1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH QUỐC tế một CHƯƠNG TRÌNH cải CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN

38 285 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngăn Ngừa Khủng Hoảng Tài Chính Quốc Tế Một Chương Trình Cải Cách Chưa Toàn Diện
Tác giả Doãn Quốc Chinh, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Vũ Hiệp, Tô Thị Hồng Gấm, Nguyễn Từ Nhu
Người hướng dẫn PGS TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 375,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

1 Doãn Quốc Chinh

2 Nguyễn Thị Thúy Hằng

3 Vũ Hiệp

4 Tô Thị Hồng Gấm

5 Nguyễn Từ Nhu

TP Hồ Chí Minh, Tháng 4/2010

Trang 2

NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ MỘT CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN

Được viết bởi Jean Dermine Giáo sư Tài chính – Ngân hàng INSEAD, Fontainebleau Ngày 13 tháng 5 năm 2009

Trang 3

Phần Tóm tắt

Sau khi xem xét vắn tắt lại về nguồn gốc của những cuộc khủng hoảng cho vay dướichuẩn, chúng ta rút ra kết luận rằng toàn bộ những cải cách được đề xuất gần đây bởinhững quốc gia và tổ chức quốc tế nhằm giảm bớt rủi ro của những cuộc khủng hoảngngân hàng toàn cầu là một chương trình cải cách chưa toàn diện Ba vấn đề quan trọngcòn lại theo quan điểm của chúng tôi cần phải chú tâm là:

- Trách nhiệm của những nhà giám sát ngân hàng và những nhà điều chỉnh

- Đoạn kết của tư tưởng “quá lớn để phá sản”

- Một chế độ đầy đủ về giám sát và cứu trợ tài chính những tổ chức tài chính quốctế

Trang 4

Phần mở đầu

Trong bài này chúng ta rút ra kết luận rằng toàn bộ những cải cách được đề xuất gầnđây bởi những quốc gia và tổ chức quốc tế để giảm bớt rủi ro của những cuộc khủnghoảng ngân hàng toàn cầu là một chương trình cải cách chưa toàn diện Ba vấn đề quantrọng còn lại theo quan điểm của chúng tôi cần chú tâm là:

- Trách nhiệm của những nhà giám sát ngân hàng và những nhà điều chỉnh

- Đoạn kết của tư tưởng “quá lớn để phá sản”

- Một chế độ đầy đủ về giám sát và cứu trợ những tổ chức tài chính quốc tế

Để chuyên tâm vào những vấn đề nêu trên, trước hết chúng ta xem xét lại một cáchngắn gọn nguồn gốc của ngân hàng và những nhân tố góp phần vào khủng hoảng cho vaydưới chuẩn Điều này sẽ giúp đánh giá sự thay đổi trong những quy định và cơ sở hạ tầngcủa thị trường tài chính được đề xuất bởi nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế khác nhau.Sau đó, điều này sẽ chỉ ra tại sao những đề xuất mặc dù có ích này lại không có hiệu quảtrong việc làm giảm đáng kể những rủi ro của một cuộc khủng hoảng ngân hàng trongtương lai

1 Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 và chương trình cải cách

Để hiểu được căn nguyên của khủng hoảng tài chính năm 2007 và những biện phápđược đề nghị để làm giảm khả năng xảy ra khủng hoảng trong tương lai, đầu tiên ta cầnnắm được những sự phát triển trong thị trường ngân hàng như sự hình thành của ngânhàng hiện đại tại Ý vào thế kỷ 15, những thị trường liên ngân hàng, chứng khoán hóa vàthị trường bảo đảm rủi ro tín dụng

Hình 1: Khi chưa có hệ thống ngân hàng

Trang 5

Sự hình thành ngân hàng

Hãy quay lại thời kỳ 3000 năm trước đây, lúc không có ngân hàng và cũng không cókhủng hoảng tài chính Theo hình vẽ 1 thì việc đầu tư vào 1 căn nhà thì phải được tài trợbằng tài sản của 1 người (vốn của gia đình) hoặc là qua 1 khoản vay từ một người bạn.Khi giá trị của căn nhà sụt giảm một khoản là 10 sẽ dẫn đến vốn gia đình sụt giảm 10theo

Hình 2: Không có ngân hàng và Bất động sản giảm giá 10

Mặc dù điều này cho phép có được sự minh bạch thì lại không hiệu quả cho hệ thống

vì nó không thuận tiện trong việc huy động tiết kiệm và tài trợ cho việc đầu tư thực sự.Ngân hàng hiện đại ở Châu Âu được hình thành vào năm 1406 ở Italy (Ngân hàng Banco

di San Giorgio được thành lập ở Genoa nhiều năm trước khi Ngân hàng lâu đời nhất còntồn tại là Banca Montei di Paschi được thành lập vào năm 1472 ở Siena 1)

Hình 3: Sự tài trợ của Ngân hàng

Trang 6

Như được chỉ ra trong hình 3 thì tiền gửi ngắn hạn (thu hút những người gửi tiền tiếtkiệm) thì lại được đầu tư vào những khoản vay dài hạn hơn (hấp dẫn những người đivay) Hãy tưởng tưởng hệ thống sẽ như thế nào nếu việc mua một căn nhà được tài trợbằng một khoản vay ngắn hạn, người đi vay sẽ phải vay lại khoản tiền này mỗi năm Điềunày liên quan đến vai trò chuyển đổi thời gian đáo hạn của ngân hàng hoặc là sự cung cấp

về bảo đảm thanh khoản trong kinh tế hiện đại (Diamond-Dybvig, 1983; Allen and Gale,2007) Người gửi tiền có thể rút được tiền bất kỳ khi nào cần 2 Hơn thế nữa ngân hàngcòn thể hiện một vai trò hữu ích trong việc thẩm định và kiểm tra người đi vay.Diamond(1984) đã chỉ ra rằng sự đa dạng hóa rủi ro làm giảm rủi ro tổng thể của ngânhàng, giảm rủi ro cho người gửi tiền và giảm chi phí giám sát ngân hàng Từ khi ngânhàng hiện đại được hình thành vào thế kỷ 15 thì hệ thống ngân hàng vốn đã dễ bị đổ vỡnếu người gửi tiền bỏ đi và ngân hàng không thể bán được những khoản vay kém thanhkhoản Vì lý do này nên ngân hàng phải chịu những quy định chặt chẽ và thực sự an toàn,bao gồm sự hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương hay hệ thống bảohiểm tiền gửi Những người du lịch ở Brazil, Nam Phi hay Nga thời gian gần đây sẽ gặpđược những nhân viên ngân hàng nhiều kinh nghiệm Sự vắng bóng của hoạt động ngânhàng trong 80 năm qua tại những nước trong khối OECD thì đúng là một ngoại lệ Việcquan sát thấy những quy định và giám sát trong hệ thống ngân hàng không đủ hiệu quả đểngăn chặn cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2007 đã đặt ra câu hỏi liệu có cần thiếtnhững quy định và mô hình giám sát mới hay là tiếp tục thi hành những quy định đangtồn tại

Khi nhu cầu cho vay tăng lên thì ngân hàng thiếu tiền và bắt đầu đi vay ở các ngânhàng khác, thường là ở một quốc gia khác Ví dụ như trường hợp ngân hàng Iceland vaytiền của các ngân hàng Đức Một cách khác để tạo ra tiền cho vay là chứng khoán hóa cáckhoản vay và bán cho các nhà đầu tư Điều này được mô tả trong hình 4

Trang 7

Hình 4: Ngân hàng, thị trường liên ngân hàng và hoán đổi nợ xấu tín dụng (CDs)

Do vấn đề thông tin bất cân xứng (ngân hàng biết nhiều hơn về chất lượng của cáckhoản vay so với nhà đầu tư) nên chứng khoán hóa không bao giờ là một vấn đề dễ dàng.Những nhà thiết kế tài chính phát hành những chứng khoán bảo đảm bằng tài sản ở cáccấp độ khác nhau: loại được ưu tiên trả nợ, loại trả nợ sau cùng (thứ cấp) hoặc loạichuyển đổi và loại chứng khoán vốn Loại chứng khoán được ưu tiên trả nợ thì được táchbạch khỏi những khoản cho vay thua lỗ vốn được bảo đảm bởi loại chứng khoán trả nợsau cùng (thứ cấp) và chứng khoán vốn Một câu hỏi được đặt ra đối với quy mô của cácloại chứng khoán trả nợ sau cùng và vốn cổ phần cần thiết để bảo đảm cho các khoản chovay thua lỗ (mặc dù không mong đợi) Sự tiến bộ trong thống kê và dự báo tín dụng(Vasicek, 1987 and 2002) cho phép dự báo sự phân phối của những thua lỗ trong mộtdanh mục tín dụng Sau cùng thì những hãng xếp hạng được mời để xếp hạng các khoảnphát hành này Lưu ý rằng chứng khoán hóa không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới.Các tập đoàn được bảo trợ của chính phủ Mỹ (GSEs) và Fannie Mae & Freddie Mac đãtừng chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp có chất lượng tốt tại Mỹ trong nhiều năm.Cái mới là trong giai đoạn 2003-2007 chứng khoán hóa đã gia tăng các loại tài sản nhiềurủi ro bao gồm cả các khoản vay dưới chuẩn (Calomiris, 2007; Gorton, 2008) Giá trịchứng khoán hóa đạt tới 2000 tỷ USD trong năm 2007, bao gồm cả 70% của nhữngkhoản cho vay dưới chuẩn tại Mỹ phát hành gần đây

Sự hình thành công cụ hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS)

Sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm tín dụng là một loại sau cùng của việc cáchtân tài chính, nhờ đó một bên tham gia sẽ cung cấp bảo hiểm đảm bảo cho những khoảnvỡ nợ (hoặc là xuống cấp) của bên kia Thị trường đã tăng trưởng từ mức 8.000 tỷ USD

Trang 8

vào năm 2004 lên 45.000 tỷ USD vào năm 2007 Nhìn vào hình 4, thật hữu ích khi nhớrằng những thị trường tài chính (các tài sản tài chính và các quyền) chỉ là sự phản ánh củanhững tài sản thực sự (bất động sản, những tài sản công nghiệp) trong một nền kinh tế.Khi thị trường nhà đất giảm 10 thì thật khó để ước tính tác động của nó đến giá trị vốncủa ngân hàng, đến giá trị của một tài sản chứng khoán hóa hay giá trị của CDs Nói mộtcách khác là những cách tân chuyển đổi tín dụng này đã gia tăng đáng kể sự phức tạp vàthiếu minh bạch trong thị trường

Trên thực tế, dường như do sự làm ngơ của các nhà điều chỉnh nên rất nhiều nhữngquỹ chứng khoán hóa này (Structured Investment Vehicles – SIVs) đã làm liên lụy đếnviệc tài trợ tài sản dài hạn bằng các giấy nợ ngắn hạn (giấy nợ ngắn hạn hạn bảo đảmbằng tài sản) Theo kế hoạch là giấy nợ ngắn hạn sẽ được quay vòng tiếp khi đến hạn.Chú ý rằng đây là một cấu trúc tài chính tương tự như của một ngân hàng với tài sản dàihạn được tài trợ bởi các nguồn tiền ngắn hạn Một sự khác biệt chủ yếu là những khoảntiền ngắn hạn này thì có tính bất ổn cao khi không được bảo đảm bởi một công ty bảo

hiểm nhà nước Hệ thống mới này được gán khá chính xác là “Ngân hàng đầu tư” Vào

tháng 7 năm 2007 Ngân hàng đầu tư Bear Stearns của Mỹ phải nhảy vào cho vay lại mộtnhững SIV hàng đầu của nó, High-Grade Structured Credit Strategies Enhanced LeverageFund Vấn đề thứ hai đưa ra là những thống kê về rủi ro danh mục tín dụng (Vasicek,

1987, 2002) đòi hỏi sự ước lượng của một biến tới hạn, tương quan chéo các khoản vayvỡ nợ Tại một thời điểm của một cuộc suy thoái có rất ít dữ liệu dựa trên tương quan rủi

ro tín dụng có thể dùng được vì nền kinh tế thế giới đã phát triển trong mười năm vừaqua Hơn thế nữa, không hề có dữ liệu trong một thị trường mới chưa được kiểm chứngnhư thị trường cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ Cuối cùng là thông tin về rủi ro đối táccủa những định chế tài chính cho thị trường bảo hiểm tín dụng dù tốt nhất thì cũng vẫnchưa đầy đủ Việc thiếu thông tin về rủi ro của đối tác và do đó hậu quả hiệu ứng dominocủa các khoản vỡ nợ của một định chế lớn dường như là nguyên nhân cho cuộc cứu trợtài chính vào tháng 9 năm 2008 đối với tổ chức bảo hiểm khổng lồ AIG

Dựa vào sự nhấn mạnh của bài viết về chương trình cải cách giám sát, chúng ta sẽkhông chuyên tâm đến những ý nghĩa diễn giải sự bùng nổ của những thị trường này vàcũng không thảo luận về những hành động khác nhau của những chính quyền quốc gia đểngăn chặn sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng của họ Sự tiến triển trong thống kê rủi rotín dụng, một sự tiết kiệm quá mức với thặng dư lớn ở nhiều quốc gia (đặc biệt là TrungQuốc và các nước Trung Đông), ý định của chính phủ để khiến quyền sở hữu nhà trở nên

dễ dàng thuận tiện, một chính sách tiền tệ nới lỏng với lãi suất thấp khác thường, thị

Trang 9

trường gây áp lực đối với việc tăng trưởng doanh thu hoạt động trong ngân hàng, các nhàquản lý tài sản và các hãng xếp hạng tín nhiệm, hoặc đơn giản là sự tham lam và cả tincủa các nhà đầu tư, tất cả dường như đã góp phần cho cuộc khủng hoảng tín dụng(Hellwig, 2008; Greenspan, 2009) Liên tục từ ngân hàng Northern Rock tại Anh vàotháng 9 năm 2007 (HM Treasury, 2009) và tiếp theo là sự vỡ nợ của Lehman Bros vàWashington Mutual (WaMu) vào tháng 8 năm 2008 ở Mỹ, các biện pháp đa dạng đãđược thi hành trên khắp thế giới để phục hồi sự ổn định của các ngân hàng Các hànhđộng được thực hiện bên phía tài sản (bảo hiểm rủi ro tín dụng, bán nợ xấu hay những tàisản mất giá trị tại Mỹ kể cả chương trình đầu tư private-public (PPIP)), hoặc là bên phíatài sản nợ với những khoản bảo hiểm cho các khoản nợ ngân hàng và chuyển dịch vốntrên toàn thế giới

Như đã phát biểu ở trên, mục tiêu của bài viết nhằm thảo luận về cơ cấu điều chỉnh vàgiám sát, cấu trúc của thị trường tài chính cần giảm thiểu rủi ro khủng hoảng tín dụngtrong tương lai Các báo cáo đa dạng đã đưa ra như: the Turner Review (2009) của Chủtịch Cơ quan Dịch Vụ Tài Chính (FSA) tại Vương quốc Anh và báo cáo Larosière (2009)cho Liên minh Châu Âu Các báo cáo khác bao gồm Nhóm 30 (the Group of Thirty)(2009) (báo cáo Volcker) báo cáo bởi Diễn đàn ổn định tài chính (2008, 2009) và haithông cáo của G20 (2008, 2009) Một loạt các đề nghị điều chỉnh phổ biến trong tất cảcác báo cáo bao gồm quy định về rủi ro thanh khoản, rủi ro giao dịch thị trường, vốn, rủi

ro đối tác, sự phối hợp bồi thường, rủi ro toàn hệ thống, các định chế trải rộng và sự kiểmsoát các định chế tài chính xuyên biên giới

Kiểm soát rủi ro thanh khoản:

Kiểm soát rủi ro thanh khoản với “stress test” (sát hạch mức độ an toàn)

Kiểm soát rủi ro giao dịch thị trường:

- Kiểm tra rủi ro thị trường bằng “stress test”

- Tăng cường quy định về vốn đối với tài sản kém thanh khoản

- Tăng cường quy định về vốn đối với việc tái chứng khoán hóa

Kiểm soát nguồn vốn:

Tăng cường vốn hữu hình và vốn cấp 1 (core tier 1) tương xứng với những chứngkhoán của vốn cấp 2 (Tier 2) Áp đặt một tỷ số đòn bẩy tài chính (vốn so với với tài sản) Giảm tính đồng biến của quy định về nguồn vốn (thể hiện khi những quy định về thắtchặt nguồn vốn trong thời kỳ suy thoái, như là một hậu quả của sự suy giảm việc đi vay

mà tự nó làm cuộc suy thoái tệ hại hơn Ở chiều hướng ngược lại, quy định về nới lỏngnguồn vốn trong thời kỳ kinh tế bùng nổ, cho vay dễ dàng, gia tăng mở rộng nền kinh tế

Trang 10

có lẽ đã tạo ra những thị trường bong bóng tài sản Đề xuất tạo ra sự cung cấp vốn năng

động để dẹp đi hình thức “định giá theo thị trường” của một số loại tài sản hoặc là tạo ra

một phần đệm về vốn trong thời kỳ bùng nổ kinh tế 3

Kiểm soát rủi ro đối tác:

Giảm thiểu rủi ro đối tác bằng cách chuyển thị trường CDs thành thị trường giao dịch

có tổ chức với yêu cầu ký quỹ và thanh toán hàng ngày

Kiểm soát kế hoạch bồi thường

Dành những khuyến khích tài chính từ những khoản lợi nhuận ngắn hạn cho lợinhuận dài hạn Bao gồm điều khoản thu hồi những khoản trợ cấp không đúng đối tượngtrong kế hoạch bồi thường để đưa ra sự tương xứng trong việc chia sẻ giữa lợi nhuận vàthua lỗ

Kiểm soát rủi ro toàn hệ thống

Quan điểm là việc kiểm soát sự lành mạnh của mỗi định chế tài chính riêng lẻ làkhông đủ và chính quyền cần kiểm soát rủi ro toàn hệ thống, một loại rủi ro ít khi đượcxác định rõ Cách hiểu của chúng tôi về rủi ro hệ thống là sự đe dọa của cú sốc kinh tế mà

có thể ảnh hưởng chung đến rất nhiều định chế tài chính (gia tăng tương quan chéo rủi rovỡ nợ của các định chế tài chính) Một ví dụ của cú sốc kinh kế là bong bóng trên thịtrường bất động sản hoặc là sự giảm giá của một đồng tiền khi các cơ quan chức năngtrong nước kiềm chế rủi ro tỷ giá Báo cáo Larosière (2009) đề nghị thay thế Hội đồnggiám sát Ngân hàng (hội đồng giám sát của Châu Âu họp tại Ngân hàng trung ương ChâuÂu)4 bằng Hội đồng Rủi ro hệ thống ( ESCR) chủ trì bởi thống đốc ngân hàng trung ươngchâu Âu5

Cuộc họp thưởng đỉnh G20 tại Luân Đôn vào tháng 4 năm 2009 đề xuất thay đổi Diễnđàn ổn định tài chính (một tổ chức của các bộ trưởng tài chính) thành Thẩm quyền ổnđịnh tài chính, đảm nhiệm việc giám sát các rủi ro hệ thống cùng Quĩ tiền tệ quốc tế IMF.Giám sát chặt chẽ hơn đối với các hệ thống định chế tài chính

Kiểm soát các định chế tài chính xuyên quốc gia

Phối hợp tốt hơn về các quy định và sự giám sát các tập đoàn tài chính quốc tế Báocáo De Larosiere đề xuất phải từng bước tiến lên Tổ giám sát hệ thống tài chính châuÂu(ESFS), với hội đồng 6 cấp 3 có nhiều thẩm quyền hơn trong việc hạn chế các vấn đềrủi ro kể cả sự giám sát các tập đoàn quốc tế Hội nghị thượng đỉnh G20 yêu cầu sự thànhlập của những hội đồng giám sát quốc gia để phối hợp giám sát các tổ chức quốc tế.Các biện pháp khác nữa của G20 là hạn chế những thiên đường thuế (nơi kinh doanhkhông bị đánh thuế hoặc đánh thuế rất thấp) và sự giám sát của các quĩ phòng ngừa rủi ro

Trang 11

hệ thống, mặc dù thực sự không có gì trong số đó là nguyên nhân của các khủng hoảnghiện tại.

Đương nhiên một khoản mục dài các biện pháp nhằm củng cố các quy định và sựgiám sát của các ngân hàng là hữu ích Nhưng chúng ta không thể không đặt ra hai câuhỏi: chằng lẽ những đề xuất này không chú tâm đến các vấn đề trong quá khứ? (quan sáttrong thời kỳ khủng hoảng) Tại sao những biện pháp này không được thực hiện trướckhủng hoảng? Bởi vì một điều hiển nhiên là rất ít những tổ chức thấy được khủng hoảng

7 đang đến Một số trích dẫn từ những bản báo cáo của Ngân hàng trung ương châu Âu,Quĩ tiền tệ quốc tế và Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, xuất bản trước và trong thời

kì khủng hoảng cho rằng:

Tháng 11 năm 2006 (theo Uỷ ban giám sát ngân hàng (BSC) của hệ thống các ngân

hàng trung ương Châu Âu( ESCB), ( ECB, 2006, p4): “Tình trạng không được bảo vệ

của khu vực ngân hàng do những xáo trộn bất lợi đã giảm bớt một cách đáng kể”

Tháng 11 năm 2007 (báo cáo của Uỷ ban giám sát Ngân hàng(BSC) của hệ thống

ngân hàng trung ương châu Âu( ESBC) (ECB,2007): “Khả năng thanh toán vẫn ổn

định” (tr7), “Tình trạng tài chính của các ngân hàng lớn châu Âu vẫn chắc chắn trong nửa đầu năm 2007” (tr11), “Chỉ số vốn cấp 1 vẫn tương xứng để đối phó với những khoản thua lỗ không dự tính trước” (tr16), “Lợi nhuận triển vọng xấu đi, nhưng khả năng hấp thụ những cú sốc vẫn dễ dàng” (tr37).

The Turner review tại Anh Quốc năm 2009 ( Turner review,2009), trích dẫn Quĩ tiền

tệ quốc tế(Báo cáo ổn định toàn cầu, tháng 4 năm 2006,IMF): “Có một sự thừa nhận

đang gia tăng rằng việc ngân hàng phân tán các rủi ro tín dụng cho một nhóm rộng hơn

và đa dạng hơn các nhà đầu tư thay vì cất những rủi ro này trên bảng cân đối kế toán đã giúp hệ thống ngân hàng và toàn thể hệ thống tài chính phục hồi nhanh chóng hơn Sự cải thiện phục hồi có thể nhận thấy ở việc ngày càng ít các ngân hàng phá sản hơn và nhiều sự dự phòng tín dụng hơn Kết quả là các ngân hàng thương mại giờ đây đã ít bị tổn thương hơn với những cú sốc kinh tế và tín dụng.”

Đi theo cuộc khủng hoảng, như đã đề cập ở trên, tầm quan trọng được đặt vào việccủng cố lại các quy định và tăng cường giám sát chẳng hạn như về rủi ro thanh khoản vàsát hạch sức khỏe tài chính, các quy định về vốn Basel 2 cũng bị chỉ trích vì việc tậptrung quá nhiều vào phương pháp đo vốn đơn lẻ (Acharya và Richardson, 2009) Tuynhiên, một ý kiến ở cột 2 trong các quy định về vốn Basel 2 được hoàn thành vào tháng 6năm 2004(BCBS,2004) đã biểu thị một cách rõ ràng rằng việc giám sát ngân hàng phảinằm ngoài phạm vi những quy định về vốn: 8

Trang 12

“#738 Rủi ro thị trường: Việc đánh giá được chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn đánh giá rủi ro thua lỗ của các ngân hàng hay phương pháp tiêu chuẩn hóa rủi ro thị trường Cũng nên đặt sự nhấn mạnh vào biểu hiện sức khỏe tài chính của các tổ chức trong khi đánh giá nguồn vốn để hỗ trợ chức năng kinh doanh ” (BCBS, 2004, p161).

“#741 Rủi ro thanh khoản: Tính thanh khoản là cốt yếu của khả năng tồn tại hiện thời của bất cứ một tổ chức ngân hàng nào Tình trạng vốn của ngân hàng có thể có ảnh hưởng đến khả năng đạt được tính thanh khoản, đặc biệt là trong thời gian khủng hoảng Mỗi ngân hàng phải có những hệ thống thích hợp để đo lường, giám sát và kiểm soát rủi

ro thanh khoản Các ngân hàng nên đánh giá sự tương xứng của nguồn vốn dựa vào sự thanh khoản của bản thân họ và cả sự thanh khoản của thị trường mà mình đang hoạt động.” (BCBS,2004, p161).

Không thể không thấy rằng Basel 2 đã yêu cầu một cách rõ ràng đối với việc sát hạchsức khỏe của rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản Tại sao những quy định này khôngđược thi hành? Tất cả những đề xuất nói trên đều nhằm giải quyết các điểm quan trọngtrong những quy định hiện hành hay trong các quy định mới, nhưng chúng không đếnđược vấn đề cốt lõi: thực hiện các quy định và giám sát ngân hàng một cách thận trọng.Ngoài ra, điểm quan trọng chủ yếu dành riêng ở việc tăng cường kiểm soát công Không

có một cơ chế nào đề xuất việc phát triển kiểm soát khu vực tư nhân Theo quan điểm củachúng tôi, nếu muốn giảm thiểu một cách đáng kể rủi ro khủng hoảng tài chính toàn cầutrong tương lai, còn 3 vấn đề cần phải được quan tâm một cách thoả đáng:

1 Trách nhiệm giải trình của các giám sát viên ngân hàng Các ngân hàng chịu cácquy định nặng nề trong nhiều năm Vậy tại sao hệ thống giám sát hiện tại lại có thể đểkhủng hoảng xảy ra?

2 Học thuyết “quá lớn để phá sản” Có một quan điểm được thừa nhận rằng những

hệ thống định chế tài chính lớn không thể phá sản Chính điều này đã gây nên vấn đề rủi

ro tín dụng của các định chế tài chính ấy không được thị trường đánh giá một cách đúngđắn, tạo nên một mối rủi ro về đạo đức Kết quả của việc giải quyết khủng hoảng là tạonên các định chế thậm chí còn lớn hơn (ví dụ như sự sát nhập của Bank of America,Countrywide và Merrill Lynch, hay BNP- Paribas và Fortis), cần thiết phải xem xét lại

học thuyết “quá lớn để phá sản”

3 Sự giám sát hệ thống ngân hàng quốc tế cần phải rõ ràng, trong sạch

Những vấn đề này sẽ được bàn ở phần tiếp theo

Phần 2: Ba đề xuất nhằm hoàn thiện công việc cải cách.

Trang 13

Trách nhiệm giải trình của đội ngũ giám sát viên ngân hàng

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong 2 năm vừa qua, trái với trường hợp của các giámđốc điều hành ngân hàng, rất ít lãnh đạo của cơ quan giám sát quốc gia đã được yêu cầutừ bỏ công việc 9 Chính điều này đã dấy nên một câu hỏi về trách nhiệm giải trình và tínhđộc lập của đội ngũ giám sát ngân hàng Một ví vụ minh hoạ là trường hợp của một vàiquốc gia ở Trung và Đông Âu( ECB, 2006, 2007a) Các ngân hàng được phép cho vay ồ

ạt bằng đồng ngoại tệ (chủ yếu là đồng Franc Thuỵ Sỹ, đồng Euro và Yên Nhật) trên thịtrường thế chấp cá nhân Điều này đã tạo ra một nguồn rủi ro hệ thống lớn, như là sựgiảm giá của đồng nội tệ đã làm tăng tỷ lệ vỡ nợ cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.Tại saonguồn rủi ro hệ thống này lại được phép gia tăng? Không khó để có thể hình dung rằng,đối với nhiều bộ trưởng, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bất động sản đã giúp nềnkinh tế, việc làm và nguồn ngân khố công thông qua việc gia tăng số lượng biên lai thuế.Điều cần thiết là cần có một nhà giám ngân hàng rất can đảm để ngừng các khoảnvay ngoại tệ, giảm tốc nền kinh tế và làm tổn thương các nhà phát triển thị trường bấtđộng sản Một ví dụ khác là chỉ số phân định rủi ro áp đặt cho các quỹ tương hỗ ở một sốquốc gia

Để bảo vệ các nhà đầu tư và bảo vệ họ tối tiểu hoá rủi ro thông qua việc đa dạng hoádanh mục đầu tư Một quỹ tương hộ không thể đầu tư trên 10% tổng tài sản của mình vàođối thủ cạnh tranh tương tự Tuy nhiên, khi quỹ tiền tệ được mở tại Châu Âu, cạnh tranhvới các ngân hàng tiền gởi, các ngân hàng đã vận động hành lang thành công ở một sốquốc gia chấp nhận tỷ lệ 10% Ở Bỉ là một ví dụ, các quỹ tương hỗ có thể đầu tư lên đến25% tổng tài sản của mình vào các chứng chỉ tiền gởi phát hành bởi các ngân hàng bảotrợ ( CBFA, 1991) Đối với các ngân hàng bảo trợ việc chấp nhận tỷ lệ 10% là góp phầntăng tính thanh khoản của ngân hàng Lý lẽ của trường hợp ngoại lệ trên theo quy địnhbởi các cơ quan thẩm quyền là tối thiểu hoá rủi ro phá sản ngân hàng Đây là một ví dụnữa về tác hại của các cuộc vận động hành lang và việc luồn lách quy định đối với sự ổnđịnh hệ thống tài chính nếu những lo ngại về sự lành mạnh của ngân hàng bắt đầu chuyểnsang thị trường tiền tệ Một số (Rochet, 2008) đang đòi hỏi các nhà giám sát ngân hàngđộc lập một cách thực sự, mà sự thành công của họ được đánh giá dựa trên việc duy trì sự

ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Tương tự như khi các ngân hàng trungương được trao cho sự độc lập để quản lý chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, sựđộc lập sẽ tạo điều kiện cho các nhà giám sát hệ thống ngân hàng phát triển sự lành mạnhtrong hệ thống ngân hàng Cần nhớ lại rằng sự độc lập của các ngân hàng trung ươngđược biện hộ bởi các lập luận rằng: vì các chu kì bầu cử chính trị không tồn tại lâu, các

Trang 14

bộ trưởng tài chính sẽ nỗ lực để mở rộng việc cung tiền để lèo lái nền kinh tế trong ngắnhạn với cái giá phải trả là tạo ra lạm phát và các căn bệnh của nền kinh tế trong dài hạn.

Để giảm tác động của việc vận động hành lang hay các mục tiêu ngắn hạn của các nhàlàm chính sách, sự độc lập được trao cho ngân hàng trung ương để kiểm soát lạm phát.Liệu việc giám sát ngành ngân hàng cũng nên được trao cho sự độc lập tương tự?

Tờ báo Larosíe re (2009, footnote 10, p47) đề cập rất thẳng thắn đến vấn đề này vàmức độ độc lập giới hạn nên trao cho các nhà giám sát ngân hàng:

“Như vậy, các nhà giám sát phải được trao quyền và có thể thực hiện việc đánh giá chính tính độc lập đấy (ví dụ: đặc biệt về cấp phép, về khía cạnh điều tra, một mặt kiểm tra, mặt khác giám sát, có các sắc lệnh, việc tuân thủ các sắc lệnh) không có nhà chức trách nào trong ngành công nghiệp có quyền hay khả năng để cản trở nó Hơn thế nữa,

tự bản thân nhà giám sát phải căn cứ những quyết định của mình dựa trên sự hoàn toàn khách quan và nền tảng không phân biệt đối xử Tuy nhiên, sự độc lập giám sát khác so với sự độc lập của ngân hàng trung ương ( như sự liên quan đến chính sách tiền tệ), về khía cạnh chính phủ (thường là bộ trưởng tài chính) vẫn còn có trách nhiệm chính trị để giữ vững sự ổn định của hệ thống ngân hàng và sự sụp đổ của một hay nhiều định chế tài chính, các thị trường hay cơ sở hạ tầng hệ thống ngân hàng có thể có những dính dáng nghiêm trọng đến nền kinh tế và tiền của người nộp thuế”.

Tờ de Larosiere đã đề cập rất thẳng thắn đến mức độ độc lập giới hạn của các nhàgiám sát hệ thống ngân hàng: ngày qua ngày, việc giám sát hệ thống ngân hàng nên được

tự do, nhưng không như chính sách tiền tệ, chính phủ có trách nhiệm trong việc ổn địnhhệ thống ngân hàng Bởi vì các hệ thống này dường như nghiêng về phía kiểm soát cácquy định và (hoặc) chính sách lãi suất ngắn hạn, một thắc mắc rằng liệu việc giám sát hệthống ngân hàng có nên nhận được cùng một mức độ độc lập như được trao cho chínhsách tiền tệ và các ngân hàng trung ương Chú ý rằng quyết định để giải cứu một tổ chứcliên quan đến những đối tượng nộp thuế vẫn phải do chính quyền Cái được trao cho cácnhà chức trách độc lập là quyền thông qua các quy định và thi hành sự giám sát với mụctiêu duy nhất là duy trì sự ổn định lâu dài và sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng Theoquan điểm của người viết cho rằng không hề thiếu các quy định mà chính sự thi hànhkém cỏi của các nhà giám sát ngân hàng đã góp phần cho cuộc khủng hoảng, việc giatăng trách nhiệm giải trình của các nhà giám sát ngân hàng là cái cần phải làm Sự độclập với mục tiêu được thiết lập một cách rõ ràng – sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng– sẽ đóng góp rất nhiều đến trách nhiệm giải trình

Học thuyết quá lớn để phá sản

Trang 15

Rất nhiều đề xuất quốc tế yêu cầu giám sát các hệ thống định chế tài chính chặt chẽhơn Mặc dù không được đề cập rõ ràng khi các ngân hàng trung ương đã lựa chọn mộtcách chung chung để giữ một sự mơ hồ khó hiểu, thì có một sự thừa nhận ngấm ngầmrằng sự phá sản của các tổ chức lớn sẽ gây ra các rủi ro hệ thống và trong tình trạng khốncùng đó, họ sẽ được lợi từ một vài loại cứu trợ của chính quyền Khi sự cứu trợ của chínhquyền thường được thực hiện dưới dạng các bảo đảm của chính quyền đối với các khoản

nợ của các công ty Các tổ chức này được hưởng lợi từ một điểm quan trọng của lợi thếcạnh tranh là: tăng khả năng vay nợ với một chi phí thấp hơn Theo quan điểm của tácgiả, không còn nghi ngờ gì rằng việc làm này của chính quyền đã tạo thuận lợi cho sựhình thành những định chế tài chính cực lớn Một điều nhận thấy là việc giải quyết cuộckhủng hoảng đã tạo ra nhựng định chế tài chính còn lớn hơn trước Tại Mỹ, Bank ofAmerica đã mua lại Countrywide và Merrill Lynch Tại Châu Âu, chính quyền Bỉ đã bánngân hàng Fortis cho ngân hàng Pháp – BNP Paribas Tại Anh Quốc, Tập đoàn Lloyds đãđược hợp nhất bởi hai tổ chức là Lloyds TSB and HBOS Để giải quyết các mối rủi ro từcác khoản bảo đảm nợ, các nhà chức trách đang đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ hơn của cácđịnh chế tài chính với một chỉ số vốn tiềm năng lớn hơn, khi không được kiểm soát, họ sẽkhông đưa vào tài khoản chi phí hệ thống của một khoản thua lỗ Một lần nữa, chúng tanhận thấy sự cần thiết phải giám sát một cách chặt chẽ các hệ thống định chế tài chính.Nhưng khi các tổ chức này đã được nhận thấy từ lâu thì một điều ngạc nhiên lặp lại khicác định chế lớn như Citigroup hay UBS được các nhà giám sát cho phép phát triển quánhanh và đã nhận nhiều rủi ro lớn Các đề xuất trước cho phép các nhà giám sát độc lậpnhiều hơn sẽ tăng cường sức mạnh và trách nhiệm giải trình của họ Rất nhiều ngườitham dự đã đòi hỏi việc thi hành kỷ luật cá nhân thích đáng khi các cổ đông ngân hàng đã

phải trả giá đắt trong cuộc khủng hoảng Nhưng như thế vẫn chưa đủ Cổ phần chỉ là một

phần rất nhỏ trong tài sản của ngân hàng Trong một số trường hợp cho đến nay là cáckhoản nợ ngân hàng – bao gồm tiền gửi không có bảo hiểm, nợ liên ngân hàng, nợ chinhánh – đã được bảo đảm, thường là sự đảm bảo rõ ràng của chính quyền Một cách đểtăng cường kiểm soát các ngân hàng, ngoài phạm vi của các nhà giám sát, là đặt cáckhoản nợ ngân hàng ở tình trạng rủi ro, tức là tạo ra nguy cơ phải chịu sự thất bại củangân hàng Bởi vì hệ thống các định chế này là vấn đề sống còn cho hoạt động thực tế

của nền kinh tế nên cần thiết phải thiết kế một hệ thống phá sản thừa nhận các quyền lợi

của sự vỡ nợ ( gia tăng kỷ luật trong thị trường) bằng việc giảm tối đa chi phí vỡ nợ(Dermine, 2003,2006) Để giảm thiểu chi phí vỡ nợ của một ngân hàng lớn, cần phải đápứng được ba điểm đặc trưng sau Điều đầu tiên là ngân hàng nên được đóng cửa trong

Trang 16

một vài ngày (trong thời gian cuối tuần) Bởi vì người gửi tiền và khách hàng cần sửdụng tiền của họ tức thời nên việc giải quyết phá sản phải thật nhanh chóng Hội đồngphá sản phải có khả năng hoán đổi nợ bằng vốn cổ phần một cách nhanh chóng trước khingân hàng mở cửa hoạt động lại Thứ hai, để tránh nỗi sợ hãi về hiệu ứng domino (sự sụp

đổ của một ngân hàng sẽ khiến các ngân hàng khác sụp đổ theo) thì phải có sẵn thông tinđáng tin cậy về rủi ro của bên đối tác Thứ ba, để giảm thiểu rủi ro của các ngân hànghoạt động dựa vào các khách hàng gửi tiền ngắn hạn không có bảo hiểm và bất ổn định,thì phải thiết lập một cơ chế để theo sát những người gửi tiền bỏ chạy để tránh sự vỡ nợcủa Ngân hàng Không có nơi để ẩn nấp, họ sẽ không có động lực để bỏ chạy(Baltensperger và Dermine, 1986) Tóm lại, tất cả các ngân hàng nên đáp ứng được bàikiểm tra về thanh khoản: chúng có thể liên quan đến việc phá sản Nếu điều này khôngkhả thi thì cần phải thay đổi cơ cấu của các tổ chức tài chính Khi nợ ngân hàng có rủi rothì sẽ có thêm nhiều áp lực từ các thị trường tài chính nhằm hạn chế rủi ro của ngânhàng Có vẻ như đối với chúng tôi thì các đề nghị hiện tại kêu gọi giám sát hệ thống ngânhàng chặt chẽ hơn có thể là một bước đi sai lầm nếu nó làm gia tăng động cơ cho cácngân hàng mở rộng quy mô và hệ thống Sau chót, một đề nghị cuối để hoàn thiệnchương trình cải cách quốc tế là chỉ định sự giám sát hoàn thiện hơn và cơ cấu tổ chứccủa các tổ chức tài chính quốc tế

Sự giám sát của tập đoàn ngân hàng quốc tế

Cả những thông cáo của G20 (2008-2009) và Báo cáo de Larosiere (2009) đã nêu bật

sự cần thiết một sự giám sát thích hợp của các tập đoàn ngân hàng quốc tế Việc kêu gọitạo nên các ban giám sát quốc gia hiệu quả để đảm bảo sự giám sát tốt hơn của các tậpđoàn ngân hàng quốc tế Tại Anh, Turner Review (2009) cũng nhấn mạnh một quy địnhthích hợp của các ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Vương quốc Anh Điềunày theo sau sự sụp đổ của các ngân hàng Iceland mà đã thu tiền gửi qua một mạng lướichi nhánh ở Anh Chú ý rằng một sự giám sát thích hợp của các ngân hàng quốc tế hoạtđộng ở nước ngoài với các chi nhánh hoặc các công ty con không phải là một điều gìmới Sự sụp đổ của ngân hàng Đức Herstatt năm 1974 đã thúc đẩy hiệp ước Basel(BCBC, 1983) Trong trường hợp của các chi nhánh nó đòi hỏi sự quy định về vốn theoqui định của ngân hàng mẹ và sự quy định về thanh khoản của nhà nước sở tại Sau

đó, sự phá sản của Banco Ambrosiano Holdings và BCCI một lần đòi hỏi sự chú ý đếnviệc giám sát của các tập đoàn ngân hàng quốc tế Các đòi hỏi gần đây để cải thiện sựgiám sát các công ty tài chính quốc tế thừa nhận rằng các bài học của lịch sử chưa đem lạinhững phản hồi thỏa đáng Trong Liên minh châu Âu, mặc dù các thị trường đơn lẻ đã

Trang 17

được đặt đúng chỗ từ năm 1992, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng xuyên quốc giaquan trọng là một hiện tượng gần đây (Schoenmaker và Osterloo, 2004) Bắt đầu là sựhình thành Nordea bằng việc hoàn thành sự sát nhập của bốn ngân hàng Bắc Âu vào năm

2000, việc mua lại Abbey National của Banco Santander vào năm 2004, tiếp theo làUnicredit và HVB trong năm 2005 và BNP-Paribas với BNL (2006) và Fortis(2009) Trong bối cảnh của các ngân hàng xuyên quốc gia thì một điều cần thiết đầu tiên

để xác định hai vấn đề cụ thể Những mối quan tâm này lần lượt là: 1 Sự hiện diện củanhững ảnh hưởng lây lan xuyên biên giới và 2 Khả năng tài chính của một số quốc gia để

xử lý các chi phí giải cứu và các tổ chức tài chính lớn và phức tạp Bởi vì Liên minh châu

Âu là một trường hợp tiến bộ hơn trong việc thống nhất các ngân hàng quốc tế nên thảoluận về sự phù hợp của các cơ cấu thể chế hiện hành sẽ được trình bày tiếp sau Từ đóchúng tôi nêu ra những kết luận về đề nghị G20 cấp thế giới Trong Liên minh châu

Âu, một ngân hàng hoạt động thông qua mạng lưới chi nhánh được giám sát bởi các giámsát viên thuộc nước ngân hàng mẹ, trong khi một công ty con bị kiểm soát bởi cơ quannước sở tại

Hai vấn đề đặc trưng của ngân hàng quốc tế

Vấn đề đầu tiên và chính yếu liên quan đến những sự lây lan xuyên quốc gia và nỗi

lo ngại rằng việc cung cấp sự ổn định tài chính (một hàng hóa công) bởi những chínhquyền quốc gia có thể không được tối ưu Bốn loại lây lan xuyên biên giới tiềm năng cóthể được xác định được là: Chi phí đóng cửa xuyên biên giới, những tác động xuyên biêngiới của những cú sốc vốn ngân hàng, những tác động của sự chuyển giao tài sản xuyênbiên giới, những tác động xuyên biên giới về giá trị của nghĩa vụ bảo hiểm tiền gửi

i Chi phí đóng cửa xuyên biên giới.

Hãy tưởng tượng rằng một ngân hàng nước ngoài mua một ngân hàng Hà Lan vàchuyển nó thành một chi nhánh của mình Theo luật của EU về kiểm soát tại đất nước sởtại, các chi nhánh tại Hà Lan sẽ được giám sát bởi các chính quyền của ngân hàng mẹ tạinước ngoài.Tuy nhiên, chính quyền Hà Lan vẫn chịu trách nhiệm về sự ổn định tài chínhtại Hà Lan Ngân khố Hà Lan có thể buộc phải giải cứu nó ra vì những lý do ổn định nội

bộ nhưng sẽ không có quyền giám sát chi nhánh của một ngân hàng nước ngoài bởi vìviệc kiểm soát thuộc nước ngân hàng mẹ Bởi vì ngân hàng trung ương và ngân khố sẽ bịliên quan trước hết bởi các thị trường và sự hoạt động của các ngân hàng trong nước của

họ và bởi vì họ phải chiụ những chi phí của một cuộc giải cứu nên việc những người bảođảm giữ một số quyền lực giám sát đối với toàn bộ các tổ chức (các chi nhánh và cáccông ty con) là hợp pháp Như thế, các quy định của nước sở tại có thể áp dụng để hạn

Trang 18

chế những rủi ro của các tổ chức tài chính và việc bị ảnh hưởng của các ngân hàng trungương trong nước hoặc ngân khố trong trường hợp giải cứu Nói theo một cách khác, luậtkiểm soát bởi chính quyền của ngân hàng nước mẹ phải được bổ sung bởi một số hìnhthức kiểm soát của nước sở tại khi mà chi phí của việc giải cứu vẫn còn là của nước sởtại.

Quan điểm này phần nào đã được công nhận bởi Ủy ban châu Âu khi cho rằng "trongnhững tình huống khẩn cấp các nhà giám sát nước sở tại có thể lấy bất kỳ biện phápphòng ngừa nào" (Walkner và Raes, 2005, p.37) Luận điểm này lặp lại rất gần đây trongBristish Turner Review đòi hỏi sự giám sát hiệu quả của của tất cả các các tổ chức đanghoạt động tại Anh Quốc Trong trường hợp này bởi vì sự vỡ nợ của một ngân hàng quốctế lớn có thể ảnh hưởng đến nhiều nước, các quyết định tối ưu để giải cứu phải tính đếnquyền lợi của tất cả các quốc gia bị ảnh hưởng Như được thảo luận dưới đây, chẳng hạnmột quyết định có thể được chuyển giao cho cấp châu Âu hoặc ít nhất nên yêu cầu phốihợp giữa các quốc gia này

ii Những tác động xuyên biên giới của những cú sốc vốn ngân hàng

Peek và Rosengren (2000) đã chứng minh trong thực tế rằng tác động của nền kinh tế

Mỹ làm giảm vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Nhật Bản, kết quả từ sự sụp đổ thịtrường chứng khoán Nhật Bản vào những năm 1990 Sự truyền động thông qua một sựsụt giảm trong việc cung cấp tín dụng ngân hàng Vì trong một chi nhánh ngân hàng đaquốc gia, quốc gia ngân hàng mẹ sẽ kiểm soát khả năng thanh toán (thông qua chính sách

dự phòng thua lỗ tín dụng và sự xác suất vỡ nợ trong khuôn khổ của Basel II), nó có thể

có tác động vào nền kinh tế thực sự của nước sở tại Trong cuộc khủng hoảng hiện tại thìmối lo ngoại tương tự đã được thể hiện tại các nước Trung Âu và Đông Âu nơi hệ thốngngân hàng bị kiểm soát trên quy mô lớn bởi các ngân hàng nước ngoài

iii Những tác động của sự chuyển giao tài sản xuyên biên giới

Trong một công ty con đa quốc gia mà nước sở tại vẫn giữ được sự giám sát, có thể

có một rủi ro là quốc gia của công ty mẹ cấu kết với các ngân hàng tại quốc gia mẹ đểchuyển giao tài sản cho ngân hàng quốc gia mẹ Nguy cơ này đã được thảo luận tại cácnước Trung Âu và Đông Âu Một ví dụ là trường hợp của Lehman BrothersHoldings Các ngân hàng đầu tư đã có thói quen tập trung các hoạt động tiền mặt tại NewYork Trong trường hợp của Lehman châu Âu, việc dồn các nguồn tiền để trả các khoản

nợ đã lấy mất 8 tỷ đô la Mỹ ra khỏi nước Anh vào ngày thứ sáu trước khi nó bị sụp đổ

iv Những tác động xuyên biên giới về giá trị của nghĩa vụ bảo hiểm tiền gửi

Trang 19

Luận điểm chung thì có liên quan đến việc đa dạng hóa các rủi ro trong một chi nhánhcủa tổ chức đa quốc gia bởi vì đồng bảo hiểm làm giảm giá trị của hợp đồng tài chínhđược chấp nhận bởi cơ quan bảo hiểm tiền gửi (2001 Repullo, Dermine 2003) Có mộtđộng lực để xem xét bổ sung phải tính đến Một ngân hàng đa quốc gia có thể hài lòngvới mức đa dạng rủi ro tổng thể của nó, trong khi mỗi công ty con có thể trở thành rấtchuyên nghiệp về rủi ro tín dụng cục bộ Điều này ngụ ý rằng các ngân hàng ở một quốcgia có thể tự tìm ra mình ngày càng dễ bị tổn thương Một số lý lẽ rằng vì lý do danhtiếng, công ty mẹ sẽ giải cứu các công ty con như thể chúng là các chi nhánh Điều này

có thể đúng trong nhiều trường hợp, nhưng sẽ có nhiều trường hợp đổi lấy chi phí cânbằng tài chính Chi phí danh tiếng có thể không có hứa hẹn tốt Các quy định về hệ số antoàn vốn (CAR) nên bớt nghiêm ngặt đối với cấu trúc chi nhánh nền tảng Tổng quát hơn

là sự đa dạng hóa cần được tưởng thưởng với hệ số an toàn vốn (CAR) ít nghiêm ngặthơn Việc lan tỏa xuyên biên giới đặt ra câu hỏi về việc phối hợp can thiệp quốc gia cóđược tối ưu (Freixas, 2003) Điều này sẽ được thảo luận trong đánh giá của chúng tôi thểchế của kiến trúc châu Âu

Chi phí giải cứu: Có quá lớn? Quá phức tạp?

Vấn đề thứ hai đặt ra là sự sự giải cứu một ngân hàng lớn có thể tạo ra một gánhnặng rất lớn cho ngân khố hoặc hệ thống bảo hiểm tiền gửi của một quốc gia riêng lẻ(Dermine 2000,2006) Điều này chính xác là trường hợp của các ngân hàng Iceland cóquy mô vượt quá khả năng bảo hiểm của đất nước Một vấn đề liên quan mà đã nhậnđược nhiều sự quan tâm là một số ngân hàng đã trở nên quá phức tạp để thất bại Hãytưởng tượng trường hợp của một ngân hàng châu Âu lớn với các đáng kể các hoạt độngxuyên biên giới và các hoạt động phi ngân hàng (chẳng hạn như bảo hiểm hay quản lý tàisản) lâm vào khó khăn tài chính Sẽ là rất khó khăn để đặt ngân hàng này vào vị trí ngườiquản lý tài sản Dựa vào mạng lưới phức tạp của các công ty con của tổ chức và những sựphức tạp đa dạng về luật pháp, sự không rõ ràng liên quan đến các chi phí vỡ nợ có khảnăng là sẽ cao và sự phức tạp này có thể tạo ra một sự cám dỗ cho một cuộc giải cứu (quálớn và quá phức tạp để thất bại)

Hai vấn đề về ngân hàng xuyên biên giới liên quan đến sự ổn định tài chính đã đượcphân tích: những tác động lan tỏa xuyên biên giới và quy mô và sự phức tạp của việc giảicứu Bây giờ chúng ta hãy xem xét sự thích hợp của cơ cấu thể chế hiện hành của EU

Sự thích hợp của các cơ quan EU

Cơ cấu tổ chức EU hiện tại để đối đầu với những cuộc khủng hoảng tài chính đã nhậnđược nhiều sự chú ý trong vòng mười năm qua (ECB, 2007B) Một loạt các ủy ban đã

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khi chưa có hệ thống ngân hàng - NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH QUỐC tế một CHƯƠNG TRÌNH cải CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN
Hình 1 Khi chưa có hệ thống ngân hàng (Trang 4)
Hình 2: Không có ngân hàng và Bất động sản giảm giá 10 - NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH QUỐC tế một CHƯƠNG TRÌNH cải CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN
Hình 2 Không có ngân hàng và Bất động sản giảm giá 10 (Trang 5)
Hình 3: Sự tài trợ của Ngân hàng - NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH QUỐC tế một CHƯƠNG TRÌNH cải CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN
Hình 3 Sự tài trợ của Ngân hàng (Trang 5)
Hình 4: Ngân hàng, thị trường liên ngân hàng và hoán đổi nợ xấu tín dụng (CDs) - NGĂN NGỪA KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH QUỐC tế một CHƯƠNG TRÌNH cải CÁCH CHƯA TOÀN DIỆN
Hình 4 Ngân hàng, thị trường liên ngân hàng và hoán đổi nợ xấu tín dụng (CDs) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w