1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp triết lý trồng người của hồ chí minh với sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay ở huyện hải lăng, tỉnh quảng trị

69 852 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết lý trồng người của Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Tác giả Bùi Như Trường Giang
Người hướng dẫn Th.s. Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành Triết lý giáo dục, Công tác Đảng và xây dựng con người mới
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 691,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

   BÙI NHƯ TRƯỜNG GIANG

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN TRIẾT HỌC

Huế, 05 – 2011

ĐẠI HỌC HUẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

  

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

TRIẾT LÝ “TRỒNG NGƯỜI” CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI Ở HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh Bùi Như Trường Giang

Triết K31

Huế, 05 - 2011

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của khóa luận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân vănhóa thế giới; tư tưởng của Người là tài sản vô giá của Đảng và dân tộc ta, luôn

là ngọn cờ đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khácngày càng lớn hơn

Hơn 80 năm chiến đấu và xây dựng dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toànĐảng, toàn dân giành được những thắng lợi vĩ đại, giành được độc lập tự do,đang từng bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong tư tưởng của mình,

-Hồ Chí Minh đặc biệt rất coi trọng vấn đề xây dựng con người có đủ đạo đức

và tài năng, Người đã xác định: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trướchết cần có những con người chủ nghĩa xã hội” Như vậy, sự thành công củachủ nghĩa xã hội là do những con người chủ nghĩa xã hội quyết định

Ngày nay, trong quá trình đổi mới của đất nước, chúng ta đã thu đượcnhững thành tựu bước đầu: nền kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống ngườidân được nâng cao… Điều đó thể hiện tư duy kịp thời đổi mới của Đảng ta,

sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ,đảng viên và người dân đã có những biểu hiện suy thoái về mặt đạo đức, chạytheo đồng tiền, xa rời lý tưởng cách mạng, coi thường pháp luật Mặt khác,các thế lực thù địch ra sức thực hiện âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa

bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Trong chiến lược Diễn biến hòa bình, tấn công trên mặt trận tư tưởng - vănhóa được coi là mũi đột phá, các thế lực thù địch đang công kích chống phá

Trang 4

một cách có hệ thống trên tất cả các luận điểm và nội dung cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm tan rã niềm tin, tạo sựhỗn loạn về lý luận và tư tưởng, gây ra sự dao động, hoài nghi về con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo ra khoảng trống trong nhận thức tư tưởng, nhằm

đi tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Chính vì vậy bên cạnh việc xây dựng một nguồn nhân lực chất lượngcao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,thì việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lý tưởng cách mạng cho con người, đặcbiệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên là yêu cầu cấp thiết đặt ra Con người làtrung tâm của mọi sự phát triển, để đưa đất nước Việt Nam phát triển di lêntheo con đường chủ nghĩa xã hội thì cần phải có những con người có phẩmchất và năng lực, có lý tưởng cách mạng, đảm bảo cho sự thành công của sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Để có những con người có thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựngđất nước, cần phải có chiến lược “trồng người” Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “vìlợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười” “Trồng người” là sự nghiệp chung của cả nước, tuy nhiên, các địaphương cần có chiến lược “trồng người” phù hợp với những đặc điểm riêngcủa địa phương mình, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh về con người mới chủ nghĩa

xã hội làm chuẩn mực

Chính vì những lý do trên, mà việc nghiên cứu những quan điểm củaĐảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói chung và triết lý “trồng người”

nói riêng là rất quan trọng và cần thiết Vì thế, tôi chọn đề tài: “Triết lý trồng

người của Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay ở Hải Lăng, Quảng Trị” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

Trang 5

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và điều kiện nghiên cứu nênkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đánh giá, góp ýcủa quý thầy cô và những ai quan tâm.

2 Tình hình nghiên cứu khóa luận.

Nghiên cứu về vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có khánhiều các công trình của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, như:

 Thành Duy, Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

 Đặng Xuân Kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và conngười, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

 Trần Xuân Trường, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủnghĩa Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008

Ngoài ra, còn có những công trình của nhiều nhà nghiên cứu khác có nộidung liên quan đến khóa luận đã được đăng trên các báo, tạp chí khác, như:

Vũ Thị Kim Dung với Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người đăng trên Tạp chí

Khoa học chính trị, số 2-1998; Hoàng Đình Tỉnh với Giáo dục, bồi dưỡng thế

hệ trẻ Việt Nam hiện nay theo Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên

Hồ Chí Minh, khái quát được tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Tuy nhiên,

ít có công trình nào đề cập đến triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ ChíMinh Khóa luận này cố gắng chỉ ra triết lý “trồng người” của Chủ tịch Hồ

Trang 6

Chí Minh và sự vận dụng triết lý ấy trong sự nghiệp xây dựng con người mới

ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận.

Mục đích của khóa luận là: làm rõ “Triết lý trồng người của Hồ Chí

Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay ở Hải Lăng, Quảng Trị”.

Nhiệm vụ của khóa luận là: Cố gắng chỉ ra triết lý “trồng người” của

Hồ Chí Minh; khái quát thực trạng vấn đề con người hiện nay ở Hải Lăng,Quảng Trị; đề xuất một số giải pháp vận dụng triết lý “trồng người” của HồChí Minh nhằm đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay ởhuyện Hải Lăng, Quảng Trị

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận.

Cơ sở phương pháp luận của khóa luận là Phép biện chứng duy vật vàcác phướng pháp của Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là các phương pháp phân tích tổng hợp, lôgíc - lịch sử Đề tài cũng vận dụng kết quả của một số công trình

-có liên quan của các nhà khoa học khác để làm rõ mục đích đề tài nêu ra

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận.

Về không gian là huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

Về thời gian là giai đoạn hiện nay (từ 1986 đến 2011)

Về nội dung là triết lý “trồng người” của Hồ Chí Minh; chiến lược

“trồng người” hiện nay ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

6 Đóng góp của khóa luận.

Trình bày một cách có hệ thống triết lý “trồng người” của Hồ Chí Minhvới những giải pháp xây dựng con người xã hội chủ nghĩa hiện nay ở huyệnHải Lăng, Quảng Trị

Trang 7

7 Kết cấu của khóa luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài cókết cấu thành hai chương:

Chương 1: Những nội dung cơ bản về triết lý “trồng người” của HồChí Minh

Chương 2: Vận dụng triết lý “trồng người” của Hồ Chí Minh vào sựnghiệp xây dựng con người mới hiện nay ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1:

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ “TRỒNG NGƯỜI” CỦA HỒ CHÍ MINH

1.1 Các tiền đề của triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.1 Triết lý nhân sinh của Việt Nam là tiền đề trực tiếp của tư tưởng

Hồ Chí Minh về triết lý “trồng người”

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đãhình thành cho mình những “giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và caoquý”[4; 28] Những giá trị đó đã trở thành một trong những tiền đề tư tưởng,

lý luận xuất phát cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam theo GS TrầnVăn Giàu, bao gồm: yêu nước, cần cù, sáng tạo, anh hùng, lạc quan, thươngngười, vì nghĩa Còn theo GS Vũ Khiêu, đạo đức truyền thống đó bao gồm:lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thầnnhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người Tuy nhiên, cho dù đạođức truyền thống ấy là gì thì trong cái kho tàng ấy, luôn nổi bật lên một tưtưởng nhân sinh, vì con người, yêu thương con người Tư tưởng nhân sinhtruyền thống đó luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong những giá trịtruyền thống của dân tộc, và nó đã trở thành tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của

tư tưởng Hồ Chí Minh, mà trước hết là triết lý “trồng người”

Tư tưởng nhân sinh là một trong những giá trị đạo đức truyền thống nổibật của dân tộc Việt Nam Tư tưởng nhân sinh đó, có cội nguồn sâu xa từtrong đời sống lao động sản xuất của người dân Việt Nam từ ngàn xưa Vàtheo dòng lịch sử, trong quá trình dựng nước và giữ nước, cùng với sự giaolưu văn hóa, những tư tưởng nhân sinh truyền thống nguyên thủy của dân tộc

Trang 9

Việt Nam đã tiếp thu, hấp thụ những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài làm cho tưtưởng nhân sinh của Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng hơn Những tinhhoa văn hóa tiếp thu từ bên ngoài, đã được “Việt hóa” cho phù hợp với truyềnthống Việt Nam, trải qua các thế hệ, tư tưởng nhân sinh đó được nâng lên tầmtriết lý Như vậy, triết lý nhân sinh của Việt Nam là sự hòa quyện giữa nhữnggiá trị truyền thống của dân tộc với những tinh hoa văn hóa hấp thụ từ bênngoài với những điểm tương đồng, mà chủ yếu là văn hóa phương Đông Nóinhư PGS Hồ Kiếm Việt, triết lý nhân sinh Việt Nam là sự hòa quyện giữa bảnsắc dân tộc với những “triết lý phương Đông đã được Việt Nam hóa”[26; 63].

Các tư tưởng nhân sinh như: tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, “từ bi”của Phật giáo, đã có ảnh hưởng sâu sắc trong lòng người dân Việt Nam,nhưng nó không hoàn toàn là sự sao chép mà đó là một sự khúc xạ, chắt lọcnhững nhân tố phù hợp với đời sống con người Việt, tạo nên một triết lý nhânsinh đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Phạm trù “nhân” trong Nho giáo, đó

là “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, là “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhiđạt nhân”, là “khắc kỷ phục lễ vi nhân” Đó là những tư tưởng nhân nghĩa vôcùng sâu sắc, tuy nhiên, nhân nghĩa đó, theo Nho giáo chỉ có ở người quân tử.Còn ở Việt Nam, Nguyễn Trãi coi cốt lõi nhân nghĩa là ở dân, của dân, “việcnhân nghĩa cốt ở yên dân”, nhân là lòng yêu thương con người không phânbiệt giai cấp, chủng tộc

Đối với “từ bi” của Phật giáo, đó thực chất là lòng thương người rộnglớn, vị tha, vì người khác, không kể người đó là ai Điều này thể hiện trong tưtưởng “giải thoát chúng sinh” ra khỏi vòng luân hồi bất tận của đức Phật Tuynhiên, có thể nhận thấy rằng, người dân Việt Nam, trên cơ sở truyền thốngdân tộc, đã tiếp thu tư tưởng nhân sinh của Phật giáo, nhưng không phải tuhành mong cứu rỗi cuộc đời mà là đoàn kết đấu tranh, bảo vệ cái đúng, chống

Trang 10

lại mọi cái xấu Những tư tưởng nhân sinh đó của Phật giáo đã tham gia vàođời sống xã hội của con người Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy rằng, triết lý nhân sinh truyền thống của dân tộcViệt Nam là sự kết hợp những tư tưởng nhân sinh đã có từ ngàn xưa vớinhững tư tưởng nhân sinh hấp thụ được từ bên ngoài, mà những tư tưởngnhân sinh đó đã được “Việt hóa” Triết lý nhân sinh đó thể hiện trong đờisống gia đình và xã hội, trong việc làm và nếp nghĩ của người dân Việt Nam.Triết lý nhân sinh đó xuất phát từ con người, lấy con người làm trung tâm,

“đặt con người Việt Nam trong quan hệ ruột thịt của cộng đồng, vốn sinh ratừ một gốc và quan hệ sống còn với đất nước – nơi chôn nhau cắt rốn màchính mình đã đổ mồ hồi, xương máu dựng xây, bảo vệ”[26; 65]

Triết lý nhân sinh truyền thống của dân tộc Việt Nam, thể hiện trướchết ở việc xác định nguồn gốc con người Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã

có truyền thuyết về Lạc long Quân và Âu Cơ sinh trăm trứng nở trăm con.Điều này cho thấy, trong quan niệm nhân sinh của người dân Việt Nam, conngười Việt Nam là do cùng một cha mẹ sinh ra, là ruột thịt với nhau, vừa mớisinh ra đã là một cộng đồng, là “đồng bào” Cũng chính vì thế mà người dânViệt Nam luôn lấy tình yêu thương, lòng nhân ái để đối xử với nhau Tìnhnghĩa nhân ái đã trở thành đạo lý sống của người dân Điều này thể hiện rất rõtrong những câu ca dao tục ngữ:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Trang 11

trong cái tình cảm “trong một nước”, “chung một giàn” ấy Cũng nhờ cái tìnhcảm ấy mà con người Việt Nam luôn sống hòa đồng với nhau, luôn tương trợgiúp đỡ lẫn nhau với tinh thần “lá lành đùm lá rách”.

Lòng nhân ái, yêu thương con người của nhân dân Việt Nam thể hiệntrong các mối quan hệ của con người trong gia đình, trong cộng đồng xã hội,

dù ở đâu thì con người Việt Nam luôn thể hiện một tinh thần đoàn kết chặtchẽ với nhau Trải qua biết bao khó khăn, do thiên tai, địch họa, con ngườiViệt Nam luôn luôn đoàn kết một lòng, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn,

thử thách với tinh thần: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên

hòn núi cao”.

Triết lý nhân sinh truyền thống của Việt Nam không chỉ thể hiện ở lòngyêu thương, nhân ái, đoàn kết với nhau giữa những con người trong một cộngđồng với nhau, mà nó còn thể hiện ở lòng bao dung, vị tha, “đánh kẻ chạy đikhông ai đánh kẻ chạy lại” Lòng bao dung, vị tha dường như là một đạo lýsống của con người Viêt Nam, tấm lòng đó không phân biết đối với bất kỳmột ai, ngay đối với kẻ thù cũng vậy Lịch sử là một minh chứng hùng hồncho điều này, chúng ta đã luôn lấy lòng nhân nghĩa để đối đãi với kẻ thù.Ngay từ ngàn xưa, khi lịch sử nước ta chưa thành văn, chúng ta đã có truyềnthuyết về người anh hùng Thạch Sanh, với lòng thương người, Thạch Sanh đãdùng tiếng đàn nhân nghĩa để cảm hóa kẻ thù, và khi chúng đã đầu hàng thìban cho chúng niêu cơm nhân nghĩa, không để chúng bị đói trở về Cũng vớilòng nhân nghĩa đó, Nguyễn Trãi sau khi đánh bại lũ giặc ngoại xâm cũng đãcung cấp thuyền bè, lương thực cho chúng trở về nước thuận lợi Điều nàykhông chỉ thể hiện tấm lòng vị tha của dân tộc Việt Nam, mà hơn hết nó đãthể hiện một triết lý nhân sinh cao cả: Tất cả con người đều là đồng loại củanhau, cần phải dùng lòng nhân nghĩa để đối đãi với nhau

Trang 12

Như vậy, triết lý nhân sinh của Việt Nam đặt con người ở vị trí trungtâm, con người là vốn quý hơn cả mà không có bất cứ một điều gì có thể sosánh được, bởi vì “người ta là hoa của đất” Quý trọng con người, thương yêucon người và giáo dục con người phải thường xuyên tu dưỡng là những giá trịđạo đức truyền thống, thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc của dân tộc ViệtNam GS Vũ Ngọc Khánh đã viết: “truyền thống đạo đức Việt Nam là truyềnthống giáo dục con người phải tu dưỡng trọn đời để nên người, dựng làng vàgiữ nước Chính từ truyền thống đạo đức này, mà có lòng yêu nước, lòngnhân ái và những đức tình cần cù, giản dị…”

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống giáo dục, ở một miền quêgiàu truyền thống, Hồ Chí Minh đã thấm đượm triết lý nhân sinh truyền thốngcủa dân tộc ngay từ những ngày còn bé Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng

về con người, hướng về nhân dân, Người đã thấy được con người luôn ở vị trítrung tâm, thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục, bồi dưỡng nhằm pháthuy vai trò của con người Vì thế, có thể khẳng định, triết lý nhân sinh truyềnthống của dân tộc Việt Nam là tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của tư tưởng HồChí Minh về con người, mà trước hết là triết lý “trồng người”

1.1.2 Triết học Mác–Lênin về bản chất con người là tiền đề cốt lõi của tư

tưởng Hồ Chí Minh về triết lý “trồng người”

Chủ nghĩa Mác–Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho

sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh “Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác–Lênin ở

Hồ Chí Minh diễn ra trên nền tảng của những tri thức văn hóa tinh túy đãđược chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, đượctích lũy qua thực tiễn hoạt động, đấu tranh vì mục tiêu cứu nước và giảiphóng dân tộc.”[4; 31]

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác–Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Trong số những

Trang 13

giá trị to lớn mà Hồ Chí Minh hấp thụ được từ chủ nghĩa Mác–Lênin, thì triếthọc Mác–Lênin về bản chất của con người chính là tiền đề cốt lõi cho sự hìnhthành triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Triết học Mác–Lênin, trên cơ sở kế thừa những quan niệm về conngười trong lịch sử triết học, đã có những quan niệm đúng đắn về bản chấtcon người Có thể nói, triết học Mác đã thể hiện những quan niệm đúng đắn

về bản chất con người, đã khắc phục được những thiếu sót, sai lầm trong quanniệm về bản chất con người của các trường phái triết học trước đó

Vậy triết học Mác–Lênin quan niệm như thế nào về bản chất của conngười?

Trước hết, kế thừa những quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, vàdựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, mà trực tiếp là thuyết tiến

hóa và thuyết tế bào, triết học Mác khẳng định: con người là một thực thể

thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội.

Con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, là một bộ phận của giới tựnhiên, chính vì thế mà “con người tự nhiên” mang tất cả những bản tính sinhhọc, tính loài “Giới tự nhiên… là thân thể vô cơ của con người… đời sốngthể xác và đời sống tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” Conngười vốn có nguồn gốc từ loài vượn người, trải qua một quá trình phát triểnlâu dài, phải đấu tranh để sinh tồn, luôn tìm kiếm những điều kiện cần thiếtcho sự tồn tại của mình, loài vượn đó đã tiến hóa thành con người, dần theobước tiến hóa đó con người dần phát triển hoàn thiện hơn Tuy nhiên, conngười cho dù có phát triển đến đâu thì nó vẫn là một bộ phận của giới tựnhiên, vẫn là một loài động vật bậc cao, là một thực thể sinh vật Điều nàybiểu hiện trong cá nhân con người sống, trong tổ chức cơ thể của con người

và trong mối quan hệ của con người với tự nhiên Cũng như các loài động vậtkhác, con người luôn cần phải đáp ứng đầy đủ các nhu cầu như ăn, ở đó là

Trang 14

những nhu cầu tối thiểu đảm bảo cho sự tồn tại của con người Trong cơ thểcủa con người vẫn luôn xảy ra các quá trình sinh học như trao đổi chất, traođổi không khí, đồng hóa và dị hóa tất cả những điều này nói lên một điều,

đó là, con người là một thực thể sinh vật

Mặc dù con người là một loài động vật nhưng khác với các loài độngvật khác, con người là một loài động vật có ý thức, con người không chỉ làmột thực thể sinh vật mà còn là một thực thể xã hội Phương diện xã hộichính là đặc trưng phân biệt con người với thế giới loài vật

“Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vậtchất”[3; 388] Các giá trị vật chất và tinh thần cần thiết cho đời sống củamình, đã được con người sản xuất ra thông qua hoạt động sản xuất vật chất.Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người còn phát triển tư duy, ngônngữ và xác lập các quan hệ xã hội của mình Bởi vậy, có thể nói, bản chất xãhội của con người được hình thành thông qua lao động, đồng thời, lao độngcòn là yếu tố quyết định sự hình thành của nhân cách cá nhân trong cộng đồng

xã hội C.Mác đã khẳng định, xã hội suy cho cùng là sự tác động qua lại giữanhững con người Con người là thành viên của xã hội, đồng thời cũng là chủthể tạo nên xã hội Trong đời sống hiện thực, con người chuyển hóa sức mạnh

tự nhiên thành chính sức mạnh của chính mình, tức là tạo lập lực lượng sảnxuất, và đồng thời cũng tạo ra các quan hệ giữa người với người (quan hệkinh tế, chính trị, tinh thần, ) Đó là những quan hệ của con người trong mộtcộng đồng, xã hội

Như vậy, chủ nghĩa Mác đã khẳng định, con người là một thực thểthống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội “Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tựnhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt conngười với loài vật”[3; 389] Hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau,không thể tách rời nhau Cũng không thể quá đề cao mặt sinh học mà coi nhẹ

Trang 15

mặt xã hội, ngược lại, không thể quá đề cao mặt xã hội mà coi nhẹ mặt sinhhọc của con người Không thể có con người xã hội nếu không có con ngườisinh học, và nếu chỉ có mặt sinh học mà không có mặt xã hội thì con ngườichỉ tồn tại như những loài động vật khác trong thế giới tự nhiên Con người làmột thực thể sinh vật – xã hội.

Thứ hai, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa

những quan hệ xã hội.

Trong tác phẩm Luận cương về FeuerBach, C.Mác đã nêu lên một luận

đề nổi tiếng: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu

của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Với luận đề này, triết học Mác–Lênin đã

làm nên bước ngoặt vĩ đại trong việc nghiên cứu bản chất của con người

Với luận đề trên, triết học Mác đã chỉ rõ, bản chất con người khôngphải là cái gì đó có sẵn, mà nó được hình thành nên và thể hiện ở những conngười hiện thực Con người là con người hiện thực cụ thể, sống trong nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định, chứ không phải lànhững con người trừu tượng Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, thông quanhững hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những điều kiện vậtchất và tinh thần để tồn tại và phát triển về cả thể lực lẫn trí lực Và trong quátrình đó, con người chịu sự tác động của các quan hệ xã hội, cũng từ đó màbản chất của con người được hình thành Bản chất con người chỉ bộc lộ ratrong các quan hệ xã hội (quan hệ kinh tế, xã hội; quan hệ cá nhân, gia đình,

xã hội; quan hệ giai cấp, dân tộc )

Luận đề trên đồng thời cũng cho thấy, bản chất của con người có thểthay đổi được, nhưng nếu muốn thay đổi bản chất của con người thì không thểkhông thay đổi những quan hệ xã hội, tức là cái gốc rễ sâu xa tạo nên bản chấtcủa con người Các quan hệ xã hội mà từ đó bản chất con người được hình

Trang 16

thành và bộc lộc không chỉ là những quan hệ của từng hình thái xã hội riêngbiệt, mà đó còn là những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, từngthời đại riêng biệt Các quan hệ xã hội đó vừa diễn ra theo chiều ngang, vừadiễn ra theo chiều dọc của lịch sử Các quan hệ xã hội này không phải chỉ là

sự kết hợp đơn thuần với nhau để tạo nên bản chất của con người, mà nhữngquan hệ đó “tổng hòa” với nhau, nghĩa là, mỗi quan hệ có vị trí, vai trò khácnhau, nhưng không tách rời nhau mà chúng thống nhất với nhau, tác động qualại lẫn nhau

Khẳng định, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hộikhông có nghĩa là phủ nhận mặt sinh học trong con người Bởi vì, con người

là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội, khi con ngườithực hiện những nhu cầu sinh vật của mình thì hoạt động đó cũng đã mangtính xã hội Với quan niệm trên, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đem lại mộtquan niệm đúng đắn trong nhận thức về bản chất con người, vạch được conđường đúng đắn đi đến giải phóng con người

Thứ ba, con người là chủ thể và đồng thời là sản phẩm của lịch sử.

“Không có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không có sự tồn tạicủa con người”[3; 391] Như vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, sảnphẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên Nhưng con người không chỉ

là sản phẩm, mà nó còn là chủ thể của lịch sử

Những quá trình đan xen, nối tiếp nhau với tất cả những gì lưu giữ lại

và những cái biến đổi được gọi là lịch sử Với cách hiểu như vậy về lịch sử thì

cả con người và con vật đều có lịch sử Trong tác phẩm Biện chứng của tự

nhiên, Ph.Ăngghen từng viết: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn

Trang 17

ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” Như vậy, lịch sử của con người khác xa lịch sử của loài vật, lịch sử

loài người là hoạt động có ý thức của con người

Con người là một thực thể xã hội, thông qua các hoạt động thực tiễncủa mình con người tác động vào tự nhiên và cải biến thế giới, đồng thờithông qua hoạt động thực tiễn đó con người cũng thúc đẩy sự vận động vàphát triển của lịch sử xã hội “Trong quá trình cải biến tự nhiên, con ngườicũng làm ra lịch sử của mình”[3; 392] Con người làm ra lịch sử, vì vậy để cóđược lịch sử thì con người phải có trước Theo Ph.Ăngghen, tiền đề đầu tiêncho toàn bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân con người sống

Vì vậy, hoạt động lịc sử đầu tiên chính là hoạt động sản xuất vật chất để táchcon người ra khỏi thế giới loài vật Thông qua các hoạt động của mình, conngười đã thiết lập các quan hệ xã hội Hoạt động thực tiễn của con người làđiều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của con người, đồng thời nó cũng là điềukiện làm biến đổi đời sống xã hội và bộ mặt của xã hội Hoạt động thực tiễncủa con người bao gồm các dạng cơ bản sau: hoạt động vật chất; hoạt độngchính trị xã hội và hoạt động khoa học thực nghiệm Chính nhờ các hoạt độngthực tiễn đó mà lịch sử xã hội không ngừng vận động và biến đổi Tuy nhiên,các hoạt động này không thể đi ngược lại quy luật khách quan của lịch sử xãhội, con người trên cơ sở nắm bắt được các quy luật khách quan, bằng hoạtđộng của mình đã thúc đẩy lịch sử xã hội vận động từ thấp đến cao, từ hìnhthái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác Mỗi hình thái kinhtế-xã hội tương ứng với một phương thức sản xuất nhất định, khi phương thứcsản xuất biến đổii tất yếu sẽ kéo theo sự biến đổi của hình thái kinh tế-xã hội

đó Lực lượng sản xuất chính là nhân tố quyết định sự biến đổi của phương

Trang 18

thức sản xuất Như vậy, “không phải là cái gì khác mà chính con người, vớinhững công cụ do nó tạo ra, đã quyết định sự thay đổi bộ mặt xã hội”[20;212] Không có con người thì không có xã hội, không có hoạt động của conngười thì không tồn tại các quy luật xã hội, cũng không có sự tồn tại của toàn

bộ lịch sử xã hội loài người

Như vậy, một lần nửa có thể khẳng định, con người vừa là sản phẩmcủa lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử xã hội Lịch sử xã hội tạo ra con ngườivới toàn bộ những phẩm chất của nó, đến lượt mình, con người tác động trởlại xã hội, tạo nên lịch sử xã hội với những biến đổi của nó

1.2 Tính triết lý trong chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh

1.2.1 Triết lý Hồ Chí Minh về bản chất và vai trò của con người

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề con người là một bộ phận quantrọng, có ý nghĩa vô cùng lớn lao Mặc dù trong tất cả các tác phẩm của mình,

Hồ Chí Minh không có một tác phẩm lý luận nào viết riêng về con người.Song, tất cả các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, cho dù bàn về vấn đề gì thìmục đích cuối cùng của nó cũng là vì tự do, hạnh phúc của con người Độclập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân là mục đích của suốt cuộc đời hoạtđộng của Hồ Chí Minh Ở Hồ Chí Minh, chúng ta luôn thấy một tấm lòng yêuthương con người, yêu thương nhân dân vô hạn, Hồ Chí Minh luôn mongmuốn đem lại hạnh phúc cho nhân dân, mong muốn tạo mọi điều kiện thuậnlợi cho con người phát triển

Yêu thương con người, mà trước hết là nhân dân lao động Việt Namđang bị áp bức, bóc lột Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìmđường cứu nước, Người đã đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác–Lênin HồChí Minh đã tiếp thu, kế thừa và phát huy một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác–Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Vấn đề con người trong triết họcMác–Lênin cũng được Người kế thừa, cùng với lòng yêu thương con người

Trang 19

vô hạn và những trải nghiệm trong thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đểlại trong kho tàng tư tưởng của mình một triết lý về bản chất và vai trò củacon người vô cùng sâu sắc.

1.2.1.1 Về bản chất của con người

Trên cơ sở tiếp thu những quan niệm của triết học Mác–Lênin, Hồ ChíMinh đã có những quan niệm đúng đắn về bản chất con người

Hồ Chí Minh từng nêu lên một định nghĩa vô cùng sâu sắc về con

người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa

rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là cả loài người”[14; 644] Định

nghĩa trên đã thể hiện tư duy sâu sắc của Hồ Chí Minh về con người Đối với

Hồ Chí Minh không có con người trừu tượng, chung chung mà chỉ có nhữngcon người cụ thể, cũng không có những con người cá nhân tồn tại biệt lập.Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tạitrong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài ngườitrên toàn thế giới Điều này đã nói lên mặt xã hội của con người Nhưng conngười không chỉ là con người xã hội mà con người là một thực thể thống nhấtgiữa mặt sinh học và mặt xã hội Hồ Chí Minh nhấn mạnh, con người muốntồn tại trước hết phải đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của mình, đó là cácnhu cầu như: ăn, ở, mặc “Phải giành giật lấy của tự nhiên những gì cần thiết

để tồn tại là vấn đề có tính sinh học Nhưng con người lại là thực thể sinh vật–

xã hội, vì vậy, ngay trong việc con người giành lấy của tự nhiên những gì cầncho cuộc sống của mình đã không phải bằng cách thuần túy tự nhiên, mà đãmang tính xã hội Đó là việc giành lấy những thứ cần thiết ấy bằng các công

cụ lao động do mình làm ra ngày càng nhiều hơn, tinh xảo hơn”[9; 263–264]

Trong đời sống của mình, con người không chỉ cần có những nhu cầuvật chất mà còn cần cả những nhu cầu tinh thần Tất cả những nhu cầu đóđược đáp ứng hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ của xã hội, phụ

Trang 20

thuộc vào chủ thể xã hội mà chính con người đang sống Về điều này, Hồ ChíMinh chỉ rõ, “dân dĩ thực vi thiên”, “có thực mới vực được đạo” Nhữngnhu cầu thiết yếu đó cần phải được đáp ứng đầy đủ Chính vì vậy mà chỉ mộtngày sau khi tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã nêu ra các việc cần phải làm:

“Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 Làm cho dân có ăn.

Hồ Chí Minh còn nhìn nhận con người trong sự thống nhất giữa các

mặt đối lập Hồ Chí Minh từng nói: “Trong xã hội có thiện và cũng có ác.

Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước có thiện và có ác Theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư tưởng của mỗi một người cũng có thiện và

có ác”[16; 276], và “trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân”[17; 448] Các mặt đối lập trong mỗi một con người

luôn luôn đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau Sự đấu tranh chuyển hóa đó chịutác động mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội, chính hoàn cảnh xã hội tạo ra trongcon người cái thiện và cái ác, bởi con người sinh ra trong xã hội

Theo Hồ Chí Minh, bản chất con người mang tính xã hội Ngay trongđịnh nghĩa con người của Hồ Chí Minh đã chứng minh cho điều này Quántriệt quan điểm lịch sử-cụ thể, Hồ Chí Minh đặt con người, mỗi cá nhân conngười trong mối quan hệ nhiều chiều: “quan hệ với một cộng đồng xã hộinhất định, trong đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một chế độ

xã hội nhất định, trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức, bóc lột;

Trang 21

quan hệ với tự nhiên, mà con người là một bộ phận không tách rời, nhưng lạiluôn luôn “người hóa” tự nhiên trong những cộng đồng xã hội nhất định và bịquy định bởi những chế độ xã hội nhất định”[9; 268] Điều này hoàn toàn phùhợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác–Lênin về con người và bản chất con

người Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ rằng: “trong tính hiện thực của nó, bản chất

con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Quán triệt quan điểm của chủ

nghĩa Mác–Lênin về bản chất con người, Hồ Chí Minh thấy rõ tổng hòa tất cảcác quan hệ xã hội mới tạo nên bản chất con người Những quan hệ đó baogồm nhiều loại: quan hệ gia đình, họ tộc ; quan hệ sản xuất, quan hệ chínhtrị, tôn giáo Nhưng trong đó quan hệ sản xuất là quan hệ quyết định, chiphối tất cả các quan hệ xã hội khác Hồ Chí Minh đã khẳng định, chính quan

hệ sản xuất đã phân chia thành giống người bóc lột và giống người bị bóc lột.Khẳng định như vậy, nhưng Hồ Chí Minh không quá đề cao quan hệ sản xuất,coi quan hệ sản xuất là quan hệ duy nhất tạo nên bản chất con người, cũngkhông coi nhẹ quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là quan hệ quyết định,nhưng tất cả quan hệ xã hội khác đều góp phần hình thành nên bản chất conngười

Thấy được bản chất con người mang tính xã hội, Hồ Chí Minh đồngthời cũng thấy được các quan hệ xã hội không phải là nhất thành bất biến màcác quan hệ xã hội cũng biến đổi Có loại thay đổi nhanh, có loại thay đổichậm; có loại tồn tại lâu dài, có loại bị thay thế bởi những cái khác khi nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể cho chúng tồn tại không còn nữa (quan hệ sản xuất,quan hệ giai cấp ) Các quan hệ xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi của bản

chất con người, Hồ Chí Minh từng nói: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hóa,

tư tưởng của người cũng biến hóa Người ở đời ai cũng có chổ tốt và chổ xấu Ta phải khéo nâng cao chổ tốt, khéo sửa chữa chổ xấu cho họ”[14; 278–

279] Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, những người bóc lột ở Việt Nam, chỉ

Trang 22

có một số ít là can tâm bán nước, còn đại đa số vẫn thấy được nỗi nhục mấtnước, trong bản thân họ vẫn có lòng yêu nước Vì vậy, nếu làm thức tỉnh tinhthần dân tộc ở những con người đó thì họ sẽ đứng về phía dân tộc khi đối mặtvới bọn đế quốc thực dân Từ đó, Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương phân hóagiai cấp, hướng mọi người đứng về phía dân tộc, không phân biệt giai cấp,dân tộc, tôn giáo, không phân biệt giàu nghèo Hồ Chí Minh đã kêu gọi xâydựng khối đại đoàn kết dân tộc, đã thu hút được mọi giai cấp, tầng lớp, kể cảnhững quan lại trong chế độ cũ, những nhân sĩ, những nhà tu hành, và có cảđịa chủ và tư sản tham gia Đây chính là sự thay đổi các quan hệ xã hội đểlàm cho những con người trước đây không theo hoặc phản cách mạng thứctỉnh, đứng dậy đi theo cách mạng.

Như vậy, trong quan điểm của Hồ Chí Minh, bản chất con người mangtính xã hội Bản chất con người không phải có sẵn, con người sinh ra khôngphải bị quy định bởi tính thiện hay tính ác, tính thiện hay tính ác đó có được

là do những quan hệ xã hội mà người đó tham gia quy định Chính vì vậy, HồChí Minh đã đề ra chiến lược “trồng người”, nhằm giáo dục, đào tạo conngười, tức là tạo nên những quan hệ xã hội tốt đẹp để hình thành nên bản chấttốt đẹp của con người, tạo nên những con người mang bản chất cách mạng,đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng chính con người

1.2.1.2 Về vai trò của con người

Trước hết, Hồ Chí Minh thấy được “con người là vốn quý nhất, nhân tốquyết định thành công của sự nghiệp cách mạng”[3; 276]

Với lòng yêu thương con người, yêu thương nhân dân vô hạn, Hồ ChíMinh đã xác định:

“Nhân nghĩa là nhân dân.

Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trang 23

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân.

Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân.”[16; 267]

Đối với Hồ Chí Minh, con người, nhân dân là vốn quý nhất, không thểlấy bất cứ điều gì so sánh được Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về nhândân, luôn mong mỏi đem lại hạnh phúc cho nhân dân Cũng chính vì lòng yêuthương con người, yêu thương nhân dân, Hồ Chí Minh đã thấy được sứcmạnh của con người, của khối đại đoàn kết toàn dân Con người là trung tâmcủa mọi vấn đề, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng, “vô luậnviệc gì đều do con người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thếcả”[14; 241] Tất cả mọi việc nếu có bàn tay của con người với sức mạnh của

khối đại đoàn kết toàn dân đều dễ dàng thực hiện, Hồ Chí Minh từng nói: “…

việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt Các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng:

Dễ mười lần không dân cũng chịu,

Khó trăm lần dân liệu cũng xong.”[10; 14]

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất

và tinh thần Người dân Việt Nam, với những đức tính tốt đẹp đã được đúckết từ ngàn xưa, như lòng trung thành, không ngại khó, ngại khổ, ngại tù đày,

hy sinh là nhân tố hàng đầu, quyết định thành công của cách mạng

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thì nhân dân là gốc, không có nhândân với sự đoàn kết vững chắc, thì cho dù có tài giỏi đến mấy thì cũng khôngthể làm được điều gì, Người xác định:

“Gốc có vững thì cây mới bền.

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.”[14; 410]

Trang 24

Hồ Chí Minh luôn có niềm tin vững chắc rằng, “với tinh thần quậtcường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyếtcủa nhân dân ta và quân đội ta, chẳng những chúng ta có thể thắng lợi màchúng ta nhất định thắng lợi”[4; 277] Mọi vấn đề lớn nhỏ trong sự nghiệpcách mạng đều do nhân dân giải quyết, bởi vì “cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng” “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng

vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”[15; 281] Mỗi con người là một ý chí, vàkhi những ý chí đó đoàn kết lại sẽ thành một ngọn lửa bùng phát, thiêu cháychủ nghĩa đế quốc thực dân, thiêu cháy mọi sự cản trở đến hạnh phúc, tự docủa con người

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người còn thể hiện vai trò vừa là

mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.

Xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người, thấu hiểu được nổi khổcủa nhân dân đang lầm than, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìmđường cứu nước, cứu dân Suốt trong những năm tháng bôn ba trên khắp thếgiới và cả những năm tháng sau này khi đã ở trên cương vị là Chủ tịch nước,

Hồ Chí Minh vẫn luôn sống gần gũi với nhân dân, sống giữa lòng nhân dân,Người hiểu rõ dân tình, thấu hiểu dân tâm, dân ý Hồ Chí Minh đã thấy đượccách mạng là sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóngcon người, ba mục tiêu này gắn bó chặt chẽ với nhau, trong cái này có đã cócái kia, nhưng chung quy lại thì mục tiêu tối cao của cách mạng là giải phóngcon người khỏi những áp bức, bóc lột, làm cho con người được tự do, hạnhphúc và được tạo mọi điều kiện để phát huy hết khả năng của bản thân Xácđịnh con người là mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh đã xác định tráchnhiệm của Đảng, của Chính phủ và của chính bản thân Người là “làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào aicũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Giải phóng con người là

Trang 25

mục tiêu của cách mạng, đó là mục tiêu suốt đời hy sinh cống hiến, là lýtưởng suốt đời phấn đấu của Hồ Chí Minh Độc lập dân tộc, xây dựng chủnghĩa xã hội cũng nhằm mục tiêu giải phóng con người, Hồ Chí Minh nói:

“nước độc lập mà dân không hạnh phúc, tự do, thì độc lập ấy cũng không

nghĩa lý gì”[13; 56] Xác định con người là mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí

Minh đồng thời cũng có niềm tin vững chắc vào tài năng, trí tuệ và bản lĩnhcủa con người Người làm hết sức để xây dựng, rèn luyện con người và quyếttâm đấu tranh để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người Quán triệtquan điểm lịch sử-cụ thể, Hồ Chí Minh xác định con người là mục tiêu củacách mạng theo từng giai đoạn cụ thể Khi nhân dân đang phải chịu ách thốngtrị của chế độ phong kiến, đất nước đang chịu sự xâm lược của đế quốc thựcdân, con người phải được giải phóng khỏi gông cùm nô lệ, cùng với sự nghiệpgiải phóng dân tộc Sau khi đất nước được độc lập thì phải ưu tiên phục vụcác nhu cầu tối thiểu của nhân dân, tiếp tục xóa bỏ sự áp bức, bóc lột giữa giaicấp này với giai cấp khác, xóa bỏ mọi sự bất công, bất bình đẳng xã hội đểtiếp tục giải phóng con người trong sự nghiệp giải phóng giai cấp cần lao.Cuối cùng, mổi cá nhân phải được giải phóng, phải được tạo mọi điều kiện đểphát triển toàn diện, trở thành người làm chủ của xã hội

“Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người”[4;

278] Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ

từ toàn quốc cho đến làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[13; 56] Tất cả mọi công việc của cách mạng đều

phải vì mục tiêu giải phóng con người

Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp giải phóng con người, nhưng để sựnghiệp cách mạng đó đi đến thành công lại phải do con người Hay nói cách

Trang 26

khác, con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của sự nghiệpcách mạng Hồ Chí Minh luôn có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của quầnchúng nhân dân, ngay từ đầu Người đã nhìn thấy “đằng sau sự phục tùng tiêucực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽbùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”[11; 28] Và sau này, Hồ Chí

Minh càng khẳng định sức mạnh đó, Người viết: “Lực lượng toàn dân là lực

lượng vĩ đại hơn hết Không ai chiến thắng được lực lượng đó” và “không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy làm cũng được”[10; 11–12] Như

vậy, có thể nhận thấy rằng, con người là động lực của cách mạng được HồChí Minh nhìn nhận trong phạm vi cả nước, là toàn thể đồng bào, nhân dân,

mà trước hết là giai cấp công nhân và nông dân Từ thắng lợi của cuộc cáchmạng tháng Mười–Nga vĩ đại, cho thấy giai cấp đứng ở vị trí trung tâm củathời đại mới chính là giai cấp công nhân Chủ nghĩa Mác–Lênin đã chỉ rarằng, chỉ có giai cấp công nhân với những đặc điểm của nó mới có sứ mệnhlịch sử là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo

luận điểm này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: “Việc đã tạo

ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc đã tự đào hố để chôn mình”[ 12;361] Luận điểm trên đã cho ta thấy, động lực của sự nghiệp cách

mạng ở Việt Nam không chỉ là giai cấp công nhân, mà giai cấp công nhânmuốn thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình thì phải liên minh với nông dân vàgắn bó với toàn dân tộc mới có thể tạo thành một lực lượng hùng hậu với mộtsức mạnh to lớn

Theo Hồ Chí Minh, không phải tất cả mọi người đều là động lực củacách mạng, mà phải là những con người được thức tỉnh, được giác ngộ vàđược tổ chức Con người động lực phải là những con người có trí tuệ và bản

Trang 27

lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và vănhóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam “Chính trị, văn hóa, tinh thần làđộng lực cơ bản trong động lực con người”[4; 280] Vì vậy, sau khi tìm đượccon đường để cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự mình đi vào quần chúng, thứctỉnh và giác ngộ quần chúng nhân dân, để họ xứng đáng với vai trò là độnglực của cách mạng, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cách mạng Mặt khác,con người chỉ thực hiện được vai trò là động lực của cách mạng của mình khihoạt động có tổ chức, và phải có sự lãnh đạo Chính vì vậy cách mạng phảiđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác–Lênin.

Sự nghiệp giải phóng dân tộc hay xây dựng xã hội chủ nghĩa, tất cả đều

do nhân dân thực hiện, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[14; 698].

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không có sự tách rời giữa con người mụctiêu và con người động lực, mà chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau.Càng chăm lo cho con người mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành nhữngcon người động lực tốt bấy nhiêu Ngược lại, phát huy tốt sức mạnh của conngười động lực thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu của cách mạng Conngười vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; sự nghiệp cách mạng

và thành quả của cách mạng là của dân, do dân và vì dân

1.2.2 Tính triết lí trong chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh

“Trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa lâu dài vừa cấp bách của cáchmạng Hồ Chí Minh khẳng định, con người luôn vừa là mục tiêu, vừa là động

Trang 28

lực của cách mạng; bản chất con người mang tính xã hội Chính vì vậy,Người luôn coi việc “trồng người”, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đờisau” là công việc vô cùng quan trọng và cần thiết Hồ Chí Minh nói đến “lợiích trăm năm” và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là những quan điểmmang tầm vóc chiến lược, cơ bản lâu dài nhưng cũng rất cấp bách Nó liênquan đến nhiệm vụ “trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”

và “trồng người” Tất cả những điều này phản ánh tư tưởng lớn về tầm quantrọng có tính quyết định của nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng; tất

cả vì con người, do con người Hồ Chí Minh từng nói: “vì lợi ích mười năm

phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”[17; 222] Đây là một

triết lý vô cùng độc đáo và sâu sắc, đồng thời có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong

sự nghiệp xây dựng con người mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của cáchmạng

Triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong

sự nghiệp xây dựng con người mới – con người xã hội chủ nghĩa Hồ Chí

Minh chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con

người xã hội chủ nghĩa”[18; 310] Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội sẽ tạo

ra những con người xã hội chủ nghĩa, nhưng những con người xã hội chủnghĩa lại là chủ thể của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Chúng

ta không phải chờ cho nền kinh tế, văn hóa phát triển cao rồi mới xây dựngcon người xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong những conngười xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội Việc xây dựngnhững con người xã hội chủ nghĩa phải được đặt ra ngay từ đầu

“Trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, không có nghĩa làtất cả phải và có thể trở thành con người xã hội chủ nghĩa thật đầy đủ, hoànchỉnh Mà trước tiên, cần phải có những con người tiên tiến, có được nhữngnét tiêu biểu của xã hội chủ nghĩa, có thể làm gương cho người khác để từ đó

Trang 29

lôi cuốn toàn bộ xã hội đẩy mạnh xây dựng những con người mới – con người

xã hội chủ nghĩa

Công việc “trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốttiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội và đồng thời phải đạt được những kết quả cụthể qua từng bước đi lên của đất nước Phải khẳng định những cái tốt và pháthuy nó lên, đồng thời phải thấy được những điều chưa tốt, chưa được để khắcphục và làm tốt hơn “Mỗi bước xây dựng con người như vậy là một nấcthang xây dựng chủ nghĩa xã hội”[4; 282] Đây chính là biện chứng giữa chủnghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa “Trồng người”, xây dựng conngười mới xã hội chủ nghĩa là công việc phải được đặt ra trong suốt cuộc đờimỗi con người Đây vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗingười đối với sự nghiệp cách mạng Đó là quá trình trưởng thành, nâng caokhông ngừng của mỗi người

Triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dụng rất toàndiện, điều này thể hiện trong những chuẩn mực của con người mới xã hội chủnghĩa Chuẩn mực đó theo quan điểm của Hồ Chí Minh bao gồm:

Một là, con người mới xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủnghĩa: có ý thức làm chủ Nhà nước, bởi vì Nhà nước ta là Nhà nước của nhândân lao động; có tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọingười, mọi người vì mình”; có tinh thần “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vữngchắc lên chủ nghĩa xã hội”; có tinh thần dám nghĩ, dám làm, luôn cố gắngvươn lên

Hai là, con người mới xã hội chủ nghĩa phải có đạo đức và lối sống xãhội chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã chỉ rõ các chuẩn mực đạo đức của con ngườimới là: trung với nước hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;thương yêu con người, sống có tình có nghĩa; có tinh thần quốc tế trong sáng.Con người mới cũng cần phải có lối sống mới, đó là lối sống có lý tưởng, có

Trang 30

đạo đức Đó còn là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thốngtốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Ba là, con người mới phải có tác phong xã hội chủ nghĩa Xã hội chủnghĩa là xã hội mà mọi người đều phải có ý thức làm ra thật nhiều của cải vậtchất vì lợi ích của toàn xã hội, chính vì vậy, theo Hồ Chí Minh, tác phong conngười xã hội chủ nghĩa là tất cả phục vụ sản xuất Theo Hồ Chí Minh, pháttriển sản xuất là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất nhằm nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân; muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cáchnào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất Trong lao độngsản xuất cần có kế hoạch, có biện pháp, có tổ chức, có kỷ luật; trong lao độngsản xuất không ngại khó, ngại khổ, vì lợi ích của xã hội, của tập thể và củabản thân

Bốn là, con người mới xã hội chủ nghĩa phải có năng lực đề làm chủ bảnthân, gia đình và công việc mà mình đảm nhiệm, để từ đó làm chủ Nhà nước

và xã hội Muốn làm chủ thì nhất định phải có học thức, con người mới phảikhông ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học–kỹ thuật vàchuyên môn nghiệp vụ của mình Có như vậy mới có thể đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đó là những tiêu chuẩn chung của con người mới xã hội chủ nghĩa theo

tư tưởng Hồ Chí Minh Có đầy đủ những phẩm chất như vậy chính là conngười phát triển toàn diện Con người phát triển toàn diện đó chính là chủ thểcủa toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua đó, có thể khẳng địnhrằng, trong sự nghiệp cách mạng thì việc “trồng người” là một chiến lượchàng đầu, có ý nghĩa quyết định Để “trồng người”, xây dựng những conngười có đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của cách mạng thìphải sử dụng nhiều biện pháp, trong đó, giáo dục luôn là biện pháp chiếm giữ

vị trí hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng con người Hồ Chí Minh đặc biệt đề

Trang 31

cao vai trò của giáo dục Nếu như Mạnh Tử coi “bản tính con người vốnthiện”, Tuân Tử coi “bản tính con người vốn ác”, thì đến Hồ Chí Minh, bảntính con người vốn không phải có sẵn mà phần lớn do giáo dục quyết định,

quan điểm này thể hiện rất rõ trong bài thơ Nửa đêm của Người:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Hồ Chí Minh còn nói: “óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm

lụa trắng Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ”[14; 102].

“Nhuộm” ở đây chính là chức năng của giáo dục thông qua dạy và học

Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, nội dung và phương pháp giáo dục

phải toàn diện, cả tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ: “Đối với các em, việc giáo

dục gồm có:

Thể dục: để làm cho thân thể khỏe mạnh, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung.

Trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới.

Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.

Đức dục: là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công.”[16; 74]

Giáo dục phải đào tạo ra những con người toàn đức toàn tài, vừa “hồng”vừa “chuyên”, nhưng phải đặt đạo đức lên hàng đầu Đạo đức là nền tảng cho

tài năng phát triển Hồ Chi Minh khẳng định rằng: “Cũng như sông thì có

nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[14; 252–253] Giáo dục

toàn diện nhưng nội dung phải phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học, cụ

Trang 32

thể: đại học cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, tiếp thu tiến bộ khoahọc kỹ thuật để áp dụng vào thực tiễn nước ta; trung học thì cần dạy cho họcsinh những kiến thức cơ bản, phù hợp, loại bỏ những kiến thức không cầnthiết; còn tiểu học nên dạy cho các cháu thiếu nhi yêu tổ quốc, yêu lao động,yêu khoa học, trọng của công và biết giữ gìn sức khỏe Trong giáo dục phảithực hiện học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, Hồ Chí Minh chỉ

rõ: “Học lý luận không phải là để nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực

hành là lý luận suông Học là để áp dụng vào việc làm Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp.

Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”[15; 47].

Như vậy, trong sự nghiệp “trồng người”, xây dựng con người mới, giáodục luôn chiếm giữ vị trí hàng đầu, có ý nghĩa quyết định “Trồng người”không phải công việc có thể làm một lúc là xong, không thể nóng vội, mà đó

là công việc “trăm năm” Công việc này có thành công hay không thì nhân tốquyết định hàng đầu chính là giáo dục Nhận thức và giải quyết được vấn đềnày có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người, trongsuốt thời kỳ quá độ Mỗi con người trong suốt cuộc đời của mình phải luônluôn giáo dục và tự giáo dục để không ngừng hoàn thiện bản thân, phát triểnhết năng lực sẵn có của bản thân, xứng đáng để làm chủ nước nhà

Triết lý “trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sởphương pháp luận cho việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàndiện Triết lý đó đã chỉ ra rằng, bản chất con người vốn không có sẵn mà nóđược hình thành thông qua các quan hệ xã hội Để có những con người có đầy

đủ năng lực và phẩm chất, thì phải thực hiện chiến lược “trồng người” Mà để

“trồng” được những con người có thể đáp ứng được yêu cầu của cách mạngthì điều kiện tiên quyết là phải giáo dục, thông qua giáo dục Giáo dục tốt kết

Trang 33

hợp với một môi trường có những quan hệ xã hội tốt tất yếu sẽ tạo ra nhữngcon người vừa “hồng” vừa “chuyên” Triết lý đó đã định hướng cho chiếnlược xây dựng con người trong giai đoạn cách mạng mới của Đảng và Nhànước ta.

“Trồng người”, xây dựng con người mới chính là sự nghiệp của toàn xãhội và của chính bản thân mỗi con người “Trồng người”, xây dựng thànhcông những con người mới là công việc thường xuyên và liên tục Nhất làtrong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì “trồng người” càng thể hiện tầmquan trọng của nó “Trồng người”, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩachính là xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đấtnước tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Trang 34

Vào thời nhà Lê năm 1466, vua Thánh Tông đặt dãi đất của Châu Thuận

và Châu Hoá thành 2 phủ là: phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong thuộc xứThuận Hoá Phủ Triệu Phong gồm có 6 huyện là: Vũ Xương, Đan Điền, KimTrà, Tư Vang, Điện Bàn và An Nhơn; sau đó huyện An Nhơn được đổi thànhHải Lăng Từ đây tên gọi Hải Lăng ra đời và gồm có 48 xã Năm 1558,Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hoá Huyện Hải Lăng vẫn giữnguyên tên gọi và gồm có 5 tổng

Từ đó đến nay, huyện Hải Lăng đã nhiều lần thay tên, nhiều lần hợp nhấtvới các địa phương khác Đến ngày 01/5/1990, huyện Hải Lăng được chiatách ra từ huyện Triệu-Hải và trở lại tên gọi Hải Lăng

Hải Lăng là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Trị, diện tích tự

nhiên 42.692,53 ha, dân số 86.840 nghìn người, có 20 xã, thị trấn, 86 làng, 6

khóm, 102 thôn, 53 HTX, 35 tập đoàn sản xuất

Có thể nói, nơi đây là một vùng đất không được thiên nhiên ưu đãi, điềukiện tự nhiên vô cùng khó khăn Những người dân Hải Lăng đã phải rất vất vả

để chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên để bám trụ với quê hương

Bên cạnh đó, chiến tranh cũng đã làm cho người dân ở đây chịu biết baokhó khăn, mất mát Nơi đây chính là một trong những trọng điểm bắn phá của

đế quốc Mỹ, mảnh đất Hải Lăng đã phải gánh chịu hàng chục tấn bom đạn mà

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Kim Dung, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, Tạp chí Khoa học chính trị, số 2-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
2. Thành Duy, Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị, Trịnh Thị Kim Ngọc (đồng chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh phương pháp luận nghiên cứu con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh phương pháp luận nghiên cứu con người
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
6. Đảng Bộ huyện Hải Lăng, Văn kiện đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ XIV, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ XIV
7. Huyện ủy Hải Lăng, Báo cáo bốn năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đực Hồ Chinh Minh”, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo bốn năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đực Hồ Chinh Minh”
8. UBND huyện Hải Lăng, Đề án xây dựng, nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ, công chức , http://www.hailang.quangtri.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng, nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ, công chức
9. Đặng Xuân Kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10.Hồ Chí Minh, Về xây dựng con người mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng con người mới
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
17.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19.Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
20.Vũ Minh Tâm, Tư tưởng triết học về con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học về con người
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w