1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ ở hà nội và thành phố hồ chí minh

212 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu toàn cầu hóa, một mặt tạo ra những khả năng và cơ hội phát triển cho các quốc gia; mặt khác, nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ liên quan đến các vấn đề xã hội như đói nghèo, bất bìn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận mới về khoa học trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả

và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, Ngày tháng năm 2020

Tác giả

Vương Hồng Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tôi may mắn nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các cán bộ tại cơ sở đào tạo; của các lãnh đạo các cấp tại cơ quan công tác; nhiều nhà khoa học, đồng nghiệp, đồng môn, anh em bạn

bè, gia đình … Tôi trân trọng biết ơn tất cả Tôi xin đặc biệt cảm ơn đến những cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc Gia Hà Nội); Ban chủ nhiệm khoa, các nhà khoa học - thầy cô giáo, các cán bộ khoa Xã hội học, nhất là PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa; PGS.TS Trịnh Văn Tùng; PGS,TS Nguyễn Thị Thu Hà; PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh; PGS,TS Hoàng Thu Hương; các lãnh đạo, cán bộ phòng Đào tạo sau đại học,

đã luôn tạo điều kiện, hỗ trợ, động viên, thúc đẩy, truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án, hoàn thiện các thủ tục hành chính theo quy định

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn PGS.TS Mai Quỳnh Nam đã tận tình hướng dẫn, động viên – khích lệ, đặt niềm tin, chia sẻ những khó khăn trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và thực hiện Luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, những người thầy, người đồng nghiệp, người bạn lớn luôn sẵn lòng hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, động viên và tặng cho tôi tất cả những cuốn sách, tài liệu, công trình quý báu có liên quan khi biết tôi thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I; Ban

Tổ chức – Cán bộ; Ban lãnh đạo khoa Xã hội học và Phát triển, PGS.TS Trần Thị Minh Ngọc – Trưởng khoa cùng các đồng nghiệp luôn động viên, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi, chia sẻ khó khăn trong suốt quá trình tôi làm việc, học tập, thực hiện luận án

Tôi xin dành tất cả sự yêu thương và lòng biết ơn đến đại gia đình, người thân, anh chị em, bạn bè là động lực mạnh mẽ giúp tôi quyết tâm hoàn thành Luận án

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả Luận án

Trang 5

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Câu hỏi nghiên cứu 8

4 Giả thuyết nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

6 Khung phân tích 10

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 12

8 Kết cấu luận án 12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ 13

1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội 13

1.1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới 13

1.1.2 Nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam 20

1.2 Nghiên cứu nguồn nhân lực 26

1.2.1 Nghiên cứu nguồn nhân lực trên thế giới 26

1.2.2 Nghiên cứu nguồn nhân lực ở Việt nam 29

1.2.3 Nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ Việt nam, nguồn nhân lực trẻ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 33

1.3 Nghiên cứu vốn xã hội và phát triển nguồn nhân lực 36

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Cơ sở lý luận 42

2.1.1 Các khái niệm công cụ 42

2.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong luận án 49

2.2 Địa bàn nghiên cứu 60

2.2.1 Tình hình kinh tế- xã hội Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 60

2.2.2 Đặc điểm nguồn nhân lực trẻ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 63

2.3 Phương pháp nghiên cứu 72

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 73

2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 76

Tiểu kết chương 2 76

Trang 6

2

Chương 3 THỰC TRẠNG TẠO DỰNG VÀ DUY TRÌ VỐN XÃ HỘI CỦA

NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78

3.1 Dẫn nhập 78

3.2 Tạo dựng và duy trì vốn xã hội qua việc trở thành thành viên các nhóm, tổ chức, mạng lưới xã hội 79

3.2.1 Tham gia hoạt động của các nhóm xã hội để trở thành thành viên 80

3.2.2 Lựa chọn tham gia các hoạt động của nhóm xã hội quan trọng 88

3.3 Tạo dựng và duy trì vốn xã hội qua việc tham gia các hoạt động tập thể ngoài công việc 97

3.4 Tạo dựng và duy trì vốn xã hội qua chiến lược cá nhân của nhân lực trẻ 105

3.4.1 Vai trò chủ động của cá nhân trong tạo dựng và duy trì vốn xã hội 105

3.4.2 Xây dựng và duy trì vốn xã hội thông qua sự đáp lại của các thành viên trong nhóm 111

3.4.3 Tạo dựng và duy trì vốn xã hội thông các phương tiện liên lạc 117

Tiểu kết chương 3 120

Chương 4 VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRẺ Ở HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 122

4.1 Dẫn nhập 122

4.2 Vai trò của vốn xã hội trong tuyển dụng nhân lực trẻ 123

4.3 Vai trò của vốn xã hội trong đào tạo, bổ nhiệm nhân lực trẻ 137

4.3.1 Vốn xã hội trong công tác đào tạo, bồi dưỡng 137

4.3.2 Vốn xã hội trong công tác bổ nhiệm 142

4.4 Vai trò của vốn xã hội trong thực thi công vụ và nâng cao thu nhập của nhân lực trẻ 153

4.4.1 Vốn xã hội trong thực thi công vụ 153

4.4.2 Vốn xã hội trong nâng cao thu nhập 169

Tiểu kết chương 4 175

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 178

1 Kết luận 178

2 Khuyến nghị 180

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 184

TÀI LIỆU THAM KHẢO 185

PHỤ LỤC 195

Trang 7

3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Đặc điểm nguồn nhân lực trẻ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh 64Bảng 2.2: Đánh giá trình độ ngoại ngữ, tin học sử dụng trong công việc 70Bảng 3.1: Lựa chọn nhóm xã hội quan trọng nhất theo giới 89Bảng 3.2: Tương quan giữa trình độ học vấn, nhóm thu nhập, tình trạng hôn nhân, nhóm tuổi của NTL với lựa chọn nhóm xã hội quan trọng nhất 90Bảng 3.3: Tương quan giữa nhóm tuổi và giới tính của NTL với lựa chọn nhóm xã hội quan trọng nhất 92Bảng 3.4: Tần suất lựa chọn nhóm quan trọng thứ hai 94Bảng 3.5: Tương quan giữa các đặc trưng nhân khẩu – xã hội của NTL với mức độ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí 99Bảng 3.6: Mức độ tham gia các hoạt động ăn uống, vui chơi, giải trí theo nhóm 100Bảng 3.7: Tương quan nhóm và sự chủ động của cá nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí 106Bảng 3.8: Tương quan giữa đặc điểm xã hội theo nhóm và tính chủ động mời/ được mời của nguồn nhân lực trẻ trong hoạt động ăn uống, vui chơi, giải trí 107Bảng 3.9: Tỷ lệ đến chủ động thăm nhà riêng để kết nối và duy trì vốn xã hội của nhân lực trẻ 113Bảng 3.10: Tương quan giữa đặc điểm xã hội của nhân lực trẻ trong việc đến thăm nhà nhóm họ hàng 115Bảng 3.11: Khác biệt trong việc sử dụng phương tiện liên lạc để duy trì vốn xã hội giữa các nhóm xã hội khác nhau 117Bảng 4.1: Khác biệt giữa nhóm xã hội trong đánh giá mức độ quan trọng của bằng cấp chuyên môn trong việc NTL được tuyển dụng vào vị trí hiện tại 127Bảng 4.2: Khác biệt giữa nhóm xã hội trong đánh giá tầm quan trọng yếu tố quan hệ đồng nghiệp đối với việc được tuyển dụng vào vị trí hiện tại 131Bảng 4.3: Khác biệt giữa nhóm xã hội trong đánh giá mức độ quan trọng của nhóm bạn

bè đối với việc họ được tuyển dụng vào vị trí hiện tại 132Bảng 4.4 Khác biệt giữa nhóm xã hội trong đánh giá mức độ quan trọng của nhóm ĐỒNG HƯƠNG trong việc họ được tuyển dụng vào vị trí hiện tại 133

Trang 8

4

Bảng 4.5: Khác biệt giữa nhóm xã hội được cơ quan cử tham gia khóa bồi dưỡng

chính trị 139

Bảng 4.6: Tương quan giữa sự chú trọng thăng tiến trong công việc với 147

các yếu tố xã hội 147

Bảng 4.7: Khác biệt giữa các nhóm xã hội đối với dự định chuyển công tác 157

Bảng 4.8 Sự hỗ trợ của các nhóm xã hội đối với NLT trong công việc 161

Bảng 4.9: Khác biệt giữa các nhóm xã hội trong việc đánh giá mức độ hỗ trợ của đồng nghiệp dành cho nguồn nhân lực trẻ trong công việc 163

Bảng 4.10: Thái độ đối với công việc và các quan hệ trong công việc 166

Bảng 4.11: Khác biệt giữa các yếu tố xã hội trong việc tăng lương đối với công việc hiện tại 172

Trang 9

5

Biểu đồ 3.1: Mức độ tham gia tích cực vào hoạt động của các nhóm xã hội 80

Biểu đồ 3.2: Sự khác biệt giữa các đặc điểm xã hội của NLT trong việc tham gia vào

các nhóm hội, câu lạc bộ cùng sở thích (%) 87Biểu đồ 4.1: Mức độ quan trọng của các yếu tố khi được tuyển dụng 125Biểu đồ 4.2: Khác biệt giữa khu vực cư trú trong đánh giá mức độ quan trọng của yếu tố thâm niên công tác trong tuyển dụng 128Biểu đồ 4.3: Tương quan giữa nhóm tôn giáo và nơi cư trú trong đánh giá mức độ quan trọng của nhóm gia đình/họ hàng trong tuyển dụng 130Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ tham gia các lớp học tập, bồi dưỡng do cơ quan cử 138Biểu đồ 4.5: Những sự hỗ trợ thường nhận từ đồng nghiệp cơ quan 155Biểu 4.6: Khác biệt giữa Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh trong việc đánh giá mức độ hỗ trợ của gia đình dành cho nguồn nhân lực trẻ trong công việc 162Biểu đồ 4.7: Khác biệt giữa các nhóm xã hội trong việc đánh giá mức độ hỗ trợ của BẠN BÈ dành cho nguồn nhân lực trẻ trong công việc 165Biểu đồ 4.8: Nhận định cụ thể về môi trường làm việc và quan hệ xã hội trong nhóm trình độ học vấn và thu nhập 167

Trang 10

6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia Trong xu toàn cầu hóa, một mặt tạo ra những khả năng và cơ hội phát triển cho các quốc gia; mặt khác, nó cũng tiềm

ẩn những nguy cơ liên quan đến các vấn đề xã hội như đói nghèo, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường… Muốn nắm bắt được thời cơ, giảm thiểu nguy cơ, tất cả các quốc gia cần huy động mọi nguồn lực của đất nước, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực và các nguồn vốn nội tại Đây cũng chínhlà nhu cầu cấp thiết của việt Nam trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh

và tham gia tích cực và phân công lao động quốc tế

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2019 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 55,8 triệu người, tăng 417,1 nghìn người so với năm 2018 Lao động trong

độ tuổi lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên năm 2019 là 12,7 triệu người, chiếm 22,8% lực lượng lao động trong độ tuổi của cả nước Lao động có việc làm năm 2019 là 54,7 triệu người, tăng 416 nghìn người so với 2018 Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động của năm 2019 gần 1,1 triệu người, giảm 5,5 nghìn so với

2018 Thất nghiệp của lao động thanh niên trong độ tuổi lao động 15-24 ước khoảng 428,5 nghìn người, chiếm 38,7% tổng số lao động thất nghiệp, cao gấp 3 lần so với tỷ

lệ thất nghiệp chung.Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào tạo của cả nước năm 2019 ước là 11,2%, tương đương với gần 1,3 triệu thanh niên Tỷ lệ này ở khu vực thành thị thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn, ở nữ thanh niên cao hơn 4,2 điểm phần trăm so với nam thanh niên [Tổng cục thống kê, 2019]

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế lớn nhất của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động được đào tạo có trình độ và tay nghề cao Trong những năm gần đây, Hà Nội triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực

có trình độ chuyên môn, năng lực nghề nghiệp, thành thạo kỹ năng, phẩm chất đạo đức tốt, tác phong chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh với các tiêu tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng dần qua từng năm Kết quả cho thấy, tỷ lệ lao động đang làm việc qua đào tạo ở Hà Nội đã tăng từ 27,5% vào năm 2008, lên

Trang 11

7

63,18% năm 2018 Trong khi đó, tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2019, lao động

đã qua đào tạo có trình độ đại học trở lên chiếm 57,53%, cao đẳng 22%, trung cấp 6,62%, sơ cấp nghề 2,91%

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội và thách thức bởi các biến động trên thị trường lao động Để tham gia vào thị trường lao động, người lao động phải có kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm cũng như các đặc điểm cá nhân gọi là vốn con người Người lao động càng tích lũy được nhiều vốn con người thì cơ hội tham gia vào thị trường lao động càng cao Điều này có lợi cho người lao động trong quan hệ cung cầu trong thị trường lao động thể hiện qua mối quan hệ lợi ích – thù lao, có đi có lại giữa người lao động và người sử dụng lao động Đây cũng chính là nguồn vốn xã hội được tạo ra trong quá trình con người tham gia vào các hoạt động trong các mối quan hệ lao động, tạo dựng sự tin tưởng thông qua sự

có đi có lại trong thị trường lao động Các mối quan hệ trong thị trường lao động có thể được người lao động tạo ra trong chính môi trường đó, cũng có thể có sẵn trong mỗi lao động nhờ việc họ đã và đang tham gia vào mạng lưới các quan hệ xã hội trước đó hoặc mới thiết lập Do vậy, để phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trẻ nói riêng, ngoài việc định hướng cho lao động trẻ tích lũy vốn con người cần định hướng cho họ xây dựng và tích lũy các nguồn vốn khác trong đó có vốn xã hội để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động

Xuất phát từ các mối quan hệ bền chặt giữa vốn xã hội và thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam, cho thấy sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực Đặc biệt là đặt vấn đề phát triển nguồn nhân lực trẻ trong tương quan với vốn xã hội, trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và công bằng, tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu trả lời cho câu hỏi, trên thực tế, vốn xã hội đã được tạo dựng, duy trì và sử dụng như thế nào trong quá trình phát triển nguồn nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh? Vai trò của vốn xã hội được thể hiện như thế nào đến quá trình phát triển nguồn nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh? Làm thế nào để giải quyết những biểu hiện tiêu cực và phát huy vai trò tích cực của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh?

Trang 12

- Nhận diện thực trạng việc tạo dựng, duy trì vốn xã hội của nhân lực trẻ ở thủ

đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;

- Tìm hiểu việc sử dụng vốn xã hội của nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh trong tuyển dụng đào tạo, bổ nhiệm; thực thi công vụ, nâng cao thu nhập;

- Đánh giá tác động hai chiều của việc sử dụng vốn xã hội tuyển dụng đào tạo,

bổ nhiệm; thực thi công vụ, nâng cao thu nhập;

- Đề xuất các khuyến nghị nhằm phát huy biểu hiện tích cực, hạn chế biểu hiện tiêu cực của vai trò vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ hiện nay và thời gian sắp tới ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Trên thực tế, vốn xã hội đã được tạo dựng, duy trì như thế nào trong quá trình phát triển nguồn nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh?

- Vốn xã hội đã được nhân lực trẻ và Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh sử

dụng như thế nào trong môi trường làm việc?

- Vốn xã hội có trò như thế nào trong tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm, thực thi công vụ và nâng cao thu nhập đối với nhân lực trẻ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh?

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Nguồn nhân lực trẻ đã tạo dựng và duy trì vốn xã hội thông qua các hoạt động của các nhóm xã hội cụ thể tạo ra mạng lưới xã hội, sự tin cậy và quan hệ có đi có lại

- Vốn xã hội đã được nguồn nhân lực trẻ vận dụng trong môi trường làm việc

để tìm kiếm các cơ hội tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm và thực thi công vụ, nâng cao thu nhập

Trang 13

9

- Vốn xã hội tác động tích cực và tiêu cực đến cơ hội tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm và thực thi công vụ, nâng cao thu nhập đối với nguồn nhân lực trẻ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách thức tạo dựng và duy trì vốn xã hội của nhân lực trẻ qua các mạng lưới xã hội để xây dựng các quan hệ xã hội, sự có đi có lại và niềm tin Bên cạnh đó, làm rõ vai trò của vốn xã hội trong tuyển dụng, đào tạo,

bổ nhiệm, thực thi công vụ và nâng cao thu nhập đối với nhân lực trẻ trong môi trường làm việc

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Pham vi nội dung: Luận án tập trung phân tích cách thức tạo dựng, duy trì,

sử dụng vốn xã hội và đánh giá tính hai mặt của vốn xã hội trong môi trường làm việc của nhân lực trẻ tại các tổ chức, cơ quan hưởng lương từ ngân sách nhà nước

hoặc làm việc trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước

- Phạm vi khách thể nghiên cứu: là cán bộ viên chức, công chức dưới 35 và cán bộ lãnh đạo, quản lý làm việc trong các tổ chức, cơ quan hưởng lương từ ngân

sách nhà nước hoặc làm việc trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước

- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại quận Ba Đình và quận Thanh Xuân, Hà Nội và quận 6 và quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi thời gian: Tiến hành trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi đối với cán bộ công chức, viên chức, người lao động dưới 35 tuổi đang làm việc trong giai đoạn

2010 – 2015 được thực hiện năm 2013 – 2014 (số liệu thô tại Hà Nội và Thành phố

Hồ chí Minh trong đề tài KX.03.09/11-15); các phỏng vấn sâu cá nhân là cán bộ công chức, viên chức, người lao động dưới 35 tuổi và cán bộ lãnh đạo, quản lý sử dụng nguồn lực trẻ trong năm 2015 - 2016; Các cuộc thảo luận nhóm tập trung đối với cán bộ công chức, viên chức, người lao động dưới 35 tuổi được tiến hành trong năm 2016

Trang 14

10

6 Khung phân tích

Biến số độc lập

Sau khi rà soát những nghiên cứu trước đây, chiến lược nghiên cứu của luận án

là tiếp tục khẳng định và bổ sung thêm những phân tích thống kê về những yếu tố của vốn xã hội có thể tác động đến việc duy trì củng cố nguồn lực của nhân lực trẻ

Thao tác hóa các biến số như sau:

- Trình độ học vấn người trả lời: Học vấn là một yếu tố quan trọng của vốn con người và là sự thể hiện địa vị đạt được của cá nhân Nhà xã hội học người Đức Max Weber là một trong những người đầu tiên chú ý tới sự cần thiết

Bối cánh kinh tế- xã hội

gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức…

Lòng tin: tin tưởng

vào quan hệ qua lại

Sự có đi có lại: trao

đổi thông tin, gặp

gỡ trong và ngoài công việc…

Tạo dựng và duy trì vốn xã hội qua mạng lưới quan hệ xã hội

Vai trò của vốn xã hội trong: Tuyển dụng; đào tạo, bổ nhiệm; thực thi công

vụ, nâng cao thu nhập

Phát triển nguồn nhân lực trẻ

Trang 15

11

phải xem xét học vấn với tư cách là tiêu chí địa vị xã hội Biến số này được đo lường cụ thể qua các chỉ báo sau: PTTH, Trung cấp nghề (PTTH, TC nghề)/Cao đẳng, Đại học/ Sau đại học

- Khu vực sinh sống: Sinh sống ở những khu vực khác nhau sẽ chịu ảnh hưởng của những nền văn hóa khác nhau Trong luận án này, biến số khu vực cư trú được đo ở hai thành phố: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

- Nhóm thu nhập: Thu nhập là yếu tố tác động lớn đến việc sử dụng nguồn lực kinh tế để củng cố và duy trì vốn xã hội Dù có sự khác biệt giữa các cá nhân trong xã hội nhưng sẽ có chung hàng loạt mối quan tâm và những điểm tương đồng xuất phát

từ sự giống nhau về thu nhập Biến số nhóm thu nhập gồm các chỉ báo: dưới 4 triệu/

Từ 4-6 triệu/ Từ 6 triệu trở lên

- Nhóm tuổi: Độ tuổi của nhân lực trẻ liên quan đến số năm kinh nghiệm làm việc cũng như số năm tích lũy về vốn xã hội Do đó cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển trong nghề nghiệp Biến số nhóm tuổi được chia thành hai nhóm sau: Dưới 30/ Từ 30 đến 35 tuổi

- Giới tính: Yếu tố giới tính có tác động đáng kể để đến cách thức tạo dựng, duy trì và củng cố vốn xã hội Bởi bản chất của nam giới và nữ giới sẽ có những cách duy trì mạng lưới quan hệ xã hội và nhóm xã hội khác nhau Đặc điểm giới tính cũng ảnh hưởng lớn đến phân bố nghề nghiệp và thu nhập Do vậy, đây là một biến số cần đưa vào phân tích

- Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến mạng lưới xã hội của mỗi cá nhân, do đó cũng ảnh hưởng lớn đến vốn xã hội trong công việc và cuộc sống Các chỉ báo đo tình trạng hôn nhân được sử dụng trong luận án: Độc thân/ Đang có vợ, chồng/ Ly thân, ly hôn, góa/ Sống chung chưa kết hôn

- Tôn giáo: Niềm tin tôn giáo và yếu tố có tác động đến thái độ và cách hành xử của nhân lực trẻ trong việc tạo dựng và duy trì vốn xã hội Tôn giáo được chia theo các chỉ báo: Phật Giáo/ Thiên Chúa giáo/ Tôn giáo khác/ Không tôn giáo

- Thâm niên công tác: là yếu tố được cho rằng, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn vốn, quy mô mạng lưới quan hệ Thâm niên công tác gồm: Dưới 5 năm/ Từ 5 đến 10 năm/ Trên 10 năm

Trang 16

12

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án là công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học, luận án sử dụng

hệ thống lý thuyết về vốn xã hội và lý thuyết phát triển nguồn nhân lực để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Luận án góp thêm cách nhìn tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong nghiên cứu vốn xã hội và vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trên thế giới và các tổng kết về lý thuyết cũng như các nghiên cứu ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến vấn đề này ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm, nhằm khẳng định các luận điểm lý thuyết về vốn xã hội và mối quan hệ đối với các loại vốn khác vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực cũng như lý thuyết phát triển nguồn lực, lý thuyết mạng lưới xã hội

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu bước đầu cung cấp những thông tin cơ bản, cần thiết

về vốn xã hội đã được nhân lực trẻ tạo dựng, duy trì như thế nào để tham gia vào mạng lưới xã hội, tạo được niềm tin và mối quan hệ có đi có lại Đồng thời đưa

ra những phân tích về yếu tố của vốn xã hội: mạng lưới xã hội; lòng tin, sự tin cậy; quan hệ xã hội có đi có lại đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tìm kiếm các cơ hội tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm và thực hiện công việc của nhân lực trẻ ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Qua đó giúp các cơ quan và các nhà chuyên môn trong việc hoạch định chính sách có những đề xuất phù hợp đối với vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, phát triển nguồn nhân lực trẻ đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghiên cứu cũng là một nguồn tư liệu phong phú cho sinh viên của ngành và các nghiên cứu về vốn xã hội

8 Kết cấu luận án

Kết cấu của luận án bao gồm 3 phần: Phần mở đầu; Phần nội dung và Phần kết luận và Phần Phụ lục Trong phần nội dung được kết cấu bởi 4 chương

Trang 17

13

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ

1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội

Nghiên cứu tổng quan về vốn xã hội trên thế giới là một quá trình công phu

và quan trọng trong quy trình nghiên cứu của luận án Qua việc tìm hiểu một khối lượng đồ sộ các công trình về vốn xã hội, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều trường phái nghiên cứu về vốn xã hội, cũng như nhiều khía cạnh của vốn xã hội được đưa

ra phân tích và nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên, có 2 xu hướng nổi bật nhất được nghiên cứu về vốn xã hội từ những năm đầu của thế kỷ XX đến nay, cụ thể là:

(1) Các nghiên cứu xoay quanh việc tìm ra, mô tả và chứng minh thực nghiệm cho khái niệm về vốn xã hội

(2) Các nghiên cứu luận giải về tác động của vốn xã hội trong đời sống xã hội Làm rõ các tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội trong đời sống

Do vậy, trong công trình tổng quan dưới đây, chúng tôi tìm hiểu và phân tích theo hai vấn đề chính bên trên ở cả tình hình trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới

1.1.1.1 Quan niệm về vốn xã hội

Khái niệm về vốn xã hội được đưa ra đầu tiên vào năm 1916 bởi nhà giáo dục học người Mỹ Hanifan dùng để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, sau đó được dùng để mô tả các mối quan hệ trong cuộc sống đô thị vào năm 1960 bởi Jane Jacobs,

1956 Năm 1986 Bourdieu đưa ra định nghĩa về vốn xã hội là một tập hợp của các nguồn lực hiện hữu và tiềm ẩn mà chúng liên kết với trạng thái sở hữu của mạng lưới bền vững dựa trên các mối quan hệ được thể chế hoặc mạnh, yếu của việc biết hoặc không biết nhau Ông cho rằng “Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong xã hội và bất cứ ai cũng có thể khai thác vốn xã hội nhằm đem lại các lợi ích kinh tế thông thường” [Bourdieu, 1986] Tuy nhiên, khái niệm vốn xã hội được nhiều học giả và các

tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu và trao đổi rộng rãi khi Coleman xây dựng cho nó một khung lý thuyết tương đối rõ ràng và được Putnam (1993) nhắc đến trong các nghiên cứu của ông Theo Coleman, vốn xã hội thành 3 loại vốn gồm vốn vật thể, vốn con người và vốn xã hội, vốn xã hội chính là sự đóng góp tích cực nên sự hình thành

Trang 18

14

vốn con người Coleman coi vốn xã hội là sự đa dạng của sự tồn tại, có hai đặc trưng chung gồm: các khía cạnh của cấu trúc xã hội và chúng tạo điều kiện cho hành động của các cá nhân sống trong cấu trúc Ông đưa ra khía cạnh quan trọng của vốn xã hội là (i) nghĩa vụ và kỳ vọng; (ii) tiềm năng về thông tin (iii) Chuẩn mực và các hành vi trừng phạt có hiệu quả như sự thành lập nên các giá trị cộng đồng và chia sẻ các chuẩn mực (iv) sự lãnh đạo định hướng các hoạt động của người khác [dẫn theo Nguyễn Tuấn Anh, 2010]

Robert Putnam phát triển tiếp khái niệm vốn xã hội khi nghiên cứu những mối liên kết giữa các cá nhân – mạng lưới xã hội và các chuẩn mực của mối quan hệ hai bên cùng có lợi và sự tin tưởng, và trung tâm của việc tiếp cận vốn xã hội là các mạng lưới xã hội có giá trị, khế ước xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành vốn xã hội của các cá nhân và các nhóm [Peter Blau, 1964] Khái niệm vốn xã hội của Putnam được xây dựng với 3 thành phần, gồm: Các nghĩa vụ đạo đức và chuẩn mực; Giá trị

xã hội (nhấn mạnh đến sự tin tưởng) và xã hội dân sự

Một vài năm sau đó, Fukuyama cho rằng vốn xã hội được tạo ra dựa trên mối quan hệ qua lại của các cá nhân trong mạng lưới xã hội tùy thuộc vào mục đích của các cá nhân muốn đạt đến Fukuyama nhấn mạnh các tương tác qua lại chỉ có tác dụng và tác động tích cực khi các mối quan hệ được đặt trên nền tảng của sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng cùng tham gia tại các mối quan hệ đó

Gần đây nhất, nhà nghiên cứu Nan Lin khẳng định vốn xã hội như một cách thức mà các cá nhân sử dụng để tiếp cận đến các nguồn lực thông qua các mạng lưới quan hệ xã hội của họ Khái niệm vốn xã hội của ông khá đơn giản và dễ hiểu,

đó là sự “sự đầu tư vào những quan hệ xã hội với sự mong đợi thu được lợi nhuận” [Lin Nan, 2001], với ý nghĩa rằng các cá nhân tham gia vào tương tác và các mạng lưới nhằm sinh ra lợi nhuận

Định nghĩa của OECD thì vốn con người có liên quan đến vốn xã hội, chúng

có mối quan hệ qua lại Con người nhờ có sự đầu tư vào giáo dục mà có cơ hội nâng cao thu nhập cũng như vị thế của mình trong xã hội Giáo dục, đào tạo là một thành

tố quan trọng của đầu tư vốn con người Nó liên quan tới kiến thức, tới quá trình đào tạo mà mỗi cá nhân cần lĩnh hội để tăng khả năng của cá nhân trong các hoạt động mang giá trị kinh tế Nhưng không chỉ có giáo dục mà việc học tập, trải nghiệm bên ngoài nhà trường cũng đóng góp không nhỏ vào thành công của mỗi cá

Trang 19

Từ các quan điểm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thế giới nêu trên, cho thấy vốn xã hội được xem xét trong các mối quan hệ liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời nó còn được coi là một nguồn lực, các mối quan hệ có sự tin cậy lẫn nhau trong mạng lưới xã hội, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh các nguồn vốn khác

Khái niệm vốn xã hội nêu trên còn có những cách hiểu khác nhau dựa trên lập trường và lĩnh vực khác nhau của các nhà nghiên cứu Chẳng hạn, có nhà nghiên cứu cho rằng vốn xã hội gồm các mạng lưới xã hội, khía cạnh của cấu trúc xã hội, thì nhà nghiên cứu khác cho đó là nguồn lực liên kết các mạng lưới xã hội, hay nguồn lực trong mạng lưới xã hội; bên cạnh đó, có tác giả coi vốn là chuẩn mực không chính thức, chuẩn mực của quan hệ trao đổi qua lại và niềm tin, hay khả năng của cá nhân trong việc tìm kiếm lợi ích thông qua tư cách thành viên của mạng lưới xã hội, cấu trúc

xã hội Sự khác biệt trong quan niệm về vốn xã hội đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tuy nhiên nó cũng đem đến những khó khăn trong nghiên cứu thực tiễn bởi cách hiểu và cách sử dụng chưa được thống nhất

Tóm lại, tổng quan từ các công trình nghiên cứu trên thế giới về khái niệm vốn xã hội, xét về mặt lý thuyết và thực tiễn tác giả nhận thấy có sự thống nhất ở các điểm sau đây Thứ nhất, vốn xã hội gắn liền với các mạng lưới xã hội; thứ hai, vốn xã hội được định nghĩa từ khái niệm nguồn lực, cho đó là một nguồn lực dựa trên mạng lưới xã hội; thứ ba, vốn xã hội được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội để tìm kiếm lợi ích; thứ tư, vốn xã hội được đề cập đến sự tin cậy (lòng tin, niềm tin) và mối quan hệ qua lại của nguồn lực dựa trên mạng lưới xã hội Như vậy, dựa vào những điểm thống nhất trên định nghĩa vốn xã hội của các nhà khoa học cho thấy yếu tố sau cấu thành vốn xã hội: các mạng lưới xã hội, nguồn lực

xã hội, quan hệ xã hội dựa trên các chuẩn mực xã hội và lòng tin trong xã hội Chính vì vậy mà khẳng định nó là một loại vốn tồn tại song song cùng nhiều loại vốn khác trong đời sống xã hội

Trang 20

16

1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về vai trò, tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội

Xuất phát từ các quan niệm khác nhau về vốn xã hội, do vậy các hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới cũng tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu về vốn xã hội tập trung nghiên cứu vai trò tích cực của vốn xã trong lĩnh vực kinh

tế, trong phát triển các nguồn lực, các vốn khác trong đó có vốn con người Đồng thời cũng đề cập đến các biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong các lĩnh vực đó

Hướng nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội đối với lĩnh vực kinh tế đề cập nhiều đến tác động của vốn xã hội đến việc tìm kiếm lợi ích, hiệu quả kinh tế, đến kết quả phát triển và tăng trưởng, công bằng và xóa đói giảm nghèo Hướng nghiên cứu của Bourdie khẳng định ngoài việc khẳng định vốn xã hội là sự kế thừa, được liên tục tạo ra thông qua các mối quan hệ của cá nhân và sự công nhận của các thành viên trong mạng lưới Ông còn cho rằng vốn xã hội của một cá nhân sẽ được duy trì và gia tăng nhờ các hoạt động của bản thân cá nhân và có thể sử dụng vốn xã hội để chuyển hoá thành vốn kinh tế Bên cạnh đó ông còn phân biệt ba loại vốn khác nhau: vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội, cuối cùng ông đi đến kết luận: tất cả các loại vốn khác nhau đều bắt nguồn từ vốn kinh tế, các loại vốn này đều có thể đầu tư để lợi ích trong tương lai

Colenam thực hiện các nghiên cứu để củng cố định nghĩa vốn xã hội gắn liền với cấu trúc của các quan hệ giữa con người và con người [Woolcock M, 1998], ông đồng quan điểm với Bourdieu ở chỗ coi vốn xã hội có thể là cụ thể hoặc tiềm

ẩn, có thể chuyển hóa sang vốn kinh tế (có tính chất hàng hóa) và có thể được tăng thêm nhờ sự nỗ lực của cá nhân Colenam cho rằng vốn xã hội là “sản phẩm phát sinh” từ các hoạt động trong mối quan hệ giữa các cá nhân, thiết lập và duy trì những quan hệ này để tạo lợi ích

Đồng quan điểm với Coleman, R Putnam cho rằng vốn xã hội được tạo ra trong mối quan hệ của các cá nhân và sự đoàn kết trong một tổ chức xã hội tự nguyện để tạo nên sự phát triển kinh tế trong các xã hội hiện đại Ông tập trung phân tích sự vận hành có hiệu quả của nền kinh tế khi nó có mức độ hội nhập chính trị cao

Tương đồng với những kết quả nghiên cứu trên, Fukuyama đi vào nghiên cứu vốn xã hội như một tiêu chí chủ chốt để so sánh cơ cấu kinh tế- xã hội các nước Theo ông “Chất lượng đời sống, cũng như khả năng cạnh tranh của một

Trang 21

xã hội chỉ hình thành, tồn tại khi cá nhân nhận ra nó, tiếp cận và huy động nó để đạt được lợi ích

Các nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội đối với kinh tế được triển khai bởi các nghiên cứu khác nhau về các chiều cạnh kinh tế Nghiên cứu của Grootaert về

“Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các hộ gia đình ở Indonesia” [Grootaert, 1999] chỉ ra rằng vốn xã hội góp phần làm thiểu khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình Ông cũng cho rằng, vốn xã hội mang lại lợi ích lâu dài đối với các hộ gia đình, cụ thể trong nghiên cứu này là lợi ích đối với việc tiếp cận tín dụng, nhờ vào đó mà các hộ gia đình có thể tạo ra thu nhập ổn định Francois tìm ra mối quan hệ giữa vốn xã hội tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất của nền kinh tế thông qua việc phân tích số liệu quốc gia, ông cũng chỉ ra yếu tố niềm tin là một phần quan trọng của vốn xã hội vào các giải pháp phát triển kinh tế Các nghiên cứu của Woolcook (1998), Woolcook và Narayan (2000), Woolcook (2001)

đã nhấn mạnh vốn xã hội có vai trò trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các nhà nghiên cứu chia vốn xã hội làm hai loại: vốn xã hội “co cụm” vào trong và vốn xã hội “vươn” ra ngoài

Nghiên cứu vốn xã hội của người Việt Nam định cư tại Nhật thông qua phỏng vấn các chủ nhà hàng người Việt định cư ở Nhật, Hirasawa Ayami (2011) đưa ra một số kết quả như sau: về vốn liếng, khi một người khởi nghiệp, trước mắt

họ sử dụng vốn của mình, nếu không có đủ tiền thì họ dựa vào gia đình (vợ/chồng/con cái) và cuối cùng là của bạn bè đồng hương (những người quan hệ rất thân thiết) Gia đình là một vốn xã hội rất mạnh Đối với người nhập cư, hoạt động tín dụng rất phổ biến vì người nhập cư nói chung thường khó vay tiền ngân

Trang 22

18

hàng nên họ giúp đỡ nhau để tạo ra vốn liếng Về thông tin, chủ nhà hàng phải dựa vào những người quen đáng tin cậy để lấy thông tin về giấy phép, luật pháp, địa điểm, bí quyết kinh doanh và những người cung cấp hàng đáng tin cậy Về lao động, người nhập cư thường sử dụng lao động gia đình và người đồng hương để làm ăn kinh doanh Một thành viên gia đình sẽ có động cơ mạnh mẽ giúp đỡ người thân Sự tín nhiệm giữa các thành viên gia đình tạo ra vốn, lợi ích Tuy nhiên, với

vị trí như đầu bếp, phụ bếp tại nhà hàng thì chủ nhà hàng chấp nhận thuê những người không quá thân thiết bởi vì họ coi trọng khả năng làm việc của người được thuê hơn là quan hệ thân hay không

Hướng nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong phát triển các nguồn lực, các vốn khác trong đó có vốn con người Nghiên cứu vốn xã hội đối phát triển nguồn nhân lực rất ít, mặc dù vốn xã hội được định nghĩa từ khái niệm nguồn lực, mà nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong chiến lược phát triển kinh tế –

xã hội của mỗi quốc gia Những nghiên cứu sau đây có đề cập đến phần nào đến nguồn nhân lực, nhưng chưa đặt trực tiếp sự phát nguồn nhân lực trong tiếp cận nghiên cứu vốn xã hội Bourdieu coi vốn con người gồm kỹ năng và kiến thức của con người Ông cho rằng, theo lối giải thích thông thường cho người này thành công hơn người kia chỉ là vì người đó thông minh hơn hoặc siêng năng đèn sách hơn hoặc

do tài năng bẩm sinh và vốn con người Bourdieu khẳng định, cách đánh giá thành công theo kiểu này thì các nhà kinh tế đã phạm sai lầm lớn là chỉ dùng đồng tiền làm thước đo lợi ích và phí tổn Theo Bourdieu, các nhà kinh tế không nhìn thấy cơ may thu nhập khác nhau ở mỗi người trong những thị trường khác nhau, tùy thuộc mức độ

và thành phần của những gì họ sở hữu, trong đó liên hệ xã hội là phần chính Sẽ khó

có thể giải thích sự chênh lệch trong mức độ đầu tư vào "vốn con người" trong xã hội nếu không xem xét đến tất cả những gì con người sở hữu, đặc biệt là những liên hệ xã hội mà mỗi người đang có Vì vậy, theo Bourdieu, đầu tư vào vốn con người cũng có nghĩa là đầu tư vào vốn xã hội và ngược lại

Các nghiên cứu cho thấy, vốn xã hội có vai trò trọng tâm trong phát triển kinh tế và xóa bỏ đói nghèo, bên cạnh đó “vốn xã hội còn được coi là có ý nghĩa lớn trong việc hình thành vốn con người” hay nói các khác vốn xã hội có tầm quan trọng trong việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu của Portes

về vốn xã hội và vốn con người cũng làm rõ nhận định này “Dựa vào ví dụ thực tế

Trang 23

19

từ nghiên cứu của của Zhou và Bankstson về cộng đồng liên kết chặt của người Việt Nam ở New Orleans (Mỹ), Portes (1998) kết luận rằng nhờ vốn xã hội trong mạng lưới người Việt ở đây, việc học tập của con cái họ có được sự kiểm soát hiệu quả

mà không cần thiết phải sử dụng tới các thiết chế kiểm soát chính thức hoặc công khai” [Nguyễn Tuấn Anh, 2011]

Bên cạnh việc nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế và trong phát triển các nguồn lực, các vốn khác trong đó có vốn con người, vốn xã hội, các tác giả cũng chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong các lĩnh vực trên Điều này được Portes chỉ ra trong nghiên cứu của mình, ông cho rằng vốn xã hội chứa đựng trong nó ít nhất là bốn hậu quả tiêu cực “Thứ nhất, đó là sự loại trừ những người ngoài vốn xã hội thường mang lại các cố kết bên trong nhóm Tuy nhiên, những cố kết như thế lại tạo ra khó khăn cho việc mở rộng nhóm, đồng thời ngăn cản sự tham gia của những người bên ngoài Thứ hai là đòi hỏi thái quá đối với thành viên Điều này có thể tốt nếu xét theo khía cạnh tổ chức của nhóm Nhưng mặt tiêu cực là ở chỗ nó hạn chế sáng kiến của các thành viên Thứ ba là hạn chế tự

do cá nhân Thứ tư là việc hạ thấp chuẩn mực của sự cách biệt trong nhóm Vì vốn

xã hội có xu hướng tạo ra cố kết, nó giữ các cá nhân ở những vị thế ngang bằng nhau nên trong nhiều tình huống sự thành công của một cá nhân làm xói mòn liên kết nhóm, và hơn nữa khi vốn xã hội giữ các cá nhân ở những vị thế ngang bằng nhau, nó đã làm triệt tiêu tham vọng và sự sáng tạo của họ” [Portes A, 1998]

Nghiên cứu của Fukuyama cũng chỉ ra tính hai mặt của vốn xã hội Vốn xã hội trong các quan hệ họ hàng tạo ra sự trợ giúp hiệu quả cho doanh nghiệp hoặc cho các cá nhân trong những thời điểm mà điều kiện kinh tế khó khăn Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những hệ quả tiêu cực như sự thiếu tin tưởng đối với người

xa lạ, từ đó, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mà các doanh nghiệp lớn mạnh, phát triển lên Về hệ quả tiêu cực, Putnam còn cho rằng vốn xã hội có thể tạo ra bè phái, tham nhũng, và tâm lý coi tộc người của mình là trung tâm” [Khúc Thanh Vân, 2013]

Các nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới đã phân tích khá sâu sắc bản chất hai mặt của vốn xã hội: có tác động tích cực và gây ra hệ quả tiêu cực trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Các nghiên cứu trên cho thấy, vốn xã hội tác động tích cực nhất đến lĩnh vực kinh tế ở chỗ nó có thể làm tăng lợi ích,

Trang 24

20

hiệu quả kinh tế, tăng các mối quan hệ trong kinh doanh, thậm chí vốn xã hội còn chuyển hóa thành vốn kinh tế Chính vì lẽ đó, vốn xã hội là nguồn lực đóng góp vào sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, xóa bỏ đói nghèo, phát triển xã hội Đồng thời, vốn xã hội còn tác động tích cực đến phát triển các nguồn lực, các vốn khác, đặc biệt là vốn con người Các phân tích trên cho thấy vốn xã hội và vốn con người có mối quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau thông qua mạng lưới xã hội với các mối liên hệ, quan hệ, tin cậy và chia sẻ giữa các thành viên trong mạng lưới, giúp các cá nhân nắm bắt được các thông tin, tiếp cận được các cơ hội học tập, làm việc, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Bên cạnh tích tích cực của vốn xã hội cũng cho thấy những biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực kinh tế

ở chỗ hạn chế mang tính cố kết, cục bộ, bè phái, hạn chế sự tự do và triệt tiêu sự sáng tạo của cá nhân tạo ra sự ngang bằng nhau trong nhóm, giảm thiểu động lực phát triển của các cá nhân

1.1.2 Nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam

Vốn xã hội được coi là một nguồn lực tồn tại trong đời sống xã hội bên cạnh các nguồn lực khác Đây là một khái niệm không mới đối với thế giới, nhưng còn rất mới đối với việt Nam, các nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam chia làm hai hướng: một số nghiên cứu quan tâm đến việc tổng kết, giới thiệu lý thuyết về vốn

xã hội; những nghiên cứu khác tập trung vận dụng lý thuyết vốn xã hội trong các nghiên cứu thực tiễn

Vốn xã hội là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam trong những năm gần đây, các nghiên cứu chủ yếu dưới dạng bài báo khoa học, các tham luận trong các cuộc hội thảo, các đề tài nghiên cứu …

1.1.2.1 Nghiên cứu tổng kết và giới thiệu lý thuyết vốn xã hội

Dưới góc độ tiếp cận về vốn xã hội và kinh tế, Trần Hữu Dũng trên cơ sở các quan điểm của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto đã gợi ý rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của vốn

xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác [Trần Hữu Dũng, 2003]

Trần Hữu Quang (2006) tổng kết quan điểm về vốn xã hội của các tác giả như Bourdieu, Putnam, Fukuyama, qua đó nhấn mạnh rằng “vốn xã hội là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội” [Trần Hữu Quang, 2006] Theo ông cần

Trang 25

21

bàn về vốn xã hội trong mối quan hệ với chuẩn mực, sự cố kết, và hợp tác và cần lưu ý đến việc phân tích vốn xã hội trong bối cảnh văn hóa - xã hội và các định chế xã hội

Tạp chí Tia Sáng tổ chức hội thảo “vốn xã hội” tại Hà Nội vào năm 2006 với 39 tham luận Các tham luận đưa ra và bàn luận về lý luận của vốn xã hội mà chưa rút ra các luận điểm lý thuyết cụ thể cho các nghiên cứu thực nghiệm Các nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto và cho rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác và mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế, vốn xã hội và chính sách kinh tế, hoặc thảo luận về việc làm thế nào để có thể xác định, khai thác vốn xã hội cho sự phát triển của Việt Nam Mặc dù có sự thừa nhận về việc vốn

xã hội giúp tiết kiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư cũng như nhận định rằng vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy vốn con người (Trần Hữu Dũng 2006) (Nguyễn Ngọc Bích, 2006), (Nguyễn Quang

A, 2006), (Nguyễn Vạn Phú, 2006), (Phan Đình Diệu, 2006), (Trần Hữu Quang, 2006), (Phan Chánh Dưỡng, 2006) Tuy nhiên hầu như chưa bàn đến việc thúc đẩy sự hình thành, tích lũy, khai thác vốn xã hội trong các nghiên cứu cụ thể, mang tính thực nghiệm này

Nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh (2008; 2009) tập trung phân tích quan niệm vốn xã hội, mạng lưới xã hội và nhấn mạnh đến chức năng của vốn xã hội, bàn sâu

về những phí tổn để duy trì vốn xã hội và mạng lưới xã hội Tác giả đã đề cập đến

mô hình tổng hợp về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội trong các nghiên cứu của mình [Hoàng Bá Thịnh, 2008; 2009]

Lê Ngọc Hùng (2008), tập trung làm sáng tỏ những quan niệm về vốn xã hội nhìn từ góc độ kinh tế học, tác giả đưa ra thuyết chức năng về vốn xã hội theo quan điểm của Coleman, thuyết cấu trúc về vốn xã hội của Bourdieu, để khẳng định rằng vốn xã hội có thể thông qua quan hệ xã hội, mạng xã hội Tác giả đưa ra mô hình tổng hợp về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội cho thấy vốn người là tập hợp các năng lực tồn tại trong mỗi cá nhân, nhóm, tổ chức Vốn xã hội tồn tại trong từng quan hệ giữa các cá nhân trong các nhóm thuộc mạng lưới xã hội [Lê Ngọc Hùng, 2008]

Trang 26

22

1.1.2.2 Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn xã hội vào thực tiễn

Các nghiên cứu về vốn xã hội từ trước đến nay ở Việt nam chủ yếu nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong kinh tế với cách thức tiếp cận được các lợi ích và hiệu quả kinh tế, sau đây xin đề cập đến một số nghiên cứu đó

Nghiên cứu vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và kinh tế hộ tại Việt Nam cho thấy vai trò của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội, trong

đó, vốn xã hội có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp vay vốn để khởi nghiệp [Nguyễn Quý Thanh cùng Stephen J Appold, 2004] Từ tiếp cận vốn xã hội và phát triển kinh tế, Trần Hữu Dũng (2006) đã chỉ ra mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế, chính sách kinh tế Bằng cách đưa ra các luận điểm đã có cho thấy vốn xã hội giúp tiết kiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư [Trần Hữu Dũng, 2006] Trong một mối quan tâm khác, Lê Ngọc Hùng (2008) chỉ ra trường hợp cụ thể ở Hà Nội về mạng lưới xã hội của người lao động cụ thể là mạng lưới của người bán hàng rong và người lao động tự do, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng di

cư, mạng lưới tìm kiếm việc làm của sinh viên, vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo, trong giao dịch kinh tế, cũng như cách thức sử dụng vốn của người nông dân và cần tiếp tục nghiên cứu để có thể áp dụng cho trường hợp ở Việt Nam [Lê Ngọc Hùng, 2008]

Nghiên cứu vốn xã hội trong phát triển kinh tế ở góc độ sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà nội dưới tác động của đô thị hóa cho thấy tầm quan trọng của vốn xã hội trong việc giải quyết các khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và tìm kiếm việc làm [Nguyễn Duy Thắng, 2007] Đối với các doanh nghiệp ở nông thôn thì sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh

tế phát triển đã vượt qua mối quan hệ truyền thống họ hàng, làng - xã, vươn tới mọi ngõ ngách của thị trường trong và ngoài nước Vốn xã hội giúp các doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị trường, từ đó tránh được các nguy cơ rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh [Đặng Thanh Trúc và cộng sự, 2008]

Tiếp cận ở góc nhìn về sự giao thoa giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế trong gia đình khi so sánh gia đình việt Nam và gia đình Hàn Quốc cho thấy, gia đình như là một nguồn vốn, các giao dịch kinh tế được bao bọc, gắn kết bởi các quan hệ gia đình (tức là một loại vốn xã hội) Những biểu hiện của nó trong việc

Trang 27

23

vay vốn kinh doanh, chia sẻ về lao động hay trong quản lý doanh nghiệp nhỏ, rất nhỏ hay doanh nghiệp gia đình Sự giao thoa giữa vốn xã hội và các giao dịch của các doanh nghiệp gia đình được tìm thấy trong điều kiện thị trường vốn tín dụng chưa phát triển Dựa vào nguồn vốn xã hội từ mạng lưới xã hội gia đình, người thân

và bạn bè, các doanh nghiệp gia đình huy động vốn kinh tế Điều này làm cho chức năng của vốn xã hội phản tác dụng và gây nên rủi ro cao do phát sinh chi phí cơ hội

và làm giảm triển vọng của thế hệ tương lai (ví dụ như trong trường hợp sử dụng lao động trẻ em) [Nguyễn Quý Thanh, 2005]

Việc xây dựng sự tin cậy, lòng tin giữa các cá nhân cũng được tìm thấy trong nghiên cứu về quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ Nghiên cứu chỉ ra, các hộ nông dân có thể tiến hành dồn thửa, đổi ruộng một cách phi chính thức nhờ vào nguồn vốn xã hội mà không cần dựa trên giấy tờ hay quan hệ mang tính chính thức và pháp lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm cho quá trình sản xuất nông nghiệp được linh hoạt, hiệu quả hơn [Thomése & Nguyễn Tuấn Anh, 2007]

Nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong khu vực nông thôn Bắc Trung Bộ cho thấy sự biến đổi vai trò của vốn xã hội trong quan hệ họ hàng Vốn xã hội trong quan

hệ họ hàng giúp tạo ra nguồn lực tài chính hỗ trợ trẻ em nông thôn đến trường, nói cách khác là góp phần tạo ra vốn con người [Nguyễn Tuấn Anh, 2010] Khi phân tích vốn xã hội và sự cần thiết nghiên vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay làm rõ tính hai mặt của vốn xã hội: vốn xã hội không chỉ có tác dụng tích cực mà còn gây ra những hệ quả tiêu cực trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội từ kinh tế, giáo dục, đến xã hội công dân, vv Những giới hạn đối trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế có liên quan gì đến sử dụng vốn xã hội ở nông thôn? Vốn xã hội giữa những người nông dân ở cùng địa bàn cư trú có dựng nên rào cản ngăn họ hợp tác, làm ăn với những người bên ngoài làng, địa phương? Tác động trái chiều của vốn xã hội có gây nên sự mất đoàn kết, mất dân chủ, thiếu minh bạch trong thực tiễn cuộc sống ở khu vực nông thôn hay không? [Nguyễn Tuấn Anh, 2010]

Nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến nông dân trong quá trình phát triển bền vững nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ (2010 – 2020) cho thấy vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ dựa vào các quan hệ xã hội cơ bản với tư cách

là nguồn vốn xã hội như gia đình, dòng họ, làng, tổ chức xã hội Người nông dân

Trang 28

24

đầu tư vốn xã hội thông qua việc duy trì mối quan hệ trong gia đình – dòng họ, duy trì mối quan hệ trong cộng đồng, trong các tổ chức Tuy nhiên, cũng có những tác động tiêu cực như tính chất loại trừ đối với cá nhân không thuộc nhóm khi nhóm có nhiều thành viên, tức là chỉ chú ý để đạt lợi ích của nhóm mà không quan tâm đến lợi ích của các nhóm khác và cộng đồng Đồng thời, vốn xã hội có thể tác động tiêu cực đối với chính thành viên trong nhóm, làm hạn chế sự tự do sáng tạo, tính năng động của các thành viên và làm cho cá nhân bị ràng buộc, phụ thuộc vào lợi ích nhóm [Khúc Thị Thanh Vân, 2013]

Trong thời gian gần đây một số nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn xã hội vào kinh tế đã bắt đầu đề cập đến các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và vốn con người, nguồn nhân lực Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2000,“Việt Nam tấn công nghèo đói” tập trung vào vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo Nghiên cứu chỉ ra các hộ gia đình nghèo không chỉ thiếu vốn tài chính, vốn vật chất mà còn thiếu vốn con người và vốn xã hội Để đối phó với đói nghèo các gia đình nghèo lựa chọn các chiến lược khác nhau để thoát nghèo, trong đó có những chiến lược có thể hủy hoại sự phát triển bền vững như bắt trẻ em bỏ học Do vậy, các chương trình xóa đói giảm nghèo cần phải hướng vào hỗ trợ người nghèo về vốn tín dụng, đặc biệt là vốn con người (đào tạo nghề) và vốn xã hội ( tổ chức các nhóm tiết kiệm và câu lạc bộ) để người nghèo có thể khai thác, phát triển và chuyển hóa các nguồn vốn này nhằm cải thiện đời sống

Vốn xã hội đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa khi cơ cấu xã hội có nhiều thay đổi, giá trị xã hội và quan hệ

xã hội cũng đang chịu tác động của kinh tế thị trường Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy vốn con người [Trần Hữu Dũng, 2006] Qúa trình đô thi hóa làm cho nguồn lực tự nhiên như đất đai bị thu hẹp thì người nông dân có xu hướng tìm cách đầu tư và khai thác vốn xã hội và vốn con người gồm “kiến thức khoa học, công nghệ và kỹ thuật sản xuất, tay nghề chuyên môn” [Đặng Thanh Trúc và cộng sự, 2008]

Thực tiễn cuộc sống đã tạo dựng vốn xã hội bằng cách đầu tư vào các quan

hệ xã hội như việc tang ma, cưới xin, mừng nhà mới, mừng đầy tháng con (Hoàng

Bá Thịnh, 2009) Vấn đề ở chỗ “ nếu ai đó không tham gia các hoạt động có tính cộng đồng như vậy là họ đã làm mất đi vốn xã hội trong khi người khác lại duy

Trang 29

25

trì, củng cố và làm giàu thêm vốn xã hội” [Hoàng Bá Thịnh, 2009] Hoàng Bá Thịnh và Nguyễn Tuấn Anh khi nghiên cứu “Vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay” đã nhấn mạnh đến việc để tạo dựng và duy trì vốn xã hội, người nông dân Bắc bộ đã tham gia vào các hoạt động như giỗ tổ, cưới xin, tang ma, tham gia các tổ chức tự nguyện và các tổ chức chính trị xã hội

Từ hướng tiếp cận“Nghiên cứu phát triển con người từ hướng tiếp cận vốn

xã hội", Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2014) đã đưa chỉ ra mối quan hệ giữa vốn xã hội

và phát triển con người sau khi đề cập đến cách tiếp cận phát triển con người và vốn

xã hội Bằng chứng cụ thể về mối quan hệ này thông qua việc tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trên hai nội dung: vốn xã hội giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và vốn xã hội giúp nâng cao vốn con người, phát triển nguồn nhân lực [Nguyễn Vũ Quỳnh Anh, 2014] Theo đó, ngoài giáo dục, đào tạo, việc mở rộng mạng lưới xã hội, xây dựng nguồn vốn xã hội của cá nhân là điều kiện giúp nâng cao nguồn vốn con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vốn xã hội cho phép đánh giá mối tương tác giữa con người với phát triển từ giác độ tính cố kết và các phẩm chất của cộng đồng người, trong đó các cá thể tham dự với tư cách là một mắt xích của mạng lưới quan hệ [Nguyễn Vũ Quỳnh Anh, 2014]

Các nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn xã hội vào một số lĩnh vực của đời sống xã hội đã đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt là nghiên cứu vai trò vốn xã hội trong phát triển kinh tế nông thôn và doanh nghiệp được đề cập nhiều trong các nghiên cứu tại Việt Nam như phân tích nêu trên Các tác giả đã khẳng định rằng, vốn xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình đến các doanh nghiệp Xuất phát mối quan hệ qua lại, sự tin cẩn, niềm tin

và sự có đi có lại trong các mạng lưới xã hội, các cá nhân hình thành vốn xã hội của mình Họ sử dụng vốn xã hội đó vào tìm kiếm các thông tin việc làm, nghề nghiệp, thị trường, các cơ hội kinh doanh, tiếp cận các nguồn vốn Một số nghiên cứu vốn

xã hội trong lĩnh vực kinh tế và những nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến khai thác vốn xã hội trong lưu truyền và phát triển văn hóa truyền thống, trong giáo dục, vốn con người, nguồn nhân lực Tuy nhiên, các nghiên cứu về lĩnh vực này chỉ mới đề cập đến việc đầu tư vào các mối quan hệ xã hội để tạo dựng và duy trì vốn xã hội thông qua các hoạt động của dòng họ, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng, đầu

Trang 30

26

tư, hỗ trợ học tập cho con em nông thôn gắn với lợi ích kinh tế, phát triển sinh kế, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết vốn xã hội

có đề cập đến các lĩnh vực khác như hành động tập thể, quản lý, chính trị nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở việc tổng kết các lý thuyết và nhắc đến các nghiên cứu ứng dụng vốn xã hội ở Việt Nam, mà chưa đưa ra các số liệu xác đáng minh chứng được vai trò của vốn xã hội trong các lĩnh vực này Đây là những lĩnh vực thiếu vắng các nghiên cứu ứng dụng lý thuyết vốn xã hội và cũng là mảng trống để cho các nghiên cứu về vốn xã hội trong tương lai

1.2 Nghiên cứu nguồn nhân lực

1.2.1 Nghiên cứu nguồn nhân lực trên thế giới

Phát triển nguồn nhân lực là một vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia, các chính sách, biện pháp phát triển nguồn nhân lực được các quốc gia xây dựng, thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước trước những biến đổi của bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội Thông qua các nhiều phương thức khác nhau để phát triển nguồn nhân lực trong đó thiện chất lượng giáo dục đào tạo để tạo ra những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế

Để phát triển nguồn nhân lực, trước hết cần nghiên cứu về vốn con người, phát triển con người Khái niệm vốn con người được nhà kinh tế học người Anh Adam Smith quan niệm vốn con người là “những năng lực hữu ích mà các cư dân hoặc các thành viên của một xã hội có được” Những năng lực như vậy có được là nhờ các cá nhân đã đầu tư vào học tập, được thụ hưởng thành quả của giáo dục, đào tạo Những cá nhân có được “năng lực hữu ích” đã làm tăng cơ hội nâng cao đời sống của chính bản thân và cộng đồng mà trong đó họ là thành viên Khái niệm vốn con người được phát triển đầy đủ hơn vào những năm 1960 với sự ra đời của lý thuyết vốn con người do Theodore Schultz (1961) phân tích chi phí giáo dục như là một hình thức đầu tư Theo Schultz, mỗi con người nhờ có giáo dục mà

có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp gọi là “vốn trí tuệ”, nhờ đó mà mỗi người có thu nhập tiền lương và địa vị xã hội khác nhau

Gary Becker (1993) đưa ra khái niệm vốn con người trong chương trình nghiên cứu tại trường Đại học Chicago vào đầu những năm 1960 với quan điểm mọi cá nhân đều nắm giữ một nguồn vốn con người, có nghĩa là những khả năng bẩm sinh lẫn sở đắc từ sự đầu tư của con người (chi phí vật chất, thời gian, nỗ lực cá

Trang 31

tác phẩm “Thăng trầm quyền lực” đã nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, "Tiền

bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên"

Vào năm 1996, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa

"vốn con người là kiến thức mà các cá nhân thu nhận được trong suốt cuộc đời và

sử dụng để tạo ra hàng hóa, dịch vụ hay những ý tưởng trong thị trường hay ngoài thị trường"

Thuật ngữ “phát triển con người” bắt đầu được sử dụng kể từ năm 1990 trong báo cáo đầu tiên về phát triển con người, cho rằng con người là tài sản lớn của bất kỳ một quốc gia Tạo ra môi trường thuận lợi để con người được hưởng cuộc sống dài lâu, khỏe mạnh và sáng tạo đó chính làm mục đích của phát triển xã hội Theo UNDP, phát triển con người là mở ra nhiều cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực tự lựa chọn cho con người Khi các cá nhân trong xã hội có nhiều cơ hội lựa chọn thì điều kiện phát triển của các cá nhân đó sẽ tốt hơn, khi cá nhân có năng lực

tự lựa chọn cao hơn đồng nghĩa với việc trình độ phát triển con người đã tăng lên

Chương trình phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP) sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) năm 1990 để đo trình độ phát triển con người trên ba tiêu chí: thu nhập, tuổi thọ và giáo dục Mặc dù có nhiều chỉ số khác được bổ sung

để làm rõ hơn, cụ thể hơn, chính xác hơn trình độ phát triển con người trong giai đoạn hiện nay Song, về cơ bản người ta vẫn sử dụng ba tiêu nêu trên để đánh giá sự phát triển con người, chỉ số khác chỉ là bổ sung nhằm làm rõ những khía cạnh, những sắc thái khác nhau của ba chỉ số cơ bản nêu trên

Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đưa ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề của dân cư ngày càng

Trang 32

28

phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước Đây là khái niệm rất hẹp về nguồn nhân lực Trong khi đó, tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cho rằng, phát triển nguồn nhân lực có phạm vi rộng hơn, ngoài sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo, còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó một cách hiệu quả trong công việc, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân

Liên hợp quốc (UN) sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo, và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 Như vậy, nói đến nguồn nhân lực là nói đến những gì cấu thành nên khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người Tất cả những cái

đó được dựa trên nền tảng trình độ học vấn, kinh nghiệm, các quan hệ xã hội, Chính vì vậy, ngoài giáo dục, đào tạo, việc mở rộng mạng lưới xã hội, xây dựng nguồn vốn xã hội của cá nhân là điều kiện giúp nâng cao vốn con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nhìn chung, nguồn nhân lực được sử dụng để chỉ sức người gồm khả năng

và phẩm chất tham gia trong lao động sản xuất Nguồn nhân lực gồm các yếu tố cấu thành nên khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người Chất lượng nguồn nhân lực là hàm lượng trí tuệ, “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp” Trong nguồn nhân lực có sự kết hợp giữa thể lực, trí lực và nhân cách và một số tiêu chí khác tạo nên nguồn nhân lực như kinh nghiệm sống, các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị- xã hội và hoạt động thực nghiệm của con người Nguồn nhân lực bao các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và những thích ứng của con người trước mọi hoàn cảnh Những năng lực đó được thể hiện qua trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng xã hội Đây cũng được coi là một nguồn vốn con người có thể chuyển hóa thành vốn xã hội trong các điều kiện, hoàn cảnh xã hội cụ thể Nguồn nhân lực được xét trên hai phương diện: cá nhân và xã hội Khi xét cấu trúc nguồn nhân lực, cần phải tính đến phương diện cá thể gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức Các yếu tố này cấu thành chất lượng cá thể của nguồn nhân lực và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển của nguồn nhân lực xét trên quy mô xã hội

Trang 33

29

1.2.2 Nghiên cứu nguồn nhân lực ở Việt nam

Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà khoa học ở Việt Nam hiện nay Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vấn đề phát triển con người trong đó đề cao phát triển nguồn nhân lực là điểm cốt yếu Vì thế, nguồn nhân lực trở thành vấn đề nghiên cứu chính yếu trong các nghiên cứu khoa học ở các cấp độ khác nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đầu tiên phải

kể đến các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước chủ yếu đề cập đến xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội qua các giai đoạn khác nhau Một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, một số bài nghiên cứu được đăng trên báo và tạp chí chuyên ngành, đề cập đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế Trong đó, có những công trình, đề tài, nghiên cứu sâu về vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cao cho các lĩnh vực như giáo dục, kinh tế, y tế, công nghệ thông tin tuy nhiên những nghiên cứu đó chưa đề cập riêng đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực trẻ

Phạm Minh Hạc (2004) đặt vấn đề con người là vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong các thập kỷ đầu thế kỷ mới, phát triển con người là vấn đề trọng tâm trong trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới Để đáp ứng được đòi hỏi của quá trình phát triển đất nước chúng ta cần phải có một chiến lược đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực Đây cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm mà tác giả bài viết cho rằng giáo dục Việt Nam cần phải đặc biệt quan tâm [Phạm Minh Hạc, 2004]

Một trong những yếu tố mang đến sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay phải nhắc đến phát triển nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo là yếu tố trực tiếp đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người, phân tích vai trò “quốc sách hàng đầu” trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội được làm rõ trong cuốn “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước” [Nguyễn Thanh, 2005]

Từ góc độ lý luận đến thực tiễn để đánh giá thực trạng nhân lực Việt Nam các trình độ từ sơ cấp đến đại học được đề cập trong sách “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường,

Trang 34

30

toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” do Nguyễn Minh Đường, Phan văn Kha (2006)

Từ đó, tác giả đã đưa ra số giải pháp về đào tạo, phát triển đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Phạm Thành Nghị (2007) cho rằng Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, chất lượng nguồn lao động còn thấp, trước những thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập quốc tế, cần phải xem xét những vấn đề trọng tâm trong phát triển nguồn nhân lực hiện đại, để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong quá trình phát triển Vấn đề thứ nhất liên quan đến xác định loại hình lao động có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế tri thức (KTTT) Vấn đề thứ hai liên quan đến học tập suốt đời Do sự xuất hiện của nền KTTT, chúng ta cần tăng cường kiến thức và kĩ năng mới, cho lực lượng lao động như

là giải pháp rộng lớn để hiện thực hóa ý tưởng học tập suốt đời cho mọi người Vấn đề

thứ ba liên quan đến học tập chiến lược [Phạm Thành Nghị, 2007]

Nghiên cứu về những vấn đề mang tính phương pháp luận về văn hoá, con người, nguồn nhân lực, đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá ở những

vùng miền khác nhau được chỉ rõ trong nghiên cứu “Phát triển văn hoá, con người

và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” là kết quả

nghiên cứu của chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-05 giai đoạn 2001-2005 Nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm con người Việt Nam, thực trạng nguồn nhân lực, từ đó đưa ra phương hướng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của đất nước thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Đây là một công trình khoa học có rất nhiều giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu Con người và Nguồn nhân lực [Phạm Minh Hạc, 2007]

"Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do Phạm Thành Nghị làm chủ biên (2007) là kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX-05-11 Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, nhận thức mới và hiện đại về quản lý nguồn nhân lực như: vốn con người và phát triển vốn con người; các mô hình quản lý nguồn nhân lực; các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực và các chính sách vĩ mô tác động đến quản lý nguồn

nhân lực [Thành Nghị (chủ biên), 2007]

Đinh Việt Hòa (2009) đề cập đến vấn đề cấu thành nguồn vốn nhân lực, cần thiết để xây dựng, phát triển nguồn vốn ấy và chỉ ra mô hình chiến lược phát triển

Trang 35

31

nguồn vốn nhân lực cho những nhà lãnh đạo Phùng Lê Dung – Đỗ Hồng Điệp (2009) nêu lên các hệ lụy của việc thiếu hụt nhân lực có chất lượng cao đó là: giảm sụt mức cạnh tranh của nền kinh tế, khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình của các quốc gia ASEAN, đánh mất cơ hội tham gia thị trường lao động quốc tế Đồng thời các tác giả đặt ra câu hỏi chúng ta đang phát triển nguồn nhân lực như thế nào? Hạn chế lớn nhất trong phát triển nguồn nhân lực Việt Nam chính là chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược phát triển nhân lực không cùng song hành Do vậy cần phải gắn kết chiến lược phát triển nguồn nhân lực và kinh tế, đó

là giải pháp hợp lý nhất để phát triển nguồn nhân lực từ kinh nghiệm của các nước như Singapo, Ấn Độ

Phạm Trương Hoàng, Ngô Đức Anh (2008) dựa trên cơ sở lý thuyết được rút

ra từ kinh nghiệm của các nước đang phát triển trước đây và trong điều kiện môi trường kinh doanh trên thế giới hiện nay, đã đề cập tới những khía cạnh chính của phát triển nguồn nhân lực công nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ phát triển Đồng thời gợi ý về chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghiệp trong giai đoạn sắp tới được đưa ra trên kinh nghiệm thành công của các dự án tiên phong trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp đã và đang được thực hiện tại Việt Nam trong thời kỳ gần đây [Phạm Trương Hoàng, Ngô Đức Anh, 2008]

Hoàng Văn Châu (2009) đề cập đến thực trạng của thị trường lao động chất lượng cao ở Việt Nam về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng cho thấy cung lao động chưa phù hợp với nhu cầu lao động Tác giả phân tích thị trường lao động cao trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đưa ra nhiều hệ quả đối với người lao động như mất việc làm, tình trạng thất nghiệp quay trở lại, tìm kiếm việc làm hết sức khó khăn Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đề cập đến việc các trường đại học nói chung và trường đại học Ngoại Thương nói riêng cần phải thực hiện các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao [Hoàng Văn Châu, 2009]

Cuốn sách “Con người: Văn hóa, quyền và phát triển” do Mai Quỳnh Nam

làm chủ biên (2009) tập hợp những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong

và ngoài Viện Nghiên cứu Con người, đây cũng là hướng nghiên cứu chính của Viện Nghiên cứu Con người trong những năm qua Cuốn sách gồm 36 bài viết, tập trung vào ba nội dung chính: Con người và Văn hóa; Quyền con người; Phát triển con

Trang 36

32

người, phát triển nguồn nhân lực Mở đầu, cuốn sách giới thiệu bài viết của Phạm Minh Hạc “Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực – Quan niệm và chính sách” và bài viết của Vũ Khiêu “Người Việt Nam trong mối quan hệ giữa đạo đức, triết học và tôn giáo” Hai công trình này đã đề xuất phương hướng cơ bản, cơ

sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay Tiếp đến, nội dung của phần con người và văn hóa gồm 10 bài viết chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu văn hóa và phát triển con người Việt Nam hiện đại, những giá trị thiết yếu của con người Việt Nam, vai trò của văn hóa trong phát triển con người, một số biến đổi về văn hóa trong nhận thức cũng như giá trị của người Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập; Phần quyền Con người bao gồm 11 bài viết về tư tưởng nhân quyền trên thế giới cũng như ở Việt Nam, về tình hình nghiên cứu nhân quyền ở Việt Nam hiện nay cũng như về hệ thống pháp luật của Việt Nam trong việc bảo vệ nhân quyền Phần cuối của cuốn sách gồm

13 bài viết với chủ đề Phát triển con người , phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam được các tác giả trình bày đó là : thực tra ̣ng nguồn nhân lực trong tình hình đất nước hiê ̣n nay; thực tra ̣ng phát triển con người Viê ̣t Nam về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe; phát triển con người và tình trạng ô nhiễm môi trường ; dân chủ, công bằng xã

hô ̣i và vấn đề phát triển con người bền vững [Mai Quỳnh Nam, 2009]

Đức Vượng (2010) cho rằng nguồn nhân lực của Việt Nam tiếp tục phát triển khi bước sang năm 2010 và những năm tiếp theo Xuất phát từ thực tiễn nguồn nhân lực Việt Nam chia làm hai loại: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp trong khi nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm đa số Nhân lực phổ thông dồi dào, nhân lực chất lượng cao còn thiếu, do vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh

tế quốc tế, đó là là nhiệm vụ hàng đầu đối với Việt Nam trong hiện tại và tương lai

[Đức Vượng, 2010]

Thành Duy (2011) làm rõ bốn đặc điểm cơ bản hay là bốn mục tiêu cơ bản của một chủ nghĩa nhân văn mới mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, việc hiện thực hóa chủ nghĩa nhân văn còn là việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Động lực của chủ nghĩa nhân văn chính là việc xây dựng một quan niệm mới về con người: Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển trên cơ sở con

người được phát triển, nâng cao không ngừng về văn hóa [Thành Duy, 2011]

Trang 37

Đặng Cảnh Khanh (2006) tiến hành điều tra, khảo sát ở bảy vùng đại diện cho cả nước Tác giả đã nhận diện thực trạng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số trên các mặt: thể chất, sức khỏe, học tập, lao động, đời sống văn hóa tinh thần, lối sống và nhân cách Từ đó, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số miền núi trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa [Đặng Cảnh Khanh, 2006] Tác giả đã làm rõ các vấn đề về lý luận, phương pháp luận liên quan đến việc nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số, những quan điểm định hướng

về việc phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực các vùng dân tộc thiểu số

Kết quả nghiên cứu xã hội học về thực trạng nguồn nhân lực các vùng dân tộc thiểu số cho thấy (1) các dân tộc miền núi có một số lượng đông đảo người lao động trong độ tuổi từ 13- 34 tuổi Tuy nhiên thực tế cho thấy trình đ ộ học vấn của nguồn nhân lực này còn thấp, cơ cấu ngành nghề thiếu đồng bộ, không sát với nhu cầu sử dụng của địa phương; (2) Nền kinh tế phát triển nên tiềm năng về thể chất và sức khỏe của nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số đã được tăng lên đáng kể so với trước đây tuy nhiên chưa đáp ứng đươ ̣c yêu cầu CNH -HĐH Việc thăm khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế, số lượng không nhỏ trong số thanh niên còn sử dụng các chất kích thích (rượu, thuốc phiện ) chưa có nhận thức đúng đắn trong việc phòng chữa bệnh: (3) Tình hình công tác giáo dục của các vùng miền núi còn gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ thanh thiếu niên ở trong độ tuổi đi học đang học tập ở vùng dân tộc lại rất thấp Về cơ cấu lao động nghề nghiệp tại các vùng dân tộc và miền núi, chúng ta còn thiếu thốn rất nhiều những lao động kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao; (4) Đời sống văn hóa tinh thần tương đối phong phú với bản sắc riêng của từng dân tộc và từng vùng Các loại hình nghệ thuật truyền thống của riêng củ a từng dân tộc được một số lượng khá đông đảo giớ i trẻ yêu thích và coi đó là nét văn hóa

đă ̣c thù của dân tô ̣c mình ; (5) Đa số thanh niên vùng dân tộc còn giữ được những

Trang 38

34

những nét đe ̣p của giá trị truyền thống trong các mối quan hệ xã hội, hành vi ứng xử hàng ngày Ngoài ra, khi tìm hiểu về nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên cho thấy mối quan tâm chính của ho ̣ hi ện nay vẫn xoay quanh hai vấn đề chính là sức khỏe

và việc làm [Đặng Cảnh Khanh, 2006]

Từ thực trạng về nguồn nhân lực trẻ Tây Bắc, tác giả cho rằng để phát triển

nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số cần thống nhất quan điểm lý luâ ̣n , phương pháp luận và thực tiễn trong vi ệc định hướng chiến lược phát tri ển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [Đặng Cảnh Khanh, 2006]

Trần Văn Trung (2015) đề cập đến vai trò của các chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ trong phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Tác giả xác định nội dung của các nhóm chính sách tác động đến số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trẻ tại đây cũng như nhóm chính sách tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Thực trạng nguồn lực và nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc về số lượng, cơ cấu, chất lượng, lao động, việc làm của nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc nói riêng Đánh giá những tác động trong chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ đến phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Bắc, tìm ra những ưu điểm, tồn tại

và bất cập xảy ra trong thực tiễn tổ chức triển khai chính sách Tác giả đưa ra các định hướng và giải pháp xây dựng nhằm hoàn thiện chính sách và tổ chức phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc có hiệu quả [Trần Văn Trung, 2015]

Một số bài viết trên các Báo, các Website đã đề cập đến phát triển nguồn nhân lực trẻ tại Việt Nam chủ yếu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trẻ ở các lĩnh vực khác nhau trong giai đoạn hiện nay về số lượng, cơ cấu và chất lượng Từ đó, dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của nhà nước để đưa ra các kiến nghị, giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ trong các lĩnh vực công tác khác nhau Như vậy, các đề tài khoa học, bài viết, sách được công bố đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực trẻ chung trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong cả nước

mà chưa thấy các nghiên cứu sâu về phát triển nguồn nhân lực trẻ trong tất các lĩnh vực tại một khu vực địa lý cụ thể Đây là khó khăn khi nghiên cứu tổng quan về phát triển nguồn nhân lực trẻ của luận án, đặc biệt là các công trình nghiên cứu riêng về phát triển nguồn nhân lực trẻ của hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn thiếu vắng Tương tự như các nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ và phát

Trang 39

35

triển nguồn nhân lực trẻ tại Việt Nam, các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trẻ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu, chủ yếu dưới dạng bài nghiên cứu khoa học, bài báo trên các Báo, các websie Bên cạnh đó, các công trình này chỉ dừng lại nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trẻ ở một số lĩnh vực nhất định thông qua kết quả các cuộc khảo sát nhỏ để thấy được số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tại một số lĩnh vực cụ thể

Nguyễn Thị Tùng (2015), khẳng định nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào,

lực lượng lao động trẻ đông đảo, có tiềm năng to lớn, đã và đang giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Tuy vậy, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm gần đây vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Từ đó tác giả đề xuất giải pháp thứ nhất là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và coi là giải pháp quan trọng nhất, cốt yếu nhất, có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công khâu đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực vì, sự phát triển nguồn nhân lực trẻ phụ thuộc rất lớn vào công tác này

Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh khá dồi dào,

cơ cấu trẻ, có chất lượng Lao động trong độ tuổi tham gia lao động từ 20 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao với 65,81% , trong đó: nhóm tuổi 20-24 tuổi chiếm tỉ lệ 16,7%, nhóm tuổi 25-29 là 15,18%, nhóm tuổi 30-34 tuổi chiếm 17,58% Chất lượng lao động của thành phố Hồ Chí Minh được phản ánh qua trình độ học vấn của nguồn lao động với

tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chiếm tỉ lệ 47,6%; tốt nghiệp trung học cơ

và hội nhập quốc tế [Trịnh Duy Oánh, 2015]

Trang 40

36

Nhìn chung, các nghiên cứu đề cập trực tiếp đến nguồn nhân lực trẻ và phát triển nguồn nhân lực trẻ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được phân tích ở trên khá khiêm tốn và chưa toàn diện Các nghiên cứu trên đã khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trẻ trong quá trình phát triển đất nước Các tác giả

đã đánh giá thực trạng chung về nguồn nhân lực trẻ của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để chỉ ra những thành công và hạn chế của đội ngũ này và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ trong thời gian tới Tuy nhiên, các nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ và phát triển nguồn nhân lực trẻ tại hai thành phố lớn nhất của cả nước còn thiếu vắng các nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu, chưa đưa ra bức tranh tổng quát về nguồn nhân lực trẻ tại các công việc cụ thể trong các khu vực làm việc Đây là một trong những vấn đề còn khuyết trong nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ và phát triển nguồn nhân lực trẻ không chỉ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, chính sự khuyết thiếu này sẽ mở ra hướng nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ và phát triển nguồn nhân lực trẻ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng như các khu vực địa lý khác trên toàn quốc

1.3 Nghiên cứu vốn xã hội và phát triển nguồn nhân lực

Nghiên cứu về vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực là một hướng nghiên cứu mới, một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến phát triển nguồn nhân lực song mới chỉ dừng lại ở các chiều cạnh nhất định mà chưa đề cập một cách toàn diện từ góc nhìn lý thuyết vốn xã hội Tuy nhiên, kết quả của các công trình nghiên cứu gián tiếp đó là định hướng ban đầu để mở ra các hướng nghiên cứu khác nhau trong việc kết nối giữa vấn đề phát triển nguồn nhân lực và vốn xã hội Do vậy, điểm luận các công trình trong và ngoài nước nghiên cứu giữa vốn xã hội và phát triển nguồn nhân lực ở các chiều cạnh nhất định để có một cách nhìn khái quát nhất về vấn đề mà luận án nghiên cứu

Tác giả Granovetter không đề cập trực tiếp, toàn diện vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực, mà nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động để thấy rõ tầm quan trọng của vốn xã hội trong tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp của các cá nhân trong xã hội Vốn xã hội ảnh hưởng tích cực đến kết quả tìm kiếm việc làm, bởi nhiều người tìm được công việc của mình thông qua các quan hệ xã hội (Granovetter, 1995) Luận điểm này của Granovetter được ủng hộ bởi như Corcoran(1980), Staiger (1991), Bridges và cộng sự (1986) tuy nhiên

Ngày đăng: 30/11/2020, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w