1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội truyền thống tại khánh hòa

131 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc đánh giá đúng tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch và trên cơ sở đó có những đề xuất các giải pháp về mặt bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống, định hướng và giải pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ XUÂN NHI

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TẠI KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ XUÂN NHI

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TẠI KHÁNH HÒA

Luận văn Thạc sĩ Du lịch

Mã số: 8810101

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Anh Tú

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi – Trương Thị Xuân Nhi, học viên cao học khóa 2017 – 2019, Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học và Đào tạo khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Học viên

Trương Thị Xuân Nhi

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu đề tài 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI 8

1.1 Lễ hội và lễ hội truyền thống 8

1.1.1 Lễ hội 8

1.1.2 Lễ hội truyền thống 15

1.2 Du lịch lễ hội 16

1.2.1 Các quan niệm về du lịch lễ hội 16

1.2.2 Những nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội 17

1.2.3 Vai trò của lễ hội đối với sự phát triển du lịch 19

1.3 Kinh nghiệm khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch của tỉnh Thừa Thiên – Huế và một số bài học rút ra 19

1.3.1 Khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch của tỉnh Thừa Thiên – Huế 19

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Khánh Hòa 21

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ DU LỊCH LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TẠI KHÁNH HÒA 24

2.1 Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa 24

2.1.1 Lịch sử hình thành 24

2.1.2 Các điều kiện tự nhiên 24

2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội 25

2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng 26

Trang 5

2.2 Hoạt động du lịch của tỉnh Khánh Hòa 28

2.2.1 Các điều kiện để phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa 28

2.2.2 Kết quả hoạt động du lịch của tỉnh Khánh Hòa 35

2.3 Hoạt động du lịch lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa 38

2.3.1 Các lễ hội truyền thống ở Khánh Hòa 38

2.3.2 Thực trạng tổ chức, khai thác các lễ hội truyền thống trong phát triển du lịch lễ hội ở Khánh Hòa 43

2.3.3 Thực trạng phát triển du lịch lễ hội 46

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI TẠI KHÁNH HÒA 50

3.1 Quy trình, nội dung khảo sát 50

3.2 Kết quả khảo sát 51

3.2.1 Thị trường và cơ cấu khách của du lịch lễ hội tại Khánh Hòa 51

3.2.2 Nội dung du lịch lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa 58

3.2.3 Chất lượng các dịch vụ du lịch trong lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa 60

3.2.4 Công tác tổ chức, và các hoạt động khai thác du lịch tại các lễ hội truyền thống 63

3.2.5 Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực phục vụ lễ hội 65

3.3 Đánh giá chung về hoạt động khai thác lễ hội truyền thống phục vụ du lịch lễ hội tại Khánh Hòa 69

3.3.1 Những kết quả đạt được 69

3.3.2 Những tồn tại, hạn chế 71

3.3.3 Nguyên nhân của điểm yếu 72

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI TRUYỀN THỒNG TẠI KHÁNH HÒA 76

4.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 76

4.1.1 Chiến lược phát triển du lịch chung của tỉnh 76

4.1.2 Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Khánh Hòa 77

4.1.3 Thực trạng khai thác lễ hội truyền thống cho phát triển du lịch lễ hội tỉnh Khánh Hòa 78

Trang 6

4.2 Hệ thống giải pháp cụ thể 78

4.2.1 Nhóm giải pháp về chính sách, tổ chức, quản lý lịch lễ hội truyền thống 78

4.2.2 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực du lịch lễ hội 79

4.2.3 Nhóm giải pháp về xúc tiến và quảng cáo về du lịch lễ hội 81

4.2.4 Nhóm giải pháp về bảo tồn - phát huy các giá trị văn hóa 82

4.2.5 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch lễ hội 84

4.3 Một số kiến nghị nhằm khai thác lễ hội truyền thống cho phát triển du lịch lễ hội trên địa bàn Khánh Hòa đến năm 2025 85

4.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 85

4.3.2 Đối với các doanh nghiệp du lịch 86

4.3.3 Kiến nghị với dân cư địa phương 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 95

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thống kê khách du lịch đến Khánh Hòa 2010 – 2018 36

Bảng 2.2 Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Khánh Hòa 37

Bảng 3.3 Thống kê khách du lịch lễ hội truyền thống ở tỉnh Khánh Hòa 56

Bảng 3.4 Các lễ hội truyền thống ở tỉnh Khánh Hòa khách chưa đến du lịch 57

Bảng 3.5 Mục đích du khách đến tham quan tại các lễ hội truyền thống ở Khánh Hòa 58

Bảng 3.6 Đánh giá của khách du lịch về các hoạt động lễ hội truyền thống tỉnh Khánh Hòa 59

Bảng 3.7 Đánh giá của khách du lịch tại các lễ hội ở Khánh Hòa (theo thang likert 1-5 mức) 61

Biểu đồ 3.4: Dự định của khách du lịch đối với du lịch lễ hội tại Khánh Hòa (%) 63

Bảng 3.8 Đánh giá của doanh nghiệp về công tác tổ chức, quản lý lễ hội (theo thang likert 1-5 mức) 63

Bảng 3.9 Đánh giá của người dân địa phương về lễ hội (theo thang likert 1-5 mức) 64

Bảng 3.12 Đánh giá của doanh nghiệp đối với cơ sở hạ tầng tại các lễ hội tỉnh Khánh Hòa (theo thang likert 1-5 mức) 66

Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng khách du lịch các lễ hội truyền thống tỉnh Khánh Hòa 53

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu khách du lịch tại các lễ hội truyền thống tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2017 - 2019 54

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu khách du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2017 - 2019 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong 10 năm gần đây, ngành du lịch Khánh Hòa đã có những bước phát triển nhanh chóng với lượng khách du lịch từ Trung Quốc và Nga tăng đột biến, cơ cấu sản phẩm du lịch Khánh Hòa cũng từ đó mà trở nên phong phú Nhắc đến du lịch Khánh Hòa người ta hay nhắc đến du lịch biển, đảo Tuy nhiên ngoài biển và đảo, hệ thống sản phẩm du lịch của Khánh Hòa cũng rất đa dạng trong đó có du lịch văn hóa, du lịch lễ hội

Du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế trong đó có du lịch lễ hội Lễ hội truyền thống của Việt Nam là một tài nguyên vô giá đối với sự phát triển của du lịch So với các khu vực khác trong cả nước, tiềm năng của du lịch lễ hội Khánh Hòa không nhiều, song lễ hội nơi đây lại mang những giá trị rất đặc sắc

Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác lễ hội để phát triển du lịch tại địa phương vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tính tới thời điểm hiện tại, việc nghiên cứu đưa các lễ hội vào phát triển du lịch chỉ là những bản tham luận hay những bài báo nhỏ mang phạm vi nội tỉnh Hơn nữa việc đánh giá đó và việc áp dụng thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh Mặc dù du lịch lễ hội đã được xem là rất thuận lợi do có những nét văn hóa đặc trưng riêng biệt nhưng vẫn chưa phát huy được huy được hiệu quả, chưa thu hút được khách như mong muốn

Do đó, việc đánh giá đúng tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch và trên cơ

sở đó có những đề xuất các giải pháp về mặt bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống, định hướng và giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch lễ hội ở Khánh Hòa trong thời gian tới là hết sức cần thiết Xuất phát từ mong muốn trên, học viên

chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa”

cho luận văn của mình

Trang 9

lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch lễ hội, cũng như góp phần hoàn thiện

hệ thống sản phẩm du lịch của Khánh Hòa

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các lễ hội tiêu biểu tại Khánh Hòa xét trường hợp lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ

hội Am Chúa, lễ hội Đền Hùng, lễ hội Cầu Ngư và lễ hôi Yến Sào

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu cách thức tổ chức, khai thác lễ hội phục

vụ phát triển du lịch lễ hội

- Không gian nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Khánh Hòa

- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung thu thập, nghiên cứu, phân tích

số liệu trong giai đoạn từ 2017 – 2019

4 Lịch sử nghiên cứu

Nhận thức được tầm quan trọng của lễ hội trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương, đồng thời khai thác được giá trị của lễ hội truyền thống để phát triển

du lịch, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội ở những góc độ khác nhau

4.1 Các nghiên cứu về lễ hội và lễ hội truyền thống

Thu Linh - Đặng Văn Lung (1984) với cuốn sách “Lễ hội truyền thống và

hiện đại” Nội dung cuốn sách gồm 06 chương: chương 1 Mấy vấn đề về quá trình

phát triển của hội; chương 2 Đặc trưng và chức năng của hội; chương 3.Cấu trúc hội; chương 4 Hội và đời sống; chương 5 Hội trong thời đại chúng ta; chương 6.Tìm hiểu phương pháp tổ chức hội Đây có thể được xem là một trong không nhiều chuyên luận về lễ hội trong tiến trình nghiên cứu, sưu tầm về lễ hội ở Việt Nam

Đinh Gia Khánh - Lê Hữu Tầng (1993) với tác phẩm “Lễ hội truyền thống

trong xã hội hiện đại” Điều cơ bản trong cuốn sách này cần quan tâm đó là việc

xem xét lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại sẽ như thế nào, những nét cổ truyền, những xu hướng biến đổi Đó chính là vấn đề các cơ quan quản lý các cấp

và cộng đồng quan tâm, giữ gìn bản sắc của lễ hội

Toan Ánh (2005) với bộ sách “Nếp cũ hội hè đình đám” (2 tập) Trong cuốn

sách này tác giả tập hợp và giới thiệu 54 lễ hội cổ truyền Đây chính là bộ sưu tập

Trang 10

đầu tiên, dầy dặn về lễ hội cổ truyền Việt Nam Tác giả đã giới thiệu và phân tích khá cặn kẽ về các “thần tích” cùng các “cổ tục” với đầy đủ ý nghĩa của nó Công trình được soạn thảo công phu viết về ba loại hội: “Hội hè về kỷ niệm lịch sử”, “Hội

hè về tôn giáo”, “Hội hè về phong tục”

Vũ Ngọc Khánh (2007) cùng các cộng sự với tác phẩm “Văn hóa dân gian

người Việt (Lễ hội và trò chơi dân gian)” Trong cuốn sách này đã giới thiệu 33 lễ

hội và 23 trò chơi dân gian của người Việt

Lê Hồng Lý (2008) với cuốn sách “Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ

hội tín ngưỡng” Tác giả đã xem xét lễ hội truyền thống từ mối quan hệ với nền

kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Đây là một cách nhìn mới ở Việt Nam, xem xét về sự biến đổi của lễ hội này trong xã hội phát triển kinh tế, đời sống kinh tế của người dân được nâng cao sẽ có những đóng góp cho tổ chức lễ hội và tu bổ di tích

Nguyễn Chí Bền (2013) với cuốn sách “Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu

trúc và thành tố” Cuốn sách có nội dung 08 chương: Chương 1.Lịch sử sưu tầm,

nghiên cứu lễ hội cổ truyền; chương 2.Chủ thể của lễ hội cổ truyền của người Việt; chương 3 Cấu trúc lễ hội cổ truyền của người Việt; chương 4 Nhân vật phụng thờ trong lễ hội cổ truyền của người Việt; chương 5.Các thành tố hiện hữu trong lễ hội

cổ truyền của người Việt; chương 6 Các thành tố tàng ẩn nhưng hiện hữu trong không gian thiêng; chương 7 Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc lễ hội cổ truyền của người Việt; chương 8 Từ nghiên cứu cấu trúc đến bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội cổ truyền trong xã hội đương đại

Đinh Thị Dung (2014) với nghiên cứu “Lễ hội Việt Nam - nhìn từ góc độ

thích ứng và hội nhập văn hóa”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 366 Nghiên cứu đã

chỉ ra rằng lễ hội trong sự vận động biến đổi của thời gian văn hóa là một vấn đề quan trọng, giúp nhận diện r hơn những thích ứng và biến đổi mang tính quy luật các giá trị văn hóa ở nước ta Qua đó văn hóa Việt Nam nói chung và lễ hội Việt Nam nói riêng, ngày càng được phát triển theo hướng đa dạng hóa, hiện đại và bền vững Từ sự biến đổi của lễ hội ngày nay, chúng ta thấy r hơn nguồn lực sáng tạo của cộng đồng trong vấn đề bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu tiêu biểu khác nghiên cứu lễ hội nói

chung và lễ hội truyền thống nói riêng như: Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội – một nét

Trang 11

đ p trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, Nxb Khoa học kỹ thuật; Lê Trung Vũ và Lê

Hồng Lý (2005), Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin; Nguyễn Quang Lê (2011), Nhận diện bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống người Việt, Nxb Khoa

học xã hội,…

4.2 Các nghiên cứu về du lịch lễ hội

Theo chính sách phát triển của Nhà nước, việc tập trung phát triển du lịch thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, trong đó có du lịch lễ hội là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm, bởi lễ hội mang nhiều nét văn hóa, bản sắc của từng vùng miền cũng như tâm hồn của người dân bản địa Do đó, những năm gần đây, nghiên cứu lễ hội để phát triển du lịch là đề tài rất được các nhà khoa học quan tâm, trăn trở

Hoàng Thị Lan (2008) với đề tài “Giải pháp giữ gìn và phát triển loại hình

du lịch lễ hội trên địa bàn Hà Tây”, (luận văn thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học

Thương Mại) là một trong số các công trình như thế Công trình này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội, như: du lịch lễ hội; vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội; một số tiêu chí đánh giá việc giữ gìn và phát triển loại hình

du lịch lễ hội Một số kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hà Tây thông qua bài học kinh nghiệm của một số địa phương như Đà Lạt, Yên Tử, Thành phố Huế trong việc giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội cũng được đề cập đến khá cụ thể tại công trình này

“Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh

trên địa bàn Tỉnh Quảng Trị” (năm 2014) Đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh do

Viện nghiên cứu và phát triển Kinh tế - xã hội Đà Nẵng làm chủ trì, (chủ nhiệm: TS

Hồ Kỳ Minh) lại xác định tầm nhìn và vị trí trung tâm của du lịch tâm linh trong ngành công nghiệp du lịch thống nhất của ngành du lịch tỉnh Quảng Trị nhằm mục đích hướng đến nhu cầu thưởng thức du khách Nghiên cứu này cũng đề cập đến việc

sử dụng các tiềm năng và lợi thế lớn nhất của tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực (di sản, di tích lịch sử, văn học ), hợp tác với phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ Đó là một bước đột phá cụ thể cho du lịch tâm tỉnh Quảng Trị nhằm biến

du lịch thành ngành kinh tế lớn và toàn bộ khu vực trong toàn vùng

Trang 12

Vũ Thị Hoài Châu (2014) với đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu du lịch lễ hội

chùa hương ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội” (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn) ngoài việc hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội, nghiên cứu này cũng đã chỉ ra những nhiệm vụ cần thực hiện trong việc nghiên cứu lễ hội chùa Hương Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào phân tích thực trạng hoạt động

du lịch lễ hội ở chùa Hương; phân tích, đánh giá những điểm mạnh, yếu của du lịch lễ hội chùa Hương, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hương

Đào Ngọc Cảnh và Ông Thị Diệu Huyền (2017) với đề tài nghiên cứu “Thực

trạng và giải pháp khai thác các di tích lịch sử - văn hóa trong phát triển du lịch tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa trong du lịch trên địa bàn quận Bình Thủy và đề xuất một số giải pháp để phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa trong du lịch, góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch ở quận Bình Thủy nói riêng và thành phố Cần Thơ nói chung

Trịnh Lê Anh (2018) với đề tài “Quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát

triển sản phẩm du lịch qua khảo sát lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền (Hà Nam)” (luận án Tiến sĩ, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam)

Luận án đã làm r về mặt lý luận và thực tiễn hiện trạng quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch; trên cơ sở khảo sát thực trạng quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch tại lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và

lễ hội Tịch Điền (Hà Nam), xác định mô hình quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch phù hợp cho hai lễ hội này và những lễ hội tương đồng

Thân Trọng Thụy (2019) với đề tài luận án “Các nhân tố ảnh hưởng đến

lòng trung thành của du khách tại các điểm du lịch tâm linh ở Việt Nam”, Trường

đại học Kinh tế Quốc dân Luận án đã khái quát hóa cơ sở lý luận về tâm linh và du lịch tâm linh và mối quan hệ giữa những nhân tố chính ảnh hưởng tới phát triển du lịch tâm linh thông qua đánh giá các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự hài lòng và lòng trung thành của du khách với điểm đến du lịch tâm linh tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận án đã thiết lập được mô hình đánh giá các nhân tố phản ánh hình ảnh điểm đến và ảnh hưởng của các nhân tố tới hình ảnh điểm đến, sự hài lòng

Trang 13

và lòng trung thành của du khách với các điểm đến du lịch tâm linh trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của niềm tin tâm linh một nhân tố không thể tách rời khỏi hoạt động

du lịch tâm linh

Bên ca h đó còn có nhiều bài viết, nhiều hội thảo liên quan đến các lễ hội truyền thống và du lịch lễ hội Có thể nhận thấy các đề tài trên đã đề cập đến các cơ

sở lý luận, các vấn đề, thực trạng và các giải pháp, kiến nghị để khai thác tiềm năng

du lịch, phát triển các loại hình du lịch khác nhau tại một số địa phương khác của Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về lễ hội truyền thống ở Khánh Hòa cũng như việc khai thác và phát huy các lễ hội truyền thống trong việc phát triển du lịch Khánh Hòa

5 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng hợp, phân tích, xử lý tài liệu thứ cấp: Đề tài tiến hành hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu tham khảo khác nhau (công trình, bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án ) để đúc kết các vấn đề lý luận và thực tiễn về lễ hội truyền thống và du lịch lễ hội, từ đó có thể tham khảo, tìm ra các

lý thuyết có thể vận dụng trong nghiên cứu, các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan

Đề tài cũng thu thập và xử lý các số liệu thứ cấp, báo cáo tổng kết của các Bộ, ban, ngành; các số liệu thống kê của Nhà nước, số liệu điều tra đã công bố từ các nguồn khác nhau

- Điều tra xã hội học: Đề tài tiến hành điều tra định lượng bằng bảng hỏi nhằm khảo sát thực trạng du lịch lễ hội tại Khánh Hòa hiện nay, đo lường đánh giá của người dân về thực trạng du lịch lễ hội tại Khánh Hòa

- Điền dã thực địa: Đồng thời với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, đề tài cũng chú trọng sử dụng phương pháp điền dã thực địa, quan sát tham dự để cảm nhận, thấu hiểu và nắm bắt thực tiễn sâu sát hơn, bổ sung cho các điều tra định lượng

- Phương pháp so sánh: Lễ hội trong tổng thể các yếu tố làm nên sản phẩm

du lịch và hoạt động của lễ hội Tim hiểu nhu cầu, khả năng thu hút khách của lễ hội Giá trị văn hóa lễ hội thể hiện qua hình thức, nội dung lễ hội

- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến, tài liệu qua sự cung cấp của các nhà nghiên cứu

Trang 14

- Phương pháp liên ngành: Sử dụng kiến thức của các ngành khác như văn hóa học, triết học…

- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các thao tác trong nghiên cứu khoa học nói chung như: thống kê, luận giải, đánh giá…

6 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm 4 chương với kết cấu như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác lễ hội truyền thống cho

phát triển du lịch lễ hội

Chương 2 Hoạt động du lịch và du lịch lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa Chương 3 Khảo sát hoạt động khai thác lễ hội truyền thống phục vụ phát

triển du lịch lễ hội tại Khánh Hòa

Chương 4 Một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội truyền thống tại Khánh Hòa

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC LỄ HỘI

TRUYỀN THỐNG CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI

1.1 Lễ hội và lễ hội truyền thống

1.1.1 Lễ hội

1.1.1.1 Khái niệm lễ hội

Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu Từ điển Bách Khoa Việt Nam trong mục từ “Lễ hội” đề cập đến lễ hội truyền thống khi định nghĩa “Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo” Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1998, tái bản 2007) cũng định nghĩa “lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống” với hai ví dụ là “Lễ hội đền Hùng và Lễ hội hóa trang” (Hoàng Phê, 2002) Ngoài ra “lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội là các hoạt động nghi lễ đạt tới trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hóa truyền thống” (R Aileau, 2003)

Thực tế đã chứng minh một trong những quan điểm lý thuyết nhận được sự đồng thuận cao về hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là phần thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật đời thường) Có quan niệm chia tách lễ hội thành hai thành tố khác nhau và độc lập trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt dân gian, văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại Có quan niệm ngược lại, nhấn mạnh “tính nguyên hợp” của lễ hội truyền thống, tức là quan

hệ nghệ thuật ấy (lễ hội) người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt Sau đây là một số cách hiểu và diễn giải của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu văn hóa về khái niệm lễ hội:

Trần Ngọc Thêm (2001) cho rằng trong các bộ phận cấu thành nên tài nguyên du lịch nhân văn thì lễ hội là một tài nguyên rất có giá trị để phục vụ cho phát triển du lịch Lễ hội là hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả Lễ hội là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử của đất nước Lễ hội cũng là dịp để con người tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, những

vị anh hùng dân tộc Với lễ hội truyền thống, đây còn là dịp để người dân lao động

Trang 16

bày tỏ lòng thành kính của mình đối với các lực lượng siêu nhiên (cảm tạ thần linh

đã trợ giúp mình có được mùa màng bội thu và cầu mong có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc) Có thể nói, lễ hội là sự kiện liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân [19]

Lễ hội luôn gắn với văn hóa của người dân Việt Nam, với cuộc sống nông

nghiệp của họ Nguyễn Chí Bền (2012) cho rằng “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt

văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong xã hội loài người Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng Là những cư dân nông nghiệp sống với nghề trồng lúa nước, vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong con người những nhu cầu tâm linh mà lễ hội chính là nơi, là cơ hội thỏa mãn nhu cầu tâm linh ấy của họ” [1] Ông cũng cho

rằng, sau một thời gian làm việc vất vả thì tham gia lễ hội là cách để người người dân cảm thấy thoải mái, nhẹ nh m, là nơi người dân được thể hiện sự tín ngưỡng và tham gia vào các trò vui chơi bởi “Lễ và hội hòa quyện, xoắn xít với nhau đề cùng nhau biểu hiện một giá trị nào đó của một cộng đồng Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ” Và vì thế, lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống của người nông dân [1]

Nguyễn Quang Lê (1999) cũng đồng quan điểm với một số nhà nghiên cứu khi cho rằng bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian… Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng [11]

Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh (1993) khi diễn giải về khái niệm lễ hội lại cho rằng: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta

Trang 17

quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt l i nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh đề tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [20]

Tóm lại, trong nghiên cứu này, tác giả thống nhất với cách hiểu lễ hội là: 1)

Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện; 2) Hội là tập hợp các trò diễn có tính nghi lễ, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo, hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hóa hàng ngày và một phần đời sống cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỉ niệm một sự kiên quan trọng đối với một cộng đồng xã hội

Lễ hội là một sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng

1.1.1.2 Đặc điểm của lễ hội

- Lễ hội thường gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định

Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhau Mặt khác, lễ hội mang tính tộc người rất r Các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau Chẳng hạn, Đồ Sơn nổi tiếng với lễ hội chọi trâu, hội Lim thì chỉ có ở Bắc Ninh, người Chăm được biết đến với lễ hội Ka Te, lễ hội Lồng Tồng là lễ hội của người Tày Trong lễ hội thường có người tham dự là những người tổ chức, người dân địa phương, những người hành hương, khách du lịch, )

- Không gian, thời gian của lễ hội:

Lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh, những địa danh nổi tiếng, hoặc ngay tại các sân đình, đền chùa, Để tổ chức lễ hội, cần phải có không gian rộng và có các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ

sở hạ tầng cần thiết Lễ hội ở nước ta phân bố dọc khắp chiều dài đất nước

Những lễ hội truyền thống thường tập trung trong hai mùa là mùa xuân và mùa thu, đó là thời điểm nông nhàn, khoảng thời gian nghỉ ngơi giữa hai mùa vụ của nhà nông

Trang 18

- Cấu trúc của lễ hội:

Như một ước lệ, lễ hội luôn được phân chia làm hai phần: Lễ và Hội

+ Phần Lễ: “là các nghi thức được thực thi trong lễ hội với các nghi thức uy nghiêm như tế thần, yết cáo ở các đình, đền Phần này thường do các lão làng đảm nhiệm Phần Lễ là nền tảng của lễ hội, tạo không khí thiêng liêng và những giá trị tinh thần tốt đẹp trước khi chuyển sang phần hội” (Trần Ngọc Thêm, 2001)

Phần Lễ không đơn lẻ mà là một hệ thống liên kết, có trật tự, cùng hỗ trợ nhau Trong lễ hội truyền thống, phần lễ thường gồm lễ rước nước, lễ mộc dục (lễ tắm rửa tượng Thần), lễ tế gia quan, đám rước, đại lễ (là nghi thức lễ trang trọng nhất), lễ túc trực, lễ hèm

Hiện nay, phần Lễ đã được đơn giản hóa nhưng vẫn giữ được các chuẩn mực chung Tuy nhiên, nhiều người đánh giá, tính thiêng liêng và trang trọng của phần lễ trong các lễ hội truyền thống không còn được nguyên vẹn như trước đây

+ Phần Hội nhằm mục đích vui chơi, giải trí, giao lưu Đây là thời điểm để người tham dự lễ hội có dịp nghỉ ngơi, tham gia vào các trò chơi, giao lưu với nhiều người khác, được thể hiện bản thân mình mà trong điều kiện bình thường họ không thể hoặc không dám bộc lộ (Trần Ngọc Thêm, 2001)

Lễ và Hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Hai yếu tố này có lúc tách biệt đến dễ thấy: một bên thiêng liêng (Lễ), một bên trần tục (Hội), nhưng trong nhiều trường hợp lại không đơn giản như vậy Trong quá trình vận động, hai yếu tố Lễ và Hội đã thâm nhập vào nhau khá chặt chẽ, lồng ghép vào nhau Chẳng hạn như khi dân làng rước kiệu, chơi cờ người đều mang ý thức cầu mong Thành hoàng phù

hộ cho dân làng và cho bản thân Không nên đối lập hoàn toàn Lễ với Hội, nhưng cũng càng không nên đồng nhất hai phần này với nhau

Lễ và Hội là hai yếu tố chính tạo nên lễ hội Sự đậm, nhạt giữa chúng tùy thuộc vào đặc điểm từng nơi và tính chất của từng loại lễ hội Những lễ hội liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo thì phần Lễ đậm hơn phần Hội Ở những hội làng nghề, phần Lễ có thoáng hơn, chủ yếu là lễ tế Tổ Các hội tưởng niệm anh hùng lịch

sử thì phần lễ cũng chỉ vừa phải, đủ để minh họa thần tích

Trang 19

1.1.1.3 Chức năng của lễ hội

a) Chức năng hình thành sự liên kết xã hội và tạo nên sức mạnh cộng đồng Các lễ hội dù mang nội dung nghề nghiệp, tôn giáo, suy tôn các thần linh hoặc các anh hùng dân tộc, thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là một cộng đồng người, nó biểu dương những “giá trị văn hoá” và sức mạnh của cộng đồng, đồng thời tạo nên tính liên kết xã hội Trong lễ hội tính cộng đồng được thể hiện qua sự “cộng mệnh” và

“cộng cảm” Theo quan niệm của PGS.TS Ngô Đức Thịnh thì “cộng mệnh” là sự gắn bó giữa những con người trong cộng đồng lại với nhau bằng “vận mệnh” của cả cộng đồng Từ sự “cộng mệnh” đến “cộng cảm” thông qua các hoạt động lễ và hội, lại là một bước chuyển hoá về vật chất Ngay trong “cộng mệnh” đã có “cộng cảm”,

đó là sự đồng cảm về các hoạt động tâm lý và các sinh hoạt văn hoá cộng đồng [129, tr 772] Bởi vậy, tính sở hữu thuộc cộng đồng và cố kết cộng đồng bao giờ cũng là nét đặc trưng và là giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội

b) Chức năng hướng về cội nguồn và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống – dân tộc

Bằng các hệ thống biểu tượng, lễ hội đã làm sống lại thuở cội nguồn của hiện tượng lịch sử (một vị tổ họ, tổ dân tộc, một ngày giỗ, một ngày tết…) tức là thuở cội nguồn của những mối liên hệ đang bảo trì các nhóm Nhờ những cuộc vui chơi và tham gia vào các hoạt động trong hội một cách hăng say nô nức của các thành viên, trong tình thân thiện chan hoà mà sự “tái xác lập tính cố kết trong nội bộ nhóm”, mới trở thành toàn vẹn và hiện thực Và, cứ như thế suốt chiều dài lịch sử con người các chu kỳ lễ hội được lập lại đã khiến cho lễ hội trở thành những “khuôn mẫu văn hoá” truyền thống đã giúp con người hướng về cội nguồn và nhờ thế có thể bảo tồn những giá trị truyền thống

c) Chức năng văn hoá cá nhân giúp cho con người tham gia vào quá trình hưởng thụ và sáng tạo văn hoá

Đối với mỗi cộng đồng, lễ hội chính là biểu hiện của một tình trạng sống

“khác thường” bởi nó đem đến cho cộng đồng khoảng thời gian thoải mái, vui vẻ đồng thời cũng là một khoảng thời gian tâm linh khác biệt hơn ngày thường của con người Tuỳ theo ý nghĩa xã hội của từng lễ hội mà chúng có sự biểu hiện khác nhau

Trang 20

về biểu tượng Khi thực hành những nghi tiết trong lễ hội, cộng đồng được thực sự nhập thân vào thế giới văn hoá – nơi mà họ tìm thấy được chính bản thân mình Ở đó,

họ được dịp phô diễn những năng lực biểu hiện trong quá trình hưởng thụ và sáng tạo văn hoá - nghệ thuật: từ múa, hát, diễn xướng cho đến các cuộc thi tài mang “tinh thần thượng v ”, các trò diễn phong tục, vui chơi giải trí, thưởng thức các món ăn truyền thống v.v… Tất cả đã tạo nên sự “cộng cảm” không chỉ giữa con người với nhau trong cộng đồng mà còn giữa con người với thần linh [129, tr 772, 773]

d) Chức năng cân bằng tâm sinh lý và giải phóng các xung cảm có trong đời sống thường nhật của con người

Tuỳ theo ý nghĩa xã hội của mỗi lễ hội mà thành phần hội được cử hành hơn thường hoặc khác thường và bản thân mỗi thành viên sống trong khoảnh khắc ấy cũng đều khác/ vượt các khuôn khổ của cuộc sống hàng ngày Trong lễ hội người ta được sống trong cái khung cảnh có thể nói là “thái quá” nhưng lại không “bất cập” Một sự thái quá được tổ chức và được phép “Một lễ hội là một thái quá được phép, thậm chí được sắp đặt là một phạm vi trang nghiêm đến một cấm chỉ” [50] Tuy nhiên, chính sự khác thường và thái quá đó đã đáp ứng được nhu cầu duy trì sự thăng bằng về mặt tâm sinh lý, mà có lẽ khó có thể có một hình thức nào khác của văn hoá có thể đáp ứng được như vậy Và cũng từ chức năng này, thông qua các hoạt động lễ hội con người đã có thể quay trở về để tái hoà nhập vào hoạt động sản xuất cũng như trong đời sống xã hội

e) Chức năng thoả mãn nhu cầu niềm tin cho con người trong đời sống cộng đồng – xã hội

Trong xã hội nông nghiệp, với trình độ sản xuất thủ công còn non kém lạc hậu, giới tự nhiên vẫn đang còn là những điều bí ẩn, tức là mối quan hệ giữa người với tự nhiên vẫn là con người phải chịu khuất phục trước cái thế giới siêu nhiên kỳ

bí Và, con người cũng chưa có đủ năng lực để giải thích được những hiện tượng thần bí, siêu nhiên đó Vì thế, trong lễ hội con người thường tìm cách đồng hóa những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí đó với những hiện tượng trần tục; đồng hóa những vị thần linh, thánh thần với các nhân vật lịch sử, những vị anh hùng dân tộc

Và khi ấy, con người tìm cách giải thích, khuất phục được giới tự nhiên cũng như thánh thần để khắc phục được những điều xấu, gia tăng những điều tốt lành;

Trang 21

1.1.1.4 Phân loại lễ hội

Việc phân loại lễ hội tùy thuộc vào cách tiếp cận và tiêu chí đưa ra của mỗi nhà nghiên cứu

Trong tác phẩm “Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam”, tác giả Lưu Minh Trị (2004) dựa vào nội dung tổng thể của lễ hội đã phân loại:

- Lễ hội tái hiện những nghi thức sinh hoạt nông nghiệp như: hội săn bắn, hội đánh cá, hội cầu mưa, hội mùa xuân (thường kèm theo các lễ: thờ thần lúa, thần mặt trời, lễ hội điền, thượng điền, )

- Lễ hội tái diễn những sự kiện lịch sử, nhằm kỷ niệm và tôn vinh các anh hùng dân tộc, danh nhân, những người có công như lễ hội đền Đồng Nhân (Hà Nội) tôn vinh Hai Bà Trưng, lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương) tôn vinh Trần Hưng Đạo,

lễ hội đền Trạng (Hải Phòng) tôn vinh Nguyễn Bỉnh Khiêm,

- Lễ hội tái hiện các sinh hoạt xã hội như lễ hội làng nghề Đại Bái (Gia Bình, Bắc Ninh), lễ hội văn hóa nghệ thuật như hội Lim (Từ Sơn, Bắc Ninh), hội Lỗ Khê (hát ca trù ở Đông Anh, Hà Nội),

Trong tác phẩm “Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian”, tác giả Đinh Gia Khánh (1989) đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội dân gian như sau: “Có nhiều cách phân loại hội lễ Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo”

- Lễ hội không có nguồn gốc tôn giáo: Lễ hội nguyên thủy gắn với nghi thức phồn thực, với sản xuất nông nghiệp

- Lễ hội có nguồn gốc tôn giáo: xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp và tôn giáo đã ra đời (Bà la môn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo,…)

Tác giả Ngô Đức Thịnh (2007) lại căn cứ theo tiêu thức thời gian phân chia

lễ hội thành hai loại:

- Lễ hội truyền thống: lễ hội truyền thống bao gồm tất cả các loại hình lễ hội được đề cập trong tất cả các cách thức phân loại Đây là những lễ hội có lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài trong suốt chiều dài lịch sử của địa phương hay quốc gia; chứa đựng trong mình không chỉ những giá trị văn hóa đặc sắc mà còn là một phần nhân chứng sống động của lịch sử, cung cấp những bằng chứng về quá

Trang 22

trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân trên khắp lãnh thổ nước Việt Nam (nên d)

- Lễ hội hiện đại: Lễ hội hiện đại ngày nay đang ngày càng phát triển và thu hút được sự quan tâm của những người làm du lịch, khách du lịch và người dân trong thời gian gần đây Những lễ hội này góp phần quảng bá những thành tựu mới nhất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn lịch sử hiện đại, được tổ chức với định hướng phục vụ kinh doanh du lịch rất r ràng

1.1.2 Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, vừa độc đáo vừa phong phú, đa dạng của dân tộc Việt Nam có nguồn gốc từ rất lâu đời Có thể coi lễ hội truyền thống là hình ảnh thu nhỏ của nền văn hóa dân gian của dân tộc Lễ hội truyền thống bao hàm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như: truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế, văn bia, hoành phi câu đối ca dao, hò vè… (văn học dân gian); diễn xướng, sân khấu dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc… (nghệ thuật biểu diễn dân gian); các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trò diễn, trò chơi dân gian, tục lệ, đối tượng thờ cúng, đức tin… (tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán dân gian) Do vậy lễ hội truyền thống không chỉ là hiện tượng văn hóa dân gian mà còn là một tượng mang tính lịch

sử xã hội Nhiều yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội truyền thống bảo lưu và truyền tụng từ đời này sang đời khác và thực sự trở thành di sản văn hóa truyền thống vô giá

Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình

Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống, tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể Đoàn Minh Châu (2004) trong

nghiên cứu Cấu trúc lễ hội đương đại đã đề cập đến lễ hội truyền thống bao gồm

Trang 23

gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí,

ẩm thực, mua bán…

Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng Đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

Các giá trị văn hóa của lễ hội đã được các nhà nghiên cứu đúc kết như sau: Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng; Giá trị hướng về cội nguồn; Giá trị cân bằng đời sống tâm linh; Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa; Giá trị kinh tế; và Giá trị giáo dục

1.2 Du lịch lễ hội

1.2.1 Các quan niệm về du lịch lễ hội

1.2.1.1 Khái niệm du lịch lễ hội

Du lịch lễ hội được hiểu là hoạt động của con người đến với nơi tổ chức lễ hội để được tiếp xúc trực tiếp, được tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi giải trí ở lễ hội trong một khoảng thời gian xác định Du khách khi tham gia lễ hội

có thể hiểu về văn hóa con người của nơi tổ chức lễ hội, hiểu về đời sống tinh thần phong phú của họ Như vậy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo

Có thể hiểu du lịch lễ hội là hoạt động mà khách du lịch muốn thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, lịch sử, tín ngưỡng dân gian… thông qua việc tham dự, chứng kiến các hoạt động của lễ hội (Trần Quốc Vượng, 2003) Do đó, du lịch lễ hội thuộc loại hình du lịch văn hóa

1.2.1.2 Đặc điểm của du lịch lễ hội

Khác với loại hình du lịch thiên nhiên, du lịch thể thao, du lịch giải trí … du lịch lễ hội có các đặc điểm cơ bản sau:

- Du lịch lễ hội thường gắn với không gian thời gian và địa điểm nhất định

Do vậy, việc tổ chức các hoạt động du lịch phải căn cứ vào thời gian, địa điểm và

Trang 24

các hoạt động văn hóa đặc trưng, các nội dung chính của lễ hội để khai thác đúng hướng và hiệu quả Thời gian, không gian thiêng và tính chất thiêng của lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút khách du lịch

- Du lịch lễ hội mang tính mùa vụ Tính chất mùa vụ của lễ hội sẽ chi phối lớn đến các yếu tố phục vụ hoạt động du lịch lễ hội như hệ thống tài nguyên du lịch, quy hoạch tuyến du lịch, điểm du lịch, các hoạt động dịch vụ, các cơ sở lưu trú, các chương trình du lịch … Vì thế việc chuẩn bị các yếu tố phục vụ các hoạt động du lịch lễ hội phải có sự sắp xếp khá chu đáo và khoa học Nếu không có sự chuẩn bị trước (từ cơ sở vật chất, các dịch vụ, công tác tổ chức lễ hội…) sẽ dẫn đến không đáp ứng nhu cầu du khách hoặc xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến so với những ngày thường

- Du lịch lễ hội là một hoạt động văn hóa sâu sắc vừa mang ý nghĩa lịch sử vừa có giá trị nghệ thuật độc đáo Bản sắc của lễ hội là văn hóa do vậy bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địa phương, tộc người là một khía cạnh cần được khai thác, nghiên cứu trong phát triển du lịch lễ hội Sự phong phú và sâu sắc về văn hóa của hoạt động du lịch lễ hội thể hiện ngay trong nội dung, hình thức và cách tổ chức của

lễ hội Bên cạnh đó, lễ hội còn là sản phẩm của lịch sử, do đó nó phản ánh lịch sử bằng hình ảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hóa, biểu tượng hóa Điểm đến du lịch với những lễ hội càng đặc trưng bao nhiêu, càng khác lạ bao nhiêu về phong tục tập quán, lịch sử, ngôn ngữ, tín ngưỡng và các giá trị cuộc sống… thì càng hấp dẫn du khách bấy nhiêu

1.2.2 Những nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội

1.2.2.1 Nguyên tắc bảo tồn, phát triển có hệ thống

Lễ hội là tài nguyên du lịch nhân văn Do đó để lễ hội luôn là nguồn tài nguyên dồi dào mang lại lợi ích cho các bên tham gia, ngoài việc khai thác đúng cách chúng ta còn phải biết bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa đặc trưng của lễ hội và phát triển có hệ thống những sản phẩm đặc thù của lễ hội Du lịch lễ hội có quan hệ chặt chẽ với hệ thống các di tích và các công trình kiến trúc nghệ thuật liên quan đến lễ hội Di tích và lễ hội chính là nguyên liệu gốc sản sinh ra các điểm đến du lịch trong đó lễ hội và hệ thống di tích thường gắn kết chặt chẽ với nhau Các hệ

Trang 25

thống kiến trúc của Đình, Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với các sự kiện, các nhân vật thờ tự là phần vật thể Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần hồn, phần phi vật thể chứa đựng giá trị văn hóa lịch sử Do vậy để phát triển tốt du lịch lễ hội thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hóa lễ hội truyền thống cũng cần bảo tồn các di tích gắn với lễ hội, đảm bảo tính nguyên bản của nó Ngoài ra sự cân bằng lợi ích văn hóa, lợi ích cộng đồng với lợi ích kinh tế phải được chú trọng, có sự chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà đầu tư với người dân, chính quyền địa phương – nơi tổ chức lễ hội và với tất cả những bên tham gia Tất cả phải có bổn phận giữ gìn

và xây dựng di sản văn hóa phi vật thể này nhằm duy trì mức ổn định kinh tế và lưu truyền đến thế hệ tương lai

1.2.2.2 Nguyên tắc thị trường

Nguyên tắc thị trường trong phát triển du lịch lễ hội nghĩa là tuân theo quy luật cung – cầu, phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, thỏa mãn giá trị thưởng thức, giải trí, khám phá lịch sử, văn hóa và thụ hưởng đồng thời thoải mãn các điều kiện: Có tài nguyên nội tại (môi trường, nhân văn, ), điều kiện giao thông, vận tải thuận tiện, có nguồn vốn đầu tư, có tính khả thi (điều kiện đầu tư)

1.2.2.3 Nguyên tắc giáo dục và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

Sự tham gia của cộng đồng đối với ngành du lịch lễ hội của địa phương được đánh giá là yếu tố cần và đủ để phát triển du lịch lễ hội Nó không chỉ mang lại lợi nhuận cho cộng đồng mà còn tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo tồn, phát triển lễ hội, du lịch lễ hội, góp phần bảo vệ mội trường sinh thái và nhân văn nơi

tổ chức lễ hội Chính vì thế, cộng đồng địa phương cần được khuyến khích và tạo điều kiện để tham gia vào hoạt động du lịch Ngoài ra, trong suốt quá trình xây dựng

và phát triển du lịch cần chú trọng đến công tác giáo dục, đào tạo nhân lực Đây được coi là một sự đầu tư tối quan trọng trong suốt quá trình phát triển du lịch lễ hội Nếu nhân lực không được đào tạo bài bản sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ảnh hưởng đến toàn bộ đường lối chính sách đề ra Vì thế, song hành với việc khuyến khích và tạo điều kiện cho cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch thì cũng cần phải đào tạo, trang bị cho cộng đồng địa phương những kiến thức nhất định

về du lịch, bảo tồn các giá trị văn hóa và phát triển bền vững

Trang 26

1.2.3 Vai trò của lễ hội đối với sự phát triển du lịch

Thứ nhất, lễ hội ở các địa phương góp phần tạo điểm nhấn thu hút khách du

lịch: Lễ hội văn hoá truyền thống là một dạng hoạt động văn hoá đặc thù, với những giá trị của nó, tự thân đã có sức thu hút du khách rất lớn Bởi đó là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng cảm, tạo nên bản sắc văn hoá không trộn lẫn và

là tiềm năng du lịch văn hoá

Thứ hai, lễ hội góp phần đa dạng hóa các loại hình du lịch: Ngày nay, xu hướng

du lịch tìm hiểu, khám phá các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần, bản sắc văn hoá của từng địa phương, của cộng đồng dân cư đang ngày càng thu hút du khách

Thứ ba, lễ hội là nền tảng để mở rộng dịch vụ du lịch, tăng nguồn thu cho địa

phương: Khi khách du lịch đến với lễ hội sẽ kéo theo các nhu cầu thiết yếu như đi lại, lưu trú, nghỉ dưỡng, ăn uống, mua sắm, giải trí…

Thứ tư, thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần, khơi dậy lòng yêu quê

hương, đất nước; ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc, văn hóa bản địạ

Thứ năm, lễ hội đã góp phần quảng bá hình ảnh của địa phương

1.3 Kinh nghiệm khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch của tỉnh Thừa Thiên – Huế và một số bài học rút ra

1.3.1 Khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch của tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trong sinh hoạt cộng đồng, lễ hội được gọi là hiện tượng văn hóa nguyên sinh, nguyên hợp của nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa khác nhau Trong đó, lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa nổi bật của cư dân Thừa Thiên - Huế Đây là trung tâm văn hóa lớn của cả nước, với Quần thể di tích Cố đô được Unesco công nhận là

Di sản Văn hóa Thế giới Là Cố đô nên Thừa Thiên - Huế lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của dân tộc Cho đến hiện nay, theo ước tính, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế

có 65 lễ hội lớn, trong đó chủ yếu là lễ hội thuộc về tín ngưỡng dân gian

Công tác quản lý về khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch đã được chính quyền các cấp tỉnh Thừa Thiên - Huế chỉ đạo thực hiện kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả thông qua ban hành các văn bản qui phạm pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện các văn bản QLNN của cấp trên về lĩnh vực này Kế hoạch, nội dung, phương hướng và nhiệm vụ của công tác quản lý về khai thác lễ hội

Trang 27

truyền thống cho du lịch phù hợp với thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán tồn tại sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của

họ, được người dân chấp nhận, ủng hộ và tạo điều kiện hợp tác để đem lại hiệu quả quản lý ngày càng cao Đến nay, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ban hành trên 30 văn bản QLNN và nhiều văn bản chỉ đạo, phối hợp liên quan đến công tác QLNN về khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật, các quy định về tổ chức khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch liên quan được chú trọng, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng đã góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa và vai trò của lễ hội truyền thống trong đời sống văn hóa tinh thần, hình thành ý thức đối với việc bảo vệ di sản Giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn và quảng bá lễ hội, tích cực thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, phục vụ du lịch hiệu quả

Hai là, từ cấp tỉnh đến cấp xã - phường được kiện toàn, đội ngũ cán bộ quản

lý khai thác lễ hội truyền thống bước đầu được chuẩn hóa Hệ thống cơ quan QLNN

về khai thác lễ hội truyền thống cho du lịch được cơ cấu chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể cho mỗi cấp, mỗi cơ quan quan, ban ngành Công tác chuẩn hóa cán bộ, công chức tham gia QLNN về văn hóa, lễ hội truyền thống được chú trọng Bình quân mỗi năm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức được

6 đợt tập huấn dành cho cán bộ văn hóa xã phường QLNN về văn hóa, quản lý tổ chức lễ hội truyền thống 100% công chức QLNN về lĩnh vực này ở cấp tỉnh đạt trình độ cử nhân trở lên về chuyên ngành quản lý văn hóa, văn học, Việt Nam học

và các ngành khoa học - xã hội khác Trên 90% tổng số cán bộ phường - xã đạt trình

độ cao đẳng trở lên là lực lượng nòng cốt để thực hiện công tác QLNN về lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đạt hiệu quả cao

Thứ ba, công tác thực hiện nếp sống văn minh trong khai thác lễ hội truyền

thống cho du lịch đạt được những kết quả tích cực Các cơ quan QLNN tỉnh Thừa Thiên - Huế đã kịp thời chấn chỉnh những hoạt động lễ hội tự phát, không phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền văn hóa Đảm bảo nội dung của lễ hội truyền thống diễn ra trên địa bàn, giữ được tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp, tính nghiêm cẩn của lễ hội, đồng thời tránh được những

Trang 28

biểu hiện của mê tín dị đoan, “buôn thần bán thánh” Trong hoạt động lễ truyền thống, các địa phương gắn liền nội dung lễ hội với các hình thức trò chơi dân gian, diễn xướng và đã giới thiệu được các sản phẩm truyền thống Một số lễ truyền thống, như: lễ hội vật làng Sình, Thủ Lễ đã có những hình thức hoạt động “bổ trợ” như giới thiệu ẩm thực, đồ thủ công, mỹ nghệ sản xuất theo kỹ thuật truyền thống của địa phương,… tạo phong phú và hấp dẫn cho người đi hội

Thứ tư, lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế bảo

tồn được truyền thống, nề nếp theo hướng lành mạnh hóa, phù hợp với thuần phong

mỹ tục Nhờ thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị nên các lễ hội truyền thống ở đây tránh được nguy cơ thất truyền, biến hóa tiêu cực; phát huy giá trị đặc sắc của lễ hội tín ngưỡng trong hội nhập văn hóa Các giá trị, bản sắc văn hóa Huế được tiếp tục duy trì và phát huy Lễ hội tín ngưỡng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đã trở thành cầu nối quan trọng tạo sự liên kết cộng đồng, thúc đẩy văn hóa phát triển song hành với du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Khánh Hòa

Thứ nhất, cần hệ thống hóa những sản phẩm du lịch lễ hội của địa phương,

phát triển có chọn lọc những sản phẩm đó Có chính sách đào tạo để gìn giữ và lưu truyền các giá trị văn hóa của người dân bản địa đến thế hệ tương lai

Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ, r ràng giữa chính quyền, các nhà

đầu tư và người dân cần có đường lối phát triển r ràng, không thể để du lịch lễ hội tự phát mà không có sự quản lý hay điều hành thống nhất từ chính quyền địa phương Sự chia sẻ quyền lợi, nhiệm vụ, nghĩa vụ, lợi ích của các bên tham gia là cần thiết để cùng giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc, nhằm phát triển du lịch lễ hội

Thứ ba, khi tổ chức lễ hội, phải xem trọng yếu tố đóng vai trò chủ thể là cư

dân địa phương, cân bằng được lợi ích của các bên tham gia Bên cạnh đó, cần chú trọng đến đào tạo để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Tập huấn cho người bản địa một số kỹ năng cần thiết về phục dựng lễ hội và kỹ năng giao tiếp với du khách Nên dựa vào cộng đồng dân địa phương để phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch, giúp họ nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của

Trang 29

mình trong việc phát triển du lịch lễ hội Bởi vì có như vậy họ mới bảo vệ được những di sản văn hóa đặc sắc của mình, bỏ qua những lợi ích trước mắt, nghĩ đến những lợi ích lâu dài, phục vụ khách hàng ngày một chu đáo Chính vì thế, khi phát triển du lịch lễ hội, cộng đồng cư dân địa phương phải là chủ thể của lễ hội Điều này sẽ tránh được việc biến chủ thể của lễ hội là cư dân địa phương thành những khán giả đơn thuần, chỉ đứng bên ngoài để xem hội

Thứ tư, cần có sự quản lý khung của nhà nước để kiểm tra, giám sát, đôn đốc

công tác quản lý, tổ chức, bảo tồn lễ hội nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của

du lịch lễ hội Đồng thời ban tổ chức lễ hội nên xây dựng chính sách đầu tư, thu hút đầu tư, chủ động tìm kiếm các nguồn tài trợ, để có kinh phí tổ chức, phục vụ lễ hội

mà không cần dựa vào ngân sách nhà nước

Thứ năm, cần làm tốt công tác thông tin, truyền thông để người dân bản địa

và du khách luôn được cập nhập những thông tin mới nhất về kế hoạch, cách thức tổ chức, quản lý, của ban tổ chức

Thứ sáu, quy hoạch đồng bộ và có hệ thống cở sở hạ tầng để phát triển du

lịch lễ hội, đối với việc tôn tạo, trùng tu, bảo tồn các di tích, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể để phát triển du lịch lễ hội cần nghiêm túc nghiên cứu lịch sử một cách chi tiết và cẩn thận để có thể trùng tu, tôn tạo mà không làm “lai căng”, biến dạng văn hóa

Trang 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt cộng đồng mang đậm bản sắc văn hóa riêng của mỗi vùng miền, là nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là tài nguyê để thu hút du lịch văn hóa Lễ hội có sự da dạng và phong phú về nội dung, hình thức, bao gồm lễ hội truyền thống và hiện đại được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau tùy theo đặc điểm từng lễ hội

Du lịch lễ hội là hoạt động du lịch dựa trên nền tảng lễ hội Khi nghiên cứu

du lịch lễ hội để phát triển du lịch cần quan tâm đến những nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội và vai trò của lễ hội đối với sự phát triển của du lịch

Lễ hội ở Khánh Hòa tuy ít nhưng mang trong nó những giá trị văn hóa độc đáo, hầu hết các lễ hội đều gắn kết với một hoặc nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh có sức hấp dẫn khách du lịch Thời gian diễn ra lễ hội hầu hết vào tháng Hai đến tháng Bảy âm lịch, đây cũng là thời gian du lịch cao điểm của Khánh Hòa Đây là tiềm năng to lớn để phát triển loại hình du lịch lễ hội

Việc phát triển du lịch lễ hội cần có sự phối hợp của tất cả các ban ngành, các cơ quan và sự tham gia của cộng đồng địa phương Qua kinh nghiệm hoạt động

du lịch lễ hội tại Thừa Thiên - Huế và một số quốc gia khác trên Thế giới cho thấy giá trị văn hóa của lễ hội chính là nền tảng để phát triển du lịch lễ hội Phát triển du lịch lễ hội góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của địa phương và của dân tộc

Trang 31

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ DU LỊCH LỄ HỘI TRUYỀN

THỐNG TẠI KHÁNH HÒA 2.1 Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh Ngày 30/3/1977, thị

xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha Trang Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sáp nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh Vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII (kỳ họp thứ năm) lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên

và Khánh Hòa Về tổ chức hành chính hiện nay, tỉnh Khánh Hòa có 2 thành phố là Nha Trang, Cam Ranh, 1 thị xã Ninh Hòa và 6 huyện: Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm, Vạn Ninh và huyện đảo Trường Sa

2.1.2 Các điều kiện tự nhiên

Khánh Hoà là một tỉnh ven biển Duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 5.197 km2 (kể cả các đảo, quần đảo), bao gồm thành phố Nha Trang và 08 huyện, thị xã Là địa phương có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường sinh thái biển; khí hậu Khánh Hoà rất

ôn hoà, quanh năm nắng ấm; mùa mưa ngắn và hàng năm rất ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết bão, lụt

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 260C Biển Khánh Hoà với những danh lam thắng cảnh kỳ thú, với nhiều bãi tắm đẹp như Đại Lãnh, Nha Trang, Bãi Dài Cam Ranh, Đầm Môn, Đầm Nha Phu, Bãi Trũ - Đầm Già, Dốc Lết và còn nhiều bãi tắm

Trang 32

đẹp trên các đảo…, có ba vịnh được xếp vào hàng đẹp nhất nước và nổi tiếng thế giới là Nha Trang, Cam Ranh và Vân Phong, trong đó vịnh Nha Trang đã được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới

2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội

Dân cƣ – Lao động

Dân số tỉnh Khánh Hòa là 1.231.107 người (theo số liệu điều tra đến ngày 4/2019) với 32 dân tộc đang sinh sống (Kinh, Raglai, Hoa, Ê-đê, Cơ-ho, một nhóm nhỏ dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ ), trong đó Kinh

1-chiếm 95%; dân tộc Raglay 3,4%; dân tộc Hoa 0.86%; dân tộc Cơ-ho 0,34%; Êđê 0,25% Mật độ dân số toàn tỉnh là 400 người/km²; tỷ lệ tăng dân số của tỉnh bình quân từ năm 1999-2009 là 1,1%

Theo điều tra biến động dân số năm 2019, Khánh Hòa có 520.008 người sinh sống ở khu vực đô thị (42,2% dân số toàn tỉnh) và 711.099 người sống ở khu vực nông thôn (57,8%)

Về lao động, tính đến năm 2011, tổng dân số trong độ tuổi lao động có 81,44% dân số Trong đó, tổng số lượng người đang làm việc toàn tỉnh là 587.7 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,65%; tỷ lệ việc làm trên dân số của dân số trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn là 3,22%

Cơ cấu kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tinh (theo giá so sánh 2010) năm 2018 được 54.071,66 tỷ đồng, tăng 7,02% so năm 2017: GRJDP phân theo ngành kinh tế tăng 7,07% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,71% Trong tổng mức tăng 7,07% của toàn tỉnh, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 3,08 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,19%, đóng góp 4,45 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 4,19% đã làm giảm 0,46 điểm phần trăm

Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2018, do ảnh hường từ cơn bão

số 12 đã gây thiệt hại nặng đến sản xuất nông nghiệp, trong đó thiệt hại về cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm cho đến nay đã được người dân dần khắc phục và tái đầu tư nhưng một số cây chủ lực vẫn cho sản lượng giảm so năm 2017, đặc biệt đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản nên GRDP khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy

Trang 33

sản giảm 4,19%, trong đó ngành thủy sản giảm 6,94%, ngành lâm nghiệp tăng tăng 31,13% nhưng chiếm tỳ trọng khá thấp

Khu vực Công nghiệp và Xây dựng: Ngành công nghiệp tăng 7,19% chủ yếu

từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, riêng ngành công nghiệp khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm lần lượt là: 27,22% và 3,81%; ngành xây dựng có mức tăng trường khá, tăng 15,62%

Khu vực Dịch vụ: Là ngành có đóng góp quan trọng vào mức tăng trường chung, một số ngành có mức tăng trường khá như: Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 8,92%; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,99%; vận tải, kho bãi tăng 7,14%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 10,36%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 8,11%

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018: Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm

tỷ ừọng 9,81%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 31,06%, ngành dịch vụ chiếm 47,4%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 11,73%

2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông

- Cùng với sự phát triển kinh tế– xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc đã được cải thiện đáng kể, có tác dụng tích cực đến sự phát triển du lịch của địa phương, góp phần tăng khả năng vận chuyển khách, khả năng tiếp cận các điểm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi trong sinh hoạt của du khách và là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển du lịch trong thời gian tới

- Đường hàng không: liên hệ giao thông hàng không đến tỉnh Khánh Hoà qua các cảng hàng không Nha Trang, Cam Ranh Sân bay Nha Trang có một đường băng rộng 45m, dài 1.950m, là sân bay nhỏ, hiện nay chỉ phục vụ cho các máy bay quân sự nhỏ Tháng 6/2004, sân bay Cam Ranh với một đường băng dài 3.080m, là sân bay đã được đưa vào sử dụng vận chuyển hành khách thay thế cho sân bay Nha Trang, và sắp tới nó được nâng cấp lên thành sân bay quốc tế

- Đường sắt: tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy dọc tỉnh Khánh Hoà dài khoảng 149,2 Km với ga Nha Trang là ga chính, có qui mô lớn, làm nhiệm vụ trung

Trang 34

chuyển hành khách và hàng hoá từ Lâm Đồng, Buôn Mê Thuộc tới các tỉnh phía Bắc và phía Nam Tuyến đường sắt qua Nha Trang là một trong những phương tiện quan trọng vận chuyển khách du lịch

- Đường biển: Khánh Hoà có 385 Km bờ biển với nhiều điều kiện thuận lợi

để thiết lập cảng biển, hệ thống cảng biển trên địa bàn tỉnh bao gồm cảng cát Đầm Môn, cảng Hòn Khói, cảng Ba Ngòi nằm trong vịnh Cam Ranh, cảng Nha Trang hiện được sử dụng là cảng đa chức năng phục vụ vận tải hành khách và chuyển tải hàng hoá các loại

- Đường bộ: trên địa bàn Khánh Hoà có nhiều tuyến quốc lộ đi qua như quốc

lộ 1A chạy dọc bờ biển tỉnh Khánh Hoà, quốc lộ 26 nối tỉnh Khánh Hòa với thành phố Buôn Mê Thuột Hiện nay tuyến đường Khánh Lê – Lâm Đồng qua địa phận huyện Khánh Vĩnh đang được nâng cấp, do đó tương lai nó sẽ là hành lang lưu thông trực tiếp từ Nha Trang, Diên Khánh đi Đà Lạt

Tuy nhiên, hệ thống đường bộ, đường thủy dẫn đến các khu du lịch mới chưa được đầu tư hay đầu tư chưa đồng bộ nên giảm đi tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư

Hệ thống thông tin liên lạc

Khánh Hòa hiện đang sử dụng hệ thống tổng đài điện tử kỹ thuật hiện đại, các huyện đều có tổng đài số, mạng điện thoại phủ kín 100% các xã Hầu hết các mạng điện thoại di động và internet băng tầng rộng cũng được đầu tư và sử dụng rãi

ở thành phố Nha Trang cũng như ở các huyện thị trong toàn tỉnh, do đó rất thuận lợi trong thông tin liên lạc của du khách Hệ thống phát thanh truyền hình từ tỉnh đến huyện, xã đều được đầu tư nâng cấp, cải tạo Đến nay, 100% xã có trạm truyền thanh; 95% địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh, truyền thanh, truyền hình

Hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng

Khánh Hòa cũng là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển hệ thống ngân hàng thương mại nhanh nhất trong cả nước Các ngân hàng thương mại đã chú trọng hơn trong việc cung cấp các sản phẩm mới với chất lượng, cũng như phát triển hệ thống thu đổi ngoại tệ, hệ thống rút tiền tự động đã đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đã tạo nên

Trang 35

một kênh huy động vốn không thể nào thiếu đối với nền kinh tế nói chung và các nhà đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa nói riêng

2.2 Hoạt động du lịch của tỉnh Khánh Hòa

2.2.1 Các điều kiện để phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa

2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Khánh Hoà nổi tiếng về cảnh đẹp thiên nhiên Bên cạnh đó, Khánh Hoà là tỉnh nằm ở một trong các cửa ng ra biển của duyên hải nam Trung Bộ, Tây Nguyên và lục địa châu Á, lại không xa thành phố Hồ Chí Minh nên có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch

Năm 2003, Nha Trang được thế giới công nhận là một trong 29 vịnh gia nhập câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới Bờ biển Nha Trang có nhiều bãi tắm đẹp, từ đầm Nha Phu đến Lương Sơn, bãi Tiên, cầu Đá, sông Lô và hàng loạt bãi tắm tạo nên các cụm công trình, các loại hình dịch vụ du lịch vui chơi, tắm biển được trang bị tiện nghi cao cấp Cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, đặc biệt là vịnh Vân Phong được xem là một trong những điểm du lịch đẹp nhất Việt Nam và có tầm cỡ thế giới, có điều kiện đầu tư để phát triển kinh tế đa ngành, trở thành khu du lịch sinh thái tầm cỡ Hệ thống khách sạn và cấu trúc hạ tầng đã có sẽ được cải tạo và xây dựng mới… tạo cho thành phố Nha Trang nói riêng và Khánh Hoà nói chung có lợi thế để phát triển mạnh ngành du lịch, đặc biệt là ngành du lịch sinh thái biển Một số địa điểm du lịch biển đảo nổi tiếng tại Khánh Hòa: Vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, đầm Nha Phu, Hòn Lao, Hòn Thị, Hòn Tre, Hòn Tằm, khu bảo tồn biển Hòn Mun…

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có trên 1000 di tích và địa điểm có dấu hiệu di tích (thành phố Nha Trang: 227, huyện Diên Khánh: 296, thị xã Ninh Hòa: 281, huyện Vạn Ninh: 149, thành phố Cam Ranh: 69, huyện Cam Lâm: 49, huyện Khánh Vĩnh: 20, huyện Khánh Sơn: 7) Đến thời điểm 30/12/2019, số lượng các di tích lịch

sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được xếp hạng là:

129 di tích cấp tỉnh và 13 di tích cấp quốc gia, bao gồm các loại hình: di tích lịch

Trang 36

sử, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh Một số di tích đã trở thành những địa danh du lịch nổi tiếng như Tháp Bà Ponagar, thành cổ Diên Khánh, Hội quán vịnh Nha Trang, bia V Cạnh, miếu Ông Thạch, Am Chúa, chùa Long Sơn, lầu Bảo Đại, quần thể di tích lưu niệm A.Yersin, đồi Trại Thủy, cầu Xóm Bóng

- Các tháp Chăm

Khánh Hòa còn có quần thể tháp Chăm Ponagar Nha Trang là một trong những quần thể kiến trúc có quy mô lớn nhất của người Chăm Nó từng là khu đền thờ uy nghiêm nhất của tộc người này Nét đặc sắc của tháp Chăm không chỉ thể hiện ở kiến trúc độc đáo, chất liệu xây dựng và khả năng thi công mà nó còn phản ánh r tín ngưỡng thờ mẫu của người Chăm Trải qua hàng trăm năm, tháp Chăm dù

bị bào mòn ít nhiều những vẫn hiện hữu đầy đủ những giá trị vô giá

Ngoài sự tồn tại của những kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, khu di tích Tháp Bà còn bảo tồn được hệ thống bia ký được viết bằng chữ Sanscrit

và chữ Chăm cổ khá lớn, khoảng 28 đơn vị minh văn Đó là một giá trị đặc biệt mà đến nay không phải di tích đền tháp Chămpa nào cũng có được

- Bia đá Chăm: Bia V Cạnh cũng là một trong những bia ký cổ tìm được ở Khánh Hòa và nổi tiếng nhất có từ thời vua Sri Mara của dân tộc Chăm…Ngoài ra còn có bia Lệ Cam I và Lệ Cam II cũng mang những yếu tố lịch sử vô cùng giá trị

- Các chùa chiền, đình miếu, lăng tẩm: Khánh Hòa là tỉnh có nhiều chùa chiền và có khá nhiều ngôi chùa cổ Những ngôi cổ tự còn lại ở Khánh Hòa có thể

kể đến như: Chùa Cát (1680) ở Phương Sài – Nha Trang, chùa Bửu Phong (1683) ở Ninh Hòa, chùa Quan Thánh hay còn gọi là chùa Trăm bậc (1753) ở Phước Hải – Nha Trang, chùa Linh Sơn (1761) ở thôn Hiền Lương - Vạn Ninh, chùa Hải Đức (dựng lại vào cuối triều Tự Đức) ở Phương Sơn – Nha Trang, Long Sơn tự (1889) nằm dưới sườn Nam đồi Trại Thủy, hiện còn là trụ sở của Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa và Trường trung cấp Phật học Khánh Hòa Trên đỉnh phía Đông đồi Trại Thủy, ngay trên chùa Long Sơn có tượng Kim thân Phật Tổ, còn gọi là tượng Ông Phật Trắng, trong chùa còn có tượng Phật bằng đồng cao 1,60cm, nặng 700kg

Tỉnh Khánh Hòa từ thời xưa cũng xây dựng những đàn tế trời đất, tế núi sông, quỷ thần dành riêng cho giai cấp cai trị địa phương Tuy nhiên, trải qua nhiều

Trang 37

thăng trầm lịch sử, các đàn này hiện nay đã không còn lại dấu tích: Đàn Xã Tắc (cửa Tây thành Diên Khánh) dựng năm Minh Mạng thứ 13 (1832) là hình ảnh thu nhỏ của Đàn Xã Tắc tại Kinh Đô Huế, Đàn Tiên Nông (cửa Đông thành Diên Khánh) tế Thần Nông xây năm Minh Mạng thứ 13…

Về đình, đền, miếu có văn miếu Diên Khánh, miếu Trịnh Phong, miếu Cây Dầu Đôi, miếu Cây Me, đền thờ Trần Quý Cáp (Diên Khánh), lăng Bà Vú (Ninh Hòa), đình Phú Cang (Vạn Ninh), Am Chúa (Diên Khánh), di tích Phủ đường Ninh Hòa…

- Công trình kiến trúc dân gian:

Trong quá trình phát triển của lịch sử, các thế hệ cư dân Khánh Hòa đã đã sáng tạo ra các công trình kiến trúc độc đáo, những di tích lịch sử - văn hóa có giá trị như đình, đền, chùa, tháp, miếu mạo, thành cổ… Khánh Hòa có hai kiểu nhà truyền thống điển hình, một của đồng bào dân tộc thiểu số, một của người Kinh Nhà sàn là kiến trúc truyền thống của các dân tộc thiểu số có kết cấu khung cột với hai thành tố chính là cột-xà, lấy liên kết dọc là chính Trong khi đó, người Việt đến

tụ cư ở Khánh Hòa từ thế kỷ XVII mang theo những kiểu nhà ba gian hai chái và phong tục - tập quán của tổ tiên ngàn đời nay

Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

Khánh Hòa có đầy đủ tất cả các loại hình như diễn xướng dân gian, nghề thủ công truyền thống, ngữ văn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng, tri thức dân gian, lễ hội truyền thống, bao gồm:

- Tôn giáo, tín ngưỡng

Đặc trưng của văn hóa tín ngưỡng cư dân vùng duyên hải là tục thờ các vị thần bảo trợ ngư nghiệp Các nghi lễ, nghi thức thờ cúng các vị thần biển, thờ thành hoàng bảo trợ nghề biển, thờ Thủy Long thần nữ…

Tâm thế hướng biển còn được thể hiện qua các nghi lễ thờ cúng Cá Ông (cá Voi) và thờ cúng Pô Nagar Dòng tâm thức này không những không bị mai một mà còn được đẩy mạnh và lan rộng hơn khi người Việt tiếp quản vùng đất Khánh Hòa vào khoảng giữa thế kỷ XVII

Thờ cá Ông nằm trong tín ngưỡng thờ cúng các thần linh biển cả của các nhóm cư dân ven biển nói chung và ngư dân Khánh Hòa nói riêng Người dân biển

Trang 38

gọi cá Ông là Thần Nam Hải (Nam Hải đại vương hay Nam Hải đại tướng quân) và được vua Gia Long thời triều Nguyễn ban sắc phong cho mỹ hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Có thể nhận thấy ở Khánh Hòa, bên cạnh những kiến trúc Lăng thờ cá Ông mang tính chuyên biệt, cá Ông còn được phối thờ ở vị trí trang trọng trong rất nhiều loại hình kiến trúc thờ tự khác tại các vùng ven biển như đình, am, miếu

“Khi Ông sắp chết thường vào các cửa biển, lạch để được ngư dân chôn cất đàng hoàng, sau đó lấy xương lau sạch bằng rượu, bỏ vào quách, vạn lạch xây lăng cúng thờ” và “lăng thờ cá voi thường xây ở địa thế cao, thoáng, hướng ra biển, có tường bao quanh, xây dựng như một quần thể Ở giữa là chánh điện, trang trí hàng lỗ bộ

uy nghi, điện thờ, sau đó là quách đựng xương Ông Bên tả thờ bà Thiên Y Ana thánh mẫu Bên hữu thờ bà Vạn Lạch Giang rộng thờ Tiển Hiền…” (Nguyễn Tứ Hải 1999: 165)

Nếu thờ cúng cá voi là tín ngưỡng chung của cư dân vùng ven biển thì thờ cúng PoNagar lại là tín ngưỡng riêng của dân tộc Chăm thờ phụng “Thần mẹ xứ sở” của họ Cùng với quá trình di cư của người Việt vào miền Trung trong lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng Pô Nagar cũng mai một dần, chỉ riêng ở Khánh Hòa, tín ngưỡng thờ PoNagar của người Chăm đã tích hợp với tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt và tiếp tục được phát triển mạnh mẽ trong hình hài Thiên Y Ana thánh mẫu

Thiên Y Ana hiện được thờ ở các am, miếu, đình, chùa… trong các làng xã

và đặc biệt là được thờ tại cụm di tích Tháp Bà - Nha Trang và Bà luôn ngự trị ở vị trí trung tâm, trang trọng nhất trong thần điện Đối với người Việt, Thiên Y Ana là

vị phúc thần bảo hộ trên nhiều lĩnh vực của nhiều nhóm cư dân khác nhau: Với ngư dân, Bà là vị thánh phù hộ cho nghề cá và ngư dân (như ở Cam Lâm, Cam Ranh, Vạn Ninh…); Với nông dân (Diên Khánh, Ninh Hòa…) Bà là Thánh mẫu dạy cho dân biết trồng trọt, phù hộ mùa màng; Với thị dân (Nha Trang, các thị trấn, thị tứ)

Bà là vị phúc thần phù hộ cho họ buôn may, bán đắt; Với cư dân khai thác lâm sản, đặc biệt là trầm hương và kỳ nam thì Bà là Bà chúa Trầm hương; Còn cư dân khai thác tổ yến ở các đảo ngoài khơi thờ bà là Bà chúa đảo Yến… Hầu như trong tất cả mọi ngành, nghề ở Khánh Hòa đều in đậm tín ngưỡng thờ Bà với tư cách là vị Bổn cảnh thành hoàng (Vị thần bản địa) Do vậy, mỗi khi tiến hành cúng đình, lăng ở

Trang 39

các làng chài ven biển bao giờ cũng kèm theo việc cúng tế Bà một cách trang trọng Trong ngày lễ hội vía Bà (21 đến 23/3 âm lịch) hoặc trong lễ mộc dục cho Thánh Mẫu (22/7 và 20/12 âm lịch), ngư phủ khắp nơi lại về Tháp Bà ở thành phố Nha Trang xin nước tắm tượng Bà về đổ lên những tấm lưới hoặc thuyền để lấy may mắn cho cuộc ra khơi

Về tôn giáo, hiện nay ở Khánh Hòa có đạo Phật, Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài là những tôn giáo chính Người Chăm ở Khánh Hòa có tôn giáo riêng là Bà La Môn giáo mà biến thái là Chăm Bàni Khu tháp PoNagar một thời đã từng là khu đền thờ tối cao của tôn giáo này, của dân tộc Chăm suốt dải đất Trung Trung Bộ và nam Trung Bộ ngày nay, hiện tại vẫn là một trong những biểu tượng đặc trưng nhất của miền đấy này nói chung và của Nha Trang - Khánh Hòa nói riêng

Phật giáo được truyền vào Khánh Hòa ngay từ khi vùng đất này trở thành Dinh Thái Khang của chúa Nguyễn năm 1653 Phật giáo Khánh Hòa thuộc Phật giáo Đại thừa, do các Thiền sư phái Lâm Tế thuộc dòng Đạo Mân và Liễn Quán truyền đạo và tạo dựng

Giáo hội công giáo Việt Nam lấy ngày 01/09/1671 là ngày đạo Thiên Chúa được truyền bá vào Khánh Hòa Toàn tỉnh hiện nay có trên 45 giáo xứ, trong đó giáo hạt Nha Trang có khoảng 29 giáo xứ, giáo hạt Cam Ranh có khoảng 16 giáo

xứ Toàn tỉnh có 48 nhà tu, 16 nhà nguyện, trong đó có nhà thờ Đá Nha Trang trên đỉnh Núi Một xây dựng năm 1930 -1935 là nhà thờ Chánh Tòa của giáo phận Nha Trang, được coi là một điểm du lịch hấp dẫn cả về cảnh quan thiên nhiên và nghệ thuật kiến trúc, lại tọa lạc trên một đỉnh núi trong “tứ thú tụ” là rùa vàng, “Kim Quy đới tháp” (Rùa vàng đội tháp) của Nha Trang, được khách du lịch và các tín đồ Công giáo trong và ngoài nước rất năng lui tới làm lễ và thăm viếng

Ngoài ra còn có đạo Cao Đài du nhập vào Khánh Hòa vào những năm 40 thế

kỷ XX và đạo Tin Lành truyền vào Khánh Hòa vào những năm 20 của thế kỷ XX

- Phong tục, tập quán

Trải qua thăng trầm của lịch sử, với sự pha trộn văn hóa người Chăm bản địa với lưu dân từ ngoài Bắc vào cùng với các dân tộc thiểu số khác như Raglai, Ê đê, Gié Trieng, người Hoa… đã để lại cho vùng đất này bản sắc văn hóa rất đặc thù, thể

Trang 40

hiện sự tiếp biến văn hóa Việt – Chăm qua tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Y A Na, tục thờ cúng Lỗ Lường ở Hòn Đỏ (Ninh Hòa), Hòn Nhàn (Cam Ranh), bãi Giám (Vạn Ninh), tục thờ Thành Hoàng, các bậc Tiền hiền, Hậu hiền và lễ hội cúng đình làng Việt, tục thờ Ông Nam Hải (cá voi)

Về tục thờ cúng Lỗ Lường là tục thờ cách đây khoảng ba trăm năm tại Khánh Hòa ở sở đầm Hòn Đỏ (vịnh Vân Phong – Ninh Phước – Ninh Hòa, cách đất liền thôn Mỹ Giang khoảng 10km, diện tích khoảng 5km) và vài sở đầm khác hiện nay vẫn còn tục lệ thờ cúng này Trên đảo có một hang nhỏ, ngư dân gọi là hang Lỗ Lường Miệng hang rộng trên 3m, sâu hơn 1m Bên phải là một tảng đá to, vách đứng có kẻ nứt rộng khoảng 6cm tượng trưng cho âm vật của nữ giới, ngư phủ gọi trại là “Lỗ Lường”, kẻ nứt bị đá nằm trên miệng hang che khuất phần trên, chỉ còn lại trong hang một đoạn cao chừng 70cm Hai bên kẻ nứt có mặt đá bằng phẳng, có dấu vôi trắng do ngư phủ phết lên vào đầu mùa cá Xa xưa, ngư dân có tục thiêu sống đồng nam (thường mua trẻ người dân tộc) để tế thần như ở Hòn Một (Nha Trang), Hòn Nhàn Sau này tục bị cấm nên thay thế bằng lễ tam sinh (bò, heo, dê làm thịt sạch sẽ nhưng để sống nguyên con), ngày nay thì chỉ tế bằng đồ nấu nướng thông thường

Ngoài những tục thờ cúng trên, ngư dân miền biển thường có những kiêng kỵ một số điều, tin rằng “có kiêng có lành”, tránh được những điều xui xẻo, bất hạnh trong ngành nghề như: không đánh bắt cá voi, gọi cá voi và Ông (Bà), gọi loài rùa lớn là Bà Tím, loại đẻn là Bà Lạch, khi mới ra ng đi biển tránh không gặp đàn bà (nhất là đàn bà có chửa), không để dao làm cá rơi xuống biển, không được lật nửa phần bên con cá đã ăn, không được nói từ lật, không được ăn mít… Trong quá trình làm lễ Cầu Ngư, ngư dân không được ăn nói bất kính, không cãi lộn, không say rượu quấy phá Người được cử vào ban tế lễ trong lễ Cầu Ngư cũng được chọn lọc

kỹ càng, không có tang, đủ vợ chồng, gia đình êm ấm, ăn nên làm ra, vợ không có mang, bản thân không khuyết tật, trai giới trước 03 ngày hành lễ Trong khi lấy ngọc cốt, nếu có mùi hôi thối, ngư dân đi thỉnh về lăng không được có hành động khó chịu như nhổ nước bọt, nhăn mặt, nói lời than phiền…

Ngày đăng: 30/11/2020, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm