1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tương tác kiểu gen với môi trường lên tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống trên quần thể chọn giống cá diêu hồng (oreochromis sp ) thế hệ g5​

96 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

27 2.3.Ước tính các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống quần thể G5 nuôi ở hai môi trường sinh thái khác nhau .... 46 3.3.Ước tính các thông số di truyền

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN SÁNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan những công bố trong luận văn này là trung thực và là một phần trong đề tài cấp quốc gia do TS Trịnh Quốc Trọng làm chủ nhiệm

Những số liệu trong luận văn được phép công bố với sự đồng ý của chủ nhiệm

đề tài và cơ quan giao nhiệm vụ (duyệt đề tài và cấp kinh phí)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2019

Tác giả

Lê Thị Mỹ Uyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Sáng - người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô của Trường, Phòng Sau Đại học, Khoa Sinh học, bộ môn Sinh thái học - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Các anh chị Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Mỹ Uyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Nguồn gốc và phân loại cá rô phi 4

1.1.1 Nguồn gốc cá rô phi 4

1.1.2 Phân loại cá rô phi 4

1.1.3 Nguồn gốc cá diêu hồng 5

1.2.Đặc điểm sinh học của cá rô phi và cá diêu hồng 6

1.2.1 Đặc điểm sinh thái 6

1.2.2 Đặc điểm sinh sản 7

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng 8

1.3.Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và trong nước 9

1.3.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 9

1.3.2 Tình hình nuôi cá rô phi trong nước 10

1.4 Chọn giống trong nuôi trồng thủy sản, cá rô phi vằn (Oreochoromis niloticus) và cá diêu hồng (Oreochromis sp.) 11

1.5.Một số thông số di truyền trong chọn giống 15

1.5.1 Tương tác kiểu gen - môi trường (GxE) 15

1.5.2 Tương quan di truyền giữa hai tính trạng (rg) 17

1.5.3 Hệ số di truyền 17

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Phương pháp nuôi vỗ, sinh sản, ương và đánh dấu trên quần thể cá diêu hồng G5 19

Trang 6

2.1.1 Nuôi vỗ thành thục 19

2.1.2 Kỹ thuật sản xuất các gia đình cùng cha mẹ (full -sibs family) và các cặp gia đình cùng cha khác mẹ (half - sibs groups) 20

2.1.3 Kỹ thuật ương nuôi các gia đình từ cá bột đến kích cỡ đánh dấu 23

2.1.4 Kỹ thuật đánh dấu phân biệt cá thể nhằm duy trì phả hệ 24

2.2.Phương pháp nuôi chung đánh giá tốc độ tăng trưởng 27

2.3.Ước tính các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống quần thể G5 nuôi ở hai môi trường sinh thái khác nhau 31

2.3.1 Ước tính tương tác kiểu gen với môi trường 31

2.3.2 So sánh tương tác kiểu gen với môi trường các tính trạng của quần thể chọn giống G5 với các quần thể chọn giống trước đó 34

2.3.3 Ước tính tương quan di truyền giữa các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống 34

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1.Kết quả nuôi vỗ, sinh sản, ương và đánh dấu trên quần thể G5 36

3.1.1 Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ G4 36

3.1.2 Kết quả sinh sản gia đình cá, ương cá con tạo quần thể cá diêu hồng G5 36

3.1.3 Các chỉ tiêu tính trạng tăng trưởng, màu sắc của quần thể cá G5 vào thời điểm đánh dấu 39

3.2.Kết quả đánh giá tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống của quần thể G5 ở hai môi trường sinh thái khác nhau 41

3.2.1 Kết quả đánh giá tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống của quần thể G5 khi thu hoạch tại hai môi trường sinh thái 41

3.2.2 Màu sắc cá của quần thể G5 khi thu hoạch 44

3.2.3 Các chỉ tiêu về chất lượng nước trong hai môi trường sinh thái 46

3.3.Ước tính các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống quần thể G5 nuôi ở hai môi trường sinh thái khác nhau 47

3.3.1 Kết quả tương tác kiểu gen với môi trường các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống ở hai môi trường sinh thái khác nhau 47

Trang 7

3.3.2 Kết quả so sánh tương tác kiểu gen với môi trường các tính trạng của

quần thể chọn giống G5 với các quần thể chọn giống trước đó 50 3.3.3 Kết quả tương quan di truyền giữa các tính trạng ở quần thể chọn

giống G5 51 3.3.4 Đề xuất phương án chọn lọc từ kết quả tương tác kiểu gen với môi

trường của cá được nuôi ở hai môi trường sinh thái khác nhau 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Kí hiệu Chú giải

c2 Ảnh hưởng của môi trường ương riêng rẽ đến các gia

đình (Environmental effect common to full-sibs)

EBV Giá trị chọn giống ước tính (Estimated Breeding

Value)

G Thế hệ (Generation)

G5-NN Thế hệ thứ năm nuôi trong môi trường nước ngọt

G5-LM Thế hệ thứ năm nuôi trong môi trường nước lợ mặn

GxE Tương tác kiểu gen - môi trường (genotype by

enveronment interaction)

GIFT Dự án Cải thiện di truyền cá rô phi nuôi (Genetic

Improvement of Farmed Tilapia)

h2 Hệ số di truyền (Heritability)

ID Số nhận dạng (Identification)

PIT Dấu từ PIT (Passive Integrated Transponder)

rg Tương quan di truyền (genetic correlation)

Trang 9

đánh dấu 39 Bảng 3.4 Số lượng, khối lượng trung bình của quần thể cá G5 khi thu hoạch ở

hai môi trường sinh thái nước ngọt và lợ mặn 42 Bảng 3.5 Các chỉ tiêu tính trạng tăng trưởng, tỉ lệ sống của quần thể cá G5 tại

thời điểm thu hoạch ở hai môi trường sinh thái nước ngọt và lợ mặn 42 Bảng 3.6 Khối lượng các nhóm cá có màu sắc theo thị hiếu (ưa chuộng/không

ưa chuộng) của quần thể G5 khi thu hoạch ở 2 môi trường sinh thái nước ngọt và nước lợ mặn 45 Bảng 3.7 Các chỉ tiêu chất lượng nước nuôi tăng trưởng trong hai môi trường

sinh thái 47 Bảng 3.8 Tương quan di truyền cùng tính trạng được xem như là 2 tính trạng

ở 2 môi trường nuôi khác nhau 48 Bảng 3.9 Tương quan di truyền (dưới đường chéo), kiểu hình (trên đường

chéo), hệ số di truyền (đường chéo) và ảnh hưởng của môi trường ương riêng rẽ đến đánh dấu (trong ngoặc, đường chéo) giữa các tính trạng tăng trưởng trong môi trường nước ngọt trên quần thể G5 54 Bảng 3.10 Tương quan di truyền (dưới đường chéo), kiểu hình (trên đường chéo), hệ

số di truyền (đường chéo) và ảnh hưởng của môi trường ương riêng

rẽ đến đánh dấu (trong ngoặc, đường chéo) giữa các tính trạng tăng trưởng trong môi trường nước lợ mặn trên quần thể G5 58

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình thái ngoài cá diêu hồng 6

Hình 2.1 Quy trình chọn giống cá diêu hồng tại Việt Nam 19

Hình 2.2 Chuẩn bị giai nuôi vỗ cá bố mẹ 20

Hình 2.3 Phân biệt cá đực (trái), cá cái (phải) 21

Hình 2.4 Ghép cặp sinh sản trong giai 21

Hình 2.5 Ấp trứng, kiểm tra trứng/cá bột, các giai đoạn trứng và các giai đoạn cá bột 23

Hình 2.6 Ương nuôi các gia đình cá trong các giai 24

Hình 2.7 Cá được chuẩn bị để đánh dấu 25

Hình 2.8 Quy trình đánh dấu cá 25

Hình 2.9 Dò ID, cân, đo, đánh dấu và đọc màu cá 26

Hình 2.10 Kéo cá thu số liệu tại Trại Thực nghiệm Thủy sản nước lợ Nam Sông Hậu 28

Hình 2.11 Quy trình thu thập số liệu đánh giá giai đoạn tăng trưởng 29

Hình 2.12 Dò dấu PIT, cân, đo, đọc giới tính và màu sắc cá khi thu hoạch 30

Hình 2.13 Các loại hình màu sắc cá diêu hồng 30

Hình 2.14 Chuẩn bị ao để thả cá sau khi thu số liệu 31

Hình 3.1 Đồ thị phân phối chuẩn khối lượng quần thể G5 tại thời điểm đánh dấu 40

Hình 3.2 Tỉ lệ các kiểu hình màu sắc của quần thể cá G5 khi đánh dấu 40

Hình 3.3 Tỉ lệ màu sắc theo chỉ tiêu “Đạt/không đạt” của quần thể cá G5 khi thu hoạch ở môi trường nước ngọt (A) và ở môi trường nước lợ mặn (B) 44

Hình 3.4 Đồ thị biến động nhiệt độ trong quá trình nuôi 46

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển chung của ngành thủy sản, trong hơn một thập niên qua diện tích nuôi trồng thủy sản không ngừng được mở rộng ở cả ba loại hình mặt nước: nước ngọt, nước lợ và nước mặn đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Nhằm nâng cao sức cạnh tranh và đa dạng hóa sản phẩm thủy sản, nhiều đối tượng thủy sản có giá trị được đưa vào hệ thống nuôi trồng và sản xuất giống Trong đó, cá

rô phi là một trong những loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến ở hơn 100 quốc gia

và được đánh giá là loài nuôi có vai trò quan trọng đối với ngành thủy sản thế giới thế kỉ 21 [1]

Cá diêu hồng còn gọi là cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) là loài cá có kích cỡ to,

nuôi mau lớn, chất lượng thịt cao và ít xương nên được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng [2] Ngoài màu đỏ, cá diêu hồng còn có một ưu điểm khác là phía trong thành bụng không có màu đen như những cá rô phi thuần chủng [3] Cá diêu hồng thường được bán cao giá hơn cá rô phi vằn hoặc cá rô phi đen [4] Do vậy cá diêu hồng được nuôi phổ biến tại châu Á, Trung và Nam Mĩ Tại Việt Nam, cá diêu hồng là đối tượng nuôi phổ biến ở Nam Bộ, có lẽ chỉ sau cá tra [5]

Cá diêu hồng là đối tượng nuôi rất triển vọng, thị trường có nhu cầu tăng nhanh Tuy nhiên, số lượng con giống đạt chuẩn cung cấp cho người nuôi còn hạn chế Do

đó, nhiều trại giống cho sinh sản quá nhiều đợt trong năm trên cùng cá thể bố mẹ, điều này góp phần làm giảm chất lượng con giống [6]

Để phát triển nghề nuôi cá diêu hồng một cách có hiệu quả và bền vững, ngoài việc giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ thì việc tạo con giống có chất lượng đã qua chọn lọc đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, màu sắc đẹp, tỉ lệ sống cao để tăng năng suất nuôi, hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh là rất cần thiết.

Đề tài “Ứng dụng di truyền phân tử, di truyền số lượng phục vụ chọn giống

nâng cao sinh trưởng cá diêu hồng (Oreochromis sp.)” (2014 – 2016) do Viện Nghiên

cứu Nuôi trồng Thủy sản II thực hiện chọn giống theo tính trạng tăng trưởng, màu sắc và chịu mặn hiệu quả chọn lọc từ thế hệ thứ 4 là 14,2%

Trang 12

Cá diêu hồng thuộc nhóm cá rộng muối nên có thể nuôi trong môi trường sinh thái nước ngọt đến lợ mặn Chương trình chọn giống thường được tiến hành trong các trung tâm chọn giống, trong khi đó các mô hình nuôi thương phẩm lại được tiến hành trong những điều kiện thực địa vốn có thể rất khác biệt Vì vậy, khi tiến hành chọn giống trong một môi trường (trung tâm chọn giống) và sản phẩm nuôi ở (các) môi trường khác thì cần đánh giá tương tác biểu hiện kiểu hình giữa hai (hoặc nhiều) môi trường này Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất cần tiếp tục chọn giống các thế hệ kế tiếp đến thế hệ G5 bằng ứng dụng lí thuyết di truyền số lượng ở các môi trường sinh thái khác nhau nhằm đánh giá tương tác giữa kiểu gen với môi trường

Từ đó, đưa ra phương án chọn lọc để duy trì ổn định về mặt di truyền và đạt hiệu quả

chọn lọc cao hơn Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá tương tác kiểu gen với môi trường

lên tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống trên quần thể chọn giống cá diêu hồng (Oreochromis sp.) thế hệ G 5 ” được thực hiện Đề tài này nằm trong khuôn khổ

của đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cấp quốc gia của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II: “Hoàn thiện công nghệ chọn tạo giống diêu hồng

(Oreochromis sp.) tăng trưởng nhanh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được tương tác kiểu gen với môi trường lên tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống hỗ trợ cho việc ra quyết định lựa chọn phương án chọn lọc trên quần thể chọn giống cá diêu hồng G5

3 Đối tượng nghiên cứu

Quần thể cá diêu hồng (Oreochromis sp.) chọn giống thế hệ G5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Đánh giá tương tác kiểu gen với môi trường nuôi ở các điều kiện sinh thái khác nhau cho các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống

2 Đánh giá sự thay đổi về tương tác kiểu gen với môi trường ở thế hệ chọn giống

G5 so với thế hệ chọn giống trước đó

3 Tương quan di truyền giữa các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống ở thế hệ chọn giống G5 ở 2 môi trường sinh thái khác nhau

Trang 13

5 Phạm vi nghiên cứu

1 Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ (Xã An Thái Trung, Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang) và Trại Thực nghiệm Thủy sản nước lợ Nam Sông Hậu (phường Nhà mát, Thành phố Bạc Liêu) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

2 Thời gian thực hiện từ tháng 5/ 2018 đến 8/2019

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1 Ý nghĩa khoa học: Đánh giá tương tác kiểu gen - môi trường (genotype by enveronment interaction, GxE) của tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống giữa hai môi trường nuôi nước ngọt và lợ mặn ở thế hệ chọn giống cá diêu hồng G5

2 Ý nghĩa thực tiễn: Hỗ trợ cho việc ra quyết định lựa chọn phương án chọn lọc các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống trên quần thể chọn giống cá diêu hồng G5 nhằm cải thiện năng suất và hiệu quả của nghề nuôi cá diêu hồng, phong phú hóa cơ cấu nuôi thủy sản ở vùng nước ngọt và lợ mặn, đảm bảo an ninh thực phẩm

và đóng góp vào xuất khẩu

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Nguồn gốc và phân loại cá rô phi

1.1.1 Nguồn gốc cá rô phi

So với các loài cá khác, cá rô phi sớm gần gũi với con người hơn Hình ảnh cá

rô phi đã có ở các bức khắc trên đá trong các kim tự tháp ở Ai Cập Cá rô phi cũng được con người đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 1924 và sau đó được nuôi rộng rãi trên thế giới vào những năm 1940 - 1950, nhất là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, thậm chí chỉ vài chục năm gần đây nghề nuôi cá rô phi mới thực sự phát triển mạnh mẽ, trở thành một ngành nuôi có quy mô công nghiệp, cho sản lượng thương

phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao [7]

1.1.2 Phân loại cá rô phi

Năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, đến nay con số đã lên đến khoảng 80 loài, trong đó chỉ có trên 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng

thủy sản Loài cá rô phi bé nhất là Tilapia grahami ở hồ Magadi của Kênya (châu

Phi), khi thành thục cá chỉ dài 5 cm và nặng 13 gam Loài cá rô phi có cỡ lớn nhất là

rô phi vằn Oreochromis niloticus, gốc ở hồ Rudol (nằm ở ranh giới giữa 3 nước:

Kênya, Êtiôpi và Suđăng) cá có thể đạt chiều dài trên 64 cm và nặng tới 7 kg [7]

Cá rô phi thuộc Bộ cá vược (Perciformes), họ cá Rô phi (Cichlidae) Cá rô phi

đã được đổi tên gọi nhiều lần Cho đến năm 1968, tất cả những loài cá rô phi có một

chấm đen ở cuối vây lưng (chấm tilapia) đều được xếp chung vào một giống Tilapia

và đến năm 1973, E Trewavas đề nghị tách thành hai giống mới: thứ nhất là giống

Tilapia bao gồm các nhóm cá rô phi ăn thực vật bậc cao, đẻ ở đáy, lược mang thưa

Giống thứ hai bao gồm những loài cá rô phi ăn phiêu sinh thực vật, cả cá đực và cá

cái đều ấp trứng và con trong miệng được gọi là Sarotherodon [8] Tuy nhiên dựa theo cơ sở di truyền và tập tính sinh sản thì hiện nay có 3 giống rô phi: giống Tilapia, giống Sarotherodon và giống Oreochromis [9] Những loài cá rô phi hiện đang được nuôi phổ biến là Oreochromis mossambicus (rô phi đen), Oreochromis niloticus (rô phi vằn hay rô phi sông Nil - Nile Tilapia) và Oreochromis aureus (rô phi xanh - Blue

Tilapia) [10]

Trang 15

Loài O mossambicus: toàn thân phủ vảy Vảy ở phần lưng có màu xám tro đậm

hoặc xanh đen nhạt, phần bụng có màu trắng xám hoặc xám ngà Trên thân có từ 6 -

8 vạch sắc tố màu xanh đen xen lẫn sắc tố màu tím chạy từ lưng tới bụng Những vạch sắc tố ở các vây không rõ ràng Tuy nhiên, do công tác quản lí giống không tốt nên hiện nay không còn cá rô phi đen thuần chủng [11]

Loài O niloticus: toàn thân phủ vảy Vảy ở phần lưng có màu sáng vàng nhạt

hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu vàng nhạt Trên lưng có từ 6

- 8 vạch sắc tố chạy từ lưng tới bụng Các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng rõ ràng [11]

1.1.3 Nguồn gốc cá diêu hồng

Cá diêu hồng (Oreochromis sp.) (hình 1.1) được phát hiện lần đầu tiên năm

1969 tại một trại nuôi cá rô phi ở phía Nam Đài Loan Từ phát hiện này, một quần thể cá diêu hồng đầu tiên được phát triển tại Viện Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan

[12] Số cá diêu hồng này được ghi nhận là con lai giữa cá rô phi đen (O

mossambicus) đột biến màu (mutant-coloured) với cá rô phi vằn (O niloticus) [13]

Một số dòng cá diêu hồng khác, ví dụ như dòng cá diêu hồng Florida, được tạo

ra bằng cách lai giữa 4 loài cá rô phi, đó là cá rô phi đen (O mossambicus) với cá rô phi vằn (O niloticus), cá rô phi xanh (O aureus) và cá rô phi Zanzibar (O urolepis-

hornorum) [14]

Tuy nhiên, cá diêu hồng có nguồn gốc từ cá rô phi đen (O mossambicus) với

cá rô phi vằn (O niloticus) là phổ biến hơn cả, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái

Bình Dương và Trung Đông [15] Do đó, một số tác giả khi đề cập đến cá diêu hồng chỉ trích dẫn là con lai của cá rô phi đen và cá rô phi vằn mà không giải thích gì thêm [16] Một số nhóm cá diêu hồng cũng được phát hiện trong một quần thể cá rô phi

đen (O mossambicus) hoặc cá rô phi vằn (O niloticus) thuần chủng [17] Tóm lại,

cá diêu hồng không phải là một loài cá rô phi riêng biệt mà chỉ là con lai giữa hai (tối

đa 4) loài cá rô phi khác nhau

Trang 16

Hình 1.1 Hình thái ngoài cá diêu hồng 1.2 Đặc điểm sinh học của cá rô phi và cá diêu hồng

1.2.1 Đặc điểm sinh thái

Có thể dễ dàng phân biệt cá diêu hồng với các loài cá rô phi khác bằng màu sắc

Cá diêu hồng có các màu từ xám, trắng, hồng, đỏ cam, có thể lẫn các đốm đen Ngoại hình cá không khác biệt so với cá rô phi vằn ở các chỉ tiêu hình thái như chiều cao thân, chiều dài đầu, chiều dài chuẩn, đường kính mắt, số gai cứng vây lưng, số tia vây lưng mềm, số tia vây hậu môn và số cung mang [18] Các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của cá diêu hồng cũng tương tự như cá rô phi vằn, tuy nhiên cá diêu hồng (đặc biệt là dòng diêu hồng Florida) có sức chịu mặn tốt hơn, đó đó có thể sống và tăng trưởng tốt ở môi trường lợ mặn [19]

Nhìn chung các loài cá rô phi hiện nuôi có các đặc điểm sinh thái gần giống nhau như sau:

+ Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi là 29,5 – 310C, thích hợp nhất là 250C, cá sẽ chết rét ở 5,50C và chết nóng ở 420C Cá rô phi phần lớn bỏ ăn khi nhiệt độ dưới 170C [20]

+ Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, chúng có thể sống được ở cả môi trường nước lợ và mặn với nồng độ muối tới 40ppt Tuy nhiên, ở nước lợ và mặn thì chúng chậm lớn hơn và nhiều cá giống đã không chịu đựng được ở nồng độ muối 15ppt [20]

+ Nồng độ oxy hòa tan (DO): Cá rô phi có thể sống được ở môi trường thiếu oxy, có hàm lượng chất hữu cơ cao trong nhiều giờ, có thể sống được trong nước có

Trang 17

lượng oxy hòa tan thấp hơn 0,3mg/L, tuy nhiên các ao nuôi nên được quản lý và duy trì lượng DO khoảng 1mg/L Nếu để thấp hơn mức này lâu, sức đề kháng bệnh của

cá sẽ giảm và chậm lớn thì sự tăng trưởng cũng không được cải thiện hơn nếu lượng

1000 - 2000 trứng [11]

Ở miền Bắc, cá rô phi không sinh sản khi nhiệt độ thấp từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Những cá thể có độ tuổi từ 6 tháng đến 1 năm có số lần đẻ nhiều hơn so với những cá thể già từ 2 năm tuổi trở đi Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy, trong buồng trứng lúc nào cũng có trứng ở các giai đoạn khác nhau [21]

Sau khi đẻ xong cá cái ngậm trứng trong miệng và cá con mới nở trong miệng (cá con được giữ trong miệng đến khi hết noãn hoàng) Trong thời gian ngậm trứng

và nuôi con, cá cái không bắt mồi, vì vậy cá không lớn Cá chỉ bắt mồi trở lại khi đã giải phóng hết cá con trong miệng [11]

Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái

Có 3 nguyên tắc chính để phân biệt cá đực và cá cái, đó là sự khác nhau của đặc điểm sinh dục chính (tức đặc điểm sinh dục sơ cấp), đặc điểm sinh dục phụ (đặc điểm sinh dục thứ cấp) và đặc điểm hình thái do gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính quy định

Đặc điểm sinh dục sơ cấp chính là tinh sào và buồng trứng cùng hệ thống ống dẫn và lỗ niệu sinh dục Đến mùa sinh sản, đa số cá đực thành thục có tinh và dễ dàng phóng thích tinh dịch khi được vuốt nhẹ bụng từ phía đầu hướng về phía đuôi Cá cái

Trang 18

thành thục tốt thì có bụng to, mềm, lỗ sinh dục cá có màu hồng và hơi cương lên Tuy nhiên, những cá trưởng thành trong thời gian ngoài mùa sinh sản thì khó phân biệt cá đực, cá cái theo các đặc điểm trên Người ta có thể phân biệt cá đực, cá cái theo số lỗ phía bụng của cá Ở các loài cá xương, con đực có ống dẫn tinh và ống niệu (ống dẫn nước tiểu) hợp lại thành một trước khi thoát ra ngoài Ở cá cái, ống dẫn trứng và ống niệu có lỗ thoát ra ngoài độc lập Vì thế, nếu quan sát kỹ có thể thấy bụng cá cái có 3

lỗ kể từ phía đầu là hậu môn, lỗ sinh dục và lỗ niệu Ở cá đực, phía trước là hậu môn,

lỗ niệu và lỗ sinh dục chung ở phía sau [22]

Đến thời kì thành thục, các đặc điểm sinh dục phụ (đặc điểm sinh dục thứ cấp) của cá rô phi vằn rất rõ, có thể dễ dàng phân biệt được cá đực và cá cái Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực và vây đuôi, khi đó cá cái có màu hơi vàng Cá cái có xoang miệng hơi trễ xuống Ở cá đực có lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn; đầu thoát lỗ niệu dạng lồi, hình nón dài và nhọn Ở cá cái có lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn; lỗ niệu và lỗ sinh dục gần nhau, dạng tròn hơi lồi và không nhọn, được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái [11]

Đặc điểm

phân biệt Cá rô phi đực Cá rô phi cái

phải ngậm trứng và con

Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn

Cơ quan sinh

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng

Sau một tháng tuổi, cá con có thể đạt trọng lượng 2 - 3g/con và sau khoảng 2 tháng tuổi có thể đạt 10 - 12g/con Cá cái chậm lớn hơn sau khi sinh sản trong khi đó

Trang 19

cá đực vẫn lớn bình thường Vì vậy, trong đàn cá rô phi thì bao giờ cá đực cũng có kích thước lớn hơn cá cái [11]

Trong điều kiện môi trường và thức ăn tốt, cá rô phi đực có thể đạt trọng lượng

20 - 40g trong 5 - 6 tuần, 200g trong 3 - 4 tháng, 400g trong 5 - 6 tháng và đạt 700g trong 8 - 9 tháng [20]

1.3 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và trong nước

1.3.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới

Tại châu Á, Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi cá rô phi, kế tiếp

là Indonesia và Ai Cập Sản lượng không chỉ từ cá nuôi (85%) mà còn từ đánh bắt (15%) Hầu hết sản lượng rô phi của Bangladesh và Malaysia chủ yếu là cá diêu hồng cho tiêu thụ nội địa Đài Loan cũng nằm trong số các quốc gia xuất khẩu rô phi lớn.Tại Trung Ðông, Saudi Arabia, Kuwait và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường nước

mặn và loài nuôi phổ biến là O spiluris Do thiếu nguồn nước nên nghề nuôi thường

bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao [23]

Tại châu Mỹ, quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất là Mexico, kế đến là Brasil Hai quốc gia này có thị trường nội địa mạnh, đặc biệt là nhu cầu tiêu thụ cao ở Brasil Ecuador, một quốc gia sản xuất tôm nổi tiếng nhưng trong những năm gần đây đang đối mặt với dịch bệnh đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen kẽ tôm, cá đã chứng tỏ là có hiệu quả [23]

Tại châu Phi, Ai Cập là nước sản xuất cá rô phi lớn nhất Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Zambia có kế hoạch mở rộng nuôi cá rô

phi theo mô hình tổng hợp, loài được nuôi là cá rô phi địa phương Oreochromis

andersonii và cá rô phi toàn đực có nguồn gốc từ Ai Cập Ghana và Nigeria vừa thành

lập nhiều trang trại có quy mô lớn và được quản lí tốt Mục tiêu nhằm tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang thị trường châu Âu Malawi có một vài trang trại nhỏ, chủ yếu nuôi

các loài cá bản địa O lodole, O karonga, O squamipinnis và O shiranus Các quốc

gia Kenya, Uganda, Tanzania, Môzambique, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lượng cá rô phi nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển nuôi cá rô phi [23]

Trang 20

Tại châu Âu, sản lượng cá rô phi nuôi rất thấp do khu vực này có nhiệt độ thấp, không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Ðức, Pháp và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ

cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân cư có nguồn gốc từ châu Á [23]

Mỹ hiện là thị trường nhập khẩu chính cá rô phi khối lượng tiêu thụ cá rô phi tại Mỹ đạt gần 634.000 tấn năm 2014, doanh số đạt khoảng 1.112 tỉ đôla Mỹ Nhu cầu cá rô phi tại thị trường Mỹ dự kiến vẫn sẽ tăng nhưng chủ yếu là tăng nhập khẩu

từ các nước tại khu vực Trung và Nam Mỹ EU và châu Phi, Nam Mỹ, Trung Quốc cũng là các thị trường tiềm năng [24]

1.3.2 Tình hình nuôi cá rô phi trong nước

Tại Việt Nam, hiện có hai loài rô phi được nuôi phổ biến Cá diêu hồng

(Oreochromis sp.) được sản xuất cho tiêu thụ nội địa và cá rô phi vằn (Oreochromis

niloticus) (đôi khi bị gọi một cách nhầm lẫn là cá rô phi đen) cho thị trường xuất khẩu

và tiêu thụ nội địa Hình thức nuôi chính là nuôi ao ở miền Bắc và nuôi bè ở miền Nam Cá rô phi được nuôi trong lồng và trong ao, cả trong môi trường nước ngọt và nước lợ Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực sản xuất cá rô phi chính của cả nước [25]

Năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1.210.465m3 lồng nuôi, giá trị ước đạt 4.200 tỉ đồng, tương đương 200 triệu đôla Mỹ, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản Xuất khẩu cá

rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng nhẹ

so với năm 2014 Ba nước nhập khẩu cá rô phi Việt Nam lớn nhất là Mỹ (trên 6 triệu đôla Mỹ), Tây Ban Nha (trên 3 triệu), và Colombia (trên 3 triệu) Tiêu thụ cá rô phi tại thị trường nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn (năm 2015) [26]

Cá diêu hồng được nuôi chủ yếu ở miền Nam, nơi có những điều kiện về thổ nhưỡng, thủy lưu thích hợp nhất cho loài cá này Trước đây, người dân ở Đồng bằng sông Cửu long nuôi cá chủ yếu là thả tự nhiên trong ao, thức ăn chủ yếu là rau và cám Cá lớn lên trong môi trường tự nhiên nên thời gian nuôi kéo dài, trung bình 7 tháng mới thu hoạch Khối lượng và chất lượng cá vì thế cũng không đồng đều Khi

Trang 21

thị trường tiêu thụ mạnh, người nuôi bắt đầu áp dụng kỹ thuật nuôi theo quy trình khép kín từ khâu giống, bè nuôi đến thức ăn viên công nghiệp, do đó sản lượng được cải thiện

1.4 Chọn giống trong nuôi trồng thủy sản, cá rô phi vằn (Oreochoromis niloticus)

và cá diêu hồng (Oreochromis sp.)

Nuôi thủy sản hiện dựa vào con giống tự nhiên hoặc con giống chưa qua chọn lọc [27] So với chăn nuôi, số lượng các chương trình chọn giống thủy sản còn khiêm tốn, dù các tính trạng kinh tế của vật nuôi thủy sản là tương tự như với các vật nuôi khác Nguyên nhân là việc khép kín vòng đời và đánh dấu các loài thủy sản là phức tạp hơn và chưa được hiểu biết đầy đủ so với vật nuôi trên cạn Ngoài ra, công tác chọn giống các đối tượng nuôi thủy sản chưa được quan tâm phát triển như ở động vật trên cạn Dù vậy, nhu cầu chọn giống trong thủy sản là cấp thiết, vì sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi trồng thủy sản đòi hỏi con giống phát triển tốt hơn, sử dụng hiệu quả hơn các điều kiện nuôi sẵn có, và cận huyết thường xảy ra nhanh chóng, ảnh hưởng đến hiệu quả, năng suất của nghề nuôi do sức sinh sản cao của các loài thủy sản

Chương trình chọn giống thủy sản đầu tiên được bắt đầu từ năm 1971 trên cá

hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) [28] Chương trình này được đánh giá là thành

công và hiện vẫn đang tiếp tục chọn lọc Sau 5 thế hệ chọn lọc, cá chọn giống tăng trưởng nhanh hơn hai lần so với cá hoang dã Các tính trạng quan trọng khác như hiệu quả sử dụng thức ăn, tỉ lệ phi-lê, kháng bệnh, thành thục muộn cũng được tích hợp vào trong chương trình chọn giống cá hồi

Sau đó lí thuyết di truyền số lượng được áp dụng trong chọn giống trên nhiều loài thủy sản nuôi khác, và đạt được những kết quả đáng khích lệ Các tính trạng bao gồm trong mục tiêu chọn giống là tăng trưởng, màu sắc bên ngoài cơ thể, tỉ lệ phi-lê, màu sắc thịt, kháng bệnh, chịu mặn, thành thục sớm và một số chỉ tiêu khác Trong

đó, tính trạng tăng trưởng là tính trạng quan trọng nhất vì cá tăng trưởng nhanh sẽ rút ngắn được chu kỳ nuôi, đạt kích cỡ thu hoạch sớm hơn và tránh được thành thục sớm ảnh hưởng đến chất lượng trong khi tính trạng rất dễ đo đạt và chi phí thấp Ngoài ra,

Trang 22

hệ số di truyền tính trạng tăng trưởng thường cao, giúp hiệu quả chọn lọc cao hơn các tính trạng khác [29]

Hiệu quả chọn lọc trên các loài thủy sản là khả quan và cao hơn so với hiệu quả chọn lọc của động vật trên cạn [30] Hai lí do chính là biến dị di truyền trong các quần thể thủy sản cao hơn và sức sinh sản rất lớn của các loài thủy sản cho phép áp dụng cường độ chọn giống cao hơn

Trên cá rô phi vằn hiện đã có một số chương trình chọn giống, tập trung vào tính trạng tăng trưởng Phương pháp chọn lọc có thể là chọn lọc cá thể [31] hoặc chọn lọc gia đình [32] Chọn lọc cá thể trên cá rô phi được báo cáo là không đạt hiệu quả [31] Điều này cho thấy sự cần thiết phải áp dụng phương pháp chọn lọc gia đình trên

cá rô phi [27] Trong số các chương trình chọn giống trên cá rô phi thì Dự án GIFT

(Genetic Improvement of Farmed Tilapia) [32] được biết đến nhiều hơn cả và đạt

được những kết quả đáng chú ý Dự án GIFT được thực hiện trong 10 năm (1988 - 1997), tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á với sự tham gia của Trung tâm Nghề

cá Thế giới, Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Na Uy và một số cơ quan nghiên cứu thủy sản Philippines Kết quả sau 5 thế hệ chọn giống tăng trưởng của cá rô phi vằn dòng GIFT tăng hơn 80% so với quần thể ban đầu Từ đó cá rô phi vằn dòng GIFT được phát tán và nuôi phổ biến ở châu Á và châu Phi Kết quả cho thấy cá rô phi vằn dòng GIFT tăng trưởng nhanh hơn từ 40 - 60% so với cá rô phi địa phương, đồng thời đem lại nhiều hiệu quả tích cực về kinh tế và xã hội [33]

Năm 2000, cá rô phi vằn dòng GIFT chọn giống thế hệ thứ 6 được chuyển đến WorldFish Center, Malaysia, tại đây thành lập mới quần thể chọn giống ban đầu và tiếp tục chọn giống cho đến nay Ngoài ra, thế hệ con của cá rô phi vằn dòng GIFT chọn giống thế hệ thứ 6 cũng đã được chuyển đến một số quốc gia để thực hiện tiếp các chương trình chọn giống gồm Bangladesh, Ai Cập, đảo Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Kenya, Lào, Malaysia, New Guinea, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam [34] Chương trình chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi vằn dòng GIFT được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I bắt đầu thực hiện từ năm 1998 trên cơ sở đàn cá chọn giống dòng GIFT thế hệ thứ 5 nhập nội từ Philippines Bằng phương pháp chọn lọc gia đình kết hợp chọn lọc cá thể, sau 2 thế hệ chọn giống đã tạo ra

Trang 23

giống mới có sức sinh trưởng cao hơn vật liệu ban đầu 16,6% Chương trình chọn giống cá rô phi vằn tiếp tục được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I tiếp tục thực hiện trong khuôn khổ Dự án NORAD do Na Uy tài trợ nhằm cải thiện hai tính trạng tăng trưởng và khả năng chịu lạnh Cá rô phi NOVIT chọn giống thế hệ thứ 6

có tốc độ sinh trưởng cao hơn đàn cá nhập nội ban đầu 36% Hiệu quả chọn lọc đối với tính trạng tăng trưởng đã tăng trên 10% sau mỗi thế hệ chọn giống [35]

Chương trình chọn giống cá rô phi vằn dòng GIFT do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II thực hiện trên cơ sở cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ 10 do Trung tâm Nghề cá Thế giới cung cấp Đánh giá kết quả qua 7 thế hệ chọn giống cho thấy hiệu quả chọn lọc tính trạng tăng trưởng được cải thiện khoảng 12%/thế hệ Cá rô phi chọn giống dòng GIFT được phát tán cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và một số địa phương miền Trung [36]

Trên cá diêu hồng, Trung tâm Di truyền AKVAFORSK (AKVAFORSK Genetics Center AS - AFGC) thực hiện một chương trình chọn giống tại Ecuador từ tháng 12/2004, và đã chọn lọc được 2 thế hệ Quần thể cá diêu hồng tại Ecuador được tập hợp từ 7 dòng cá khác nhau tại các trại giống ở khu vực Châu Mỹ La Tinh trong thời gian tháng 12/2004 đến tháng 03/2005 Đó là các dòng (i) Colombia F3G, (ii) Colombia F3S, (iii) Israel, (iv) Jamaica F3G, (v) mix reproduction, (vi) Modercorp×Colombia và (vii) Tilapia Negra Estero Sau đó lai giữa các dòng tạo ra các gia đình đầu tiên cho chọn lọc Phương pháp này tương tự như phương pháp thành

lập quần thể ban đầu trên cá hồi (Salmo salar) [37] Mục tiêu của chương trình này

là nâng cao tăng trưởng và tỉ lệ phi-lê cho cá diêu hồng nuôi trong vùng nước lợ mặn (đến 25 phần nghìn) Tuy nhiên, các thông số di truyền và hiệu quả chọn lọc của quần thể chọn giống này không được công bố

Trung tâm Nghề cá Thế giới (WorldFish Center) đã tiến hành khảo sát tăng trưởng của ba dòng cá diêu hồng khác nhau từ Malaysia, Thái Lan và Đài Loan Kết quả cho thấy có sự khác biệt về mặt di truyền của tính trạng tăng trưởng của 3 dòng

cá này: dòng cá Malaysia có tăng trưởng tốt nhất, sau đó đến dòng Đài Loan, và cuối cùng là dòng Thái Lan Bước tiếp theo là ghép phối hỗn hợp nhằm đánh giá dòng, từ

Trang 24

đó sẽ hình thành một quần thể hỗn hợp diêu hồng cho chọn giống [38] Kết quả thực nghiệm tại Thái Lan cũng cho kết quả tương tự [39]

Ngoài ra, trên cá diêu hồng có một số chương trình chọn giống theo phương pháp cá thể (individual selection) tập trung vào tính trạng tăng trưởng và màu sắc đỏ [40], [15] Các nghiên cứu của P.B Mather và ctv (2004) cho thấy rằng sau 3 thế hệ chọn lọc có thể cải thiện đáng kể màu sắc đỏ của cá (giảm thiểu các đốm đen trên thân), mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng [41] M Garduno - Lugo (2004) báo cáo sau 5 thế hệ chọn lọc đã tăng được tỉ lệ cá đỏ trong quần thể từ 5,6% (quần thể ban đầu) lên đến 100% (thế hệ thứ 5) [40] Tại Trung Quốc, chương trình chọn giống trên cá diêu hồng đầu tiên được thực hiện qua 4 thế hệ dưới sự cố vấn kỹ thuật của Trung tâm Di truyền Akvaforsk [42] Hệ số di truyền ước tính là 0,42 cho tính trạng tăng trưởng và 0,24 cho tính trạng màu sắc Hiệu quả chọn lọc đạt trung bình 12,3%/thế hệ Tại Malaysia, chương trình chọn giống cá diêu hồng sau 3 thế hệ chọn lọc (2010 - 2013) cho hệ số di truyền ước tính là 0,21 cho tính trạng tăng trưởng [43] Tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tiến hành thiết lập quần thể ban đầu cá diêu hồng đầu tiên tại Nam Bộ Đây là chương trình hợp tác giữa Viện II với Trung tâm Di truyền Akvaforsk (AFGC), Na Uy

Các chương trình chọn giống tạo các dòng cá diêu hồng chọn giống ở Việt Nam:

Đề tài nhiệm vụ cơ sở “Hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống cá

diêu hồng (Oreochromis sp.)” (2008) của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

Từ hơn 100 gia đình cá nhập nội Ecuador, đề tài cơ sở đã chọn lọc 502 cá cái và 250

cá đực có màu sắc đỏ đẹp và trọng lượng thân lớn nhất trong 90 gia đình để làm cá

bố mẹ, từ đó đã sản xuất được hơn 135 gia đình full-sibs (cùng cha mẹ) và half-sibs (cùng cha khác mẹ)

Đề tài nhiệm vụ cơ sở “Chọn giống cá diêu hồng (Oreochromis sp.) theo tính

trạng tăng trưởng” (2009) của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu các đặc điểm liên quan đến di truyền chọn giống của quần thể cá

rô phi đỏ nhập nội Ecuador

Đề tài “Đánh giá các thông số di truyền và hình thành nguồn vật liệu ban đầu

cho chọn giống cá diêu hồng (Oreochromis sp.)” (2010 - 2012) thuộc Chương trình

Trang 25

Công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản Ngoài nhóm cá Ecuador từ hai đề tài

cơ sở trước, đề tài đã nhập thêm 4 nhóm cá Đài Loan, Malaysia, Israel và Thái Lan

để đa dạng hóa quần thể chọn giống Đề tài đã áp dụng phương pháp ghép phối hỗn hợp toàn phần giữa 4 dòng cá để tạo 16 tổ hợp, sau đó đánh giá tăng tưởng và màu sắc của 16 tổ hợp này với qui mô 189 gia đình trong 2 môi trường nuôi nước ngọt và

lợ mặn Quần thể chọn giống ban đầu G0 đã được thành lập trên kết quả đánh giá đa dạng di truyền và kết quả đánh giá tăng trưởng màu ở 2 môi trường nuôi

Đề tài “Ứng dụng di truyền phân tử, di truyền số lượng phục vụ chọn giống

nâng cao sinh trưởng cá diêu hồng (Oreochromis sp.)” (2014 – 2016) thuộc Chương

trình Công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản, đã chọn giống 4 thế hệ chọn giống theo tính trạng tăng trưởng và màu sắc với qui mô 94 – 147 gia đình/thế hệ

Dự án “Hoàn thiện công nghệ chọn tạo giống diêu hồng (Oreochromis sp.) tăng

trưởng nhanh” (1/2017 – 12/2019) thuộc chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm

2020, tiếp tục chọn giống G5, nuôi tăng trưởng trong môi trường nước ngọt và môi trường lợ mặn

1.5 Một số thông số di truyền trong chọn giống

1.5.1 Tương tác kiểu gen - môi trường (GxE)

Tương tác kiểu gen - môi trường (GxE) là sự thay đổi về thứ tự xếp hạng của một tính trạng giữa hai môi trường hoặc nhiều môi trường khác nhau, hoặc sự thay đổi về biên độ của tính trạng đó [44]

Các nghiên cứu đánh giá tương tác GxE đã được công bố nhiều trên cá rô phi Các nghiên cứu này tập trung phân tích tương quan giữa các địa điểm khác nhau, mô hình nuôi khác nhau ( ao - lồng, v.v…) hoặc các điều kiện môi trường sinh thái khác nhau ( nước ngọt - nước lợ), điều kiện cho ăn khác nhau, v.v… và hầu hết các nghiên cứu trên cá rô phi đều cho mức độ tương quan GxE từ cao đến thấp (tương quan kiểu gen, rg, từ 0,64 đến 0,89) [45]

Đối với cá diêu hồng Việt Nam, đề tài nhiệm vụ cơ sở ‘‘Hình thành nguồn vật

liệu ban đầu cho chọn giống cá diêu hồng (Oreochromis sp.)” có tương quan di truyền

(rg) của tính trạng khối lượng thu hoạch giữa hai môi trường nuôi nước ngọt và lợ

Trang 26

mặn là 0,67 ± 0,55, cho thấy có tương tác kiểu gen - môi trường ở mức độ tương đối Tương quan di truyền (rg) giữa tính trạng khối lượng thu hoạch và màu sắc được ước tính với sai số lớn, từ -0,07 ± 0,13 đến 0,04 ± 0,05, cho phép nhận định tính trạng khối lượng thu hoạch và màu sắc là hai tính trạng khác nhau về mặt di truyền, tức là

do những gen khác nhau quy định

Đề tài “Đánh giá các thông số di truyền và hình thành vật liệu ban đầu cho chọn giống cá diêu hồng”, tương quan di truyền (rg) của tính trạng khối lượng thu hoạch giữ hai môi trường nước ngọt và lợ mặn của thế hệ G2 được ước tính là 0,85 ± 0,70, cho phép nhận định tương tác kiểu gen và môi trường (tương tác G×E) ở thế hệ G2 là không có ý nghĩa quan trọng về mặt sinh học

J Thodesen và ctv (2013) đã báo cáo, ở một quần thể cá rô phi xanh

(Oreochromis aureus), tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể nuôi trong ao

nước ngọt và lồng nổi là 0,92 ± 0,06, trong khi đó giữa ao nước ngọt và bể nước lợ là 0,33 ± 0,14 [46]

Đối tượng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu còn có các loài cá hồi, kết quả nghiên cứu cho thấy GxE tồn tại ở tính trạng tăng trưởng nhưng ít có công bố cho các tính trạng khác: khối lượng cơ thể trên cá hồi Chinook rg = 0.59 - 0.69 [47],

cá hồi vân nuôi ở các môi trường nước ngọt và lợ ở Thụy Điển rg = 0,58 [48], và ở Phần Lan rg = 0,61 [49], tăng trưởng trên hàu Thái Bình Dương ở một môi trường nuôi với các môi trường khác rg = 0,11-0,46 [50] Ngoài ra còn có các nghiên cứu trên

cá chép (Cyprinus carpio) [51], họ cá vược (Dicentrarchus labrax, Lates calcarifer)

[52], các tương tác GxE ở các đối tượng này biến đổi khá thấp (rg từ 0,7 đến 0,97) Nhìn chung, các nghiên cứu công bố có tồn tại GxE họ đều cho rằng nếu rg lớn hơn 0,60, thì tương tác này được xem là nhỏ Chương trình chọn giống cá rô phi GIFT tìm thấy rg = 0,61 cho trọng lựợng cơ thể và đã đưa vào chương trình chọn giống để kiểm soát

Tương tác GxE không có tầm quan trọng kinh tế đối với các đặc điểm cơ thể ở các loài thủy sản khi nuôi ở môi trường tương tự nhau (ví dụ: ao so với lồng) [53], [54].Tuy nhiên, khi môi trường nuôi có sự khác biệt như nước ngọt so với nước lợ,

Trang 27

tương tác G×E rất có ý nghĩa đặc biệt đối với các đặc điểm cơ thể chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố môi trường, chẳng hạn như tỉ lệ sống, trưởng thành sinh dục [55] Tóm lại, tương tác GxE đã được công bố trên hầu hết của các loài cá là thấp và không đáng kể Trên thực tế cũng chưa có công bố nào liên quan đến việc phải thiết lập hai dòng chọn giống riêng biệt cho hai môi trường nuôi, mô hình nuôi hoặc chế

độ dinh dưỡng khác nhau

1.5.2 Tương quan di truyền giữa hai tính trạng (r g )

Theo T Gjedrem (2005), tương quan di truyền của hai tính trạng là một đại lượng biểu thị mức độ tương quan giữa hai tính trạng đó về mặt di truyền Hệ số tương quan di truyền cho phép xác định chiều hướng tương quan và mức độ tương quan giữa hai tính trạng (số lượng) Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn lọc cải thiện đồng thời nhiều tính trạng Trong sự di truyền các tính trạng số lượng, hiện tượng một gen chi phối nhiều tính trạng (tính đa hiệu của gen) là nguyên nhân chính của các mối tương quan di truyền Ngoài ra, sự liên kết gen cũng đóng góp vào mối tương quan này Một hoặc một số gen có thể ảnh hưởng cùng lúc đến hai hay nhiều tính trạng trên cùng một cá thể, có thể cùng chiều hoặc khác chiều Sự tồn tại của tương quan di truyền giữa các tính trạng đã được quan sát thấy khi chọn lọc, trong

đó việc cải thiện tính trạng này kéo theo những biến đổi di truyền nhất định của tính trạng khác [29]

1.5.3 Hệ số di truyền

Theo Trần Đình Trọng và Đặng Hữu Lanh (2005), hệ số di truyền được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo đó, hệ số di truyền theo nghĩa rộng là tỉ số giữa phương sai do di truyền nói chung và phương sai kiểu hình Đại lượng thống kê này cho thấy mức đóng góp tương ứng của các nhân tố di truyền vào mức biến dị của tính trạng, cho phép ước tính được giá trị σG2 và σE2 trong mô hình số lượng Tuy nhiên, phương sai di truyền là tổng phương sai do tác động cộng gộp của các gen, tác động của gen trội và tương tác giữa các gen không allen Trong các phương sai thành phần trên, phương sai di truyền cộng gộp là nguyên nhân chủ yếu của sự giống nhau giữa các cá thể có quan hệ huyết thống vì chúng ổn định và được biểu hiện di truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác một cách đều đặn Bởi vậy nó là thành phần quyết định chủ

Trang 28

yếu của tỉ lệ di truyền có thể thu được ở đời sau Mặt khác thành phần phương sai này

dễ đánh giá từ nhiều quan sát được tiến hành trên quần thể, nên trong các nghiên cứu

di truyền tính trạng số lượng và đặc biệt là trong chọn giống người ta thường sử dụng

hệ số di truyền theo nghĩa hẹp, tức là tỉ lệ phương sai do tác động cộng gộp của các gen trên phương sai kiểu hình Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được biểu hiện từ khoảng 0 - 1 hay từ 0 - 100% và được chia thành các khoảng: 0 - 0,1 (thấp hay yếu), 0,1 - 0,3 (trung bình), 0,3 - 1 (cao hay mạnh) [56]

Trang 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nuôi vỗ, sinh sản, ương và đánh dấu trên quần thể cá diêu hồng G 5

Đề tài áp dụng lý thuyết chọn giống dựa trên cơ sở di truyền số lượng [57]và quy trình áp dụng (hình 2.1) được đúc kết từ đề tài “Ứng dụng di truyền phân tử, di

truyền số lượng phục vụ chọn giống nâng cao sinh trưởng cá diêu hồng (Oreochromis

sp.)” (2014 - 2016)

Hình 2.1 Quy trình chọn giống cá diêu hồng tại Việt Nam

2.1.1 Nuôi vỗ thành thục

Cải tạo ao nuôi vỗ

Ao nuôi vỗ được tát cạn, hút bùn đáy sao cho lớp bùn còn lại từ 5 - 10cm Bón vôi với lượng 10 - 20 kg/100m2 Phơi đáy ao trong 3 - 5 ngày Lấy nước vào ao qua lưới lọc và xử lý Chlorine 30ppm

Quy trình nuôi vỗ

Cá bố mẹ G4 được chọn lọc theo các tiêu chí giá trị chọn giống ước tính (EBV) cao cho khối lượng thu hoạch, màu sắc không đốm, hoặc đốm <5% diện tích bề mặt, nuôi vỗ thành thục riêng rẽ theo giới tính từ tháng 10 năm 2017, số lượng cá bố mẹ nuôi vỗ là 64 cá đực và 305 cá cái

Nuôi riêng rẽ đực, cái trong các giai (mắt lưới 5 - 6mm, đặt trong ao đất) có cùng kích thước 5×3×1m Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ theo phương pháp GIFT [58],

có những cải tiến phù hợp với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 30

Nuôi vỗ cá bố mẹ ở mật độ cao, 20 con/m2 (cá cái) và 10 con/m2 (cá đực) Chế

độ dinh dưỡng tốt, cho ăn thức ăn viên 30 - 35% đạm, lượng ăn 3 - 5% khối lượng thân, ngày cho ăn 2 lần vào lúc 07 giờ sáng và 16 giờ chiều Bổ sung thêm dầu mực (lượng 2 - 3%), vitamin (A, D và E; lượng 2 - 3%) và khoáng chất (lượng 1%) vào thức ăn viên khi nuôi vỗ Theo dõi chặt chẽ sự thành thục của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

Giai nuôi vỗ cá bố mẹ (hình 2.2) được sục khí liên tục Đối với giai nuôi vỗ đặt trong ao, thay nước 2 lần/tháng theo thủy triều, và thay nước đột xuất khi cần thiết, lượng thay 30% thể tích nước ao Theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước như oxy hòa tan, pH, NH3, NO2, H2S, v.v… Trong các chỉ tiêu chất lượng nước này, đặc biệt chú trọng đến hàm lượng oxy hòa tan và các khí độc (NH3, NO2, H2S) vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự thành thục của cá bố mẹ Hàm lượng cụ thể của các chỉ tiêu chất lượng nước theo tiêu chuẩn ngành Thủy sản Việt Nam

Hình 2.2 Chuẩn bị giai nuôi vỗ cá bố mẹ 2.1.2 Kỹ thuật sản xuất các gia đình cùng cha mẹ (full -sibs family) và các cặp gia đình cùng cha khác mẹ (half - sibs groups)

Chọn lựa cá bố mẹ thành thục một cách chính xác, chỉ ghép cặp những cá cái sẵn sàng đẻ [58] (bảng 2.1 và hình 2.3), cho sinh sản trong giai cắm trong ao đất (hình 2.4), theo dõi chặt chẽ tình trạng bắt cặp và đẻ của cá cái

Trang 31

Điểm khác biệt với qui trình GIFT là thay thế cá cái sau 4 ngày (là thời gian thông thường để cá cái bắt cặp và sinh sản) nếu cá không đẻ; hoặc thay thế cả cá đực

và cái sau 8 ngày nếu cá không đẻ và tỉ lệ ghép cặp 1:1 được thay thế bằng tỉ lệ 1 cá đực và 5 cá cái

Bảng 2.1 Các mức độ thành thục của cá rô phi cái theo hình thái ngoài và thời gian đến khi cá đẻ [58]

Mức độ

Thời gian đến khi

cá đẻ (ngày) Chưa sẵn

Đã đẻ Lỗ sinh dục đỏ hoặc đỏ bầm, bụng nhỏ lại >30

Hình 2.3 Phân biệt cá đực (trái), cá cái (phải)

Hình 2.4 Ghép cặp sinh sản trong giai

Trang 32

Cho ăn thức ăn viên 30 - 35% đạm, lượng ăn 3 - 5% khối lượng thân, ngày cho

ăn 2 lần vào lúc 07 giờ sáng và 16 giờ chiều Bổ sung thêm dầu mực (lượng 2 - 3%), vitamin (A, D và E; lượng 2 - 3%) và khoáng chất (1%) Sục khí liên tục trong giai sinh sản Thay nước ao định kỳ một lần/tuần, lượng thay 20% Đặc biệt quan tâm đến hàm lượng oxy hòa tan trong giai nuôi vỗ (> 5 mg/l)

Kiểm tra và thu trứng/cá bột định kỳ 4 - 5 ngày/lần Ấp trứng hoặc ương cá con riêng rẽ theo từng cá cái Trứng được ấp trong các bình phễu thể tích 1 lít có nước chảy liên tục (hình 2.5A) Khi trứng nở thành cá bột thì chuyển sang các khay kích thước 20 × 30 × 10 cm có nước chảy liên tục Ghi nhận số lượng trứng theo từng giai đoạn (hình 2.5B,C,D,E,F) hoặc số lượng cá bột theo từng giai đoạn (hình 2.5B,G,H,I) thu được từ một cá cái Tính tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở và tỉ lệ sống cá bột theo công thức (1) (2) (3)

cá bột của từng cá cái, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở và tỉ lệ sống cá bột 9 - 12 ngày tuổi (tùy thuộc nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm) Tỉ lệ ghép phối tối ưu sẽ sử dụng cho sản xuất gia đình ở hai thế hệ kế tiếp

(2)

(3) (1)

Trang 33

và các giai đoạn cá bột 2.1.3 Kỹ thuật ương nuôi các gia đình từ cá bột đến kích cỡ đánh dấu

Ương nuôi các gia đình riêng rẽ đến kích cỡ đánh dấu (7 - 10g/con) trong các giai 1,5×2,0×1,0m (hình 2.6) Các giai trong cùng một hàng đặt cách nhau 0,5m Mỗi hàng giai cách nhau 1,0 m Cho ăn thỏa mãn, sử dụng thức ăn công nghiệp 40% đạm, ngày cho ăn 3 lần Thay nước 2 lần/tháng và thay liên tục hàng ngày trong thời gian triều cường, mỗi lần thay 30% thể tích nước ao Theo dõi các chỉ tiêu thủy lý hóa nước ao nuôi như oxy hòa tan, pH và nhiệt độ

C Giai đoạn

trứng 1

(2 - 3 giờ)

D Giai đoạn trứng 2 (14 - 30 giờ)

E Giai đoạn trứng 3 (30 - 48 giờ)

F Giai đoạn trứng

4 (3 ngày)

Trang 34

Hình 2.6 Ương nuôi các gia đình cá trong các giai

2.1.4 Kỹ thuật đánh dấu phân biệt cá thể nhằm duy trì phả hệ

Đánh dấu từ PIT (Passive Integrated Transponder) (dài 12mm, đường kính 2mm) để phân biệt từng cá thể, nhằm duy trì phả hệ của đàn cá chọn lọc Dấu từ được đánh vào trong xoang bụng của cá Dùng dao mổ rạch một vết nhỏ trên thành cơ bụng, sau đó nhét dấu vào xoang bụng, thay vì kỹ thuật “tiêm” dấu (sử dụng bơm tiêm với kim chuyên dụng có kích thước lớn để chứa dấu từ bên trong) như trước đây Phương pháp “rạch” đã được thực hiện từ năm 2007 trên cá rô phi vằn dòng GIFT và từ năm

2008 trên cá diêu hồng nhập nội Ecuador cho kết quả tốt Vết thương do rạch nhỏ hơn và mau lành hơn so với khi dùng kim tiêm, cá hồi phục nhanh và tỉ lệ mất dấu thấp (khoảng 1 - 3%) Kích cỡ cá tối thiểu để có thể đánh dấu được cũng nhỏ hơn (5g/con) Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm thiểu sai số gây ra do thời gian trong khi phải ương các gia đình riêng rẽ, vì rằng thời gian ương được rút ngắn lại

Dùng vợt vớt cá ương trong giai đặt dưới ao cho vào thùng plastic (thể tích 70 lít) có chứa nước và chuyển cá đến hệ thống bể xi măng Tại đây, cá trong thùng plastic được cung cấp đầy đủ oxy qua ống dẫn được phát ra từ máy thổi khí Để cá không bị nhiễm trùng khi đánh dấu, dùng cồn 900 để sát trùng tay, dao vi phẫu, dấu PIT và các thiết bị liên quan đến quy trình đánh dấu

Trang 35

Hình 2.7 Cá được chuẩn bị để đánh dấu

Nhóm đánh dấu cá gồm có 4 người, mỗi người làm một công việc (hình 2.8; hình 2.9) để đánh dấu được số lượng lớn cá trong một thời gian ngắn nhằm giảm tối thiểu sự khác biệt giữa các gia đình cá

Hình 2.8 Quy trình đánh dấu cá

Chiều dài tổng là chiều dài lớn nhất của cơ thể được tính từ đầu đến cuối cơ thể

Nó là khoảng cách được xác định theo đường thẳng từ mút đầu (miệng cá) đến cuối của vi đuôi Chiều dài chuẩn được đo từ mút đầu của cá (miệng) đến cuống vi đuôi

Người thứ 4: Đánh dấu PIT

Người thứ ba sử dụng thước plastic có chiều dài 20 cm để đo chiều dài

tổng, chiều dài chuẩn, chiều cao thân và đọc màu sắc của cá

Người thứ hai: Bắt cá vào khay (có một ít nước để hạn chế mất nhớt)

đặt trên cân điện tử để cân khối lượng cá Sau khi cân, cá được chuyển

vào khay thứ hai (có một ít nước)

Người thứ nhất: Dùng máy dò dấu PIT (hiệu AEG ID) kết nối với máy

tính để nhập số ID - số nhận dạng (Identification) và số liệu về khối

lượng, chiều dài, màu sắc vào phần mềm quản lý dữ liệu Micosoft

Excel

Trang 36

(khớp vi đuôi và cơ thể cá) Vị trí này có thể nhận biết rõ khi bẻ đuôi cá sang 2 bên, một rãnh nhỏ được hình thành Chiều cao thân được xác định là khoảng cách giữa mặt lưng và mặt bụng tại điểm rộng nhất của cơ thể

A.Máy dò ID của dấu PIT B Cân khối lượng cá

C Đo chiều dài cá D Đo chiều cao cá E Đánh dấu cá

Hình 2.9 Dò ID, cân, đo, đánh dấu và đọc màu cá

Màu sắc của cá được đánh giá bằng mắt thường Trên cơ thể cá có thể có nhiều màu khác nhau (hồng, đỏ, cam…) đôi khi có lẫn đốm đen Vì vậy cần đọc màu theo quy tắc, màu nào chiếm tỉ lệ lớn sẽ được ưu tiên đọc trước, màu nhạt hơn sẽ đọc sau Nếu cá không có đốm đen được xem là màu thuần và được xếp vào nhóm 1 Trong trường hợp cá có đốm đen dưới 5% diện tích bề mặt cơ thể cá sẽ được xếp vào nhóm 2 Nếu cá có đốm đen từ 5% diện tích bề mặt cơ thể cá trở lên sẽ được xếp vào nhóm 3

Để đánh dấu PIT dùng dao mổ rạch một đường nhỏ khoảng 1mm trên cơ bụng cách vây bụng khoảng 1 cm và qua đó đẩy dấu PIT vào trong xoang bụng cá Sau khi đánh dấu, cá được thả vào môi trường nước muối (2 - 3%) và oxytetracylin (10 - 15mg/l) để diệt khuẩn làm vết thương mau lành Sau 15 - 20 phút, cá được thả vào bể

xi măng có cung cấp khí để theo dõi tình trạng sức khỏe và khả năng lưu tồn dấu

Trang 37

trong vòng 7 - 10 ngày Sau đó, cá được chuyển nuôi ở 2 môi trường nước ngọt và lợ mặn

2.2 Phương pháp nuôi chung đánh giá tốc độ tăng trưởng

Thả nuôi 100 cá thể đã đánh dấu PIT/ gia đình, của tất cả các gia đình trong cùng một ao/bè nuôi để loại bỏ khả năng ảnh hưởng không đồng bộ của môi trường, nuôi tăng trưởng 4.432 cá thể trong môi trường nước ngọt tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, thời gian nuôi đánh giá tốc độ tăng trưởng bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2018 và 3.811 cá thể trong môi trường nước lợ mặn tại Trại Thực nghiệm Thủy sản nước lợ Nam Sông Hậu (phường Nhà mát, Thành phố Bạc Liêu) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, thời gian nuôi đánh giá tăng trưởng là từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2018

Cho cá ăn 3 - 5% khối lượng thân bằng thức ăn viên công nghiệp ở nhiều vị trí khác nhau trong ao/bè nuôi để giảm thiểu khả năng ảnh hưởng của thức ăn lên các tính trạng khảo sát Sục khí liên tục trong ao nuôi Sử dụng định kỳ chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước ao nuôi Thay nước 2 lần/tháng và thay liên tục hàng ngày trong thời gian triều cường, mỗi lần thay 30% thể tích nước ao Theo dõi các chỉ tiêu thủy lý hóa nước ao nuôi như oxy hòa tan, pH và nhiệt độ Khi cá hết thời gian nuôi tăng trưởng, phân biệt được cá đực và cá cái, tiến hành thu thập số liệu cho tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống

Chuẩn bị

Cải tạo một ao có diện tích 2000m2 để chuyển cá sau khi đánh bắt để thu thập

số liệu Chuẩn bị máy vi tính để quản lý số liệu, máy dò dấu PIT để nhận dạng các cá thể, cân điện tử để xác định khối lượng cá, bàn đo cá để xác định chiều dài cá và thước cặp du xích (530 - Mitutoyo) để đo chiều cao và độ dày thân cá, đồng thời chuẩn bị 2 bể composite có thể tích 1,5m3 để chứa cá khi cân, đo

Cách tiến hành

Tháo bớt nước trong ao nuôi chung, chừa mực nước trong ao còn khoảng 1 - 1,2m để tiện cho việc đánh bắt Sau đó, dùng lưới kéo cá cho vào giai 3×5×1m đặt dưới ao có lắp hệ thống thổi khí để trữ cá khi cân, đo Số lượng cá trữ vừa đủ để thu thập số liệu cho một buổi (khoảng 300 con) (hình 2.10)

Trang 38

Hình 2.10 Kéo cá thu số liệu tại Trại Thực nghiệm Thủy sản nước lợ Nam

Trang 39

Hình 2.11 Quy trình thu thập số liệu đánh giá giai đoạn tăng trưởng

Người thứ nhất: Nhập số liệu thu thập vào phần mềm Microsoft Excel

của máy tính

Người thứ hai: Dùng máy dò dấu PIT kết nối với máy tính để máy ghi ID của dấu PIT trong xoang bụng cá

Người thứ ba: Có nhiệm vụ bắt giữ

cá để hỗ trợ cho người dò dấu PIT

Sau khi dò dấu, cá được cho vào khay (có một ít nước) đã đặt sẵn trên cân điện tử để cân khối lượng cá

Người thứ tư: Cân khối lượng, đo chiều dài, chiều cao, chiều dầy (CD), giới tính, màu sắc cho mỗi cá thể

tương ứng

Trang 40

Hình 2.12 Dò dấu PIT, cân, đo, đọc giới tính và màu sắc cá khi thu hoạch

Hình 2.13 Các loại hình màu sắc cá diêu hồng

A Dò dấu PIT trong

xoang bụng cá

B Cân khối lượng cá C Đo chiều dài cá

D Đo chiều cao cá E Đo chiều dầy cá F Đọc giới tính, màu

sắc cá

A Cá màu cam đỏ hồng B Cá màu hồng C Cá màu hồng đỏ

D Cá màu hồng cam ít E Cá màu đỏ hồng cam

nhiều

F Cá màu lem

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w