1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối

14 825 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý thuyết mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối
Tác giả Nguyễn Quang Duy, Trần Tiến Khoa, Đinh Trần Linh, Trần Thị Bảo Ngọc, Nguyễn Quốc Lê Quân
Người hướng dẫn Trương Minh Tuấn, Giáo viên hướng dẫn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA

LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Giáo viên hướng dẫn : Trương Minh Tuấn

Sinh Viên Thực Hiện : 1 Nguyễn Quang Duy

2 Trần Tiến Khoa

3 Đinh Trần Linh

4 Trần Thị Bảo Ngọc

5 Nguyễn Quốc Lê Quân

Tp HCM – 11/2012

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LÃI SUẤT 4

1 Tỷ Giá Hối Đoái 4

2 Lãi Suất 5

2.1 Khái Niệm 5

2.2 Vai Trò Của Lãi Suất 5

CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 6

1 Tìm Hiểu Chung 6

2 Cơ Sở Lý thuyết 7

2.1 Thuyết Ngang giá Lãi Suất Có Phòng Ngừa (IRP) 7

3 Biện luận theo Thuyết Ngang giá Lãi Suất Có Phòng Ngừa (IRP) 9

3.1 Hoạt động kinh doanh diễn ra trong môi trường mở (Open Economy) 9

3.2 Hoạt Động Kinh Doanh Diễn Ra Trong Môi Trường Có Sự Điều Tiết Của Nhà Nước 10

4 Nhận Xét Chung 11

KẾT LUẬN 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Lãi suất và tỷ giá hối đoái là hai công cụ quan trọng để chính phủ điều hành và quản lý nền kinh tế vĩ mô của một nước Lãi suất ảnh hưởng tới quan

hệ cung cầu vốn, đến việc phân bổ các nguồn tài chính của nền kinh tế, tác động đến thị trường tiền tệ từ đó ảnh hưởng đến tỉ giá

Trong bài tiểu luận này nhóm em nghiên cứu về lý thuyết mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái trên cơ sở lý thuyết về thuyết chênh lệch lãi suất

có phòng ngừa (IRP) và thuyết ngang giá lãi suất không có phòng ngừa (UIP) Với thời gian nghiên cứu không nhiều cũng như khối lượng kiến thức về lãi suất

và tỷ giá hối đoái khá lớn, do đó bài tiểu luận này sẽ khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy

Trang 4

CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LÃI SUẤT

1 Tỷ Giá Hối Đoái

1.1 Khái Niệm

Tỷ giá hối đoái là giá trị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng giá trị tiền

tệ nước kia trong quan hệ kinh tế Quốc tế Ví dụ: 1 USD = 106 JPY

Tuy nhiên, để đồng tiền có thể thanh toán được ở bên ngoài quê hương của nó, hay chuyển đổi ra nội tệ của một nước thì nó phải được ngân hàng nước

đó thu mua Những đồng tiền đó gọi là ngoại tệ Đó là phương tiện thanh toán và đầu tư Quốc tế

Trên thế giới hiện nay có một số ngoại tệ mạnh được sử dụng rộng rãi như: USD (Mỹ), JPY (Nhật), Bảng (Anh),

1.2 Vai Trò Của Tỷ Giá Hối Đoái

Tỷ giá có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Sự vận động của nó có tác động sâu sắc tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia:

Thứ nhất, tỷ giá là phương tiện trao đổi thương mại quốc tế, nó quy định

tỷ lệ quy đổi giữa các loại tiền

Thứ hai, nó tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu Vì vậy, nó

tác động tới cán cân thanh toán quốc tế: sự thâm hụt hoặc thặng dư cán cân Khi đồng tiền của một nước tăng giá (so với các đồng tiền khác) thì hàng hoá nước

đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn Ngược lại, hàng hoá nước ngoài ở nước đó lại

rẻ hơn

Thứ ba, tỷ giá là công cụ điều tiết vĩ mô, ảnh hưởng tới tổng cầu, sản

phẩm quốc dân, thất nghiệp Tỷ giá góp phần vào việc cải thiện cung cầu về ngoại tệ, giải quyết vấn đề nợ nước ngoài Tuy nhiên việc điều hành tỷ giá không tốt có thể dẫn tới lạm phát, khủng hoảng

Trang 5

2 Lãi Suất

2.1 Khái Niệm

Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v

2.2 Vai Trò Của Lãi Suất

Điều kiện tồn tại và phát triển ngân hàng, các hoạt động tiền tệ tín dụng Đòn bẩy kinh tế củng cố và tăng cường hạch toán kinh tế và hiệu quả của sản xuất kinh doanh

Công cụ điều tiết vĩ mô chính sách tiền tệ quốc gia, điều chỉnh cơ cấu, điều tiết tăng trưởng thông qua điều tiết tổng đầu tư

Thu hút ngoại tệ và đầu tư nước ngoài

Phát triển thị trường tài chính và thị trường chứng khoán

Trang 6

CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÃI SUẤT

VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.

1 Tìm Hiểu Chung

Lãi suất và tỷ giá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động lên các hoạch định của nền kinh tế Sự khập khểnh giữa chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như: Nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát “chảy máu” ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Điều hành và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá là một kỹ thuật vi diệu, vì rằng hai biến số này bị tác động bởi nhiều yếu tố như tình hình xuất, nhập khẩu, lạm phát, đầu tư nước ngoài, chính sách, kinh tế, tài chính của chính phủ, các yếu tố tâm lý… Trong quá trình vận hành hai biến số này tác động ngược lại nhằm thúc đẩy hoặc kiềm chế sự phát triển của các yếu tố trên các yếu

tố tác động đến quá trình hình thành và lãi suất và tỷ giá là kết quả hàng loạt quá trình tương tác khác nhau Vai trò, phương thức, cường độ của từng yếu tố lại phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Như vậy, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá tùy thuộc rất nhiều yếu tố, các yếu tố lại thường đan xen vào nhau và tùy thuộc lẫn nhau ở một thời điểm cụ thể, tình hình cụ thể, sẽ có yếu tố nổi bật là nguyên nhân làm thay đổi lãi suất và tỷ giá và cũng có yếu tố trở thành hệ quả của sự thay đổi lãi suất và tỷ giá Chính mối quan hệ biện chứng này làm cho việc điều hành và xử

lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá trở nên khó khăn, phức tạp Vai trò của lãi suất và tỷ giá như là những công cụ tích cực trong phát triển kinh tế, đồng thời

là những công cụ kềm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay vụng về trong việc sử dụng chúng

Trang 7

2 Cơ Sở Lý thuyết

2.1 Thuyết Ngang giá Lãi Suất Có Phòng Ngừa (IRP)

Thuyết ngang giá lãi suất có phòng ngừa có thể phát biểu một cách ngắn gọn như sau: Chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia sẽ được bù đắp bằng sự khác biệt giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay của 2 đồng tiền

Sự khác biệt giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay của 2 đồng tiền được thể hiện bằng phần bù (chiết khấu) kỳ hạn (p)

Từ lý thuyết trên ta có thể minh họa bằng ví dụ sau:

Giả sử:

Lãi suất ở Mỹ ih = 10%/ 6 tháng, chúng ta đứng trên góc độ nhà đầu tư

Mỹ Lãi suất ở Anh là if = 12%/ 6 tháng

Chúng ta có thể thấy rằng lãi suất ở Anh cao hơn lãi suất Mỹ (12%>10%) Điều này tạo ra xu hướng cho các nhà đầu tư ở Mỹ rót vốn sang đầu tư ở Anh Việc này có thể tạo ra áp lực tăng lãi xuất của Mỹ và giảm lãi suất của Anh Khi các nhà đầu tư dùng đôla Mỹ để mua bảng Anh trên thị trường giao ngay sẽ tạo

áp lực làm tăng tỷ giá giao ngay của đồng bảng Anh

Nhưng theo thuyết ngang giá lãi suất có phòng ngừa IRP Nếu tỷ suất sinh lợi thu được từ việc đầu tư ở Anh bằng với tỷ suất sinh lợi khi đầu tư tại Mỹ và kết quả này là do sự biến động của tỷ giá kỳ hạn trong tương lai (phần bù hoặc chiết khấu kỳ hạn của ngoại tệ) bằng chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia Điều này sẽ được diễn giải như sau:

Giả sử nhà đầu tư có 1.000.000USD

Tỷ giá giao ngay lúc này là S0=$2/£

Từ hành động của nhà đầu tư ban đầu đem đồng USD ra đầu tư nước ngoài sẽ thu được vào cuối kỳ như sau:

USD6tháng= ( USD0/ S0 ) (1+if) F6tháng

Trang 8

Mà F6tháng= S0 (1+ p)

P là phần bù kỳ hạn hay chiếc khấu kì hạn của đồng bảng Anh

Từ đó ta có: USD6tháng = USD0 (1+if) (1+p)

Khi đó nhà đầu tư Mỹ tại Anh thu được một tỷ suất sinh lợi như sau rf = (USD6tháng – USD0) / USD0 biến đổi và thay số ta được rf = (1+ if ) (1+p)-1

Nếu IRP tồn tại thì:

rf = (1+ if ) (1+p)-1= ih Suy ra được:

Theo ví dụ trên ta có:

Khi đó: F6tháng = S0 (1+p) = 2 (1-1,8%) =1,964 $/ £

Cũng từ ví dụ trên ta có thể tính lại các bước như sau trong trường IRP xảy ra:

Đổi 1.000.000$ ra 500.000£ ( 1.000.000 / 2$/£ )

Sau 6 tháng nhận được 500.000 £ (1+ 12%) = 560.000£

Bán kỳ hạn 560.000 £ thu được 1.099.840 $ (560.000 £ x 1.964$/£ )

Tỷ suất sinh lợi là (1.099.840 $ - 1.000.000) / 1.000.000 = 0.0998= 9,98%

≈ 10%

Ta thấy rằng kết quả từ việc đầu tư này không lợi ích gì so với việc đầu tư tại Mỹ

Từ trên ta có thể thấy Thuyết Ngang giá Lãi Suất Có Phòng Ngừa (IRP) chỉ ra rằng: Tỷ giá kì hạn của một đồng tiền so với một dồng tiền khác sẽ chứa một phần bù ( phần chiết khấu) được xác định bởi chênh lệch lãi suất giữa hai

Trang 9

quốc gia Kết quả, kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa sẽ thu được một tỷ suất sinh lợi không cao hơn tỷ suất sinh lợi trong nước.

3 Biện luận theo Thuyết Ngang giá Lãi Suất Có Phòng Ngừa (IRP)

3.1 Hoạt động kinh doanh diễn ra trong môi trường mở (Open Economy)

Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ

có xu hướng giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi suất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá Từ đó có thể thấy lợi tức của các khoản tiền gởi được mua bán trên thị trường hối đoái phụ thuộc vào lãi suất và các thay đổi dự kiến của tỷ giá hối đoái

Thực chất, những khác biệt về lãi suất chỉ dẫn tới sự chuyển đổi vốn, và kết quả là dẫn tới sự thay đổi về tỷ giá, nếu dự đoán về lợi nhuận, lãi suất thu được do đầu tư tiền tệ không được đảm bảo hay do việc nhân tín dụng bằng ngoại tệ không cân bằng, bởi những mất mát về tỷ giá Một khi còn tồn tại những mối lo ngại như vậy, thì ngay cả khi có sự khác biệt lớn về lãi suất cũng không thể dẫn tới sự chuyển đổi vốn đến mức giảm lãi suất

Sự cân bằng thị trường hối đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều kiện mà theo đó lợi tức dự kiến của các khoản tiền gởi của hai loại tiền bất kỳ là tương đương thì được đo bằng một loại tiền (nghĩa là đo bằng các đơn vị có thể

so sánh với nhau được)

Trang 10

Do đó khi tất cả các tỷ suất lợi tức dự kiến đều bằng nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng lãi suất, thì sẽ không có tình trạng dư cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng không có tình trạng dư cầu về một số loại tiền gởi khác Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại tiền gởi nào ở trong tình trạng dư cầu hoặc dư cung Do vậy, có thể nói rằng thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi

Về cơ bản có thể nói thuyết ngang giá lãi suất với những trình bày trên đây chỉ đúng với nền kinh tế mở

3.2 Hoạt Động Kinh Doanh Diễn Ra Trong Môi Trường Có Sự Điều Tiết Của Nhà Nước

Trong môi trường có sự diều tiết của nhà nước Thuyết ngang giá lãi suất không còn dúng trong nền kinh tế có sự điều tiết của nàh nươc Vì vậy để giữ cho chính sách tỷ giá hối đoái cố định, chính phủ lập quỹ dự trữ ngoại hối đủ mạnh để can thiệp vào cung cầu thị trường ngoại hối Trên thị trường, nếu có sự gia tăng về cầu đồng ngoại tệ, ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá, do đó dẫn đến sự sút giảm quỹ dự trự ngoại tệ; ngược lại sự ra tăng cầu đồng nội tệ sẽ làm gia tăng quỹ dự trữ ngoại tệ

Tuy vậy, khi chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương hoạt động tỏ ra kém hiệu quả Chẳng hạn như ngân hàng trung ương thực hiện chức năng mở rộng mức cung tiền tệ theo hình dưới kéo theo lãi suất thị trường giảm xuống, điều này dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư tài chính trong nước gia tăng sự hoán chuyển đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ để đầu tư vào các quốc gia có lãi suất cao hơn, do vậy làm cho mức cung tiền tệ giảm và Trong bối cảnh đó, nền kinh tế ngày càng mất đi dự trữ ngoại tệ do có sự di chuyển ra nước ngoài Nếu như tiềm lực dự trữ ngoại hối không đủ mạnh, thì chế độ tỷ giá cố định mà chính phủ đeo đuổi sẽ bị thất bại

Sự mở rộng mức cung tiền tệ làm giảm lãi suất thị trường Trong khi chính

Trang 11

trong việc quản lý tỷ giá Nếu chính phủ thực hiện chính sách tài chính mở rộng kéo theo là lãi suất trong nước có xu hướng tăng Điều này sẽ thu hút lượng vốn ngoại tệ trên thị trường quốc tế đầu tư vào trong nước gia tăng, làm cho dự trữ ngoại hối tăng theo và do đó dẫn đến cung tiền tệ tăng lên Như vậy chính sách tài chính tỏ ra rất thành công trong việc duy trì tỷ giá cố định.Sự mở rộng chính tài chính làm tăng lãi xuất thị trường

4 Nhận Xét Chung

Lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách gián tiếp Các yếu tố để hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu của vốn cho vay Lãi suất có thể biến động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân và trong một tình hình đặc biệt, có thể vượt quá tỷ suất lợi nhận bình quân Còn tỷ giá hối đoái thì do quan

hệ cung cầu về ngoại hối quyết định, mà quan hệ này lại do tình hình của cán cân thanh toán dư thừa hay thiếu hụt quyết định Như vậy là nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) không nhất thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (hạ xuống chẳng hạn) Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn định, thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đó lại đặt

ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu hút được lãi nhiều

Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu Nếu tình hình tiền tệ của các nước đều đại thể như nhau, thì phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao Do vậy, Chính sách lãi suất chiết khấu vẫn có ý nghĩa của nó Đồng thời, can thiệp vào tỷ giá là phải có một thị trường vốn (nhất là thị trường vốn ngắn hạn) đủ mạnh, tự do và linh hoạt: tài khoản vốn đã được mở cửa

Trang 13

KẾT LUẬN

Lãi suất và tỷ giá là hai yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là các công

cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ Lãi suất và tỷ giá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động lên các hoạch định của nền kinh tế Sự khập khểnh giữa chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như: Nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát “chảy máu” ngoại

tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế nguồn vốn đầu tư nước ngoài…Vì vậy, trong quản lý

vĩ mô chính sách lãi suất và tỷ giá phải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định

Sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá tùy thuộc rất nhiều yếu tố, các yếu tố lại thường đan xen vào nhau và tùy thuộc lẫn nhau ở một thời điểm cụ thể, tình hình cụ thể, sẽ có yếu tố nổi bật là nguyên nhân làm thay đổi lãi suất và tỷ giá và cũng có yếu tố trở thành hệ quả của sự thay đổi lãi suất và tỷ giá Chính mối quan hệ biện chứng này làm cho việc điều hành và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá trở nên khó khăn, phức tạp Vì vậy vai trò của lãi suất và tỷ giá như là những công cụ tích cực trong phát triển kinh tế, đồng thời là những công

cụ kềm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay vụng

về trong việc sử dụng chúng

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w