Đề tài 1: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đề tài 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÀI THẢO LUẬN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài 1: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
Đề tài 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Hà Nội, 2020
Trang 2A ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT ĐỀ TÀI 1
Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chương 1: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
1.1 Quan niệm Hồ Chí Minh về đặc trưng bản chất của xã hội chủ nghĩa
Quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là xã hội ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa Cộng sản Mặc dù còn tồn đọng tàn dư của xã hội cũ nhưng chủ nghĩa xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, xã hội do nhân dân lao động làm chủ, trong đó con người sống ấm no, tự do, hạnh phúc, quyền lợi của cá nhân
và tập thể vừa thống nhất vừa gắn bó chặt chẽ với nhau
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình tất yếu, tuân theo những quy luật khách quan Trước hết là tuân theo quy luật trong sản xuất vật chất, tùy theo bối cảnh cụ thể mà phương thức tiến lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước là khác nhau; những nước đã đi qua TBCN thì sẽ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội; những nước có thể bỏ qua giai đoạn TBCN khi mà đã đánh đổ đế quốc và phong kiến dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng vừa là một tất yếu của lịch sử, vừa đáp ứng được khát vọng của những lực lượng tiến bộ xã hội trong quá trình đấu tranh tự giải phóng mình
Một số đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội
- Thứ nhất, về chính trị: xã hội chủ nghĩa là xã hội có chế độ dân chủ
Trang 3- Thứ hai, về kinh tế: xã hội chủ nghĩa là xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
- Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển cao về văn hóa, đạo đức, bảo đảm sự công bằng, hợp lý trong các quan hệ xã hội
- Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của CNXH
a, Những mục tiêu cơ bản
Mục tiêu chính trị: là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước là của dân, do dân và
vì dân
Mục tiêu kinh tế: Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công-nông nghiệp hiện đại, khoa học –
kỹ thuật tiên tiến, bóc lột bị xoá bỏ dần, cải thiện đời sống Kết hợp các lợi ích
Mục tiêu văn hoá – xã hội: văn hoá là mục tiêu cơ bản, xoá mù chữ, phát triển nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, nâng cao dân trí…
Mục tiêu con người: Theo Hồ Chí Minh, CNXH là công trình tập thể của nhân dân Do đó, nếu không có con người thì sẽ không có CNXH
b, Các động lực
Phát huy các nguồn động lực về vật chất và tư tưởng cho việc xây dựng CNXH
Phát huy động lực con người trên cả hai phương diện: cộng đồng và cá nhân
Tác động cả về chính trị và tinh thần trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Kết hợp với sức mạnh thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, sử dụng những thành quả khoa học kỹ thuật thế giới
Trang 4 Nét độc đáo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là chỉ ra yếu tố kìm hãm, triệt tiêu nguồn lực vốn có của chủ nghĩa xã hội
Chống chủ nghĩa cá nhân; Chống tham ô lãng phí
Chống bè phái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều; chống lười biếng…
Chương 2: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tính tất yếu: Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ của biến xã hội cũ thành xã hội mới- một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử của dân tộc Đặc điểm của thời kỳ quá độ: đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ ở Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không trải qua giai đoạn phat triển tư bản chủ nghĩa
Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: Đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ xã hội cũ, xây dựng các yếu tố phù hợp với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực đời sống
Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ vì đây là bản chất của chủ nghĩa xã hội
Về kinh tế : phải cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại
Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc; đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới
Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng được một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
2.2 Các nguyên tắc và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Các nguyên tắc
Trang 5Một là, xây dựng CNXH là 1 hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần quán triệt các
nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước anh em nhưng không sao chép, máy móc, giáo điều
Hai là, xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ
điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân
Các biện pháp
Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH không có nghĩa là làm bừa, làm ẩu, đốt
cháy giai đoạn, mà phải vững chắc từng bước phù hợp với điều kiện thực tế
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là "làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu “thêm”
CNXH là do nhân dân tự xây dựng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì vậy phải đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân, Chính phủ chỉ giúp đỡ kế hoạch chứ không thể làm thay dân Phải phát huy hết tiềm năng, nguồn lực có trong dân để đem lại lợi ích cho dân
Trang 6B BÀI LÀM CHI TIẾT ĐỀ TÀI 2
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Lời nói đầu
Ngày 14/5 cuộc hội thảo “ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng MTTQ Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh” đã khẳng định một trong những tài sản vô giá mà Bác Hồ
để lại cho dân tộc và các thế hệ mai sau là tư tưởng Hồ Chí Minh gồm hệ thống những quan điểm toàn diện, nhất quán, và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Trong hệ thống tư tưởng ấy, nổi bật lên quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc Nhiều tham luận, ý kiến đều ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc và đoàn kết toàn dân tộc, thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ Bác hồ đã nhìn nhận, đánh giá tất cả các dân tộc của cộng đồng dân tộc Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều có truyền thống đoàn kết, yêu nước và tinh thần cách mạng như nhau Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng đại đoàn kết của Người nhằm không ngừng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khối đại đoàn kết toàn dân trong MTTQ Việt Nam phải luôn được củng cố, phát triển và gắn chặt chẽ với tinh thần đoàn kết quốc
tế Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là chiến lược tập hợp lực lượng đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng cộng sản Đảng lãnh đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết toàn dân tộc Nhận thức được tầm quan trọng này, nhóm chúng em quyết định đi nghiên cứu đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay”
Trang 7Chương 1: Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc
1.1
Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc:
Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân Theo Người, đoàn kết làm nên sức mạnh và là cội nguồn của mọi thành công: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”
Đối với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ là khẩu hiểu chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng Đảng là lực lượng lãnh đạo của cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiệm vụ này phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng Trong lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh tuyên bố:
“Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng Đại đoàn kết là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc dấu tranh tự giải phóng bởi nếu không đoàn kết thì chính họ sẽ thất bại trong cuộc đấu tranh vì lợi ích của chính mình Nhận thức rõ điều đó, Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức của khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân và hạnh phúc cho con người
Trang 81.2 L ực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc:
Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo Hồ Chí Minh bao gồm toàn thể nhân, tất cả những người Việt Nam yêu nước ở các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc, đồng bào các tôn giáo, các đảng phái, v.v “Nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với nghĩa là con người Việt Nam cụ thể, vừa là tập hợp đồng bào quần chúng nhân dân và cả hai đều là chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nói đại đoàn kết toàn dân tộc tức là phải tập hợp, đoàn kết được tất cả mọi người dân vào khối thống nhất, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, ở trong nước hay ở ngoài nước cùng hướng vào mục tiêu chung, “ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Từ “ta” ở đây là chủ thể, vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung
Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc để tập hợp lực lượng, không bỏ sót một lực lượng nào miễn là họ có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không phản bội lại quyền lợi của nhân dân Tư tưởng của Người đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa
Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo lên nền tảng đó Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân
và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền, gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” Như vậy, lực lượng làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm Hồ Chí Minh
là công nhân, nông dân và trí thức Nền tảng này càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng có thể mở rộng, khi ấy không có thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 9Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đặc biệt chú trọng yếu tố “hạt nhân” là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng vì đó là điều kiện cho sự đoàn kết ngoài xã hội Sự đoàn kết của Đảng càng được củng cố thì sự đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường, Đảng với nhân dân
đã tạo nên sức mạnh bên trong của cách mạng Việt Nam để vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng
1.3 Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong một mặt trận thống nhất chính là để tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong khối đại đoàn kết đó, Đảng là một thành viên của Mặt trận, đồng thời là lực lượng lãnh đạo, cho nên Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh
và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo Đồng thời, Đảng không chỉ xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc mà còn phải biến nguồn sức mạnh được tổ chức thành một khối vững chắc và hoạt động theo đường lối chính trị đúng đắn đó thành lực lượng vật chất, sức mạnh vật chất Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta
là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết
Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết với các tầng lớp nhân dân lao động khác
Việc đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, các đảng phái, các dân tộc anh em, giữa đồng bào lương với đồng bào các tôn giáo khác được thực hiện theo phương châm “cầu đồng tồn dị”, lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt, để cùng nhau sống hoà thuận, ấm no, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Cùng với đó liên minh công - nông - trí (trí thức) không những là yêu cầu khách quan về chính trị, làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển bền vững kinh tế, vǎn hoá, xã hội của đất nước Tuỳ theo yêu cầu và
Trang 10nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Mặt trận có cương lĩnh, điều lệ phù hợp, được tổ chức chặt chẽ, xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí đã luôn lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng
cố và không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó chính đoàn kết thực sự, lâu dài, chặt chẽ, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau, “là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân
1.4 Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc
Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất
Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, nơi tập hợp mọi con dân nước Việt, không chỉ ở trong nước mà con bao gồm cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về Tổ quốc Việt Nam, đều được coi là thành viên của mặt trận
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là công việc của toàn dân tộc, song nó chỉ có thể được củng
cố và phát triển vững chắc khi được Đảng lãnh đạo Sự lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc, vừa là một tất yếu bảo đảm cho mặt trận tồn tại, phát triển và có hiệu lực trong thực tiễn Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xác định, mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận là mối quan hệ máu thịt Không có Mặt trận Đảng không có lực lượng không thể thực hiện được những nhiệm vụ cách mạng; không có sự lãnh đạo của Đảng Mặt trận không thể hình thành, phát triển và không có phương hướng hoạt động đúng đắn Do vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là một thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo mặt trận
Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải có chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn từng thời kỳ cách mạng, phù hợp với quyền lợi và nguvện vọng của đại đa số nhân dân Người viết: "Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng Công tác mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng" Trong quá trình lãnh đạo mặt trận, Đảng phải đi đúng đường lối quần chúng, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép các thành viên