1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới sông nước trong ca dao đồng bằng sông cửu long

226 103 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm thứ nhất bao gồm những công trình nghiên cứu về ca dao ĐBSCL nói chung Công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long 1997 của Khoa ngữ văn Đại học Cần Thơ, Nxb Giáo dục đã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sú A Muối

THẾ GIỚI SÔNG NƯỚC TRONG CA DAO

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sú A Muối

THẾ GIỚI SÔNG NƯỚC TRONG CA DAO

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin và số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu luận văn là trung thực Các luận điểm, dữ liệu khi mượn đều được trích dẫn của tác giả đầy đủ, còn lại là kết quả của riêng tôi nghiên cứu

Tác giả

Sú A Muối

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Điệp – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã rất tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của :

- Quý thầy cô giáo

- Phòng sau Đại học Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Các cơ sở cung cấp dữ liệu (thư viện- trang web- các bài báo- các cá nhân có tài liệu hỗ trợ)

- Gia đình, người thân

- Bạn bè gần xa, đồng nghiệp …

Tác giả

Sú A Muối

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 12

1.1 Khái quát về vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long 12

1.1.1 Địa lí 12

1.1.2 Lịch sử hình thành 12

1.1.3 Điều kiện tự nhiên 14

1.1.4 Con người 16

1.2 Khái quát về ca dao vùng Đồng bằng sông Cửu Long 19

1.2.1 Vài nét về ca dao 19

1.2.2 Giới thiệu về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 23

1.2.3 Vài nét về thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 25

1.2.4 Tình hình nguồn tư liệu khảo sát 27

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ THẾ GIỚI SÔNG NƯỚC

TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 31

2.1 Các số liệu thống kê 31

2.1.1 Bảng số liệu 31

2.1.2 Nhận xét chung 31

2.2 Miêu tả 32

Trang 6

2.2.1 Nhóm hiện tượng tự nhiên liên quan trực tiếp đến thế giới sông

nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 32

2.2.2 Nhóm thực vật liên quan đến thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 42

2.2.3 Nhóm động vật liên quan đến thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 50

2.2.4 Nhóm đồ vật liên quan đến thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 61

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VÀ GIÁ TRỊ CỦA THẾ GIỚI SÔNG NƯỚC TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 72

3.1 Nghệ thuật thể hiện thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 72

3.1.1 Nghệ thuật tu từ 72

3.1.2 Nghệ thuật biểu trưng 86

3.1.3 Công thức ngôn từ truyền thống 90

3.2 Giá trị của thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 93

3.2.1 Góp phần tạo nên hình ảnh phong phú cho ca dao 93

3.2.2 Góp phần lưu giữ thế giới sông nước từ đời thực vào trong ca dao 96

3.2.3 Góp phần khắc họa văn hóa sông nước của người Việt trong ca dao 99

Tiểu kết chương 3 106

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

- Nxb : Nhà xuất bản

- TGSN : thế giới sông nước

- VHDG : văn học dân gian

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê tần suất xuất hiện các nhóm hình ảnh thuộc TGSN

trong ca dao ĐBSCL 31

Bảng 2.2 Thống kê tần suất xuất hiện các hiện tượng tự nhiên liên quan trực tiếp đến TGSN trong ca dao ĐBSCL 32

Bảng 2.3 Thống kê tần suất xuất hiện của nhóm thực vật liên quan đến TGSN trong ca dao ĐBSCL 43

Bảng 2.4 Thống kê tần suất xuất hiện các hình ảnh thuộc nhóm động vật liên quan đến TGSN trong ca dao ĐBSCL 51

Bảng 2.5 Thống kê tần suất xuất hiện các loại cá trong ca dao ĐBSCL 52

Bảng 2.6 Thống kê tần suất xuất hiện các hình ảnh thuộc nhóm đồ vật thuộc TGSN trong ca dao ĐBSCL 62

Bảng 3.1 Thống kê so sánh trong một số bài ca dao ĐBSCL 73

Bảng 3.2 Thống kê ẩn dụ trong một số bài ca dao ĐBSCL 79

Bảng 3.3 Thống kê nhân hóa trong một số bài ca dao ĐBSCL 84

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất dài, rộng, nằm tận cùng cực Nam tổ quốc Đây là một vùng đất được khai hoang, mở đất từ khá lâu đời, cách đây khoảng 400 năm Trải qua một thời kì lịch sử đầy biến động, khó khăn, cho đến nay ĐBSCL dần khẳng định được vị trí của mình trên tấm bản

đồ Việt Nam cũng như trong lòng mỗi con người Việt Nhắc đến ĐBSCL người ta dễ dàng liên tưởng đến cả một vùng quê sông nước Nơi đây hội tụ những con sông lớn, nhỏ mang đầy phù sa đã tạo điều kiện cho cả một TGSN

Là người có tình yêu sâu sắc với những câu ca dao đằm thắm, trữ tình, êm

dịu, chúng tôi quyết định chọn đề tài Thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long để tiếp nhận và nghiên cứu Từ đề tài này giúp chúng

tôi hiểu thêm về ca dao, cắt nghĩa được giá trị lâu đời của những câu ca dao đặc biệt là ca dao vùng ĐBSCL Hơn hết trong quá trình nghiên cứu đề tài bản thân người viết có cơ hội tiếp cận gần hơn với vùng đất, con người và những nét riêng về văn hóa vùng đất ĐBSCL

Trang 10

Hiện nay, ca dao được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn bậc Đại học và Trung học với số lượng tác phẩm đáng kể Được sự đánh giá cao,

ca dao càng ngày càng chứng minh giá trị của mình trong một thời đại đầy biến đổi Hiện là một giáo viên dạy văn, bản thân tôi nhìn thấy nghiên cứu đề tài này là một việc rất cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học Những kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ giúp tôi học tập và giảng dạy tốt hơn các tác phẩm ca dao trong nhà trường

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố làm nên thế giới sông nước trong ca dao ĐBSCL

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát, nghiên cứu của đề tài luận văn là kho tàng ca dao ĐBSCL từ truyền thống đến hiện đại, nghiên cứu ca dao của dân tộc Việt Nguồn tư liệu tác phẩm được sưu tầm từ:

- Văn học dân gian Bến Tre của tác giả Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị

Bạch Liên, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 1988

- Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long của Khoa ngữ văn Đại

học Cần Thơ, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1997

- Văn học dân gian Sóc Trăng của tác giả Chu Xuân Diên, Nxb TP Hồ

- Văn học dân gian Tiền Giang của tác giả La Mai Thi Gia (chủ biên),

Phan Xuân Viện, Lê Thị Thanh Vy, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2019

Trang 11

- Ca dao Đồng Tháp Mười của tác giả Đỗ Văn Tân, Sở văn hóa thông tin

Đồng Tháp, 1984

- Ca dao hò vè trên đất Kiên Giang của tác giả Trương Thanh Hùng, Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội, 2016

- Văn học dân gian An Giang của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (chủ

biên), Phan Xuân Viện, Nguyễn Hữu Ái, La Mai Thi Gia, Lê Thị Thanh Vy, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2016

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình khảo sát tư liệu nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu chúng tôi thống kê được một số công trình, đề tài có thể giúp ích cho việc nghiên cứu của mình như sau:

- Các công trình sưu tập ca dao ĐBSCL

- Các công trình nghiên cứu, bài viết về yếu tố sông nước trong ca dao ĐBSCL

- Một số luận văn cao học thực hiện đề tài về ca dao ĐBSCL hoặc trong phạm vi các tỉnh thuộc ĐBSCL

- Các bài báo văn nghệ, tạp chí nghiên cứu văn học… được đăng trên các website

Từ những tư liệu thu thập được, chúng tôi quyết định chia thành hai nhóm tài liệu chính trong lịch sử vấn đề như sau:

3.1 Nhóm thứ nhất bao gồm những công trình nghiên cứu về ca dao ĐBSCL nói chung

Công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (1997) của

Khoa ngữ văn Đại học Cần Thơ, Nxb Giáo dục đã công bố những tư liệu sưu

tầm được từ vùng ĐBSCL bao gồm: các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian Ở thể loại ca dao - dân ca, nhóm tác giả đã sưu tầm

được 1825 bài ca dao- dân ca thuộc vùng đất ĐBSCL Trong mục Các thể

loại văn vần dân gian, tác giả đã đưa ra nhận xét về nội dung ca dao - dân ca

Trang 12

ở ĐBSCL như sau: “Ca dao - dân ca ở đây ghi lại một khung cảnh thiên

nhiên hoang sơ nhưng giàu có sản vật, luôn ưu đãi con người Điều đáng lưu ý là thiên nhiên có một lực hút cực mạnh đối với tất cả các thể loại văn học dân gian ĐBSCL và đặc biệt là đối với ca dao – dân ca Thiên nhiên vừa là đối tượng phản ánh, vừa là phương tiện nghệ thuật của ca dao - dân ca”

(Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ, 1997)

Bùi Thị Tâm - tác giả luận văn thạc sĩ với đề tài Những đặc điểm ngôn ngữ trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long (1998) đã nghiên cứu sự phong phú và

đa dạng của lớp từ ngữ mang sắc thái địa phương, đặc điểm câu và câu thơ trong ngôn ngữ ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, luận văn cũng đề cập một

số công thức mang ý nghĩa biểu trưng như so sánh, ẩn dụ mặc dù công công trình không đi sâu nghiên cứu các phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao nhưng

đã tạo điều kiện để chúng ta hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của vùng đất, ca dao ĐBSCL Từ đó góp phần làm phong phú, đa dạng hơn giá trị của ca dao dân tộc cũng như vẻ đẹp đời sống tinh thần của nhân dân lao động vùng ĐBSCL

Trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre

(2009), Đặng Thị Thuỳ Dương cho rằng ca dao- dân ca Bến Tre phản ánh sinh động cảnh quan thiên nhiên như: địa hình, cây cối, loài vật và những đặc sản trên vùng đất Ca dao- dân ca Bến Tre còn phản ánh đậm nét chân dung con người Bến Tre trong lao động sản xuất, trong chiến đấu và trong đời sống tình cảm hàng ngày Về nghệ thuật, tác giả đi vào khảo sát một số phương diện: thể thơ, ngôn ngữ và kết cấu, từ đó làm nổi bật lên đặc điểm của ca dao- dân ca Bến Tre

Tại luận văn Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Bến Tre qua một số thể loại tiêu biểu (2012), tác giả Huỳnh Văn Sang đã khái quát vùng

đất và con người Bến Tre, khái quát về diện mạo ca dao Bến Tre, nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của VHDG Bến Tre qua một số thể loại tiêu biểu như: truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao Trong số đó, ở mục một số

Trang 13

đặc điểm và giá trị của thể loại ca dao, tác giả đưa ra nhận xét của mình về hình thức diễn xướng, đề tài và kết cấu của ca dao Bến Tre Từ đó, tác giả đưa

ra kết luận:“Ca dao- dân ca Bến tre phát triển mạnh mẽ Một đặc điểm có thể

nhìn thấy ở ca dao- dân ca vùng đất này chính là sự tồn tại gắn liền với quá trình diễn xướng mạnh mẽ, phong phú của nó với đa hình thức: hò, lí, hát ru… Đề tài của ca dao- dân ca Bến Tre rất phong phú và nổi bật: cảnh quan thiên nhiên, tình yêu nam nữ Trong mỗi đề tài này, ca dao- dân ca Bến Tre đều thể hện được những nét riêng của mình.” (Huỳnh Văn Sang, 2012)

Tại công trình Văn hóa dân gian Cần thơ (2016), Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tác

giả Trần Phỏng Diều đã giới thiệu bao quát các thể loại VHDG tại Cần Thơ: ca dao, hò, vè… Đồng thời trong công trình này, tác giả công bố những tác phẩm sưu tầm ứng với từng thể loại nói trên Ở mục ca dao tác giả giới thiệu về những thuật ngữ về ca dao, bên cạnh đó đã sưu tầm được 75 bài ca dao Tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đóng góp một phần vào tư liệu khảo sát trong công trình của chúng tôi

Trong công trình Văn hóa dân gian vùng Đồng Tháp Mười ở mục ca dao,

hò, vè, thơ rơi… Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu đã đưa ra nhận định của mình về

thiên nhiên trong ca dao Đồng Tháp Mười: “Qua thiên nhiên ca dao chúng ta

thấy cả một khung cảnh tự nhiên hoang dã của Đồng Tháp Mười mấy trăm năm trước, nhưng dồi dào phong phú, đa dạng nguồn lợi, trên đó con người đổ mồ hôi khó nhọc khai thác, chiến đấu bảo vệ giữ gìn Tình cảm đối với thiên nhiên và con người là đề tài chính Tuy nhiên với cảnh quan sông nước, hiền hòa đồng ruộng sông dài, ca dao, dân ca Đồng Tháp Mười không có những giai điệu dồn dập, mạnh mẽ, mà đằm thắm dịu dàng…” (Nguyễn Hữu

Hiếu, 2019)

Công trình Văn học dân gian Tiền Giang (2019) của nhóm tác giả La Mai

Thi Gia (chủ biên), Phan Xuân Viện, Lê Thị Thanh Vy bao gồm 2 tập là những thể loại VHDG tại Tiền Giang Tập 1 bao gồm các thể loại câu đố, tục

Trang 14

ngữ, truyện kể dân gian, tập 2 gồm ca dao dân ca và vè Ở mục ca dao dân ca,

nhóm tác giả đưa ra nhận xét về ca dao dân ca Tiền Giang như sau:“Ca dao

dân ca Tiền Giang là lời ca hát của người dân nơi đây về tình yêu xứ sở, là niềm trân quý tự hào về vùng đất, sản vật và con người ở nơi chôn nhau cắt rốn của mình Đồng thời nội dung của các câu ca cũng thể hiện da dạng những đặc trưng về thiên nhiên, phong cảnh của vùng đất Nam Bộ cũng như tính cách và lối sống của con người Nam Bộ nói chung” (La Mai Thi Gia,…,

2019)

3.2 Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu đề cập đến thế giới sông nước trong ca dao ĐBSCL

Công trình Ca dao- dân ca Nam Bộ (1984) của nhóm tác giả Bảo Định

Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tuấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Nxb TP Hồ Chí Minh đã đề ra những vấn đề chung về ca dao Nam bộ Trong đó tác giả đã đề cập đến những khía cạnh thế giới tự nhiên hình thành ca dao- dân ca Nam

Bộ, giúp ca dao Nam Bộ không bị hòa lẫn với với các miền khác của đất

nước: “Thiên nhiên Nam Bộ mang nhiều sắc thái độc đáo rất dễ phân biệt với

các vùng miền khác của đất nước Đây là xứ sở của đồng lúa, vườn cây và sông ngòi… Sông ngòi chằng chịt cho đất phù sa, cho người tôm cá, nước uống, khơi gợi ý thơ.” (Bảo Định Giang,…, 1984)

Với đề tài Hình ảnh sông nước Nam Bộ qua ca dao dân ca (1992), tác giả

Lê Ngọc Trinh cho rằng sông - nước như một “hằng số” lặp đi lặp lại trong thơ ca dân gian Nam Bộ làm nên một nét văn hóa đặc thù, làm nên một diện mạo riêng biệt không lẫn vào đâu được

Trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Thiên nhiên trong ca dao - dân ca trữ tình Nam Bộ (1997), Trần Thị Diễm Thúy đã nghiên cứu tính chất phong phú, đa

dạng của những hình tượng thiên nhiên liên quan đến: sông nước, miệt vườn, ruộng rẫy, các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ… Đặc biệt, bài viết đề cập rất

cụ thể về thế giới nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ: thiên nhiên và

Trang 15

các nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, biểu tượng… Tác giả xác định: “thiên nhiên thay

đổi trong tiến trình khai phá thì văn hóa dân gian cũng in dấu rõ nét” Đề tài đã

góp phần tìm hiểu những đặc điểm riêng của văn hóa vùng đất Nam Bộ

Trong bài viết Câu- cá trong ca dao Nam Bộ được đăng trên báo Cần Thơ

online ngày 19/01/2008, tác giả Trần Văn Nam đã khảo sát hình ảnh “cá, câu- cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu- cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước Nam bộ rõ rệt

Bài viết Hình ảnh cây bần trong ca dao của tác giả Duy Khôi đăng trên

báo Cần thơ online (2009), tác giả Duy Khôi đã làm nổi bật ý nghĩa của cây bần và khẳng định giá trị của loài cây thận thuộc, gần gũi với hình ảnh con người ĐBSCL:

“Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người

Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này” (Duy Khôi, 2009)

Ở đề tài tốt nghiệp Đại học Hình tượng sông nước trong trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ (2011), khoa Sư phạm, trường Đại học Cần Thơ, tác

giả Huỳnh Bé Tâm đã khảo sát, thống kê các hình tượng thuộc TGSN trong ca dao- dân ca trữ tình Nam Bộ như: hình tượng tự nhiên, hình tượng liên quan sông nước là động vật, thực vật… Từ đó trình bày những biểu hiện của hình

Trang 16

tượng thiên nhiên liên quan đến sông nước theo chủ đề thể hiện đặc trưng văn hóa sông nước Nam Bộ Tóm lại, qua đề tài tác giả khẳng định hình tượng sông nước trong ca dao trữ tình Nam bộ rất phong phú và đa dạng Dường như các hình tượng đã thể hiện đầy đủ tất cả những tâm tư, tình cảm của con người nơi đây

Trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Yếu tố sông nước trong văn học dân gian Nam Bộ (2015), Trường Đại học Trà Vinh, tác giả Đoàn Thị Thùy

Hương đã trình bày khái quát về lịch sử hình thành, đặc điểm tự nhiên, đặc điểm cư dân, đặc trưng văn hóa và văn học dân gian Nam Bộ Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào phân tích các biểu biểu hiện của yếu tố sông nước trong ca dao Nam Bộ thông qua các từ ngữ liên quan như: tôm, cá, ghe, xuồng… Từ

việc thống kê, phân tích các yếu tố sông nước, tác giả đưa ra nhận xét: “Sông

nước là một đặc trưng không thể thiếu của vùng Nam Bộ” “Ca dao Nam Bộ thường mượn sông nước để phản ánh đời sống sinh hoạt, đời sống tinh thần và đời sống tình cảm của dân cư Nam Bộ” Về nghệ thuật của yếu tố sông

nước trong ca dao Nam Bộ, tác giả cho thấy yếu tố sông nước có vai trò quan

trọng trong việc phản ánh văn hóa trong ca dao Mặt khác “sông nước còn là

biểu tượng nghệ thuật tiềm tàng”, “sông nước có những khả năng biểu trưng hóa nghệ thuật khác nhau” (Đoàn Thị Thùy Hương, 2015)

Qua công trình Sông nước trong đời sống văn hóa Nam Bộ (2017), Nxb

Mỹ Thuật, Hà Nội, tác giả Nguyễn Hữu Hiếu đã đi sâu phân tích hình ảnh ý nghĩa của sông nước trong đời sống văn hóa của con người Nam Bộ Trong

đó ở mục hình ảnh sông nước qua ca dao, tác giả đã đưa ra nhận định “trong

những mối quan hệ nhất định với một yếu tố thiên nhiên khác, sông nước biểu đạt những ý niệm về các mối quan hệ tương quan nhiều mặt” (Nguyễn Hữu

Hiếu, 2017) Rõ ràng sông nước gắn liền với những yếu tố tự nhiên liên quan

đến nó và biểu đạt những mối quan hệ như: tình cảm, gia đình, vợ chồng…

Trang 17

Tác giả Trần Minh Thương với bài viết Văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ (2017) đã khắc họa nổi bật hai khía cạnh của Văn hóa sông nước

miền Tây Nam Bộ: đời sống văn hóa vật thể và đời sống văn hóa phi vật thể Từ đó đời sống sông nước của những người dân nơi đây được hiện lên một cách rõ nét, sống động và mang nhiều giá trị văn hóa Cũng trong công trình này tác giả đã đề cập đến một phần nhỏ dấu ấn sông nước qua ca dao dân ca Tây Nam Bộ, sông nước ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và văn hóa của con người vùng đất này

Nhìn chung, các công trình trên đây đã nghiên cứu ca dao vùng đất này trên những bình diện khác nhau Có thể khẳng định các công trình này có những phát hiện, khám phá mới Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những nghiên cứu ở khía cạnh nào đó về ca dao ĐBSCL, nghĩa là vẫn chưa có công trình nào khảo sát, miêu tả, phân tích một cách đầy đủ, hệ thống toàn bộ TGSN trong ca dao ĐBSCL Vì thế, trên cơ sở kế thừa ý kiến của những nhà nghiên cứu, chúng

tôi chọn đề tài Thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

làm đề tài nghiên cứu Đề tài này sẽ gúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện về những đóng góp của TGSN vào ca dao ĐBSCL nói riêng và kho tàng ca dao Việt Nam nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:

- Phương pháp khảo sát - thống kê: Trong quá trình thực hiện luận văn,

chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát những tài liệu chứa đựng những câu ca dao thuộc vùng ĐBSCL, từ đó sẽ thống kê những biểu hiện của thế giới sông nước thông qua các từ ngữ liên quaN nhằm làm rõ đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích hình ảnh, ngôn từ trong ca

dao để có cái nhìn chi tiết hơn về giá trị của các yếu tố sông nước trong ca dao Từ đó, khái quát những vấn đề trọng tâm, khai thác luận điểm chính, tìm

Trang 18

luận cứ bổ sung chi tiết cho luận điểm ấy nhằm tổng hợp lại để có cái nhìn tổng quan hơn

- Phương pháp so sánh- đối chiếu: Cùng với phương pháp thống kê,

chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu các hình ảnh thuộc các nhóm trong TGSN ca dao ĐBSCL Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có cái nhìn khái quát hơn về TGSN trong ca dao ĐBSCL

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bên cạnh việc sử dụng vốn lí

thuyết về văn học dân gian, chúng tôi còn vận dụng những kiến thức về Văn hóa học, Địa lý học, Lịch sử học, Xã hội học,… nhằm tìm tòi và khám phá những giá trị nổi bật của đề tài

5 Đóng góp của đề tài

- Miêu tả, khắc họa thế giới sông nước trong ca dao ĐBSCL

- Làm rõ đặc điểm, chức năng của thế giới sông nước trong ca dao ĐBSCL nói riêng và ca dao nói chung Qua đó có cái nhìn sâu sắc hơn về đời

sống văn hóa tinh thần con người ĐBSCL

- Góp phần bảo tồn bộ phận VHDG ở ĐBSCL nói riêng và VHDG cả nước nói chung

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát vùng đất và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Trong chương này, chúng giới thiệu khái quát về vùng đất, lịch sử, con người vùng ĐBSCL Bên cạnh đó, chúng tôi giới thiệu một cách chung nhất

về khái niệm, giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao; vài nét về TGSN trong ca dao ĐBSCL cùng thống kê số lượng tác phẩm ca dao sẽ nghiên cứu

Chương 2: Phân loại và miêu tả thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Tiến hành phân loại TGSN thành 4 nhóm chính: nhóm hiện tượng tự nhiên liên quan đến TGSN, nhóm thực vật, nhóm động vật, nhóm đồ vật Tiến hành

Trang 19

miêu tả các nhóm dựa trên đặc điểm, tính chất của từng sự vật, hiện tượng trong mỗi nhóm

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện và giá trị của thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Chúng tôi đi sâu, khám phá, đề cập đến một số nghệ thuật được sử dụng trong TGSN ca dao ĐBSCL: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, biểu trưng, công thức ngôn từ truyền thống; giá trị của TGSN vào việc lưu trữ giá trị văn hóa trong VHDG Việt Nam

Phụ lục

- Phụ lục: Thống kê tổng số những bài ca dao liên quan đến TGSN ĐBSCL

Trang 20

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CA DAO

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1 Khái quát về vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1 Địa lí

ĐBSCL được biết đến là một vùng đất đẹp và có thiên nhiên trù phú của nước ta Vùng đất này nằm ở cực nam của dải đất hình chữ S, nơi đây mang nhiều giá trị cả về mặt vật chất và tinh thần biết bao đời nay

ĐBSCL là một bộ phận của lưu vực sông Mê Kông có diện tích khoảng 40.000 km2, bao gồm một tỉnh trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và

12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu

Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau

Phần đất liền có hai mặt giáp biển: phía Tây giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam

là biển Đông

Đây là vùng có địa lí rất tốt cho sự phát triển cả về mặt kinh tế, xã hội, với số lượng tỉnh thành lớn, vị trí tiếp giáp sông nước nhiều làm thêm sự đa dạng về mọi mặt ĐBSCL là một trong những đồng bằng châu thổ phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới còn là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của cả nước

1.1.2 Lịch sử hình thành

Qua tìm hiểu công trình Diễn trình văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long

(2010) của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu, chúng tôi nhận thấy quá trình hình hành của vùng đất ĐBSCL qua nhiều thời kì lịch sử

Lịch sử hình thành vùng ĐBSCL nói riêng hay Nam Bộ nói chung trước kia là vùng lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp và có chung quá trình hình thành qua nhiều thời kì khác nhau Căn cứ vào một số thư tịch cổ

Trung Quốc, như Dị vật chí (thời Đôn Hán 25 – 220), Ngô Thư (thời Tam quốc: 22 – 280, Lương thư, Phù Nam thổ tục, muộn hơn như Tần thư, Tùy

thư… và kết quả khảo cổ học hơn 100 năm qua thì vào khoảng đầu Công

Trang 21

nguyên phía nam nước Lâm Ấp xuất hiện một nước tên Phù Nam, vương quốc này rất rộng bao gồm cả Nam Lào, Nam Thái Lan, toàn bộ Campuchia, Nam Bộ, Nam Trung bộ của Việt Nam ngày nay

Về sau, vương quốc này phát triển thành đế chế, lãnh thổ ngày cảng mở rộng và hưng thịnh hơn Sau khi tồn tại dưới 1 thế kỷ, trải qua 14 triều đại đến năm 550 thì bị Chân Lạp xâm chiếm Từ đó, Chân Lạp bắt đầu được hình thành Người Chân Lạp hầu hết là tộc người Khmer, nói tiếng Nam Á Chính

vì vậy trước khi người Việt đến vùng đất ĐBSCL này lập nghiệp, chúng ta đã thấy có tộc người Khmer sinh sống tại đây

Trong quá trình sinh sống, người Chân Lạp chỉ chú tâm vào phát triển vùng trung tâm truyền thống trước đây của mình là Lục Chân Lạp nên phần nhiều nơi đây vẫn còn hoang vu rừng rậm, hầu như không có người ở và được khai phá Mãi sau này nhờ đến chúa Nguyễn mà người Việt chúng ta được đặt chân lên đất Thuỷ Chân Lạp và bắt đầu công cuộc khai hoang mở cõi Lúc bấy giờ ngoài người Khmer đã có mặt từ trước thì có thêm người Việt, người Hoa và người Chăm cùng sinh sống

Vào thời Triều Nguyễn (vua Gia Long) thành lập vào năm 1802, ông tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn, đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lí trên quy mô cả nước Vua Minh Mạng vào năm 1832 đã

đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên được gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay còn được gọi là Lục tỉnh

Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì đã có 4 tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Ngoài ra còn có một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực miền Tây Nam Bộ, tương đương với một phần các tỉnh Long An và Tiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay

Trang 22

Đến thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào tháng 12/1845 ba nước

An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một hiệp ước, thừa nhận 6 tỉnh Nam kỳ thuộc Việt Nam

Đến năm 1858, Pháp tấn công Nam Bộ rồi lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam

Kì, triều Nguyễn điều động quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp Khi kháng chiến thất bại triều đình nhà Nguyễn đã ký các hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông và 3 tỉnh miền Tây Mãi đến ngày 4/6/1949, trước thắng lợi liên tiếp của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tổng thống Pháp V.Ô- ri- ôn đã ký Bộ luật số 49- 733 trả lại Nam Kì cho chính quyền Bảo Đại

Như vậy đến năm 1949 vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn

“nhượng” cho thực dân Pháp đã được trả lại cho Việt Nam bằng một văn bản

có giá trị pháp lý, Chính phủ Pháp đã khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với Vương quốc Campuchia

Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ được các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận Cũng chính từ đó vùng đất ĐBSCL được hồi sinh, người dân cần cù lao động để có được một vùng đất như ngày nay

1.1.3 Điều kiện tự nhiên

1.1.3.1 Địa hình

ĐBSCL là vùng đất có địa hình bằng phẳng Nền đất ĐBSCL thuộc dạng đất yếu (bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha), có diện phân bố rộng rãi từ phía nam sông Vàm Cỏ Đông đến tận mũi cà mau (ngoại trừ các đồng bằng cao ở phía bắc Đồng Tháp Mười và các núi còn sót ở phía tây An Giang, Kiên Giang) Bề dày của đất yếu có khuynh hướng tăng dần từ bắc xuống nam, từ tây bắc xuống đông nam và về phía sông lớn Bề dày nhỏ nhất được ghi nhận

ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang một phần tứ giác Long Xuyên, phần lớn ở

Trang 23

Đồng Tháp Mười Ở phía nam Cà Mau, phần lớn khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng duyên hải, bề dày của đất lớn hơn 20m

1.1.3.2 Khí hậu

Do vị trí địa lí khá đặc biệt nên ĐBSCL có nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm từ 24- 27°C Nhiệt và nắng là một trong những lợi thế ở ĐBSCL để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới và nhiều loại cây trồng, tạo nên sự đa dạng sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Ở ĐBSCL lượng mưa được phân bố theo mùa Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa khá lớn, chiếm tới 99% tổng lượng mưa cả năm Trong khi đó mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa tại đây phân bố theo mùa một phần đem đến cho vùng những thuận lợi trong công tác canh nông hay phát triển các nghành thủy hải sản nhưng ngược lại cũng đem đến nhiều trở ngại cho vùng đất này Mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ do khoảng 50% diện tích toàn đồng bằng, thuận lợi cho việc đánh bắt thủy, hải sản, phục vụ đời sống của người dân Mùa khô thường thiếu nước tưới cây cối, gây khó khăn cho sản xuất, nhất là trong khu vực bị mặn, phèn Chính những điều đó làm tăng thêm tính thời vụ cũng như nhu cầu cấp nước cũng khó khăn và không đều ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất của người dân

1.1.3.3 Nguồn nước

Với ba mặt giáp biển, cùng hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt mang nguồn nước dường như dàn trải khắp vùng đồng bằng, mà lớn nhất phải

kể đến hai hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Vàm Cỏ

Hai hệ thống sông này được cung cấp nước chủ yếu bởi sông Mê Kông, nước từ sông Mê Kông phần lớn do lượng mưa cung cấp Lượng mưa tại ĐBSCL cũng biến đổi theo mùa nên lượng nước cũng biến đổi theo Vào mùa

Trang 24

mưa lượng nước được cung cấp khá lớn nhưng gặp trở ngại vì gây thành bão lũ

Bên cạnh lượng nước được cung cấp trực tiếp từ sông ngòi kênh rạch trên bề mặt đất còn có những mạch nước ngầm được đánh giá có trữ lượng lớn, trên 84 triệu m3/ngày Hiện nay tổng lượng nước đang khai thác sử dụng

là 854 nghìn m3/1 ngày trong đó lượng nước ngầm mới chiếm hơn 12%

Không những thế, tại vùng ĐBSCL còn có nguồn nước khá lớn, với nguồn nước này ảnh hưởng vừa tích cực và tiêu cực đến việc phát triển hệ sinh thái cũng như phát triển kinh tế vùng

ĐBSCL và vùng đất thường xuyên có nhiều bão lũ nhưng mỗi đợt bão lũ đi qua có thể cải tạo được nguồn nước, cung cấp thêm phù sa cho đất, vệ sinh đồng ruộng Nguồn nước ngọt quan trọng này có thể cung cấp cho cuộc sống sinh hoạt, phục vụ cho công tác sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản và tạo nên một vùng sinh thái nước ngọt rộng lớn cho vùng đồng bằng

Nhìn chung những yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên đã góp phần hình hình một môi trường phát triển cho TGSN, để từ đó các sự vật hiện tượng thuộc TGSN đi vào ca dao với số lượng phong phú và đem đến những giá trị cho ca dao

1.1.4 Con người

Dân cư ở vùng ĐBSCL đa số là người Kinh, tuy nhiên khu vực này trước đây từng là một phần của Đế quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước Campuchia

Theo sử sách, khoảng thế kỷ XII, người Khmer tiến vào khai thác vùng đất Nam Bộ Từ thế kỷ XVI, người Chăm từ vùng Trung Bộ vào sinh sống, sau đó là người Việt rồi đến người Hoa dần dần chuyển cư đến đây Như vậy,

có thể nói vùng đất Nam Bộ là nơi cộng cư lâu đời của các tộc người thiểu số: Khmer, Chăm, Hoa và người Việt Chính quá trình xen dân cư này đã tạo nên

Trang 25

sự giao thoa, tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc cũng như đa dạng trong tính cách con người nơi đây

Trong bài viết Tìm hiểu đặc điểm dân cư và tâm lý người dân ĐBSCL tác giả Phan Văn Búa đã nhận định: “Kế thừa bản sắc văn hoá dân tộc và

phát huy trong cuộc đấu tranh chống thiên tai và địch họa, người dân Đồng bằng sông Cửu Long đúc kết được nhiều đức tính quý báu như: chịu thương, chịu khó, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, kiên cường, bất khuất,…”

(Phan Văn Búa, 2010)

Hay trong bài viết của Minh Khánh – Hạnh Nguyên trong bài viết giới thiệu sách trên đài truyền hình thành phố Cần Thơ đăng ngày 22/01/2016,

cuốn sách mang tên Người Phương Nam, trong đó có một nhận định “Người

Nam Bộ nghĩa tình, khẳng khái, bộc trực, hài hước giàu tinh thần yêu quê hương đất nước nồng nàn, nhất là khi đứng trước hoạ ngoại xâm; Năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, cần cù, chịu khó trong lao động để thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt trên vùng đất mới; Hào hiệp và phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, bình đẳng và ít bảo thủ…” Phải nói rằng từ những

nhận định của các nhà nghiên cứu ta có thể đúc kết ra được những phẩm chất nổi bật của con người Nam Bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng như sau:

Nói đến con người ĐBSCL chúng ta cần nói đến yếu tố chịu thương chịu khó, cần cù sáng tạo Tại sao có thể nhận định như vậy? Bởi đây là một vùng đất được khai hoang từ khá sớm, nơi đây trước kia là rừng rậm khắc nghiệt để có thể khai hoang thành vùng đồng bằng rộng lớn con người cần phải cần cù lao động, chịu thương, chịu khó và sáng tạo không ngừng mới có thể đạt được những thành tựu như ngày hôm nay Họ hòa mình với từng bụi cây, đám đất, sông nước với tâm thế không ngừng cố gắng, yêu thương giúp

đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn từng giai đoạn

Khi sống hết mình với thiên nhiên họ nhận lại được những ưu đãi từ chúng, chính đất đai, xứ sở đã tạo ra tính cách hào phóng cho con người nơi

Trang 26

đây Hào phóng vì được thiên nhiên ưu đãi, họ không phải khó khăn, vất vả trong mưu sinh nên mọi thứ cứ mộc mạc, giản dị như cái vốn có của tự nhiên, định hình lối sống phóng khoáng, tự do, hào hiệp, không lo xa, không cần tiết kiệm Đôi khi họ có phần dễ dãi trong tính cách của mình, nhưng đồng thời lại tạo nên lối sống mất căn cơ, không lo xa, thậm chí trở thành thiếu tính kế hoạch trong công việc làm ăn Đây cũng là tính cách khá đặc biệt của người dân vùng sông nước Cửu Long, chúng được hình thành từ đặc điểm sinh thái của vùng đất, góp phần cho sự định hướng cũng như phương pháp tư duy, xúc cảm, thẩm mỹ của họ

Bên cạnh đó, dân cư ĐBSCL còn được đánh giá là những con người trọng nhân nghĩa, trọng nghĩa tình Như đã trình bày ở trên, vùng đất Cửu Long là vùng đất hội tụ rất nhiều dân tộc khác nhau, họ đến đây lập nghiệp từ khá sớm Từ cuộc sống đơn lẻ họ tập hợp sống thành làng, thành xã cùng nhau khai hoang vùng đất hoang sơ này Gắn bó với nhau là thế nhưng cũng

có những lúc bất hòa, không cùng quan điểm, nhưng đến cuối cùng cho dù bất

cứ chuyện gì xảy ra họ vẫn dang rộng bàn tay giúp đỡ nhau và cùng nhau vượt qua những khó khăn, hoạn nạn Chính vì vậy, chúng ta thường thấy những con người vùng đất này rất trọng bạn bè, đặt tình cảm bạn hữu lên trên như người trong gia đình

Kể đến con người ĐBSCL chúng ta không quên được tính cách bộc

trực thẳng thắn của họ Người ta thường bảo “người miền Tây thẳng tính, có

gì nói đó, không sợ mích lòng” Quả thật không sai, con người nơi đây thấy

chuyện bất bình liền nói thẳng thừng với người đối diện, chẳng cả nể bất kì ai Tuy nhiên, họ không phải là những con người không biết điều, họ vẫn nhận ra những lỗi lầm sai của mình khi được giải thích cặn kẽ Khi tiếp xúc với những con người vùng ĐBSCL này, chúng ta luôn cảm nhận được sự gần gũi, thân thuộc, có chút thẳng thắn nhưng lại như người thân, bạn bè Bên cạnh đó,

Trang 27

cách nói chuyện hài hước của họ còn tạo được cảm tình không nhỏ cho những người đối diện

Trải qua cả một quá trình khai hoang, mở đất đầy khó khăn, gian khổ Đến nay, ĐBSCL đã trở thành một vùng đất phát triển về mọi mặt, vậy mà con người nơi đây vẫn giữ được cho mình những phẩm chất, tính cách riêng biệt đáng trân trọng

1.2 Khái quát về ca dao vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.2.1 Vài nét về ca dao

1.2.1.1 Khái niệm ca dao

Trong nền văn học Việt Nam, ca dao là một trong những đối tượng được nghiên cứu từ rất sớm và để lại nhiều thành tựu Vì vậy rất nhiều thuật ngữ, khái niệm về ca dao đã ra đời và được các nhà nghiên cứu lí giải trong nhiều công trình khác nhau

Trong Việt Nam văn học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm cho rằng:

“Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân”

(Dương Quảng Hàm, 1968)

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật

ngữ văn học đã có nhận định về ca dao như sau: "dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).” (Lê Bá Hán…, 1992)

Trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Bích

Hà cũng đưa ra nhận đinh: “Ca dao: được hiểu như những câu thơ dân gian

hoặc phần lời của những câu hát dân gian (không có từ đệm).” (Nguyễn Thị

Bích Hà, 2018)

Ngoài ra, tác giả Chu Xuân Diên cũng nhận định: “Ca dao vốn là một

thuật ngữ Hán - Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… Sự phân biệt giữa

Trang 28

ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến những làn điệu, những thể thức nhất định… Khái niệm ca dao đã được quy định dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất: Đó là những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân…” (Chu Xuân Diên, 2003)

Rõ ràng khi bàn về khái niệm ca dao, mỗi tác giả đều có một cách diễn đạt khác nhau nhưng ý nghĩa nội dung lại khá tương đồng: ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, hát ru… hoặc ca dao là lời dân

ca đã được bỏ những luyến láy khi hát Ca dao còn là kết tinh của quá trình sáng tạo của nhân dân qua nhiều thời đại lịch sử

Tóm lại“Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi,

được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về mặt phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.” (Nguyễn Xuân Kính, 1992)

1.2.1.2 Giá trị của ca dao Việt Nam

+ Về mặt nội dung

Ca dao được ra đời từ những lời dân ca về lao động sản xuất Vì được sinh ra trong quá trình lao động, nhiều bài ca dao được cất lên nhằm bày tỏ tình yêu lao động mãnh liệt của con người Lời ca dao phản ánh quá trình của công việc lao động vất vả, nặng nhọc Mặc dù vất vả nhưng nổi bật qua những câu ca dao là tinh thần lạc quan, ham sống, yêu đời, yêu lao động, tin tưởng ở thiên nhiên và cả trong tương lai của người dân lao động:

- Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần

Ngoài bày tỏ tình yêu với lao động sản xuất, ca dao còn ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước:

Trang 29

- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ

Nhắc đến ca dao, không thể bỏ qua những lời ca mượt về tình yêu đôi lứa Đây được xem là bộ phận chiếm số lượng lớn trong kho tàng ca dao Việt Nam Từng chặng đường của tình yêu như: gặp gỡ, tỏ tình cho đến những tín hiệu của tình yêu như nhớ nhung, tương tư, thề thốt chung tình hay sự thất bại, đau khổ rồi buông lời trách móc cho nhau… đều được bộc lộ qua những câu ca dao đằm thắm Chẳng hạn:

Gặp gỡ, tỏ tình:

- Đến đây mận mới hỏi đào

Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?

Hay thề thốt chung tình:

- Trăm năm ước nguyện chung tình

Trên trời, dưới đất có mình với ta

Bên cạnh đó, ca dao còn phản ánh một cách rõ nét sinh hoạt và mối quan hệ đời sống của các thành viên trong gia đình Dù ca dao sống trong thời

kì phong kiến, nhưng những mối quan hệ gia đình trong ca dao vẫn mang những nét truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Đó là sự thủy chung, yêu thương, tình nghĩa, là sự hiếu thảo trong đạo làm con hay sự đoàn kết, tương trợ giúp

đỡ lẫn nhau của các thành viên trong gia đình Ví dụ một số câu ca dao như sau:

- Có con hơn của anh ơi,

Của như buổi chợ họp rồi lại tan

Ngoài những nội dung nói trên, ca dao còn phản ánh cả một quá trình lịch sử từ thời phong kiến cho đến thời kì chống giặc cứu nước Trong thời phong kiến, phần lớn ca dao lên án, tố cáo những mặt trái của chế độ đương thời nên ít có những bài ca dao ca ngợi hình ảnh lãnh tụ, người anh hùng Về sau, khi đã thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc khi đất nước chiu sự đàn áp

Trang 30

của bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ca dao tiếp tục chuyển hướng, phản ánh hai cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước, dân tộc như: ca dao về thuế nông nghiệp, giảm tô, cải cách ruộng đất, ca dao về hình ảnh các chú bộ đội cụ Hồ hết mình chiến đấu vì quê hương, tổ quốc hay những bài ca dao ca ngợi những người phụ nữ hy sinh tình cảm cá nhân vì lợi ích chung của dân tộc Trong số những nội dung trên, nổi bật là những bài ca dao đề cao tình cảm sâu sắc của nhân dân đối với Đảng và với bác Hồ Những bài ca dao ấy như chất chứa toàn bộ tình yêu, sự cảm phục, lòng biết ơn đối với vị cha già kính yêu của dân tộc:

- Nước Nam ta có Bác Hồ

Ngàn năm sáng mãi cơ đồ Việt Nam

+ Về mặt nghệ thuật

Phương tiện chủ yếu của ca dao là ngôn ngữ Trong ca dao, ngôn ngữ được sử dụng một cách rất độc đáo, có khi rất giản dị, thân thuộc nhưng cũng

có khi lại tinh tế, uyển chuyển, điêu luyện

Thể thơ trong ca dao bao gồm: thể lục bát, thể song thất lục bát, thể vãn

4 chữ, 5 chữ hoặc thể thơ tự do Trong số đó, thể lục bát là thể thơ được sử dụng nhiều nhất Với cấu tứ vế trên 6 âm tiết, vế dưới 8 âm tiết và cách gieo vần riêng biệt tạo nên nhịp điệu linh hoạt, uyển chuyển cho những bài ca dao

Thể song thất và song thất lục bát không được sử dụng nhiều trong ca dao nhưng lại là một thể thơ bắt nguồn từ dân ca và thể thơ hỗn hợp là một sự kết hợp tự do các thể thơ vốn có của ca dao

Kết cấu của ca dao rất rộng nhưng có thể quy về mấy kiểu kết cấu sau: kết cấu trùng điệp là kiểu kết cấu mà phần lời và ý của câu ca dao được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài ca Kết cấu vòng tròn là kiểu kết cấu của những câu

ca dao đọc mãi không có điểm dừng Kết cấu đường thẳng là kiểu hết cấu giống như hình thức kể chuyện Kết cấu tam giác hay thu dần chủ đề về cuối

là kết cấu giữ kín những điều tâm tình, gần cuối mới hé lộ

Trang 31

Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, lúc diễn xướng bài ca Thời gian trong ca dao được chia thành hai mảng: thời gian sự kiện cụ thể và thời gian tâm lí Tuy nhiên, thời gian tâm lí xuất hiện nhiều hơn cả, những bài ca dao lặp đi lặp lại những từ ngữ chỉ thời gian này đã tạo nên một

công thức riêng biệt cho ca dao như: chiều chiều, từ ngày, khi xưa… những

công thức trên không chỉ đơn thuần chỉ dẫn thời gian cụ thể mà nó còn liên quan đến việc bộc lộ tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình

Cùng với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian có tính hiện thực, xác định Bao trùm lên ca dao là không gian quen thuộc với nhân dân lao động như không gian làng quê với những hình ảnh bình dị: giếng nước, gốc đa, đồng ruộng… Ngoài những không gian thân thuộc ấy, đôi khi trong ca dao còn có những không gian rộng lớn hơn như không gian lịch sử, địa lí

1.2.2 Giới thiệu về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

VHDG ĐBSCL được hình thành và hoàn thiện sau khi trải qua một hành trình khai hoang và phát triển của vùng đất này Giống với văn học cả nước, văn học vùng ĐBSCL cũng được chia thành hai bộ phận chính: VHDG

và văn học viết

Trong buổi đầu khai phá vùng đất, hầu hết đại bộ phận lưu dân đến ĐBSCL là những người nông dân nghèo, ít học nên văn nói ra đời trước văn học viết một thời gian khá dài Ngoài những thể loại truyền thống được người dân mang từ quê cũ đến đây, một số người Việt đầu tiên tại ĐBSCL đã sáng tạo một số thể loại riêng biệt theo cách gọi của họ như: nói vè, nói vãn, nói ví… những thể loại này không được diễn đạt một cách hoa mỹ mà bằng những ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chân chất nhất

Trải qua một thời gian dài, VHDG ĐBSCL càng ngày càng khẳng định

vị thế của mình nhiều hơn trong nền văn học nước nhà Không những ghi dấu

ấn ở các thể loại dân gian như: tục ngữ, hò, vè… mà bên cạnh đó ca dao

Trang 32

ĐBSCL cũng tạo được cho mình một chổ đứng vững chắc trong kho tàng ca dao Việt Nam

Nội dung ca dao ĐBSCL xoay quanh bốn chủ đề chính: quê hương đất nước, lao động sản xuất, đời sống tình cảm, phong tục tập quán và tâm lí

xã hội Những chủ đề này có sự liên kết mật thiết, đan xen vào nhau nên đôi khi tạo sự nhọc nhằn trong việc xác định chắc chắn bài ca dao thuộc mảng chủ đề nào

Xét trên bình diện tổng thể, ca dao ĐBSCL chủ yếu phản ánh quá trình sinh sống của người dân lao động Từ ca dao, chúng ta có thể thấy được cách ứng xử của con người với con người thông qua những lời ca ca ngợi công lao cha mẹ, ca ngợi vẻ đẹp của lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng, tình anh

em, bằng hữu…

Ngoài ra, cách ứng xử của con người với thiên nhiên, sông nước cũng

là một điểm nổi bật trong ca dao ĐBSCL Chính điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng đất, đòi hỏi người dân nơi đây phải gắn bó mật thiết và hòa mình cùng thiên nhiên Vì vậy, trong ca dao ĐBSCL thiên nhiên vừa là đối tượng phản ánh vừa là phương tiện nghệ thuật làm nổi bật lên vùng đất hoang vu, nguy hiểm nhưng không kém phần giàu đẹp, đầy sức hút Không chỉ thế, cùng với những con sông rộng lớn, kênh rạch chằng chịt đã hình thành nên một môi trường sông nước đa dạng và phong phú Ca dao ĐBSCL khắc họa, miêu tả toàn diện thế giới sông nước ĐBSCL thông qua thế giới động, thực vật, đồ vật gần gũi và sinh động

Mặt khác, các sáng tác ca dao tại ĐBSCL còn xoay quanh những nội dung quen thuộc trong ca dao như: thể hiện hoặc truyền tải tình cảm, ghi lại dấu ấn vùng miền, lưu giữ lịch sử hay gửi gắm những đạo lý ngàn đời của ông cha… ẩn chứa trong từ câu ca dao nơi đây là cả một tình yêu quê hương tha thiết, nồng nàn

Trang 33

Về hình thức, cũng như ca dao cả nước, thể thơ lục bát vẫn là thể thơ chiếm phần lớn trong sáng tác của các bài ca dao ĐBSCL Thông qua cách gieo vần linh hoạt, nhịp điệu uyển chuyển, thể thơ này giúp con người dễ dàng bộc lộ tâm tư, tình cảm, niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống thường nhật một cách mượt mà nhất

Ngôn ngữ trong ca dao ĐBSCL lại mang những nét riêng biệt, đó là ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần gũi, bộc trực như chính tính cách con người vùng đất này Bởi thế, khi mỗi câu ca dao được cất lên, chúng dễ dàng đi

thẳng vào lòng người và để lại ấn tượng không nhỏ trong lòng người đọc 1.2.3 Vài nét về thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

1.2.3.1 Khái niệm

Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên):“Thế giới: tổng thể nói

chung những gì tồn tại; thường dùng để chỉ tổng quát những sự vật vật chất và hiện tượng tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, trong mối quan hệ với nhận thức con người” Hay theo một nghĩa khác thế giới còn được định

nghĩa: “là phạm vi, lĩnh vực của đời sống, của các sự vật hiện tượng có

những đặc trưng chung nào đó, phân biệt với phạm vi, lĩnh vực khác.”

(Hoàng Phê, 1994)

Sông nước được định nghĩa: “là từ chỉ sông, về mặt là cảnh vật thiên

nhiên hoặc điều kiện sinh sống của con người nói khái quát” (Hoàng Phê,

1994)

Vậy ta có thể hiểu rằng TGSN là tổng thể nói chung những sự vật, vật chất, hiện tượng tự nhiên trong phạm vi sông nước, vừa tồn tại một cách độc lập vừa có mối quan hệ qua lại với con người

Trong nghiên cứu ca dao, ta thường bắt gặp những cụm từ như “ yếu tố sông nước” “hình ảnh sông nước” Xét theo nghĩa của từ, yếu tố mang nghĩa

“bộ phận cấu thành một sự vật, sự việc, hiện tượng” nào đó, hình ảnh “hình

Trang 34

người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí nhớ” hay “khả năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt” (Hoàng Phê, 1994) Theo những nét nghĩa

trên ta có thể nhận thấy các cụm từ như “yếu tố sông nước”, “hình ảnh sông nước” chỉ mang phạm vi nhỏ hẹp nhưng với cụm từ “TGSN” lại cho ta một cái nhìn rộng lớn, bao trùm lên toàn bộ những gì liên quan đến sông nước Hay nói cách khác, “sông nước” trở thành trung tâm và bao quanh là những

sự vật, hiện tượng đặc thù liên quan mật thiết với nhau tạo nên sự trù phú, sinh động, hấp dẫn người đọc

1.2.3.2 Đôi nét về thế giới sông nước trong ca dao ĐBSCL

TGSN trong ca dao ĐBSCL rất rộng lớn nhưng không vì thế mà các sự vật, hiện tượng rời rạc, không có sự liên kết Mỗi hình ảnh thuộc TGSN là một cá thể độc lập, mang những nét đặc trưng riêng nhưng cũng có sự giao thoa, kết nối thông qua môi trường, không gian sông nước TGSN trong ca dao ĐBSCL bao gồm các hình ảnh thuộc những nhóm: hiện tượng tự nhiên, thực vật, động vật, đồ vật, mỗi nhóm đều đóng góp cả về giá trị giá trị vật chất cho đến giá trị tinh thần cho người dân lao động

- Hiện tượng tự nhiên thuộc TGSN trong ca dao ĐBSCL bao gồm: dòng sông, con nước, con kênh, làn sóng Trong đó, hình ảnh sông, nước là hình ảnh chiếm số lượng lớn nhất trong ca dao ĐBSCL

- Thực vật thuộc TGSN có thể phân chia thành hai bộ phận:

+ Cây thân cứng bao gồm : dừa, bần, mù u…

+ Cây thân mềm: sen, súng, bèo, lục bình…

- Động vật thuộc TGSN trong ca dao ĐBSCL bao gồm những loài sinh sống trực tiếp và tiếp xúc nhiều với môi trường sông nước như: cá, tôm, tép, cua, còng, cò, vịt… Loài cá chiếm số lượng, số loài lớn nhất trong nhóm động vật

Trang 35

- Đồ vật gắn liền với TGSN, thở thành phương tiện đi lại, buôn bán như: tàu, thuyền, ghe, đò…

Toàn bộ những sự vật, hiện tượng này đã góp phần hình thành một TGSN đa dạng, phong phú và làm sinh động thêm những câu ca dao ĐBSCL

1.2.4 Tình hình nguồn tư liệu khảo sát

1.2.4.1 Nguồn tư liệu khảo sát

Trong phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi lựa chọn sử dụng một số cuốn sách chứa ca dao ĐBSCL có ghi rõ nguồn gốc, cách thức sưu tầm biên soạn Bao gồm:

- Văn học dân gian Bến Tre của tác giả Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị

Bạch Liên, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 1988

- Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long của Khoa ngữ văn Đại

học Cần Thơ, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1997

- Văn học dân gian Sóc Trăng của tác giả Chu Xuân Diên, Nxb TP Hồ

- Văn học dân gian Tiền Giang của tác giả La Mai Thi Gia (chủ biên),

Phan Xuân Viện, Lê Thị Thanh Vy, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2019

- Ca dao Đồng Tháp Mười của tác giả Đỗ Văn Tân, Sở văn hóa thông tin

Đồng Tháp, 1984

- Ca dao hò vè trên đất Kiên Giang của tác giả Trương Thanh Hùng, Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội, 2016

- Văn học dân gian An Giang của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (chủ

biên), Phan Xuân Viện, Nguyễn Hữu Ái, La Mai Thi Gia, Lê Thị Thanh Vy, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2016

Trang 36

1.2.4.2 Tiêu chí phân loại

Ca dao ĐBSCL có số lượng tương đối lớn, vì thế trong quá trình nghiên cứu có rất nhiều cách phân loại các đối tượng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên ở đề tài, để xác định tiêu chí phân loại chúng tôi lựa chọn dựa vào từ ngữ, hình ảnh để phân loại từng sự vật, hiện tượng thuộc TGSN trong ca dao ĐBSCL Chúng tôi quyết định lựa chọn các từ ngữ liên quan đến các nhóm đối tượng mình đã hoạch sẵn như: nhóm các hiện tượng tự nhiên liên quan đến TGSN, nhóm thực vật, nhóm động vật, nhóm đồ vật Ở mỗi nhóm này sẽ

có những từ đặc trưng cho cách phân loại riêng Chẳng hạn ở nhóm các hiện tượng tự nhiên liên quan đến TGSN, chúng tôi quyết định lựa những câu ca dao có từ sông, nước, sóng,… để khảo sát Cũng với hình thức ấy, các nhóm còn lại là thực vật sẽ là sự xuất hiện của các từ như: lục bình, mù u, sen, súng… Ở nhóm động vật là các từ như: cá, tôm, cua, còng, tép… nhóm đồ vật là các vật dụng có liên quan đến TGSN thông qua các từ như: ghe, xuồng, tàu, thuyền

1.2.4.3 Bảng thống kê

Dựa vào những nguồn tư liệu trên, sau khi tinh lọc những bài ca dao bị trùng nhau, chúng tôi đưa ra bảng thống kê số lượng bài ca dao ở mỗi cuốn sách như sau:

bài ca dao

Số bài ca dao đáp ứng tiêu chí và không trùng lặp

- Văn học dân gian Bến Tre của tác giả

Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị Bạch

Liên, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội,

1988

- Văn học dân gian Đồng bằng sông

Cửu Long của Khoa ngữ văn Đại học

Cần Thơ, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1997

1825 194

Trang 37

Tên sách Tổng số

bài ca dao

Số bài ca dao đáp ứng tiêu chí và không trùng lặp

- Văn học dân gian Sóc Trăng của Chu

Xuân Diên, Nxb TP Hồ Chí Minh,

2002

- Văn học dân gian Bạc Liêu của Chu

Xuân Diên, Nxb TP Hồ Chí Minh,

2003

- Văn hóa dân gian Cần Thơ của Trần

Phỏng Diều, Nxb Mỹ Thuật Hà Nội,

2016

- Văn học dân gian Tiền Giang của tác

giả La Mai Thi Gia (chủ biên), Phan

Xuân Viện, Lê Thị Thanh Vy, Nxb Tổng

hợp TP Hồ Chí Minh, 2019

1251 188

- Ca dao Đồng Tháp Mười của tác giả

Đỗ Văn Tân, Sở văn hóa thông tin Đồng

Tháp, 1984

901 171

- Ca dao hò vè trên đất Kiên Giang của

tác giả Trương Thanh Hùng, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội, 2016

- Văn học dân gian An Giang của tác

giả Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),

Phan Xuân Viện, Nguyễn Hữu Ái, La

Mai Thi Gia, Lê Thị Thanh Vy, Nxb

Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2016

1225 178

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi tập trung giới thiệu vùng đất và những giới thuyết liên quan đến ca dao ĐBSCL Về khía cạnh vùng đất, sau khi tìm hiểu các tư liệu, chúng tôi trình bày những đặc điểm về: địa lí, lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên và con người vùng đất này Từ đó có thể thấy vùng đất ĐBSCL là vùng đất được thiên nhiên ưu ái, ban tặng cho những yếu tố tự nhiên rất thuận lợi, hình thành một môi trường tốt cho TGSN hình thành và phát triển TGSN đi vào ca dao ĐBSCL một cách mượt mà, vừa trở thành đối tượng phản ánh vừa là nơi gửi gắm tâm tư tình cảm của con người Khảo sát các sự vật, hiện tượng thuộc TGSN thông qua từ ngữ, chúng tôi khảo sát 6963 bài ca dao ĐBSCL, thống kê được 1119 bài ca dao không trùng nhau, xuất hiện các hình ảnh thuộc TGSN Số liệu này sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu của những chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2 PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ THẾ GIỚI SÔNG NƯỚC TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Qua quá trình khảo sát 6963 câu ca dao thuộc vùng đất ĐBSCL, chúng tôi thống kê được số liệu khảo sát theo từng nhóm như sau:

Bảng 2.1 Thống kê tần suất xuất hiện các nhóm hình ảnh thuộc TGSN trong ca dao ĐBSCL

Hiện tượng tự nhiên liên quan đến TGSN 415

Bước 1: Đọc và khảo sát các từ ngữ, hình ảnh thuộc về TGSN trong ca dao ĐBSCL

Trang 40

Bước 2: Sàng lọc những câu ca dao bị trùng qua các tài liệu đã khảo sát Bước 3: Tiến hành phân loại, chia nhóm đối tượng cho các sự vật hiện tượng ấy

Bước 4: Tìm hiểu, phân tích, đánh giá các nội hàm của các sự vật được nhắc tới trong ca dao ĐBSCL

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy TGSN trong ca dao ĐBSCL xuất hiện

2 ranh giới một trên bờ, một dưới nước Tổng số bài ca dao xuất hiện TGSN không trùng lặp là 1119 bài trong ca dao ĐBSCL

Bảng 2.2 Thống kê tần suất xuất hiện các hiện tượng tự nhiên liên quan trực tiếp đến TGSN trong ca dao ĐBSCL

ôm lấy những cánh đồng ruộng bạt ngàn hình thành sự đa dạng, trù phú

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w