần đổi mới PPDH, ứng dụng những PPDH mới lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tối đa tính cực, chủ động của người học (Bộ giáo dục và đào tạo, 2017) Hiện nay có rất nhiều PPDH hiện đại, tích cực, trong đó có phương pháp dạy học theo DA là phương pháp dạy học tiên tiến được nền giáo dục trên thế giới đề cao Đặc biệt
là các mô hình giáo dục mầm non kinh điển hiện đại như Reggio Emilia, High Scope, Lillan Kazt…và các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Canađa, Hàn Quốc… sử dụng DA như một phương tiện dạy học mang hiệu quả cao Thế nhưng PPDH theo DA đãnđược áp dụng từ rất lâu trên thế giới, từ bậc mầm non cho đến bậc sau đại học GV là người hỗ trợ và tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động tích cực, trẻ trở thành một chủ thể hoạt động độc lập Với mỗi
DA đứa trẻ được phát triển về nhận thức thông qua quá trình khám phá đồng thời đứa trẻ cũng được phát triển các kỹ năng sống và học tập nhằm tạo ra sản phẩm như chính cách mà người lớn đang làm Nhưng điều quan trọng kết quả một DA không nằm ở sản phẩm cuối cùng mà lại nằm ở quá trình đứa trẻ được làm và được trải nghiệm như thế nào để tạo ra sản phẩm đó? Dạy học theo DA đứa trẻ
được “học cho hiện tại, học để phát triển năng lực, phẩm chất đang có của trẻ
và học bằng cách làm” (John Dewey, 2009)
Nhà giáo dục Louv đã viết rằng: “Thiên nhiên tạo ra một cảm giác diệu kỳ và độc đáo cho trẻ mà không có môi trường nào khác có thể có được Những hiện tượng xuất hiện trong thiên nhiên hàng ngày khiến trẻ tò mò đặt câu hỏi về mọi thứ xung quanh” (Robert & Angel, 2016). Trong tác phẩm “Last Child in the Woods:
Saving Our Children from Nature-Deficit Disorder” năm 2006, Richard Louv đã
cho rằng những đứa trẻ ngày nay dành quá ít thời gian cho tự nhiên đến nỗi chúng mắc chứng rối loạn thiếu hụt tự nhiên, hậu quả là trẻ bị rơi vào tình trạng căng thẳng và lo lắng, cao hơn tỷ lệ béo phì và nhiều hơn nữa Tác giả cũng cho
Trang 12thấy môi trường thiên nhiên là một môi trường thúc đẩy trẻ khám phá và trải nghiệm Khi khám phá TGTN sẽ giúp trẻ hình thành tình yêu thương với mọi người xung quanh, yêu quí thiên nhiên, giữ gìn sản phẩm mình làm ra, làm tăng cường sự chú ý, làm giảm sự căng thẳng, phát triển tính kỷ luật tự giác cao hơn, tăng cường sự hợp tác với nhau và phát triển thể lực cho trẻ (Richard Louv, 2006) Cho nên việc tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mầm non theo
DA vừa giúp trẻ tăng thêm sự hứng thú khám phá TGTN đồng thời giúp trẻ phát triển toàn diện theo mục tiêu chung của giáo dục mầm non hiện nay
Tỉnh Trà Vinh là địa phương có điều kiện thiên nhiên giàu có và phong phú Nếu GVMN có đủ nhận thức và được tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng phương pháp dạy học theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên thì tạo cơ hội học tập mới và nâng cao chất lượng giáo dục
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Ứng dụng phương pháp dạy học theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Trà Vinh ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tổ chức thử nghiệm 1 phương án ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức
hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại một trường mầm non
công lập ở thành phố Trà Vinh
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại thành phố Trà Vinh Khách thể: Quá trình tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng được 1 phương án khả thi nhằm ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thích hợp với điều kiện môi trường thiên nhiên ở thành phố Trà Vinh, thì sẽ giúp giáo viên MN mạnh dạn, tin tưởng sử dụng PP theo DA
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PPDH theo DA trong hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Khảo sát thực trạng GVMN tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Trà Vinh
- Đề xuất và thử nghiệm ứng dụng 1 PPDH theo PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại tại một lớp ở trường Thực hành Sư phạm Trà Vinh
6 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát khoảng 127 GVMN tại một số trường mầm non tại thành phố Trà Vinh Thử nghiệm 1 DA trong chủ đề về thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường Thực hành Sư phạm thành phố Trà Vinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Xây dựng các khái niệm, các nội dung chính liên quan đến đề tài: PPDH theo DA, hoạt động khám phá TGTN, tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ 5-6 tuổi
Tìm hiểu đặc điểm và nội dung tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi Đồng thời nghiên cứu quá trình tổ chức hoạt động dạy học theo DA, từ
đó xây dựng qui trình tổ chức dạy theo DA trong quá trình khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu anket
- Mục đích: Nhằm khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động khám phá TGTn
và nhận thức của GVMN về PPDH theo DA trong hoạt động khám phá thế giới
tự nhiên
- Nội dung: Chúng tôi sẽ xây dựng bảng hỏi gồm 3 vấn đề như sau: Thực
trạng về việc đổi mới PPDH tại một số trường mầm non ở tỉnh Trà Vinh, thực trạng sử dụng các PPDH tổ chức các hoạt động khám phá thế giới tự nhiên ở thành phố Trà Vinh, nhận thức của GV về PPDH theo DA trong tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mầm non
Trang 14- Cách thực hiện: Xây dựng phiếu điều tra dành cho các GV thuộc thành
phố trà vinh Tiến hành gửi các phiếu khảo sát đến các GV ở một số trường tại
thành phố Trà Vinh bằng hình thức phát trực tiếp phiếu điều tra Đối tượng được gửi phiếu chủ yếu là các khối trưởng và tất cả các GV đã từng hoặc đang tham
gia dạy cho trẻ 5-6 tuổi
+ Thu nhận lại các phiếu Nếu số lượng phiếu thu ở lần 1 chưa đủ số lượng (tối thiểu là 127 phiếu) thì chủ nhiệm đề tài sẽ gửi phiếu tiếp tục lần 2 ở một số trường còn lại thuộc thành phố Trà Vinh
7.3 Phương pháp quan sát
Nhằm tìm hiểu và đánh giá việc sử dụng các sử dụng PPDH theo dự án vào
tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ 5-6 tuổi tại trường Thực
hành Sư phạm thành phố Trà Vinh
- Nội dung: Tiến hành quan sát các hoạt động của cô và trẻ từ thứ hai đến
thứ sáu trong các chủ đề có liên quan đến thế giới tự nhiên như: Chủ đề thực vật
vì thời gian thực hiện chủ đề nằm trong khoảng thời gian khảo sát thực trạng
- Các thực hiện: Tiến hành xây dựng các biên bản quan sát, lập kế hoạch
quan sát Phương tiện gồm có: các biên bản, quay phim, chụp ảnh để làm minh chứng cho kết quả thu được trên cơ sở được sự đồng ý của phụ huynh và với lời cam kết bảo mật thông tin cho trẻ và cô giáo
Lựa chọn ngẫu nhiên 1 lớp để quan sát (lớp lá 2) tiến hành quan sát trong 2 tuần từ thứ 2 đến thứ 6, với chủ đề “cây xanh và môi trường sống” (thời gian thực hiện 1 tuần từ ngày 16/12/2019 đến ngày 20/12/2019) và chủ đề “một số loại hoa” (thực hiện 1 tuần từ ngày 23/12/2019 đến 27/12/2019) quan sát tất cả các hoạt động trong ngày của các bé và cô giáo Tìm hiểu xem thực trạng tổ chức các hoạt động khám phá thế giới thực vật của cô và trẻ để từ đó đánh giá được sự hứng thú, sự phát triển của trẻ
Tiếp tục sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu Nhằm mục đích làm rõ hơn một số vấn đề như sau: suy nghĩ của GV về mục tiêu đổi mới phương pháp giáo dục, thực trạng tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự cho trẻ 5-6 tuổi hiện nay,
Trang 15hiểu biết và suy nghĩ của GV về việc ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt
động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ 5-6 tuổi Phỏng vấn với 1 cán bộ quản
lý chuyên, 1 khối trưởng lớp lá và 2 GV khối lá của trường thực hành Sư phạm
để tìm hiểu rõ về một số thông tin cần được làm rõ hoặc kiểm chứng thông tin ở bước 1 Các buổi phỏng vấn sẽ được tiến hành bao gồm 2 giai đoạn: trước khi
tiến hành thử nghiệm và sau khi đã tiến hành thử nghiệm
7.4 Phương pháp thử nghiệm
Mục tiêu: Thử nghiệm và đánh giá 1 phương án ứng dụng PPDH theo DA
vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ 5-6 tuổi tại trường Thực hành Sư phạm thành phố Trà Vinh
Nội dung: Thử nghiệm 01 DA tại trường Thực hành Sư phạm Trà Vinh Cách thực hiện: Xây dựng kế hoạch thử nghiệm Thực hiện các DA và
điều chỉnh kế hoạch thực hiện theo thực tiễn Đánh giá kết quả thực hiện dự án
7.5 Phương pháp thống kê toán học
- Mục tiêu: Để tổng hợp và phân tích các dữ liệu đã thu thập được nhằm có
đánh giá về mặt định lượng
- Nội dung: Đánh giá về thực trạng về nhận thức của GV về phương pháp,
việc sử dụng các phương pháp và mức độ khả thi của PPDH theo DA trong hoạt
động khám phá thế giới tự nhiên
- Các thực hiện: Tính phần trăm trong phương pháp điều bằng phiếu anket,
phương pháp quan sát và phương pháp thử nghiệm, sử dụng phần mềm Excel
8 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
8.1 Về lí luận: Đề tài làm rõ những vấn đề lí luận về các nội dung PPDH
theo DA trong tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
8.2 Về thực tiễn: Đề tài làm rõ thực trạng nhận thức và sử dụng PPDH
theo DA của GV MN tại một số trường mầm non tại Trà Vinh trong việc tổ chức hoạt động động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Xây dựng qui trình tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho GV tại trường Thực hành Sư phạm Trà Vinh
Trang 16Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA ở nước ngoài
Dạy học theo DA không phải là mới đối với nền giáo dục trên thế giới, nó bắt đầu từ thế kỷ XVI có nguồn gốc từ Châu Âu (ở Pháp, Ý) Đến thế kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận cho PPDH này (Nguyễn Tuấn Vĩnh, 2018) J Dewey (1997) cho rằng “học bằng làm” đã châm ngòi cho một công cuộc đổi mới giáo dục, thay đổi cách giáo dục truyền thống thụ động mà chuyển dạy học dựa vào cảm hứng học tập, thúc đẩy sự trải nghiệm, từ đó phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của người học Đây là yếu tố thiết yếu của dạy học theo dự án
Năm 1918, W.H.Kilpatrick (1918) đã cho ra đời ấn phẩm mang tên “The project method”, trong tác phẩm của mình tác giả đã cố gắng làm rõ khái niệm
về “DA học tập” và chứng minh tầm quan trọng của PPDH theo DA
Khi nghiên cứu về PPDH theo DA thì không thể thiếu Lilian G Katz (1932) là một trong những tác giả tiêu biểu và có nhiều đóng góp trong quá trình nghiên cứu PPDH theo DA cho đối tượng trẻ mầm non Với các tác phẩm như:
Young investigators: The Project Approach in the early years (Lilian G Katz &
Judy Harris Helm, 2001), Engaging Children's Minds: The Project Approach
(Lilian G Katz & Sylvia C Chard, 2000)
J.H.Helm và S.C.Chard là một trong những cộng tác viên với Kats trong một số công trình nghiên cứu và phát triển PPDH theo DA dành cho lứa tuổi mầm non Helm và Chard còn tiếp tục các công trình nghiên cứu của mình với
các đối tượng với các trẻ có nhu cầu đặc biệt và điều này chứng minh về sự “sức
mạnh” của PPDH theo DA thông qua tác phẩm: The Power of Projects meeting contemporary challenges in early childhood classrooms - strategies and
Trang 17solutions (Judy Harris Helm & Sallee Beneke, 2002)
Tiêu biểu cho các mô hình, PPDH hiện đại sử dụng dự án làm một phương tiện dạy học hiệu quả là PP giáo dục Reggio Emilia do Loris Malaguzzi đã xây dựng nên phần lý thuyết Với lịch sử được hình thành từ vùng quê nghèo đổ nát sau chiến tranh của Ý, có thể nói PPDH dành cho “trẻ em nghèo”, PPDH của những bà mẹ không có điều kiện chăm sóc và giáo dục con cái Phương pháp này giúp trẻ phát triển tự nhiên các mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên xung quanh của chúng là trung tâm của triết lý PP giáo dục Reggio Emilia trong GDMN nhấn mạnh các DA hợp tác Những đứa trẻ sẽ cùng nhau thực hiện một điều mới mẻ gì đó và trình bày những gì chúng đã học cho cha mẹ, GV và cho nhau (Maryne Valentine, 2006)
PPDH theo DA là mô hình dạy học rộng lớn được thực hiện ở nhiều mô hình khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài tập trung nghiên cứu và cách thức tiếp cận một phần đặc điểm và qui trình thực hiện theo Reggio Emilia vào một phần của chương trình giáo dục mầm non tại tỉnh thành phố Trà Vinh
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA trong nước
Trong những năm gần đầy, PPDH theo DA bắt đầu du nhập vào Việt Nam
và các nhà sư phạm bắt đầu nghiên cứu cách thức áp dụng PPDH này tại một số trường từ cấp bậc mầm non đến sau cấp bậc sau đại học Tuy nhiên, PPDH này vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu, giáo dục đầu tư nghiên cứu thích đáng
Trong quyển “Lí luận dạy học hiện đại (Cơ sở đổi mới mục tiêu - nội dung
và PPDH)” của tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, tác phẩm “Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của tác giả Nguyễn Lăng
Bình (chủ biên) & Đỗ Hương Trà…Các tác giả nghiên cứu chung về các PPDH tích cực đang được áp dụng hiện nay trên thế giới và PPDH theo DA được giới thiệu là một trong những phương pháp giáo dục hiệu quả chứ không đi chuyên sâu vào PPDH theo DA dành cho trẻ mầm non
Theo tác giả Lưu Thị Thu Thủy đã có những nghiên cứu tổng quát về PPDH theo DA và tác giả cho rằng PPDH này đã xuất hiện khá lâu ở Mỹ và
Trang 18cũng có thể nói đây là một PPDH “cũ người nhưng mới ta” Tuy nhiên, việc áp dụng PPDH theo DA tại Việt Nam đặc biệt tại các tỉnh nhỏ vẫn chưa được nhiều
GV biết đến và áp dụng thành công Với điều kiện tự nhiên đa dạng và phong phú như Việt Nam, GVMN có thể tổ chức các hoạt đông trãi nghiệm đó ngay tại trường học, các trang trại hoặc cánh đồng bên cạnh trường học mà không phải tốn kém các chi phí đi lại (Lưu Thị Thu Thủy, 2015)
Tác giả Nguyễn Tuấn Vĩnh (2018) đã đưa ra khái niệm về PPDH theo DA
và cũng có đánh giá rất cao về PPDH này Và tác giả cho rằng việc ứng dụng PPDH này vào các trường mầm non sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển giáo dục đang cần đổi mới theo xu hướng chung xã hội hiện nay Tuy nhiên tác giả chưa định hướng cụ thể cách tiếp cận PPDH này vào chương trình giáo dục
Tại Hà Nội, trong luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Minh Hường (2017) với đề
tài “đánh giá hiệu quả việc sử dụng hình thức dạy học theo DA tại trường Mầm
non VSK” và kết quả nghiên cứu cho thấy PPDH theo DA giúp trẻ đạt kết quả tốt
về tâm trí và các mục tiêu giáo dục theo chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo, về hình thức dạy học cũng đạt kết quả khả quan như: thu hút phần lớn sự
hứng thú, tích cực và chủ động của trẻ Đề tài trên cũng chưa nêu được những
điều kiện và tiêu chí thực hiện hay hướng dẫn GVMN cách thức thực hiện PPDH theo DA tại Hà Nội hay tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam nói chung
Trong luận văn thạc sĩ của Tuyết Ly (2014) với đề tài “Thử nghiệm mô hình
dạy học theo DA với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Cà Mau” tác giả có
công trình nghiên cứu và thử nghiệm mô hình dạy học này theo Lilian G Katz ở một số trường mầm non tại thành phố Cà Mau Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 90% GV và trên 50% cán bộ quản lý chưa từng nghe đến PPDH này (Lý Tuyết
Ly, 2014) Chứng tỏ PPDH theo DA vẫn còn rất mới lạ đối nhiều GVMN và trường mầm non hiện nay
Trong những năm gần đây thì PPDH này đã xuất hiện khá nhiều tại các trường mầm non như: Hệ thống trường mầm non Steame Garten Mầm Non Happy Time, trường Mầm non Chìa Khoá Vàng – Golden Key, Hệ thống
Trang 19Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), trường Quốc tế Anh Renaissance Tuy có nhiều trường đã và đang áp dụng PPDH theo DA nhưng vì chúng ta vẫn có sự hướng dẫn cụ thể nên việc ứng dụng PPDH trên vẫn còn nhiều bất cập trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, với câu hỏi “liệu các trường có thực hiện đúng PPDH theo dự hay chưa?” Điều khiến chúng ta cần quan tâm tiếp theo đó
là các trường áp dụng PPDH theo DA chủ yếu là ở các trường mầm non tư thục
và các thành phố lớn, còn ở những tỉnh nhỏ thì GV vẫn chưa nghe đến hoặc chưa từng áp dụng PPDH này, vì thế nên trong giáo dục hiện nay có sự khác biệt và chênh lệch rất lớn về chất lượng giáo dục (Đặng Hồng Phương, 2017)
Bên cạnh đó cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về PPDH theo DA trong các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ ở các cấp bậc khác, chuyên ngành khác như: Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ngọc Trang, Lê Khoa… các tác giả chỉ nguyên cứu ở một số lĩnh vực có liên chuyên ngành giảng dạy như: Dạy hóa học ở trường Trung học Phổ thông, đào tạo công nghệ thông tin trình độ Cao đẳng, dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho trẻ Trung học Phổ thông…
Từ lịch sử nghiên cứu vấn đề trên, PPDH theo DA vẫn chưa được áp dụng phổ biến mà chủ yếu chỉ được nghiên cứu ở mức độ cá nhân, tập thể nhỏ Song
đó dấu hiệu đáng mừng vì PPDH theo DA được một số nhà giáo dục hiện nay đánh giá cao, thử nghiệm và áp dụng thành công Hiện nay, các tài liệu có được chủ yếu được chuyển dịch từ các tài liệu nước ngoài do những tác giả có nhu cầu viết bài nghiên cứu dịch ra Để có thể áp dụng được PPDH này một cách rộng rãi
và phổ biến cần có nhiều tác giả và sự đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng nhằm đề ra qui trình thực hiện, tiêu chí đánh giá kết quả PPDH theo DA
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm về dạy học và PPDH
1.2.1.1 Khái niệm về dạy học
Tác giả Trương Xuân Huệ (2014) “Dạy là hoạt động của GV không chỉ là hoạt động truyền thụ cho học sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề
ra mà còn hơn nữa là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn học sinh Học,
Trang 20theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người, là sự lĩnh hội sức mạnh bản chất người đã được
đối tượng hóa trong các sản phẩm của hoạt động con người”
Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) thì cho rằng “học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững trong nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà xã hội đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế
hệ Dạy và học là hai mặt không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của xã hội và cá nhân”
Theo tác giả Vũ Thị Ngân (2006) “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, được tổ chức trong trường mầm non bằng những phương pháp sư phạm đặc biệt, thông qua những tác động qua lại có chủ đích và được thay đổi một cách có trình tự giữa GV và trẻ em, nhằm trang bị cho trẻ hệ thống kiến thức mang tính khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng áp dụng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống và hoạt động Bản chất của quá trình dạy học cho trẻ mầm non là quá trình nhận thức của trẻ em trong điều kiện sư phạm”
Các tác giả trên đã đưa ra quan điểm khá giống nhau về “khái niệm dạy học”, đồng quan điểm với các tác giả Trương Xuân Huệ, Vũ Thị Ngân ở chỗ dạy học là quá trình tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của GV nhằm giúp học sinh là người tích cực, chủ động như vậy mới đúng theo quan điểm giáo dục hiện nay Riêng tác giả Vũ Thị Ngân đã cho chúng ta một khái niệm cụ thể về dạy học ở trường mầm non cần có những phương pháp sư phạm đặc biệt bởi trẻ mầm non
có những đặc điểm riêng biệt rất khác so với các lứa tuổi lớn hơn
Như vậy, kết luận về khái niệm dạy học trong trường mầm non nói riêng và
khái niệm dạy học nói chung là một bộ phận của quá trình sư phạm trong
trường mầm non Đó là quá trình tương tác giữa GV và trẻ trong môi trường được tổ chức nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra
Trang 211.2.1.2 Khái niệm về phương pháp dạy học
Tác giả Phan Trọng Ngọ trình bày “PPDH không phải là một thực thể độc lập, vì mục đích tự thân, mà chỉ là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: hoạt động dạy học Vì vậy, định nghĩa chung nhất về PPDH là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học” (Phan Trọng Ngọ, 2005)
Theo tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cương cho rằng “PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và học sinh trong những môi trường dạy học được tổ chức, nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, thái độ, phát triển năng lực và phẩm chất ” (Bernd Meier và Nguyễn Văn Cương, 2014)
“PPDH là hệ thống các cách thức tuần tự hoạt động qua lại giữa người dạy
và người học nhằm giải quyết những nhiệm vụ, nội dung dạy học đã đặt ra PPDH bao gồm cách thức hoạt động (hay việc làm) cụ thể nào đó của GV, hướng đến việc tổ chức và điều khiển cách thức hoạt động (việc làm) của trẻ (tư cách là người học) trong quá trình dạy học, cách thức hoạt động của trẻ được kích thích bởi cách thức hoạt động của GV” (Vũ Thị Ngân, 2006)
Khái niệm PPDH đến nay thực chất vẫn chưa có sự thống nhất, tuy nhiên từ
các định nghĩa của các tác giả trên, có thể hiểu “PPDH là cách thức tổ chức các
hoạt động được phối hợp bởi GV và người học nhằm chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học hay nói cách khác là chúng ta đang thực hiện các nội dung và mục đích dạy học”
1.2.2 Khái niệm về DA và PPDH theo DA
1.2.2.1 Khái niệm về DA và DA học tập trong trường mầm non
Khái niệm DA
Hướng dẫn của PMI (Cơ quan Kiến thức Quản lý DA PMBOK ® Guide)
đã định nghĩa “DA là một nỗ lực tạm thời nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hoặc kết quả độc đáo” (Viện quản lý DA Hoa Kỳ, 2019)
Trên trang web của tổ chức Vietnam Foundation định nghĩa “DA là tập hợp các công việc được thực hiện bởi một nhóm người cùng nhau thực hiện một mục tiêu cụ thể trong một thời gian nhất định (tức là có thời gian bắt đầu và kết thúc
Trang 22xác định) với một kinh phí đã được dự kiến trước” (Viện CNTT – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013)
Theo Lưu Thu Thủy (2015) “DA là dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định được mục đích đã đề ra DA có tính phức hợp tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức DA chuyên biệt”
“DA là tập hợp một chuỗi các hoạt động nhằm thực hiện được một mục tiêu đã đề ra với nguồn kinh phí và thời gian đã dự tính trước Tùy theo năng lực
mà mỗi người trong nhóm sẽ đảm nhận và nổ lực hết mình với chức vụ và nhiệm
vụ cụ thể trong DA nhằm tạo ra một sản phẩm tốt nhất DA cũng có nghĩa là một
kế hoạch được một người hoặc một nhóm cùng tham để thực hiện một mục tiêu
cụ thể, đồng thời cũng cần xác định rõ về thời gian, nhân lực tham gia, kinh phí, biện pháp đánh giá kiểm tra cuối cùng
cá nhân trong một lớp học mầm non hoặc ở nhà”
“DA học tập là người học sẽ cùng nhau giải quyết một vấn đề trong cuộc sống hoặc trả lời một câu hỏi phức tạp mà họ quan tâm trong thời gian nhất định Tuy nhiên, mục tiêu của DA lại chứa đựng mục tiêu của chương trình giáo dục
Để thực hiện được DA người học đòi hỏi phải vận dụng kiến thức và kỹ năng của mình để tạo ra một sản phẩm hoặc thuyết trình cho khán giả như: bạn bè, phụ huynh, GV, Ban giám hiệu” (Viện Giáo dục Buck, 2019)
“DA học tập là các nhiệm vụ phức tạp do người học thiết kế và thực hiện nhằm điều tra và giải quyết các nhiệm vụ trong thời gian tương đối dài nhằm tạo
ra các sản phẩm hoặc bài thuyết trình Ngoài ra, dạy học theo DA còn khuyến khích người học tập trung học tập một cách nghiêm ngặt bởi vì nó đòi hỏi người
Trang 23học đóng vai trò tích cực trong việc tự nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề” (Jill Bradley-Levine & Gina Mosier, 2015)
Tác giả Lilian G Katz đã mô tả khái niệm DA học tập ở trong trường mầm non là quá trình nghiên cứu mở rộng về một chủ đề thường được thực hiện bởi một hoặc nhóm trẻ em, đôi khi bởi toàn bộ lớp học Học tập dựa trên DA liên quan đến việc dạy học thông qua các chủ đề hấp dẫn cho phép tích hợp việc học
có ý nghĩa trong tất cả các nội dung đồng thời hỗ trợ phát triển trên nhiều lĩnh vực (Sylvia C Chard, 2014) Chúng sẽ cùng nhau nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của một chủ đề mà chúng cùng quan tâm đến và được đánh giá bởi
GV Tùy thuộc những kỹ năng có sẵn các đứa trẻ sẽ tham gia vào những công việc bao gồm: viết, đo lường, vẽ, sơn, làm mô hình, tạo ra những câu chuyện nhằm tạo ra một sản phẩm nhất định Một DA lý tưởng sẽ giúp trẻ thu kiến thức mới về khoa học, nghiên cứu xã hội, văn học và tất cả nghệ thuật” (Lilian G Katz & Sylvia C Chard, 1992)
“DA học tập là quá trình đứa trẻ tham gia vào các hoạt động học tập và trãi nghiệm nhằm khám phá về một chủ đề, một lĩnh vực, một sự kiện mới nổi, một ý tưởng nào đó…mà trẻ có hứng thú và đang rất quan tâm Các DA của trẻ tại Reggio Emilia có thể kéo dài một ngày, một tuần, một tháng hoặc thậm chí lâu hơn miễn là trẻ em có hứng thú với chủ đề này” (Trường Adhyaya, 2018 & The Emilia Schools, 2019) “Các sản phẩm trong DA của trẻ theo Reggio Emilia có thể là tranh, điêu khắc, chơi những trò chơi kịch tính, mô hình…Tuy nhiên, sản phẩm không phải là mục tiêu chính của DA mà có thể nói là cơ hội để trẻ thể hiện bản thân mình và là cơ sở để GV có thể đánh giá kết quả thực hiện DA và rút kinh nghiệm cho DA sắp tới” (Ayla Arseven, 2014)
Có rất nhiều khái niệm khái niệm về DA học tập, có thể hiểu “DA học tập
là các DA có liên quan hoặc nhằm mục đích giải quyết một số nhiệm vụ học tập nào đó trong chương trình giáo dục được thực hiện bởi một nhóm trẻ có cùng hứng thú giống nhau trong một thời gian nhất định DA học tập là một cuộc điều tra chuyên sâu về một chủ đề trong thế giới thực được trẻ chú ý và toàn tâm toàn
Trang 24ý thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra một sản phẩm như: tranh vẽ, mô hình, kịch, kể chuyện Quá trình tạo ra sản phẩm đó mà các nhiệm học tập trong chương trình giáo dục được thực hiện một cách tích hợp tự nhiên, giúp trẻ phát triển toàn diện về cả mặt kiến thức, kĩ năng cũng như thái
độ trong quá trình hợp tác làm việc nghiêm túc ”
1.2.2.2 Khái niệm PPDH theo DA
“GV sử dụng DA như một phương tiện dạy học để đạt được các mục tiêu giáo dục, GV đã cho một nhóm trẻ hoặc cả lớp tổ chức thực hiện các DA như một cuộc điều tra chuyên sâu vào thực tế về một chủ đề mà đứa trẻ thực sự quan tâm GV củng cố cho trẻ em hứng thú với một chủ đề bằng các công việc có liên quan đến dự (S.J Beneke, M M Ostrosky & L.G Katz, 2019)
Tác giả Lưu Thu Thủy (2015) đã cho khái niệm như sau về “dạy học theo
DA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực tạo trong toàn bộ quá trình học tập Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học theo DA”
Làm việc tại khoa GDMN thuộc trường Đại học Sư phạm Huế, Nguyễn
Tuấn Vĩnh cùng với các cộng sự của mình đã có công trình nghiên cứu về “dạy
học theo DA ở trường mầm non”, các tác giả đã khẳng định rằng “PPDH theo
DA được hiểu như một mô hình dạy học theo DA, là một cách thức tổ chức một nội dung dạy học theo DA PPDH theo DA là sự kết hợp của nhiều PPDH khác nhau để giải quyết vấn đề nhận thức” (Nguyễn Tuấn Vĩnh, 2018)
Progettazione là một thuật ngữ tiếng Ý trong đó định nghĩa phương pháp tiếp cận sư phạm của mô hình giáo dục Reggio Emillia Cách tiếp cận Reggio Emilia sử dụng thuật ngữ Progettazione có nghĩa là “their way of proceeding” (Dịch là cách thức tiến hành của GV và trẻ) (Millikan, 2003, trang 87) Phương pháp dạy học có thể được xác định là một quá trình sáng tạo của trẻ, qua đó các
ý tưởng của trẻ được xây dựng và phát triển Các nhà giáo dục Reggio Emilia
Trang 25phối hợp với trẻ xác định các mục tiêu chung, các kinh nghiệm và định hướng dự
án có thể thực hiện GV lắng nghe và sau đó thương lượng với trẻ em để hiểu được sở thích của chúng từ đó xây dựng ý tưởng và chủ đề Progettazione được xây dựng trong quá trình trải nghiệm hoặc dự án, nó có thể thay đổi để đáp ứng với cuộc đối thoại liên tục giữa giáo viên và trẻ em (công việc dự án này không tuân theo thời gian biểu cứng nhắc, mà thay vào đó hướng theo tốc độ và sở thích của trẻ khi tham gia vào quá trình học (D.A.Stegelin, 2003) Chương trình giảng dạy tại các trường Reggio Emilia dành cho các nhóm nhiều lứa tuổi, bắt đầu sớm nhất là khoảng hai năm Trẻ em được tham gia vào công việc DA giúp trẻ có cơ hội học cách sử dụng công cụ và cách nghiên cứu PPDH này theo hướng tiếp cận kiến thức – điều trẻ muốn biết – thực hiện (know – want – do) cho phép trẻ tiếp cận kiến thức một cách toàn diện theo năng lực của từng cá nhân trẻ và trẻ sẽ thực thi kế hoạch dưới dẫn dắt của GV (Kids Collective, 2016) Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi hướng đến việc tiếp cận dạy học DA theo Reggio và cũng từ đó chúng tôi xác định khái về PPDH theo dự theo triết lý
giáo giáo dục của Reggio như sau: “PPDH theo DA là một hình thức dạy học sử
dụng các dự án làm phương tiện dạy học Để thực hiện các công việc trong DA đòi hỏi trẻ phải cố gắng thực hiện hàng loạt các hoạt động vui chơi, khám phá, trãi nghiệm…bằng cách vận dụng các kiến thức, kỹ năng và năng lực của chính bản thân mình, đồng thời lĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới từ bạn bè, điều chỉnh hành vi thái độ của mình khi hoạt động trong nhóm, khi giao tiếp với bạn bè, cô giáo Khi một DA kết thúc thì sẽ có một sản phẩm ra đời, cũng lúc các một số mục tiêu giáo dục đề ra đã đạt được
1.2.3 Khái niệm ứng dụng PPDH theo dự án vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự nhiên cho trẻ mầm non
1.2.3.1 Khái niệm tổ chức
Theo từ điển giáo dục học “tổ chức là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận trật tự, có nề nếp để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc một chức năng chung (Bùi Hiền, 2001)
Trang 26Theo Bùi Thị Thu Vân (2018) thuật ngữ tổ chức là sự sắp xếp, bố trì điều kiện, phương tiện vật chất, những hoạt động của trẻ trong sự điều hành của nhà giáo dục theo yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra nhằm đạt mục tiêu của hoạt động
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể hiểu tổ chức là cách thức GV
chuẩn bị, sắp xếp môi trường dạy học Cụ thể bao gồm các công việc: lựa chọn phương tiện, lập kế hoạch, xây dựng môi trường trong lớp và ngoài trời, xác định địa điểm và thời gian tổ chức các hoạt động
1.2.3.2 Khái niệm khám phá
Theo từ điển tiếng việt “khám phá có nghĩa là tìm ra, phát hiện ra cái còn
ẩn giấu, cái bí mật” (Hoàng Phê, 1992)
Theo Vũ Cao Đàm cho rằng khám phá là một sản phẩm đặc biệt của hoạt động nghiên cứu khoa học, nhằm giúp con người phát hiện ra các vật thể hoặc các quy luật của xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp, chỉ
có thể áp dụng thông qua các giải pháp (Vũ Cao Đàm, 1999)
Dựa vào đề tài nghiên cứu, có thể hiểu khám phá là những điều không quá
mới mẻ đối với người lớn nhưng nó là những điều mới mẻ với trẻ và giúp trẻ phát triển nhận thức”
1.2.3.3 Khái niệm thế giới tự nhiên
Theo từ điển tiếng việt thế giới tự nhiên (gọi tắt là tự nhiên hay thiên nhiên với tiếng gọi tiếng anh là nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất Tự nhiên nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất và cũng nhắc đến sự sống nói chung”
Theo tác giả Hoàng Thị Phượng (2005) cho rằng: Thế giới tự nhiên gồm có
3 yếu tố lớn là thế giới tự nhiên vô sinh (nước, không khí, ánh sáng, đất, ); thế giới tự nhiên hữu sinh (động vật, thực vật, vi sinh vật); các hiện tượng tự nhiên (nắng, mưa, gió )”
Nguyễn Thị Hồng Vân (2013) cho rằng “thế giới tự nhiên theo nghĩa rộng
là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Tuy nhiên nó không bao gồm con người và sản phẩm do con người tạo ra Môi trường tự nhiên gồm: Điều kiện địa
Trang 27lý tự nhiên: đất, rừng, sông; của cải tự nhiên: tài nguyên, khoáng sản, lâm sản, hải sản ; năng lượng trong tự nhiên: sức gió, sức nước, ánh nắng mặt trời…” Như vậy, khái niệm về TGTN khái niệm rộng lớn và tùy theo góc nhìn mà mỗi tác giả đưa ra những quan điểm riêng về TGTN, tuy nhiên trong đề tài đã rút gọn khái niệm TGTN ngắn gọn và đơn giản hơn dành cho trẻ mầm non như sau: TGTN là những gì bao quanh con người nhưng không phải do bàn tay con người làm ra TGTN bao gồm thế giới hữu sinh (động vật, thực vật), thế giới vô sinh (đất, nước, cát…) và các hiện tượng tự nhiên (nắng, gió, mưa, mặt trời…)
1.2.3.4 Khái niệm ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Theo từ điển tiếng việt “ứng dụng đồng nghĩa với từ áp dụng, vận dụng, chúng đều có nghĩa là đem lý thuyết dùng vào thực tiễn.”
Từ “sử dụng” ở trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu và thực hiện PPDH này ở mức độ tiếp cận cách thức áp dụng hình thức tổ chức thực hiện chương trình giáo dục theo dạy học DA Có nghĩa là chúng tôi nghiên cứu chuyên sâu về một số chủ đề cụ thể được thực hiện bởi một nhóm trẻ
em Phương pháp tiếp cận DA được kết hợp vào chương trình giảng dạy nhưng không phải lúc nào cũng tạo thành toàn bộ chương trình giảng dạy
Từ những khái niệm đã tìm hiểu, chúng ta có thể hiểu như sau:
Ứng dụng PPDH theo DA vào tổ chức hoạt động khám phá thế giới tự
nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” là ứng dụng một hình thức dạy học, các GV áp dụng các lý thuyết về PPDH theo DA trong trong quá trình dạy học của mình Hay nói cách khác đó là quá trình GV bố trí, sắp xếp môi trường dạy học nhằm giúp trẻ được chủ động, tích cực thực hiện các hoạt động tích cực và phát hiện
ra các điều mới mẻ còn ẩn giấu trong thế giới tự nhiên theo hướng tiếp cận PPDH theo DA Đối với trẻ mầm non những phát hiện mới mẻ trong TGTN thì mang tính chất đơn giản, có thể không mới mẻ đối với người lớn Các hoạt động khám phá của trẻ rất đa dạng như: quan sát, thí nghiệm, so sánh, phân tích, đàm thoại, trò chuyện…
Trang 281.3 Tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm hoạt động khám phá TGTN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Đặc điểm hoạt động khám phá TGTN của trẻ mầm non có những đặc điểm riêng, mang tính chất đặc trưng theo từng lứa tuổi Có thể thấy giai đoạn trẻ 5-6 tuổi có những nhu cầu nhận thức và hoạt động khám phá khác với các lứa tuổi còn lại, tuy nhiên nó vẫn mang một số đặc điểm chung giống nhau Đó chính là các cơ sở giúp GV có thể tổ chức tốt quá trình khám phá TGTN
Trẻ có nhu cầu rất cao trong việc nhận thức thế giới xung quanh Nó xuất hiện ở trẻ ngay khi sinh và phát triển mạnh vào cuối tuổi nhà trẻ và ở lứa tuổi mẫu giáo Biểu hiện rõ nhất qua các câu hỏi được đặt ra liên tục cho người lớn: Đây là cái gì? Tại sao? Làm như thế nào? (Hoàng Thị Phượng, 2011)
Trẻ 5-6 tuổi còn có những đặc điểm riêng về ngôn ngữ, tư duy, nhận thức, thể chất của trẻ 5-6 tuổi đã phát triển đa dạng và phong phú hơn, mang một số đặc điểm riêng như sau:
+ Trẻ 5-6 tuổi đã tích luỹ được vốn kiến thức rất phong phú, kỹ năng nhận xét, so sánh cũng đã phát triển hơn so với mẫu giáo nhỡ Do vậy Số lượng đối tượng cho trẻ nhận xét và so sánh có thể nhiều hơn so với hai lứa tuổi trước Câu hỏi của GV cần mang tính khái quát cao hơn Trẻ không chỉ nhận xét, trả lời câu hỏi của cô mà còn tự đưa câu hỏi cho bạn bè, đưa ra những thắc mắc của mình Hoạt động nhóm và hoạt động chủ yếu của lứa tuổi này
+ Chú ý của trẻ mẫu giáo lớn cũng tập trung hơn và bền vững hơn Ghi nhớ cũng có tính chủ động hơn
+ Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng tổng hợp và khái quát hóa những dấu hiệu đơn giản tiêu biểu bên ngoài Trẻ biết so sánh đặc điểm giống nhau và khác nhau của một số đối tượng, biết phân nhóm các đối tượng theo một hoặ một vài dấu hiệu rõ nét
+ Trẻ đã phát triển mạnh mẽ kiểu tư duy trực quan hình ảnh và cuối độ tuổi
tư duy trực quan sơ đồ xuất hiện Nó cho phép trẻ đi sâu vào các mối quan hệ phức tạp của sự vật, hiện tượng giúp trẻ lĩnh hội kiến thức ở trình độ cao hơn và
Trang 29phức tạp hơn Theo tác giả L.A.Venger, tư duy trực quan sơ đồ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là quá trình hình thành các biểu tượng về không gian với hai thao tác trí tuệ là sơ đồ hóa (mã hóa), tức là sắp xếp vị trí của các sự vật trong không gian thật (3 chiều) vào một sơ đồ (không gian 2 chiều) theo một chuẩn trong một hệ qui chiếu nhất định bằng các ký hiệu đã được qui ước và đọc hiểu sơ đồ (giải mã) tức là từ một sơ đồ không gian 2 chiều trẻ có thể xác định được vị trí của các
sự vật tồn tại trong không gian thật (3 chiều) theo hướng và mốc định hướng nhất định Tư duy trực quan sơ đồ là kiểu trung gian quá độ (tư duy trừu tượng) Kiểu tư duy này đã xuất hiện ở mẫu giáo lớn khi trẻ biết sử dụng thành thạo các vật thay thế Khi đã phát triển tốt chức năng ký hiệu của ý thức, trẻ đã bắt đầu hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng ngôn ngữ hay kí hiệu khác (Hoàng Thị Oanh và Nguyễn Thị Xuân, 2011)
Theo J.Piaget cho rằng trẻ từ “2-7 tuổi là giai đoạn tiền thao tác, tức là ở giai đoạn này trẻ vẫn chưa hình dung ra những vận động của sự vật hay biến đổi cũng như kết quả của chúng, vì trẻ chưa có khả năng bảo toàn hay khả năng suy luận logic, chưa có tính đảo ngược trong tư duy Ngược lại, ở giai đoạn thao tác
cụ thể (7-11 tuổi) trở đi trẻ đã có khả năng suy luận và hình dung ra sự biến đổi của sự vật cũng như kết quả của chúng” (Đinh Thị Tứ và Phan Trọng Ngọ, 2008) Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi cuối cùng của giai đoạn tiền thao tác và tiến tới giai đoạn thao tác cụ thể vì thế nhận thức của trẻ đã vô cùng đa đạng và phong phú Bên cạnh đó, J.Piaget chỉ ra quá trình hình thành trí khôn của trẻ là sự đồng hóa, điều ứng Nghĩa là đứa trẻ tiếp nhận toàn bộ dữ kiện của kinh nghiệm về những hình ảnh, biểu tượng vào các khuôn khổ của nó, sau đó trí khôn sửa đổi không ngừng những cấu trúc ấy để hiệu chỉnh chúng theo những dữ kiện mới Sự đồng hóa, điều ứng và tổ chức đặc thù các cấu trúc sơ khai của trẻ 5-6 tuổi đã linh động hơn, trẻ có khả năng thăm dò các vật thể và hiện tượng mới, cũng như
áp dụng các cấu trúc sơ khai đã biết vào các tình huống mới; khám phá ra các sự vật, hiện tượng mới bằng thử nghiệm tích cực (Phạn Trọng Ngọ, 2003)
Theo lí thuyết hoạt động của Vygotky cho rằng nhận thức của trẻ bắt nguồn
Trang 30từ sự tương tác với môi trường xung quanh, những tinh hoa văn hóa ở những nền văn hóa khác nhau sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhận thức của trẻ Điều này trái ngược một chút với quan điểm của Piaget ở trên vì ông cho rằng nhận thức của trẻ có được nhờ sự khám phá của bản thân trẻ, mang tính chung giống nhau, vì ông bỏ qua tính đa đạng văn hóa vùng miền Nhưng đề tài không đề cập đến vấn đề mâu thuẫn giữa Vygotxky và Piaget mà chúng tôi chỉ hướng tới sự vận dụng quan điểm của mỗi người vào quá trình dạy học Ông cho rằng sự phát triển của gắn liền hoàn cảnh xã hội, điều đó có nghĩa là sự phát triển của trẻ phụ thuộc vào người lớn và thế giới môi trường xung quanh Sự phát triển nhận thức của trẻ sẽ thay đổi khi môi trường sống bị thay đổi Theo ông mỗi sự nhận thức của trẻ gồm có vùng phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất Ông cho rằng giáo dục cần có sự phát triển vì thế nên trong quá trình dạy học GV cần xác định được vùng phát triển hiện tại và trong phạm vi vùng phát triển gần nhất GV nên sử dụng những bài tập hợp tác, trò chơi… nhằm giúp trẻ phát triển tốt nhất Vygotsky cũng đưa ra một khái niệm quan trọng: “giàn giáo” được hiểu như một cấu trúc giá đỡ cho sự phát triển của trẻ, mà tương tác xã hội chính là nguồn cung cấp “giàn giáo” cho trẻ phát triển khả năng nhận thức và sự hiểu biết (Nicky Haye, 2005) Ông cũng cho rằng đứa trẻ tiếp thu nhận thức từ người lớn một cách chủ động chứ không phải thụ động kiểu sao chép Trẻ em có hứng thú và thích khám phá môi trường xung quanh, trẻ hoạt động một cách tích cực và độc lập vì thế nên trẻ có thể tiếp thu, lĩnh hội kiến thức theo phương thức của riêng mình và tạo ra sự phát triển trong tương lai (Nguyễn Bảo Chung, 2016)
1.3.2 Ý nghĩa tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
Hoạt động khám phá TGTN đối với trẻ mầm non có ý nghĩa rất lớn trong quá trình phát trình sinh trưởng và phát triển của trẻ mầm non Có thể thấy tự nhiên không chỉ giúp trẻ dễ dàng nhận biết thế giới xung quanh, phát triển về thể chất mà còn giúp đứa trẻ có được những tình yêu với cái đẹp, biết yêu quí và giữ gìn cái đẹp, góp phần đưa cái đẹp và sự sáng tạo vào cuộc sống Đối với trẻ em
mà nói tự nhiên chính là một trong đối tượng và phương tiện quan trọng để phát
Trang 31triển toàn bộ nhân cách đứa trẻ (Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, 2007)
Bên cạnh đó, tác giả Richard Louv đã chỉ ra tầm quan trọng của thiên nhiên đối với trẻ em, sự thay đổi về cuộc sống hiện đại đã dần dần khiến đứa trẻ không còn có nhiều cơ hội để tiếp xúc, chơi các trò chơi, hoạt động khám phá trãi nghiệm như lúc ông còn nhỏ (Richard Louv, 2008) Thực tế cho thấy rằng, không chỉ ở Mỹ mà ở Việt Nam, trong những năm gần đây những đứa trẻ ở thành phố và rất nhiều trẻ em ở nông thôn không còn được chơi ngoài đồng, tắm sông, câu cá,… mà thay vào đó, các em bị bắt đến trường, bị bắt học bằng nhiều phương tiện được cho hiện đại và an toàn hơn cho trẻ như: tranh ảnh, mô hình, tivi…Trong cuốn sách Last Child in the Woods: Saving Our Children From Nature-Deficit Disorder (tạm dịch: Đứa trẻ cuối cùng ở trong rừng), Richard Louv thuật lại câu chuyện phỏng vấn một đứa trẻ phải sống cách biệt với thiên nhiên và em nói rằng mình thích chơi trong nhà hơn ngoài trời vì đó là nơi có các ổ cắm điện Nhiều cha mẹ sợ hãi không muốn cho trẻ đặc biệt là các em ở thành phố ra khỏi nhà vì sợ nguy hiểm từ côn trùng và bệnh tật Ông đã kết luận
và đưa ra khái niệm về “chứng rối loạn thiếu hụt thiên nhiên” ở những đứa trẻ không được tiếp xúc với thiên nhiên (Nam Việt, 2019)
Đầu những năm 1980, Edward O Wilson, nhà sinh vật học của Đại học Harvard đã đề xuất một lý thuyết gọi là biophilia rằng con người bị thu hút theo bản năng về phía môi trường tự nhiên Tuy nhiên, nhiều cha mẹ của thế kỷ 21 sẽ đặt câu hỏi về lý thuyết này, khi họ xem con mình thể hiện sự ưa thích rõ ràng khi ngồi trên một chiếc ghế dài trước màn hình hơn là chơi bên ngoài (Edward
O Wilson, 2014)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em ngày nay bị hạn chế hoặc không được tiếp xúc với TGTN Cha mẹ bận rộn với công việc và sợ nguy hiểm nên trẻ con được khuyến khích hoặc bị ép buộc ở trong nhà nhiều hơn Những nổi sợ của cha mẹ đối với TGTN quá lớn, khiến đứa trẻ dần mất đi cơ hội tiếp xúc với TGTN Do các trò chơi điện tử, chương trình tivi hấp dẫn đứa trẻ nhiều hơn chơi các trò chơi vận động ngoài trời Và không gian sống chật hẹp, môi
Trang 32trường sống xung quanh trẻ không có nhiều cây cối, con vật,…nên chúng đành vâng lệnh bố mẹ và ở trong nhà với các trò chơi điện tử, đồ chơi ba mẹ mua cho Rupu Gupta là một nhà nghiên cứu và nhà tâm lý học bảo tồn, lãnh đạo công việc sinh quyển tại Tổ chức Tri thức Mới Tác giả cho rằng những lợi ích của TGTN đối trẻ em là phát triển thể chất và tinh thần cũng như đời sống xã hội, khả năng nhận thức và thành tích học tập tăng lên, kêu gọi nhiều gian tự nhiên ở các đô thị và đặc biệt là “Sân trường xanh” được các giả xem như một giải pháp tuyệt vời (R.Gupta, 2019)
Bên cạnh, một trong những quan điểm nổi bật của Reggio là quan điểm
“môi trường là người thầy thứ ba” và thiên nhiên được sử dụng trong hầu hết các hoạt động và trong lớp học thiên nhiên có mặt ở khắp mọi người Giáo dục sử dụng và tận dụng tối đa các nguồn tài liệu vật liệu tự nhiên: đá cuội lớn, gỗ lũa, mảnh gỗ vụn, gỗ giấy, vỏ sò, đá cuội lớn hoặc đá trơn bóng, quả thông với các kích cỡ khác nhau, lá hình dạng khác nhau, cành cây, cát, vỏ hạt lớn, hạt dẻ, miếng vỏ cây… được bày trí khắp nơi từ trong lớp học đến ngoài trời nhằm kích thích sự sáng tạo, thông qua đó trẻ còn học được rất nhiều kỹ năng cơ bản như: đẩy, thúc, ép, cán , cuộn, cắt, xe tròn …(L.Thornton and P.Brunton, 2010)
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc tổ chức cho trẻ khám phá TGTN mang lại ý nghĩa vô cùng quan trọng và cụ thể như sau:
- Giúp đứa trẻ trở nên khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng, chống chọi với các điều kiện môi trường khác nhau Tinh thần vui tươi phấn khởi, giảm căng thẳng, lo lắng và bồn chồn, từ đó giúp trẻ dịu đi chứng rối loạn thiếu tập trung/hiếu động thái quá Ở trong TGTN, trẻ em được tự do khám phá, chạy nhảy, la hét… các hoạt động thường bị cấm đoán và hạn chế trong nhà
- TGTN có thể xem là một phòng thí nghiệm, khổng lồ và trẻ em là những nhà khoa học Trong hoạt động khám phá TGTN, trẻ em sẽ tập trung, chú ý, quan sát, suy nghĩ, đặt câu hỏi và đưa ra các giả thuyết, giải quyết các vấn đề từ
đó thúc đẩy các quá trình nhận thức phát triển một cách tự nhiên
- TGTN còn mang lại cảm giác bình yên và nuôi dưỡng phẩm chất tâm hồn
Trang 33tốt đẹp ở trẻ em Một đứa trẻ năng động như thế nào cũng sẽ hoạt động chậm lại
để đào một cái hố trên cát, xem một con bọ rùa bò Trẻ trở nên ổn định, điều chỉnh hành vi của bản thân
- Khi trẻ chơi ngoài trời, tăng thêm cơ hội tiếp xúc với bạn bè và nhiều người Trong TGTN, trẻ em có thể chơi một mình hoặc chơi với bạn, học cách chơi cùng nhau, chia sẻ và giải quyết vấn đề
1.3.3 Mục tiêu hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
Khi tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi, GV cần xác định
rõ ràng và cụ thể mục tiêu giáo dục nhằm mang lại hiệu quả giáo dục theo qui định của bộ giáo dục Các mục tiêu cần đảm bảo dựa trên đặc điểm lứa tuổi của trẻ, điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường và địa phương và nhu cầu hứng thú của trẻ
Khi xác định mục tiêu hoạt động, GV cần căn cứ vào chương trình GDMN,
điều kiện thực hiện quá trình giáo dục trẻ và đánh giá quá trình giáo dục đó Có
hai loại chương trình, loại chương trình thứ nhất gọi chương trình khung mang tính nguyên tắc được ban hành làm cơ sở cho các cán bộ chỉ đạo và GV dựa vào
đó để biên soạn và loại thứ hai là chương trình chi tiết cho việc chăm sóc giáo dục trẻ tại địa phương Trong quá trình dạy học GVMN cần phải đảm bảo mục tiêu chung của chương trình GDMN Việt Nam là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017)
Như vậy, khi tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi GV cần phải đảm mục tiêu cụ thể của lứa tuổi mẫu giáo được qui định cụ thể trong Chương trình giáo dục mầm khung như sau:
+ Về mặt phát triển thể chất: Khỏe mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển
Trang 34bình thường theo lứa tuổi Có một số tố chất vận động: nhanh nhẹn, mạnh mẽ, khéo léo và bền bỉ Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian Có kỹ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc
ăn uống đối với sức khỏe Có một số thói quen, kỹ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và đảm bảo sự an toàn của bản thân
+ Về mặt phát triển nhận thức: Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các
sự vật, hiện tượng xung quanh Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán
+ Về mặt phát triển ngôn ngữ: Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hàng ngày Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…) Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hàng ngày Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi
Có một số kỹ năng ban đầu về việc đọc và viết
+ Về mặt phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội: ý thức về bản thân Nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh Có một
số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực Có một số kỹ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ Thực hiện một số quy tắc, quy định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi
+Về mặt phát triển thẩm mỹ: Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên, cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật Biết cách hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật; ý thức giữ gìn và bảo vệ cái đẹp (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017)
Trang 351.3.4 Nội dung khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
TGTN rất đa dạng và phong phú vì thế khi lựa chon nội dung tổ chức hoạt động cho trẻ khám phá thế giới tự nhiên ở trường mầm non được tổ chức xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm Trẻ mầm non luôn nhu cầu tìm hiểu rất lớn về TGTN Để xác định nội dung khám phá TGTN cho trẻ MG thì GV cần năm rõ một số yêu cầu như sau:
- Lựa chọn các đối tượng gần gũi xung quanh trẻ, quen thuộc với cuộc sống hằng ngày của trẻ trước sau đó mở rộng các đối tượng mới mẻ, khác với lại nơi trẻ đang sống Chẳng hạn với chủ đề thực vật, nên cho trẻ tìm hiểu về cây bàng, cây còng,… rồi đến phong (nước Canada), hoa anh đào (Nhật Bản),…
- Cần lựa chọn các đối tượng theo nhu cầu, hứng thú, kinh nghiệm của trẻ Bên cạnh đó cũng cần phải phù hợp với đặc điểm phát triển theo từng giai đoạn phát triển với từng cá nhân trẻ Tuy nhiên, GV cũng cần chủ động và sáng tạo với các nội dung cần thiết với trẻ chẳng hạn như: kỹ năng bảo vệ thân thể, kỹ năng tự phục vụ, giáo dục đạo đức tốt,…
- Lựa chọn các nội dung có nhiều cơ hội hoạt động cho trẻ
- Lựa chọn nội dung có chứa đựng những giá trị xã hội mà trẻ cần để sống: quy tắc ứng xử nơi công cộng, thái độ và ý thức về bảo vệ môi trường sống,…
- GV có đủ nguồn để cung cấp kinh nghiệm như nới tham quan, vật thật,… nhằm đảm bảo trẻ được sử dụng các giác quan của mình để khám phá các đối tượng (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2014)
Từ những khái niệm, yêu cầu, cơ sở của việc xác định trên, nội dung tổ chức hoạt động khám phá TGTN cho trẻ MG 5-6 tuổi bao gồm những nội dung:
- Nội dung hướng dẫn làm quen với động vật:
+ Tiếp tục trẻ nhận biết các đặc điểm đặc trưng của các loại động vật phổ biến và mở rộng ra một số loại động vật đặc biệt như loài vật đã tuyệt chủng (khủng long), một loài vật sách đỏ (tê giác, sao la, báo, sư tử,…), loài vật siêu nhỏ (vi khuẩn) Định hướng hoặc tổ chức tình huống trẻ khám phá mối liên hệ giữa cấu tạo của động vật với cách di chuyển, cách kiếm ăn, môi trường sống;
Trang 36mối liên hệ giữa động vật với nhau và với con người; sự phát triển, trưởng thành của một số loài động vật Cho trẻ biết động vật sống ở khắp nơi trên Trái Đất; các loài động vật đặc trưng cho từng vùng miền
+ Phát triển kĩ năng phân tích, so sánh, nhận xét sự giống nhau và khác nhau của một số động vật nuôi trong gia đình, động vật hoang dã, động vật trên cạn, động vật dưới nước
+ Phát triển những tình cảm tích cực với các loài động vật, không chọc phá các loài vật nuôi trong nhà, yêu thương và bảo vệ các loài động vật hoang dã Cũng như, giáo dục cho trẻ một số kỹ năng sống cần thiết như tránh xa khi vật nuôi hung dữ, cách xử lý khi bị vật nuôi, côn trùng hoặc loài vật hoang dã cắn (Lê Thị Ninh, 2005 & Bùi Thị Giáng Hương 2013)
- Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với thực vật:
+ Tiếp tục định hướng cho trẻ nhận biết các đặc điểm đặc trưng của các loại thực vật phổ biến và mở rộng ra một số loại thực vật đặc biệt cây bắt mồi; cây phong lá đổi là biểu tượng của nước Canada và thay đổi theo mùa, hoa xác chết ở Indonexia có mùi như xác chết và loài hao lớn nhất thế giới,…
+ Tiếp tục xây dựng tình hướng để trẻ có thể so sánh sự khác nhau, giống nhau của hai hay nhiều đối tượng về các loại cây, hoa, quả
+ Có kỹ năng phân loại thực vật theo một hoặc nhiều dấu hiệu và đặt tên cho nó
+ Hình thành ở trẻ có tình yêu thiên nhiên và các thể hiện tình cảm của mình dành cho thiên nhiên
+ Phát triển một số kỹ năng sống cần thiết như cách trang trí nhà bằng một
số loài cây cảnh, cách bảo vệ thân thể trước một số loài cây cảnh nguy hiểm, xử
lý khi bị ngộ độc do nuốt, chạm hoặc ngửi phải thực vật có độc (Lê Thị Ninh,
2005 & Bùi Thị Giáng Hương 2013)
- Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với thế giới vô sinh
+ So sánh hai hay nhiều yếu tố tự nhiên vô sinh qua đặc điểm về màu sắc, trọng lượng, thành phần, kết cấu, tính chất, tên gọi theo sự tác động và công
Trang 37- Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với các hiện tượng tự nhiên:
+ Tiếp tục dạy trẻ so sánh sự khác và giống nhau của các mùa trong năm, các hiện tượng thời tiết (gió, mây, mưa, bão, sấm, chớp )
+ Xác định, dự đoán sự thay đổi thời tiết qua việc quan sát bầu trời vào các thời gian khác nhau Nội dung hình thành biểu tượng về Trái Đất và giáo dục thái độ nhân văn cho trẻ: Cung cấp tri thức cho trẻ về sự xuất hiện của con người trên Trái đất Sau đó, định hướng trẻ làm quen với sự giống nhau và khác nhau giữa mọi người trên Trái đất về màu da, vị trí địa lí, dân tộc: Mọi người giống nhau ở điểm nào? Làm thế nào phân biệt người và động vật?
+ Giúp trẻ gắn bó với thiên nhiên như ngắm mưa, tắm mưa,… để từ đó hình thành thái độ, tình cảm tốt đệp với thiên nhiên
+ Giúp trẻ có một số kỹ năng sống cần thiết: xử lý khi gặp mưa, khi có sấm sét bé và gia đình nên làm gì (Lê Thị Ninh, 2005 & Bùi Thị Giáng Hương 2013) Tóm lại, nội dung tổ chức cho trẻ khám phá TGTN rất phong phú và đa dạng, song dựa vào nguyên tắc cũng như đặc điểm nguồn tri thức về TGTN, đặc điểm nhận thức của trẻ MG 5- 6 tuổi, các nhà giáo dục có thể lựa chọn nội dung phù hợp để tổ chức hoạt động cho trẻ khám phá TGTN
1.4 Ứng dụng PPDH theo DA trong khám phá TGTN cho trẻ 5-6 tuổi
1.4.1 Định hướng đổi mới PPDH
Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2018- 2025 đã xác định quan điểm đổi mới PPDh như sau: “Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mầm
Trang 38non đổi mới theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của trẻ em, bảo đảm liên thông, gắn kết với giáo dục phổ thông” (theo Quyết định số 1677/QĐ-TTg)
Đổi mới PPDH là đổi mới cách thức tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các PPDH truyền thống và vận dụng linh hoạt một số PPDH mới nhằm phát huy tính đa dạng tích cực, chủ động và sáng tạo của người học (Trần
Thị Hương, 2011)
Định hướng đổi PPDH mầm non hiện nay bao gồm các nội dung cụ thể:
- Coi trọng việc tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động Cụ thể là:
+ GV tổ chức môi trường với các hoạt động đa dạng phù hợp với trẻ để khuyến kích trẻ hoạt động tích cực, chủ động, học qua chơi
+ Tăng cường Cơ hội cho trẻ giao tiếp tích cực với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên ở địa phương
+ Bố trí các góc hoạt động/chơi với các phương tiện, sử dụng thiên nhiên giáo dục thích hợp để từng cá nhân trẻ hoặc nhióm trẻ có thể lựa chọn theo nhu cầu và hứng thú
- Tổ chức các hoạt động giáo dục thông qua các hình thức :
+ Hình thức hoạt động tự chọn theo nhu cầu, hứng thú của trẻ
+ Hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ hoặc cả lớp
+ Hình thức hoạt động trong lớp học với hình thức tổ chức ngoài lớp, dạo chơi, tham quen và ngày hội, ngày lễ
- Sử dụng và phối hợp hợp lí, có hiệu quả các phương pháp giáo dục, phát huy tính chủ động, tích cực hoạt động tư duy của trẻ:
+ Tổ chức cho trẻ khám phá chủ đề thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng và trải nghiệm với nhiều hình thức khác nhau
+ Sử dụng phối hợp các phương pháp giáo dục trên cơ sở tạo điều kiện cho trẻ sử dụng phối hợp các giác quan nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, phán đoán, giải quyết vấn đề; tăng cường cho trẻ quan sát, thực hành và luyện tập
+ Tận dụng, khai thác triệt để các phương tiện, điều kiện, học liệu vật liệu
Trang 39tự nhiên, có thể tái sử dụng có ở lớp học và tại địa phương, tránh hiện tượng
1.4.2 Ý nghĩa của PPDH theo DA
Mỗi đứa trẻ đều có những sở thích cũng như sở trường riêng của mình mà theo thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner đứa trẻ có 8 loại hình trí tuệ Nhưng làm cách nào để GV có thể phát hiện và phát triển những trí tuệ tiềm ẩn của từng đứa trẻ là nhiệm vụ quan trọng nhưng không hề dễ dàng thực hiện Bên cạnh đó, đứa trẻ đòi hỏi cần có những kỹ năng cơ bản (đọc, viết, vẽ, xé, dán, cắt, nặn,…)
và các kỹ năng của thế kỉ 21 (làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, thu thập nghiên cứu, quản lý thời gian, tổng hợp thông tin, sử dụng các công cụ công nghệ cao) Theo Quỹ giáo dục George Lucas của Hoa Kỳ, PPDH theo DA mang lại những ý nghĩa tích cực lớn lao cho người như sau:
- Dạy học theo DA giúp trẻ phát triển các kĩ năng của thế kỉ 21 Dạy học theo DA là một cách để làm việc cùng nhau Cuộc sống thực tế đòi hỏi trường học phải trang bị cho trẻ những kĩ năng cần thiết
- Đánh giá và kiểm tra xác thực cho phép chúng ta ghi chép một cách hệ thống sự tiến bộ và phát triển của một đứa trẻ Dạy học DA cho phép GV có nhiều cơ hội đánh giá, cho trẻ chứng minh khả năng của chúng trong quá trình
Trang 40Nhà nghiên cứu giáo dục Sylvia Chard từng cho rằng “Một trong những lợi thế chính của công việc DA là nó làm cho trường học giống cuộc sống thực hơn
Đó là một cuộc điều tra chuyên sâu về một chủ đề trong thế giới thực đáng để họ chú ý và nỗ lực” (Sylvia Chard, 2001)
Theo hai tác giả Hoàng Anh Đức và Tô Thụy Diễm Quyên đã cho rằng
“học tập DA giúp người học phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống hiện tại, tương lai trong bối cảnh xã hội dựa trên nền tảng tri thức và công nghệ”
Từ các tác giả trong và ngoài nước ở trên, có thể nói PPDH theo DA mang lại những hiệu tích cực cho người học nói chung và cho trẻ mầm non nói riêng PPDH theo DA xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ nên trẻ thực hiện các hoạt động, công việc trong DA một cách toàn tâm toàn ý, kết quả mục đích giáo dục vừa đạt được dễ dàng, nhẹ nhàng hơn rất nhiều vừa tránh được các áp lực thi đua, thành tích cho GV Vì được học và làm nên đứa trẻ không chỉ học được bài học hạnh phúc khi thành công mà trẻ được được bài học chấp nhận, đối phó với những điều không như trẻ mong đợi Trẻ cũng học được cách sửa đổi những sai lầm chứ không phải chấp nhận thất bại và bỏ cuộc, trẻ nhìn thấy được cơ hội sáng tạo để phát triển sự hiểu biết tốt hơn, đây là kỹ năng quý giá của cuộc sống cần được nuôi dưỡng
Tổ chức hoạt động khám phá TGTN theo DA được diễn ra một cách mới
mẻ và đầy sáng tạo, GV tránh được áp lực lựa chọn chủ đề, tổ chức các hoạt động không còn khô khan cứng ngắt mà có thể dàn trải từ trong lớp học ra ngoài lớp học Sẽ không còn gì hứng thú hơn việc được làm những điều mình muốn,