1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bộ 4 đề thi Luật ngân hàng Trường ĐH Luật TP.HCM có đáp án tham khảo

14 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 28,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập tình huống (8 điểm)Bài tập 1 (3.5 điểm)Ông A là giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần B. Công ty cổ phần B và ông A đều tiến hàng mở tài khoản séc tại ngân hàng thương mại cổ phần C.Ngày 01062015, công ty cổ phần B có phát sinh nghĩa vụ thanh toán số tiền 2 tỷ đồng cho công ty trách nhiệm hữu hạn D.a)Giả sử ông A đã ký tờ séc với tư cách là người đại diện cho người ký phát là công ty cổ phần B vào ngày 01062015 theo đúng quy định của pháp luật về mặt nội dung và đảm bảo đủ số dư trong tài khoản để thanh toán.Sau đó, công ty D chuyển nhượng tờ séc cho ông E bằng cách ký hậu và ghi rõ người thụ hưởng là ông E. Ông E đã tiến hành chuyển nhượng lại cho ông F nhưng ông E đã quên thủ tục ký hậu.Ngày 25062015, ông F xuất trình tờ séc tại ngân hàng C. Ngân hàng C đã từ chối thanh toán vì cho rằng tính liên tục của việc ký hậu không bảo đảm. Lý do đưa ra của Ngân hàng C là đúng hay sai? Tại sao? Ông F phải làm gì để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình (2 điểm)Lời giải tham khảo:Lý do đưa ra của Ngân hàng C là đúng, theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Thông tư 222015TTNHNN: “Người thụ hưởng tờ séc đã qua ký chuyển nhượng là người cuối cùng được chuyển nhượng trong dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục” lúc này là ông E.Ông F phải yêu cầu ông E ký chuyển nhượng tờ séc cho mình đúng theo quy định tại Điều 65 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005.b)Gỉa sử khi ông A ký phát séc, do sai sót nên ông A đã ghi số tiền bằng số là: “200.000.000 đồng” nhưng số tiền bằng chữ là “hai tỷ đồng”. Liệu ngân hàng C có chấp thuận chi trả số tiền trên tờ séc này hay không? Tại sao? (1.5 điểm)Lời giải tham khảo:Ngân hàng C sẽ không chấp thuận chi trả số tiền trên tờ séc này do tờ séc này không có giá trị thanh toán theo quy định tại khoản 6 Điều 58 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005.Bài tập 2 (4.5 điểm)Ngày 01092015, Công ty TNHH An Thịnh (“Công ty”), do ông Bằng làm Giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật và Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Tân (“Ngân hàng”) đàm phán để ký hợp đồng tín dụng. Theo đó, Ngân hàng sẽ cho Công ty vay số tiền là 2 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng, lãi suất 10%năm, mục đích sử dụng vốn là trả tiền cho đối tác nước ngoài theo hợp đồng nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.Một số phương án bảo đảm tiền vay liệt kê dưới đây đươc hai bên đưa ra bàn bạc:Phương án 1: Dùng chính lô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản đảm bảo. (1.5 điểm)Phương án 2: Dùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ sở) để đảm bảo cho khoản vay trên của Công ty do Công ty là đơn vị sử dụng rất nhiều phụ nữ ở địa phương. (1.5 điểm)Phương án 3: Dùng chính số cổ phiếu Ngân hàng đã phát hành, do Công ty đang sở hữu để cầm cố. (1.5 điểm)Hỏi:Nếu là người được yêu cầu tư vấn cho Công ty về giao dịch này, anh (chị) hãy phân tích mức độ phù hợp pháp luật của từng phương án? Liệt kê những rủi ro pháp lý đối với bên vay, bên cho vay trong từng phương án? Phương án nào có thể chọn, phương án nào không nên chọn? (Vì sao)Lời giải tham khảo:Mức độ phù hợp pháp luật của từng phương án:Phương án 1: Dùng chính lô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản đảm bảo. Phù hợp với quy định của pháp luật. Nên chọnLô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay thuộc trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 112012NĐCP.CSPL: khoản 2 Điều 1 Nghị định 112012NĐCP.Phương án 2: Dùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ sở) để đảm bảo cho khoản vay trên của Công ty do Công ty là đơn vị sử dụng rất nhiều phụ nữ ở địa phương. Không phù hợp với quy định của pháp luật. Không nên chọnDùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ sở) để đảm bảo cho khoản vay là hình thức tín chấp, tín chấp chỉ áp dụng bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình mà không áp dụng cho tổ chức.CSPL: Khoản 1 Điều 49 Nghị định 1632006NĐCPPhương án 3: Dùng chính số cổ phiếu Ngân hàng đã phát hành, do Công ty đang sở hữu để cầm cố. Không phù hợp với quy định của pháp luật. Không nên chọnTheo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010, Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng. Quy định này nhằm đảm bảo sự an toàn cho TCTD khi cấp tín dụngCSPL: Khoản 5 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010.ĐỀ THI MÔN LUẬT NGÂN HÀNGLớp Quốc tế 37Thời gian làm bài: 75 phútSinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL khi làm bàiCâu 1: Nhận định đúng sai, giải thích ngắn gọn (4 điểm)1.Hợp đồng tín dụng vô hiệu thì hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đó đương nhiên chấm dứt hiệu lực pháp lý.Nhận định SAIHợp đồng tín dụng vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đó mới chấm dứt. Nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.CSPL: Điều 15 Nghị định 1632006NĐCP2.Công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa pháp lý như nhau và có thể thay thế cho nhau.Nhận định SAITheo quy định của pháp luật, công chứng giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm là hai loại việc khác nhau, quan hệ pháp lý khác nhau và không thể thay thế cho nhau.Công chứng, chứng thực giao dịch bảo đảm: Công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm là việc chứng nhận tính xác thực tính hợp pháp của nội dung các hợp đồng, giao dịch đó là việc áp dụng pháp luật về nội dung. Trong một số trường hợp là điều kiện phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm.Đăng ký giao dịch bảo đảm: Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục đích sau:+ Công khai các giao dịch bảo đảm+ Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán+ Đối kháng với người thứ ba.+ Trong một số trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm cũng là điều kiện phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm: Điều 3 nghị định 832010NĐCP ngày 23072010.3.Người ký phát hành séc phát hành phải đảm bảo khả năng thanh toán để chi trả toàn bộ số tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng tại thời điểm ký phát hành séc.Nhận định SAINgười ký phát séc phải bảo đảm có đủ khả năng thanh toán để chi trả toàn bộ số tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng tại thời điểm séc được xuất trình để thanh toán trong thời hạn xuất trình chứ không phải tại thời điểm ký phát hành séc.CSPL: Khoản 3 Điều 8 Thông tư 222015TTNHNN.Câu 2: Lý thuyết, câu hỏi tự luận (2 điểm)Phân biệt cho thuê tài chính và cho thuê tài sản thông thường trong dân sự.Xem giáo trìnhCâu 3: Bài tập (4 điểm)Công ty cổ phần A đang xây dựng nhà xưởng, tuy nhiên, do thiếu vốn để xây dựng, Công ty cổ phần A đã nộp đơn xin vay 50 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại cổ phần B. Ngân hàng đã yêu cầu công ty cổ phần A cần có tài sản đảm bảo cho khoản vay nói trên. Công ty cổ phần A đã nhờ ông X, là cổ đông đang nắm giữ 10% cổ phần của Ngân hàng, dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên.a.Việc ông X dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng hay sai theo quy định của pháp luật? Tại sao?Việc ông X dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật.Ông X là cổ đông đang nắm giữ 10% cổ phần của Ngân hàng, nếu trong đó có từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên thì ông X là cổ đông lớn của Ngân hàng B theo khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2012.Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng 2012, nếu ông X là cổ đông lớn và có tài sản bảo đảm thì không thuộc trường hợp hạn chế cấp tín dụng.Nếu ông X không phải là cổ đông lớn thì ông cũng không thuộc trường hợp không được cấp hạn chế cấp tín dụng.Tài sản bảo đảm của ông X thỏa mãn các điều kiện: tài sản hiện có, tài sản thuộc sở hữu của ông X, tài sản không bị cấm giao dịch. Do đó, việc ông X bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng pháp luật.CSPL: Khoản 1 Điều 295 Bộ luật dân sự 2015, Khoản 1 Điều 4 Nghị định 1632006NĐCP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 112012NĐCPb.Giao dịch bảo đảm trên có cần phải đăng ký giao dịch bảo đảm không? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm này sẽ đem lại lợi ích gì cho Ngân hàng?Giao dịch bảo đảm trên thuộc trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất cần phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 832010NĐCP.Việc đăng ký giao dịch sẽ đảm bảo tính hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bảo đảm thứ tự ưu tiên thanh toán, đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng, hạn chế rủi ro cho Ngân hàng.c.Giả sử, ông X muốn vay vốn tại Ngân hàng và dùng cổ phiếu của Ngân hàng làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của mình được hay không? Tại sao?Ông X không thể dùng cổ phiếu của Ngân hàng B để bảo đảm cho khoản vay của mình.Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010, Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng. Quy định này nhằm đảm bảo sự an toàn cho TCTD khi cấp tín dụng.CSPL: Khoản 5 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010.d.Giả sử, ông X muốn dùng quyền sử dụng đất của lô đất 10 ha tại huyện Bình Chánh thay thế cho quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại Quận 2 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên. Liệu rằng ông X có thể làm vậy được không? Tại sao?Ông X không thể làm như vậy, tài sản đang thế chấp là quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật dân sự 2015 thì ông X không được thay thế tài sản thế chấp,

Trang 1

BỘ 4 ĐỀ THI MÔN LUẬT NGÂN HÀNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

ĐỀ THI MÔN LUẬT NGÂN HÀNG

(Lớp Quản trị luật 36) Thời gian: 75 phút

Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản pháp luật

1 Câu hỏi tự luận (2 điểm)

Tại sao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại khẳng định “Bitcoin (và các loại tiền

ảo tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam”.

Trả lời:

- Bitcoin là một dạng tiền kỹ thuật số (tiền ảo), không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà được tạo ra và vận hành dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng

- Sự xuất hiện của Bitcoin đã gây ra nhiều tác hại, rủi ro cho người sử dụng như:

Thứ nhất, các giao dịch bằng Bitcoin có tính ẩn danh cao nên Bitcoin có thể trở

thành công cụ cho tội phạm như rửa tiền, buôn bán ma túy, trốn thuế, giao dịch, thanh toán tài sản phi pháp

Thứ hai, Bitcoin là tiền ảo được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số nên nguy cơ bị tấn

công, đánh cắp, thay đổi dữ liệu hoặc bị ngừng giao dịch là rất lớn

Thứ ba, do giá trị đồng Bitcoin biến động mạnh và phức tạp trong thời gian ngắn

nên hoạt động đầu tư vào Bitcoin ẩn chứa nhiều nguy cơ về bong bóng, tiềm ẩn gây thiệt hại cho người đầu tư

Thứ tư, Bitcoin không bị chi phối và kiểm soát giao dịch bởi cơ quan quản lý nhà

nước nào, do đó, người sở hữu Bitcoin sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi

Do việc sở hữu, mua bán, sử dụng bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) như là một loại tài sản tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người dân nên Ngân hàng nhà nước khẳng

định: “Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải

là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam”.

2 Bài tập tình huống (8 điểm)

Trang 2

Bài tập 1 (3.5 điểm)

Ông A là giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần B Công ty cổ phần B và ông A đều tiến hàng mở tài khoản séc tại ngân hàng thương mại cổ phần C

Ngày 01/06/2015, công ty cổ phần B có phát sinh nghĩa vụ thanh toán số tiền 2 tỷ đồng cho công ty trách nhiệm hữu hạn D

a) Giả sử ông A đã ký tờ séc với tư cách là người đại diện cho người ký phát là công ty

cổ phần B vào ngày 01/06/2015 theo đúng quy định của pháp luật về mặt nội dung và đảm bảo đủ số dư trong tài khoản để thanh toán

Sau đó, công ty D chuyển nhượng tờ séc cho ông E bằng cách ký hậu và ghi rõ người thụ hưởng là ông E Ông E đã tiến hành chuyển nhượng lại cho ông F nhưng ông E đã quên thủ tục ký hậu

Ngày 25/06/2015, ông F xuất trình tờ séc tại ngân hàng C Ngân hàng C đã từ chối

thanh toán vì cho rằng tính liên tục của việc ký hậu không bảo đảm Lý do đưa ra của Ngân hàng C là đúng hay sai? Tại sao? Ông F phải làm gì để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình (2 điểm)

Lời giải tham khảo:

Lý do đưa ra của Ngân hàng C là đúng, theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Thông tư 22/2015/TT-NHNN: “Người thụ hưởng tờ séc đã qua ký chuyển nhượng là người cuối cùng được chuyển nhượng trong dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục” lúc này là ông E Ông F phải yêu cầu ông E ký chuyển nhượng tờ séc cho mình đúng theo quy định tại Điều 65 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005

b) Gỉa sử khi ông A ký phát séc, do sai sót nên ông A đã ghi số tiền bằng số là:

“200.000.000 đồng” nhưng số tiền bằng chữ là “hai tỷ đồng” Liệu ngân hàng C

có chấp thuận chi trả số tiền trên tờ séc này hay không? Tại sao? (1.5 điểm)

Lời giải tham khảo:

Ngân hàng C sẽ không chấp thuận chi trả số tiền trên tờ séc này do tờ séc này không

có giá trị thanh toán theo quy định tại khoản 6 Điều 58 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005

Bài tập 2 (4.5 điểm)

Ngày 01/09/2015, Công ty TNHH An Thịnh (“Công ty”), do ông Bằng làm Giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật và Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Tân (“Ngân hàng”) đàm phán để ký hợp đồng tín dụng Theo đó, Ngân hàng sẽ cho Công

ty vay số tiền là 2 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng, lãi suất 10%/năm, mục đích sử dụng vốn là trả tiền cho đối tác nước ngoài theo hợp đồng nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất

Một số phương án bảo đảm tiền vay liệt kê dưới đây đươc hai bên đưa ra bàn bạc:

Trang 3

Phương án 1: Dùng chính lô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản

đảm bảo (1.5 điểm)

Phương án 2: Dùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ

sở) để đảm bảo cho khoản vay trên của Công ty do Công ty là đơn vị sử dụng rất nhiều phụ nữ ở địa phương (1.5 điểm)

Phương án 3: Dùng chính số cổ phiếu Ngân hàng đã phát hành, do Công ty đang

sở hữu để cầm cố (1.5 điểm)

Hỏi:

Nếu là người được yêu cầu tư vấn cho Công ty về giao dịch này, anh (chị) hãy

phân tích mức độ phù hợp pháp luật của từng phương án? Liệt kê những rủi ro pháp

lý đối với bên vay, bên cho vay trong từng phương án? Phương án nào có thể chọn,

phương án nào không nên chọn? (Vì sao)

Lời giải tham khảo:

- Mức độ phù hợp pháp luật của từng phương án:

Phương án 1: Dùng chính lô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản đảm

bảo

Phù hợp với quy định của pháp luật Nên chọn

Lô hàng là tài sản hình thành từ vốn vay thuộc trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP CSPL: khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP

Phương án 2: Dùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ sở)

để đảm bảo cho khoản vay trên của Công ty do Công ty là đơn vị sử dụng rất nhiều phụ nữ ở địa phương

Không phù hợp với quy định của pháp luật Không nên chọn

Dùng uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh X (nơi Công ty đóng trụ sở) để đảm bảo cho khoản vay là hình thức tín chấp, tín chấp chỉ áp dụng bảo đảm cho khoản vay của

cá nhân, hộ gia đình mà không áp dụng cho tổ chức

CSPL: Khoản 1 Điều 49 Nghị định 163/2006/NĐ-CP

Phương án 3: Dùng chính số cổ phiếu Ngân hàng đã phát hành, do Công ty đang sở

hữu để cầm cố

Không phù hợp với quy định của pháp luật Không nên chọn

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010, Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công

ty con của tổ chức tín dụng Quy định này nhằm đảm bảo sự an toàn cho TCTD khi cấp tín dụng

CSPL: Khoản 5 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 4

GV ra đề: ThS Trần Thanh Bình

Trang 5

ĐỀ THI MÔN LUẬT NGÂN HÀNG

Lớp Quốc tế 37 Thời gian làm bài: 75 phút

Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL khi làm bài

Câu 1: Nhận định đúng sai, giải thích ngắn gọn (4 điểm)

1 Hợp đồng tín dụng vô hiệu thì hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đó đương nhiên chấm dứt hiệu lực pháp lý.

Nhận định SAI

Hợp đồng tín dụng vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đó mới chấm dứt Nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình

CSPL: Điều 15 Nghị định 163/2006/NĐ-CP

2 Công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa pháp lý như nhau và có thể thay thế cho nhau.

Nhận định SAI

Theo quy định của pháp luật, công chứng giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm là hai loại việc khác nhau, quan hệ pháp lý khác nhau và không thể thay thế cho nhau

- Công chứng, chứng thực giao dịch bảo đảm: Công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm là việc chứng nhận tính xác thực tính hợp pháp của nội dung các hợp đồng, giao dịch đó là việc áp dụng pháp luật về nội dung Trong một số trường hợp là điều kiện phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm

- Đăng ký giao dịch bảo đảm: Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục đích sau:

+ Công khai các giao dịch bảo đảm

+ Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán

+ Đối kháng với người thứ ba

+ Trong một số trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm cũng là điều kiện phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm: Điều 3 nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/07/2010

3 Người ký phát hành séc phát hành phải đảm bảo khả năng thanh toán để chi trả toàn bộ số tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng tại thời điểm ký phát hành séc.

Trang 6

Nhận định SAI

Người ký phát séc phải bảo đảm có đủ khả năng thanh toán để chi trả toàn bộ số

tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng tại thời điểm séc được xuất trình để thanh

toán trong thời hạn xuất trình chứ không phải tại thời điểm ký phát hành séc.

CSPL: Khoản 3 Điều 8 Thông tư 22/2015/TT-NHNN

Câu 2: Lý thuyết, câu hỏi tự luận (2 điểm)

Phân biệt cho thuê tài chính và cho thuê tài sản thông thường trong dân sự.

Xem giáo trình

Câu 3: Bài tập (4 điểm)

Công ty cổ phần A đang xây dựng nhà xưởng, tuy nhiên, do thiếu vốn để xây dựng, Công

ty cổ phần A đã nộp đơn xin vay 50 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại cổ phần B Ngân hàng đã yêu cầu công ty cổ phần A cần có tài sản đảm bảo cho khoản vay nói trên Công

ty cổ phần A đã nhờ ông X, là cổ đông đang nắm giữ 10% cổ phần của Ngân hàng, dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên

a Việc ông X dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng hay sai theo quy định của pháp luật? Tại sao?

Việc ông X dùng quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại quận 2 bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật.

Ông X là cổ đông đang nắm giữ 10% cổ phần của Ngân hàng, nếu trong đó có từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên thì ông X là cổ đông lớn của Ngân hàng B theo khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2012

Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng 2012, nếu ông X là

cổ đông lớn và có tài sản bảo đảm thì không thuộc trường hợp hạn chế cấp tín

dụng

Nếu ông X không phải là cổ đông lớn thì ông cũng không thuộc trường hợp không

được cấp/ hạn chế cấp tín dụng

Tài sản bảo đảm của ông X thỏa mãn các điều kiện: tài sản hiện có, tài sản thuộc

sở hữu của ông X, tài sản không bị cấm giao dịch Do đó, việc ông X bảo đảm cho khoản vay nêu trên là đúng pháp luật

CSPL: Khoản 1 Điều 295 Bộ luật dân sự 2015, Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP

b Giao dịch bảo đảm trên có cần phải đăng ký giao dịch bảo đảm không? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm này sẽ đem lại lợi ích gì cho Ngân hàng?

Trang 7

Giao dịch bảo đảm trên thuộc trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất cần phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 83/2010/NĐ-CP

Việc đăng ký giao dịch sẽ đảm bảo tính hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bảo đảm thứ tự ưu tiên thanh toán, đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng, hạn chế rủi ro cho Ngân hàng

c Giả sử, ông X muốn vay vốn tại Ngân hàng và dùng cổ phiếu của Ngân hàng làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của mình được hay không? Tại sao?

Ông X không thể dùng cổ phiếu của Ngân hàng B để bảo đảm cho khoản vay của mình

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010, Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng Quy định này nhằm đảm bảo sự an toàn cho TCTD khi cấp tín dụng

CSPL: Khoản 5 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010

d Giả sử, ông X muốn dùng quyền sử dụng đất của lô đất 10 ha tại huyện Bình Chánh thay thế cho quyền sử dụng đất của 3 ngôi biệt thự tại Quận 2 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên Liệu rằng ông X có thể làm vậy được không? Tại sao?

Ông X không thể làm như vậy, tài sản đang thế chấp là quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật dân sự 2015 thì ông X không được thay thế tài sản thế chấp

Trang 8

ĐỀ THI MÔN LUẬT NGÂN HÀNG

Lớp CLC 38A Thời gian làm bài: 75 phút

Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL

I Lý thuyết (5 điểm) Những nhận định sau đây đúng hay sai? (Vì sao?)

1 Hoạt động tín dụng của NHNN và hoạt động tín dụng của TCTD là giống nhau.

Nhận định SAI

Xem giáo trình

2 Khi TCTD muốn thay đổi mức vốn điều lệ thì phải xin phép Ngân hàng nhà nước.

Nhận định ĐÚNG

Việc thay đổi mức vốn điều lệ của TCTD thuộc trường hợp phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận Vì vậy, khi TCTD muốn thay đổi mức vốn điều lệ thì phải xin phép Ngân hàng nhà nước để được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện các thủ tục thay đổi

CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 29 Luật các tổ chức tín dụng 2010, khoản 2 Điều

26 Thông tư 04/2015/TT-NHNN

3 Thư tín dụng là cam kết bảo lãnh của ngân hàng nhận mở thư tín dụng với người thụ hưởng thư tín dụng.

Nhận định SAI

Thư tín dụng không phải là cam kết bảo lãnh mà thực chất là một cam kết trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền (cam kết bảo lãnh tức là nếu bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh còn đối với thư tín dụng thì ngân hàng mở thư tín dụng là chính chủ thể thực hiện việc trả tiền)

4 Khi TCTD bầu các chức danh Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT, thành viên Ban Kiểm soát phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận danh sách

dự kiến.

Nhận định ĐÚNG

Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, các chức danh Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT, thành viên Ban Kiểm soát phải đáp ứng một số tiêu chuẩn, điều kiện nhất định Bên cạnh đó, Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng quy định việc chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu làm Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT, thành viên Ban Kiểm soát nhằm mục đích kiểm

Trang 9

tra việc đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự dự kiến giữ các chức danh này

CSPL: Điều 50, Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng 2010

5 Mọi tổ chức tín dụng đều được vay tái cấp vốn từ NHNN

Nhận định SAI

Các tổ chức tín dụng đang bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt sẽ không được vay tái cấp vốn từ ngân hàng nhà nước mà chỉ có thể được vay đặc biệt theo quy định tại Điều 151 Luật các tổ chức tín dụng 2010

CSPL: Khoản 1 Điều 10 Thông tư 17/2011/TT-NHNN, khoản 1 Điều 8 Thông

tư 01/2012/TT-NHNN, khoản 1 Điều 4 Thông tư 20/2013/TT-NHNN, khoản 1 Điều 12 Thông tư 24/2019/TT-NHNN

II Bài tập (5 điểm)

Ngày 01/04/2011, bên nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tài (từ đây gọi

là “Ngân hàng”) và bên bị đơn là bà Nguyễn Thị Trà My (từ đây gọi là “Bà My”)

đã ký hợp đồng tín dụng số 1182.00497, theo đó Ngân hàng cho bà My vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 17.4%/năm, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay là hỗ trợ việc mua bán rèm, màn treo, drap trải giường, nệm, gối của bà My Bên cạnh hợp đồng tín dụng số 1182.00497 và ngày 01/04/2011, Ngân hàng và bà My cũng

ký kết hợp đồng thế chấp số 1182.00497/HĐTC để bảo đảm cho nghĩa vụ trả tiền vay của bà My, theo đó bà My thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng 184,3 m2

đất thổ cư và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 166, thuộc tờ bản đồ số 35, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – VT; các chi tiết này được thể hiện trong GCNQSDĐ số AI598690 do UBND huyện Xuyên Mộc cấp ngày 28/12/2007 Quá thời hạn 12 tháng kể từ ngày 01/04/2011, bà My vẫn chưa trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng

Ngày 10/07/2013, Ngân hàng làm đơn khởi kiện bà My lên Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc (từ đây gọi là “Tòa án cấp sơ thẩm”) Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 18/11/2013, Ngân hàng yêu cầu bà My hoàn trả tiền gốc 400.000.000 đồng

và tiền lãi tính đến ngày 18/11/2013 là 189.086.111 đồng cũng như phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đến khi trả hết nợ Nếu bà My không thực hiện đúng nghĩa vụ

đó thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà bà My đã thế chấp để thanh toán cho Ngân hàng

Về phía bà My, bà có yêu cầu được trả số tiền gốc và lãi trong thời gian 09 tháng Qua bản án 06/2013/KDTM-ST, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu của bà My và buộc bà phải thực hiện đúng các nghĩa vụ như yêu cầu của Ngân hàng; cho phép Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà My không thực hiện nghĩa vụ

Ngày 25/11/2013, bà My kháng cáo một phần bản án sơ thẩm và có 2 yêu cầu:

Trang 10

- Thứ nhất, bà My được gia hạn 06 tháng để bán tài sản trả nợ;

- Thứ hai, bà My không phải trả lãi phát sinh trên nợ gốc sau ngày 18/11/2013; Yêu cầu:

1- Bình luận quyết định của HĐXX trong bản án sơ thẩm (3 điểm)

Quyết định của HĐXX trong bản án sơ thẩm là hợp lý:

- Buộc bà phải thực hiện đúng các nghĩa vụ như yêu cầu của Ngân hàng: Hoàn trả tiền gốc 400.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 18/11/2013 là 189.086.111 đồng cũng như phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đến khi trả hết nợ

Theo quy định tại Điều 13, Thông tư 39/2016/TT-NHNN, khi đến hạn thanh toán mà bà My không trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì bà

My phải trả lãi tiền vay như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đến hạn chưa trả;

b) Lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;

c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn

Do đó bà My phải trả lại tiền gốc, trả lãi theo hợp đồng và lãi chậm trả cho đến khi trả tiền là phù hợp với quy định của pháp luật

- Cho phép Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà My không thực hiện nghĩa vụ.

Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án

CSPL: Điều 190, Điều 101 Luật thi hành án dân sự 2008

2- Theo anh, chị các yêu cầu kháng cáo bản án sơ thẩm của bà My có được chấp nhận không? Tại sao?

Các yêu cầu kháng cáo bản án sơ thẩm của bà My sẽ không được chấp nhận

- Thứ nhất, bà My được gia hạn 06 tháng để bán tài sản trả nợ;

Yêu cầu này không được chấp nhận do bà My có nghĩa vụ phải hoàn trả tiền gốc và lãi vay cho ngân hàng, pháp luật không quy định thời hạn gia hạn để bán tài sản để trả nợ

Ngày đăng: 01/12/2020, 13:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w