khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1-CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI
KHÓA TRONG ĐIỀU HÀNH LẠM PHÁT
1.1 LẠM PHÁT
1.1.1 Khái niệm lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nềnkinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua củađồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loạitiền tệ so với các loại tiền tệ khác Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thìđược người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số nàyphụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộcvào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phátbao gồm: Chỉ số giá sinh hoạt (là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập); Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới; Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu; Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn; Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn.
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát.Nếu phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế thường phân biệt 4
loại lạm phát: thiểu phát; lạm phát thấp – là mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới 10 phần trăm một năm; lạm phát cao (lạm phát phi mã) - mức lạm phát tương
ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm
phát phi mã; và siêu lạm phát (mất kiểm soát) - một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi
tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát.Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười Mỹ Phillip Cagan đưa ra làmức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi)
Trang 2-1.1.3 Nguyên nhân của lạm phát
- Lạm phát do cầu kéo: Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ởmức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS.Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sảnlượng cùng tăng Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổngcung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó
có lạm phát
- Lạm phát do chi phí đẩy: Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất củacác xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thànhsản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng
- Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khilượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền vàgiá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng màlượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tănggiá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
- Lạm phát do cơ cấu: Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho
người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền côngcho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanhkém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó
- Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặcsản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trongnước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầumất cân bằng
- Lạm phát do nhập khẩu: Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhậpkhẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPECquyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đótrong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
- Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do [ngân hàng trung ương] mua ngoại tệ
vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngânhàng trung ương mua [công trái] theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưuthông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượngtiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năngcung ứng giá trị của nền kinh tế́ Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quálớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng Khilượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong tay bạn có nhiều hơn 100 triệu , thì sự tiêu dùngtheo đó mà tăng rất lớn theo xã hội Áp lực cung hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường, và
do đó sức ép lạm phát tăng lên
- Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý đó làtâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thìgiá cả sẽ tăng cao tạo nên tâm lý dự trữ đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại tổng cầu trở nên cao hơntổng cung hàng hóa sẽ càng trở nên khan hiếm kích thích giá lên gây ra lạm phát
1.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
Trang 3-Chính sách tiền tệ là tổng thể các biện pháp của Nhà nước pháp quyền, là một bộ phậncủa chính sách kinh tế tài chính của một quốc gia Thông qua việc cung ứng những phươngtiện thanh toán cần thiết cho nền kinh tế và tạo ra những khuôn khổ mang tính pháp lý chocác hoạt động tiền tệ trong nền kinh tế
Tại Việt Nam, mục tiêu của CSTT quốc gia được nêu rõ trong Điều 2 của Luật Ngânhàng Nhà nước Việt Nam như sau: “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chínhsách kinh tế, tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và nâng cao đời sốngtinh thần của nhân dân”
1.2.2 Nội dung chủ yếu của chính sách tiền tệ
CSTT luôn hướng vào việc điều chỉnh quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữatiền và hàng hóa lưu thông bằng các chính sách thích hợp trên 4 lĩnh vực quan trọng sau:
- Chính sách cung ứng và điều tiết khối lượng tiền
Khối lượng tiền tệ được phân chia thành các loại sau:
+ Khối tiền M1: Bao gồm tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng và tiền gởi không kỳ hạntại ngân hàng
+ Khối tiền M2: Bao gồm M1 và tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi định kỳ tại Ngân hàng.+ Khối tiền M3: Bao gồm M3 và tất cả các loại tiền gởi của các định chế tài chính khác.Khi cung ứng tiền tăng lên, theo phản ứng giá cả hàng hóa sẽ được đẩy lên- lạm phátxảy ra phản ánh nhu cầu về tiền cung ứng để bù đắp cho sự tăng giá Nhiệm vụ của CSTT làbảo đảm cho tỷ lệ tăng lượng tiền cung ứng trong nước phải phù hợp với mục tiêu tăngtrưởng, lạm phát và cán cân thanh toán
- Chính sách tín dụng cho nền kinh tế
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế là việc NHTW cấp tín dụng cho các NHTM vàkiểm soát hoạt động của các NHTM thông qua các công cụ như lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dựtrữ bắt buộc,…
- Chính sách ngoại hối
Tỷ giá biến động dẫn đến rủi ro nghiêm trọng trong kinh doanh ngoại thương Tỷ giáchịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như mức giá và tỷ lệ lạm phát, cán cân thanh toán,lãi suất, niềm tin, can thiệp của NHTW, quy chế quản lý ngoại hối,…
- Chính sách lãi suất
Lãi suất là giá thuê quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định, nó là giá
cả của tín dụng Có hai cách quản lý lãi suất chính là cố định lãi suất và thả nổi lãi suất
1.2.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Tái cấp vốn của NHNN thực chất là hành động tiếp vốn cho các NHTM, các TCTD để
mở rộng việc cho vay đối với nền kinh tế Tái cấp vốn được thực hiện dưới các hình thức sau:
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng
Trang 4- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá ngắn hạn
- Cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá
- Lãi suất
Đi đôi với công cụ tái cấp vốn để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là lãi suất Haicông cụ này đi đôi với nhau tạo ra hiệu ứng thực sự trong việc điều chỉnh khối lượng tín dụngnói riêng và khối lượng tiền cung ứng nói chung
Lạm phát là chỉ số kinh tế quan trọng nhất mà NHTW xem xét khi đưa ra quyết định vềlãi suất
Các NHNN luôn phải theo dõi sự gia tăng của lạm phát Khi NHNN nhận thấy lạm phátgia tăng vượt qua mức lạm phát vừa phải, họ sẽ thực hiện bất cứ biện pháp nào để kiềm hãm
sự tăng trưởng này Một công cụ để NHTW kiềm hãm sự gia tăng của lạm phát là lãi suất –các NHNN có thể chống lại sự gia tăng của lạm phát bằng cách tăng lãi suất
Lãi suất cao sẽ gây khó khăn hơn cho hoạt động kinh doanh và cho cá nhân trong việcvay mượn tiền để mua hoặc xây dựng mới, điều này sẽ làm chậm lại sự phát triển kinh tế,đồng thời, kiềm chế lạm phát
- Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ của NHNN để tiến hành giao dịch mua, bánchứng từ có giá ngắn hạn với các NHTM và các thành viên khác của thị trường mở để thựchiện CSTT quốc gia
Khi nền kinh tế có lạm phát gia tăng, NHNN sẽ làm giảm lượng tiền cung ứng bằngcách bán chứng từ có giá Ngược lại, khi nền kinh tế có dấu hiệu trì trệ hoặc suy thoái,NHNN sẽ mua chứng từ có giá của các NHTM để gia tăng khối lượng tiền cung ứng cho nềnkinh tế
- Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái tác động đến các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch khác
và được sử dụng để thực thi CSTT quốc gia
1.3 CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ
1.3.1 Khái niệm
Chính sách tài khoá là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phảitriển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa Chínhsách tài khóa đối lập với những chính sách kinh tế cơ bản khác như chính sách tiền tệ, đó làchính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền.Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế Nhữngthay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đếncác biến số sau trong nền kinh tế:
Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế
Kiểu phân bổ nguồn lực
Phân phối thu nhập
Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt độngkinh tế Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn
1 Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêuchính phủ, T: thu nhập từ thuế) Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn
Trang 5có ngân sách cân bằng
3 Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việctăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2 Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngânsách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó cóngân sách cân bằng
- Chính sách tài khoá và lạm phát theo lý thuyết kinh tế
Phần lớn nghiên cứu lý thuyết kinh tế kinh điển về lạm phát đều cho rằng nguyên nhâncủa lạm phát bao gồm: lạm phát do chính sách tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều là do tăng cungtiền tệ quá mức cầu tiền của nền kinh tế; lạm phát do cầu kéo hay là do sự mất cân đối giữatổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ; lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi có cú sốc giá(ví dụ: giá dầu mỏ) tác động vào làm tăng chi phí sản xuất; lạm phát do sự mất cân đối về cơcấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá
Cách tiếp cận cơ cấu coi các yếu tố cứng nhắc là một trong nguyên nhân gây lạm phátbao gồm: chênh lệch về năng suất lao động giữa các khu vực, tính co giãn thấp của các sảnphẩm thiết yếu, các hạn chế về ngoại hối hay ngân sách Những yếu tố cứng nhắc này dẫnđến sự thay đổi mức giá và gây ra tình trạng lạm phát (Akinboede et al 2004)
Phân tích quan hệ giữa chính sách tài khoá và lạm phát hiện nay cũng phần lớn đượcgiải thích qua tác động gián tiếp tới các nguyên nhân kể trên Tuy nhiên có một trường pháimới tìm cách giải thích tác động của chính sách tài khoá (đặc biệt là thâm hụt ngân sách) đến
sự thay đổi mức giá (fiscal theory of price level - FTPL) Trong phần này chúng tôi sẽ giớithiệu tóm tắt các cách tiếp cận đối với quan hệ giữa chính sách tài khoá và lạm phát
- Tác động của chính sách tài khoá đến lạm phát qua tiếp cận cung, cầu
Theo cách tiếp cận này thì chính sách tài khoá ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầucủa nền kinh tế Trong ngắn hạn thì khi nền kinh tế suy thoái (sản lượng đang ở dưới mứctiềm năng) thì sử dụng chính sách tài khoá mở rộng có thể giúp cho việc tăng sản lượng,thúc đẩy tăng trưởng mà không ảnh hưởng đến mức giá Ngược lại khi nền kinh tế tăngtrưởng nóng thì chính sách tài khoá thắt chặt có thể làm giảm tổng cầu và từ đó làm giảmtốc độ tăng giá (giảm lạm phát) Tuy nhiên có một vấn đề đáng lưu ý là tổng cung về dàihạn là đường thẳng đứng và không phụ thuộc vào mức giá do vậy khi nền kinh tế có sảnlượng đang ở mức tiềm năng hoặc trên mức này thì việc sử dụng chính sách tài khoá mởrộng (tăng chi tiêu và giảm thuế) sẽ không làm tăng sản lượng mà chỉ dẫn đến tăng giá
Trang 6-Trong thực tiễn điều hành thì khó khăn nhất đối với các nhà làm chính sách là việc xácđịnh khi nào sản lượng đã vượt mức tiềm năng để thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt
- Tác động của chính sách tài khoá đến lạm phát qua kênh tiền tệ
Thực chất của cách tiếp cận này là sử dụng mô hình về số lượng tiền tệ để giải thíchtình trạng lạm phát Theo đó cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế được phản ánh bởi cân bằngFisher: MV= PY, với các biến số M là lượng cung về tiền; P là mức giá chung của nền kinhtế; Y là thu nhập (GDP) thực tế của toàn bộ nền kinh tế; V tốc độ quay vòng của tiền Có thểthấy là khi Y và V không đổi, tỷ lệ lạm phát đúng bằng tốc độ tăng cung tiền
Chính sách tài khoá tác động đến lạm phát khi Chính phủ buộc phải in tiền để tài trợcho thâm hụt ngân sách và do vậy làm tăng cung tiền quá mức nhu cầu của nền kinh tế và gây
Trường hợp thứ nhất, nếu Chính phủ muốn có một ngân sách cân bằng sau khi đã chịuthâm hụt ở giai đoạn đầu thì có thể sử dụng nguồn thu từ in tiền để cân đối ngân sách Nhưtrên đã phân tích thâm hụt ngân sách sẽ được tài trợ bằng in tiền sẽ gây ra tình trạng lạm phát.Trường hợp thứ hai, ngân sách bị thâm hụt nhưng Chính phủ không in tiền để tàitrợ thì chính sách tài khoá vẫn có tác động đến mức giá Lý do giải thích liên quan đếnhành vi của các hộ gia đình và cân đối của cải trong nền kinh tế Khi Chính phủ chấpnhận vay nợ hiện tại để bù đắp cho thâm hụt ngân sách nó sẽ làm thay đổi cơ cấu củacải trong nền kinh tế Việc phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ tạo ra một sự tăng cầutrong hiện tại và gây sức ép tăng giá Mức giá sẽ tăng càng cao khi xu hướng tiêu dùngbiên trong dân cư lớn Hơn nữa khi Chính phủ không cắt giảm chi tiêu và tăng thuế đểgiảm bội chi ngân sách và nợ công thì các hộ gia đình không chịu áp lực về cắt giảmtiêu dùng mà ngược lại sẽ vẫn tiếp tục tiêu dùng cao làm tăng sức ép lên giá cả Tuynhiên các nghiên cứu của trường phái FTPL cho rằng việc giá cả tăng sẽ làm giá trị thựccủa các khoản nợ công đã vay trong quá khứ giảm đi và tạo điều kiện cho Chính phủthoả mãn ràng buộc cân bằng ngân sách về dài hạn Các nhà kinh tế còn cho rằng nếuthâm hụt ngân sách được tài trợ bằng vay nước ngoài thì nó sẽ gây sức ép đến tỷ giá
Điểm qua các lý thuyết về quan hệ giữa chính sách tài khóa và lạm phát có thể rút ra một số nhận xét:
Một là, nếu Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng khi nền kinh tế đang có
sản lượng trên mức tiềm năng thì sẽ gây ra tình trạng tăng giá
Hai là, nếu Chính phủ sử dụng biện pháp in tiền để bù đắp bội chi ngân sách thì cũng
gây ra nguy cơ lạm phát cao
Trang 7-Ba là, nếu Chính phủ duy trì mức nợ công cao thì việc vay nợ cũng có thể dẫn tới hệ
quả là mức giá tăng lên, đặc biệt là khi xu hướng tiêu dùng biên của hộ gia đình cao
1.4 SỰ KẾT HỢP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.4.1 Tác động của chính sách tài khóa trong mô hình IS – LM
Chính sách tài khóa sẽ làm dịch chuyển đường IS vì tác động trực tiếp đến tổng cầu
AD, làm thay đổi sản lượng cân bằng
- Chính sách mở rộng tài khóa được áp dụng khi nền kinh tế có sản lượng thực tế Yt haysản lượng cân bằng YE thấp hơn sản lượng tiềm năng Yp
- Và ngược lại, khi Yt (hay YE) > Yp => chính phủ thực hiện chính sách thu hẹp tàikhóa
Lúc ban đầu, với IS1 và LM nền kinh tế đạt sự cân bằng chung trên cả hai thị trường tại
E1, ứng với tổ hợp i1 và Y1 (Y1 > Yp)
Bây giờ, do lạm phát, chính phủ tiến hành cắt giảm chi tiêu, còn lượng cung tiền làkhông đổi, do đó đường LM không dịch chuyển Khoản giảm chi tiêu của chính phủ sẽ làmgiảm tổng cầu AD nên làm giảm sản lượng cân bằng => đường IS dịch chuyển sang trái đến
IS2
Với IS2-LM điểm cân bằng mới là E2 Vì chính phủ giảm chi tiêu đã làm tổng cầu giảm,sản lượng cân bằng giảm nên lượng cầu về tiền sút giảm Với lượng cung tiền cố định, lãisuất phải giảm từ i1 đến i2 nhằm gia tăng lượng cầu tiền, đạt sự cân bằng mói trên thị trường.Như vậy, chính sách thắt chặt tài khóa làm giảm sản lượng cân bằng trên thị trườnghàng hóa – dịch vụ và giàm lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ
Khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thu hẹp đề điều tiết kinh tế vĩ mô về mứcsản lượng tiềm năng, giả sử bằng cách giảm chi tiêu, lượng thay đổi của chi tiêu chính phủ đãđược tính toán sao cho:
∆G = ∆AD0 = ∆Y/k = (Yp – YE)/k
Nói cách khác, chính phủ kỳ vọng tổng cầu giảm từ AD1 xuống AD2, và sản lượng cânbằng giảm đến Yp
Nhưng khi sản lượng cân bằng giảm, cầu tiền cũng giảm, làm giảm lãi suất từ i1 xuống
i2, do đó, sẽ làm tăng đầu tư tư nhân Vì thế, tổng cầu lại tăng, làm tăng sản lượng cân bằng.Sản lượng cân bằng mới là Y2 chứ không phải Yp Sản lượng chỉ tăng được một lượng là ∆Y’chứ không phải ∆Y như chính phủ đã kỳ vọng Hiện tượng này được gọi là tác động hất vào
Trang 8- Khi độ nhạy cảm của cầu tiền đối với thu nhập càng cao thì LM càng dốc, tác động hấtvào sẽ mạnh => chính sách tài khóa càng kém hiệu quả.
1.4.2 Tác động của chính sách tiền tệ trên mô hình IS – LM
Chính sách tiền tệ làm dịch chuyển đường LM vì tác động trực tiếp đến lượng cung tiền
SM, làm thay đổi lãi suất cân bằng
Để giảm lạm phát, Chính phủ sử dụng chính sách giảm lượng cung tiền, tức chính sáchthu hẹp tiền tệ được áp dụng khi nền kinh tế có sản lượng thực tế Yt hay sản lượng cân bằng
YE cao hơn sản lượng tiềm năng Yp
Lúc ban đầu, với IS và LM1 nền kinh tế đạt sự cân bằng chung trên cả hai thị trường tại
IS
1
L M
Trang 9-cân bằng trên thị trường tiền tệ từ i1’ đến i2 Lãi suất giảm lại làm tăng đầu tư tư nhân, nêntăng tổng cầu, tăng sản lượng cân bằng
Kết quả: điểm cân bằng mới là E2, lãi suất tăng từ i1 đến i2, sản lượng cân bằng là Y2
Như vậy, chính sách thắt chặt tiền tệ làm sản lượng cân bằng trên thị trường hàng hoác– dịch vụ và làm tăng lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ
Như vậy, chính sách tiền tệ cân lưu ý: chính sách tiền tệ có tác động mạnh đến sảnlượng cân bằng hay không phụ thuộc vào độ nhạy cảm của đầu tư theo lãi suất Đây cũng làyếu tố quyết định độ dốc của đường IS Nói cách khác, chính sách tiền tệ có tác động mạnhđến sản lượng cân bằng hay không còn phụ thuộc độ dốc của đường IS IS càng dốc thì tácđộng của chính sách tiền tệ càng yếu
Các hậu quả của việc thắt chặt tiền tệ:
- Khởi phát và đẩy mạnh cuộc đua tăng lãi suất:
Quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm năng lượng cho nhữngcuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng Nhìn ở một khía cạnh nào đó, cuộc đua này sẽ khiếnnhiều người bắt đầu quan tâm trở lại với việc đem tiền đi gửi ngân hàng vì lãi suất tiền gửităng cao
Tuy nhiên, nếu lãi suất huy động của ngân hàng tăng thì lãi suất đầu ra khó mà đứngyên Như vậy, chi phí vay mượn cho sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên Ở đây có hai tình huống
có thể xảy ra Một là doanh nghiệp chuyển hết phần chi phí tăng thêm này vào giá bán và nhưvậy, giá cả không những không giảm mà tăng thêm, khiến mục tiêu giảm lạm phát bằng thắtchặt tiền tệ không thể thực hiện Việc doanh nghiệp có thể chuyển chi phí vay mượn vào giá
cả hay không phụ thuộc vào kỳ vọng lạm phát của người dân và khả năng có các nguồn hàngthay thế trên thị trường Cần giám sát kỹ các khâu trong quá trình lưu thông hàng hóa, tránh
Trang 10- Tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm:
Quyết định thắt chặt tiền tệ sẽ tạo áp lực tăng lãi suất ngân hàng, tăng chi phí vay mượncho sản xuất kinh doanh trong tình hình nền kinh tế cần nhiều vốn để phát triển (hệ số ICORcủa nền kinh tế còn quá cao nên để duy trì tăng trưởng thì phải đổ nhiều vốn vào), có thể là
sự sụt giảm đáng kể trong tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Chỉ số tăng trưởng quốc gia sau khi thắtchặt tiền tệ sẽ bị ảnh hưởng mạnh Mà tăng trưởng không cao thì sẽ tạo sức ép lên việc làm
và thu nhập của người dân
- Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp:
Các quy định thắt chặt tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là nhà nước đang cho
"hy sinh" các thị trường vốn và thị trường chứng khoán để chống lạm phát Điều này có khảnăng sẽ làm xói mòn hơn nữa niềm tin của nhà đầu tư
- Đồng tiền lên giá:
Áp lực tăng giá đồng tiền sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho xuất khẩu Hậu quả chung làlàm cho xuất khẩu bị giảm sút mạnh và hàng xuất khẩu bị giảm sức cạnh tranh
1.4.3 Chính sách thu hẹp tài khóa phối hợp với thu hẹp tiền tệ trong mô hình IS – LM
Chính sách này thường được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nóng: tỷ
lệ lạm phát tăng cao hay sản lượng cao hơn sản lượng tiềm năng (Yt >Yp)
Chính sách thu hẹp tài khóa sẽ làm IS dịch chuyển sang trái Chính sách thu hẹp tiền tệ
sẽ làm LM dịch chuyển sang trái (lên trên) Tác động cộng hưởng của cả hai chính sách nàylà: sản lượng cân bằng giảm còn lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi
Trang 11-CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TẠI VIỆT NAM
2.1 VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
Việt Nam trải qua siêu lạm phát trong nửa cuối những năm 1980 (với tỷ lệ trên300%/năm) và đầu những năm 1990 (với tỷ lệ trên 50%/năm) Những nguyên nhân cơ bảncủa tình trạng này là điều kiện thời tiết bất lợi, thiếu hụt lương thực, tốc độ tăng trưởng chậmchạp trong cả lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp và hệ thống tài chính yếu kém trong suốt
9 những năm 1980 Những cuộc khủng hoảng này được tiếp nối bởi sự tự do hóa hàng loạtcác loại giá cả và một loạt các cải cách cơ cấu kinh tế khiến lạm phát tăng cao và trở thànhmột cuộc khủng hoảng
Tại Việt Nam trong thời gian qua, hàng năm NHNN đồng thời công bố hai mục tiêutăng trưởng cung tiền và mục tiêu lạm phát Ví dụ như năm 2010, NHNN đồng thời đặt mụctiêu tăng trưởng cung tiền là 20% và mục tiêu lạm phát là 8% Đây là những quy tắc chứađựng nhiều mâu thuẫn Việc theo đuổi tăng trưởng cung tiền ở mức cố định sẽ khiến chochính sách tiền tệ mất đi tính linh hoạt trong việc kiểm soát lạm phát Rõ ràng, chúng takhông thể đồng thời vừa tăng cung tiền vừa cắt giảm lạm phát trong trường hợp cần thiết.Quan trọng hơn, ấn định mục tiêu tăng trưởng cung tiền ở mức 20% là cao một cách bất hợp
lý Trạng thái cân bằng dài hạn cho chúng ta biết tốc độ tăng cung tiền chỉ nên dao động xấp
xỉ quanh mức lạm phát mục tiêu cộng với tốc độ tăng trưởng kinh tế – khoảng 15% đối vớiViệt Nam Việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cung tiền quá cao trong thời gian dài sẽ dẫnđến việc lạm phát thực tế vượt xa mức mục tiêu và/hoặc gây ra bong bóng giá trên thị trườngtài sản
Trong những năm qua, NHNN đã tiến hành cải cách toàn diện chính sách tiền tệ Ởnhững thời ký trước, NHNN dựa vào các biện pháp kiểm soát trực tiếp như trần tín dụng, cácbiện pháp kiểm soát lãi suất Từ những năm 90, NHNN đã xây dựng một hệ thống khuôn khổchính sách tiền tệ gián tiếp và đưa vào áp dụng như đấu thầu tín phiếu kho bạc, tự do hóa lãisuất, nghiệp vụ thị trường mở, …
2.1.1 Dự trữ bắt buộc
Tại điều 45 Pháp lệnh NHNN quy định: “ NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất10% và nhiều nhất 35% trên toàn bộ tiền gởi tại TCTD Công cụ này được sử dụng từ cuốinăm 1989, tỷ lệ 10% được giữ ổn định một cách cố định Đầu năm 1994, NHNN đã có quyđịnh bổ sung: tỷ lệ dự trữ đối với loại tiền gởi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gởi là7% và được thi hành trong thời gian dài Sự ổn định này đã phản ánh nước ta thời kỳ này bắtđầu sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để điều hành CSTT, kiểm soát lạm phát Tuy nhiên,công cụ này vẫn chưa được vận dụng linh hoạt trong điều kiện thực tế và chưa phát huy hếttác dụng của nó
Tình hình dự trữ bắt buộc cũng có nhiều thay đổi từ năm 2000 đến nay Tỷ lệ dự trữ bắtbuộc tăng từ 5% lên 10% vào tháng 7-2007 cho các kỳ hạn gửi dưới 12 tháng Mức tăng caonày được duy trì cho tới tháng 8-2008 Trong giai đoạn 2009 đến tháng 10-2010, trong khi tỷ
Trang 12Loại TCTD
Không
kỳ hạn và dưới 12 tháng
Từ
12 tháng trở lên
Không
kỳ hạn và dưới 12 tháng
Từ
12 tháng trở lên
Các NHTM Nhà nước (không bao
gồm NHNo & PTNT), NHTMCP đô thị, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
liên doanh, công ty tài chính, công ty cho
NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp
TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự
trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ
sở, Ngân hàng Chính sách xã hội
Ngoài việc áp tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền VND, NHNN còn sử dụng công cụ nàyđối với đồng USD Trong tháng 06/2011, NHNN điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối vớiUSD trong bối cảnh lãi suất huy động USD đang được khống chế ở mức thấp Hành động nàycủa NHNN sẽ giúp làm giảm sức hấp dẫn với ngoại tệ và người dân sẽ chuyển sang gửi tiếtkiệm bằng VND, làm giảm lượng tiền trong lưu thông
2.1.2 Lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối lượng tiền
tệ và đã cho phép sử dụng tại điều 41 và 43 pháp lệnh NHNN Việc tái chiết khấu dựa trêncác chứng từ NHTM đã cho vay nhưng chưa đến hạn các DN phải trả lãi Căn cứ trên cácchứng từ đó mà NHNN cho các NHTM vay lại các khoản nợ mà NHTM đã cho các DN vay.Một mặt, NHNN còn mua lại các dự án mà NHTM đã thẩm định cho vay nhưng không đủvốn giải ngân Công cụ lãi suất chiết khấu được NHNN thực hiện thông qua hình thức chovay cầm cố và mua lại dự án
Ngày 08/03/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu Theo đó, lãi suất tái chiết khấu tăng từ7%/năm lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 11%/năm lên 12%/năm Hành động nàycủa NHNN thực hiện đúng nghị định của Chính phủ về việc siết chặt thị trường tín dụng,kiềm chế lạm phát
379/QĐ-2.1.3 Nghiệp vụ thị trường mở