TRẦN THỊ THÚY NGATên đề tài: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI HƯƠNG SINH SẢN VÀ NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN KHU KHỞI NGHIỆP KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG
Trang 1TRẦN THỊ THÚY NGA
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI HƯƠNG SINH SẢN VÀ NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN KHU KHỞI NGHIỆP KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
2014 – 2019
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2TRẦN THỊ THÚY NGA
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI HƯƠNG SINH SẢN VÀ NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN KHU KHỞI NGHIỆP KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
2014 – 2019 Giảng viên hướng dẫn:TS Phạm Thị Phương Lan
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận được sựgiúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè Đến nay em đã hoàn thànhchương trình học và thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệuTrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôiThú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tìnhgiảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo TS Phạm ThịPhương Lan người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gianthực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS La Văn Công – Quản lí trại lợnKhu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên đã cho phép, tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thựctập tại trang trại
Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, và giúp đỡ em trong suốt thời gian họctập và thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trần Thị Thúy Nga
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 36
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn Hương của trại Khu khởi nghiệp Khoa Chăn
nuôi Thú y năm 2018 38
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại lợn
Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y 39
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn tại
trại lợn Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y 40
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn tại trại 40
Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái đẻ nuôi tại trại 41
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 42
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại .43
Bảng 4.8.Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 44
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại.45
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs:
Kg:
Cộng sựKilogam
Nxb: Nhà xuất bảnSTT: Số thứ tựTT: Thể trọngVAC:
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.1.Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng nơi thực tập 4
2.1.3 Thuận lợi khó khăn 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6
2.2.1 Đặc điểm sinh lí, sinh dục của lợn nái 6
2.2.2 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 9
2.2.3.Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở thực tập 13
2.2.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 23 2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 25
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32 3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
Trang 73.2 Địa điểm và thời gian tiếnhành nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 38
4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái Hương sinh sản 39 4.2.1 Kết quả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái Hương tại trại qua 6 tháng thực tập 39
4.2.2 Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn tại trại40 4.2.3.Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 41
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 42
4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 42
4.3.2 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái 43
4.3.3 Kết quả thực hiện điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại trại 44 Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 8tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung.
Chính vì tầm quan trọng của ngành chăn nuôi, đồng thời để hoàn thànhchương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “ Học đi đôi vớihành ”, “ Lý thuyết gắn liền với thực tiễn ”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại
cơ sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố
và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thờitạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, đápứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Thực tập tại các trại chăn nuôi lợn sẽ giúpsinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộkhoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý củaBan chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyêncùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi tiến
hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái Hương sinh sản tại trại lợn Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trang 91.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
1.2.1.Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái Hương nuôi con
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái Hương nuôi con
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Trại lợn Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên,cách trung tâm thành phố 6 km về phía Tây Ranh giới của xã được xác địnhnhư sau:
+ Phía nam giáp với xã Phúc Trìu
+ Phía tây giáp với xã Phúc Xuân
+ Phía bắc giáp với xã Phúc Hà
+ Phía đông giáp với phường Thịnh Đán
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Trại lợn Khu khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên nằm trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên do đó mang khí hậuđặc trưng của tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng ĐôngBắc nước ta nên có khí hậu đặc trưng cho vùng Đông Bắc đó là khí hậu nhiệtđới và á nhiệt đới với hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động
từ 24 - 290C, ẩm độ trung bình từ 80 - 86%, lượng mưa trung bình là160mm/tháng tập trung chủ yếu vào tháng 5, 6, 7, 8 Với khí hậu trên, trongchăn nuôi cần chú ý công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi
Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong các tháng nàykhí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 12 – 26oC, ẩm độ từ 76 - 83% Vềmùa đông còn có gió mùa đông bắc gây rét và có sương muối gây ảnh hưởngxấu đến sản xuất nông nghiệp
Trang 112.1.2 Điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng nơi thực tập
2.1.2.1.Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm 5 người trong đó có:
+ Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
+ Trong trại giữa các ô chuồng và các khu khác đều được đổ bê tông thường xuyên được quét vôi và phun sát trùng
+ Nước sử dụng chủ yếu ở trại là nước giếng khoan được lọc và được lọcgiữ trong bể chứa Gồm 2 bể chứa lớn được bơm tới hệ thông cung cấp nướcuống cho các chuồng cũng như cung cấp nước sinh hoạt
* Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễthoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung, gồm: 4 chuồngbầu, 2 chuồng đực Chuồng được xây dựng theo hướng Đông - Nam Cácchuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uốngnước tự động ở mỗi ô chuồng
Trang 122.1.3 Thuận lợi khó khăn
+ Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Khoa Chănnuôi Thú y, các thầy cô giáo giỏi có nhiều kinh nghiệm và các cơ quan banngành liên quan
+ Ban lãnh đạo thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất
+ Trại có đội ngũ sinh viên trẻ, nhiệt tình, năng động sáng tạo, sẵn sàngtiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kếtthống nhất cao
+ Trại có vị trí gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và trục đường giaothông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giaocác tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.1.3.2 Khó khăn
+ Do mới được thành lập và nâng cấp nên trại không tránh khỏi nhữngkhó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệmsản xuất, kinh nghiệm quản lí chưa nhiều
+ Do đất đai bạc màu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu có một số thángtrong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn,khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi cây trồng bị hạn chế
Mặc dù trang trại đã được phòng chống dịch bệnh chặt chẽ nhưng vẫn xảy ra và tồn đọng trong các giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi
Trang 132.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lí, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đãphát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Concái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: Giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:Những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giốngthuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơnnhững giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003 [6] cho rằng: Tuổi động dụcđầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ
20 - 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần,
ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúcđộng dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điềukiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau.Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầumuộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [20], chế độ dinh dưỡngảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợnđược chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn nhữnglợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều
Trang 14kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 thángtuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục
về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác độngxấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnhhưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồngtrứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặtkhác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trongmáu không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Biken (1994) [2], mùa vụ và thời
kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu
bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởngcủa nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong cáctháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớmhơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùathu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các
mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớnlên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh vàLưu Kỷ, 2003 [6] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầutiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chấtdinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệuquả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dụclần đầu rồi mới cho phối giống
Trang 15* Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003 [13] tuổi thành thục về thể vóc làtuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầutiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, tronggiai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xươngchậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm.Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg mớinên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100– 110 kg mới nên cho phối
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiệntượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao,noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thảitrứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạtcác biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đóđược lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh, 1993 [28], chu kỳ tính của lợnnái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21ngày Thời gian động dục thường kéodài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và đượcchia làm ba giai đoạn: Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịuđực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
Trang 16+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưacho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trênđối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h.
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi đặt tay lênlưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yênkhi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu đượcphối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh, 1993 [28] trứng rụng tồn tạitrong tử cung 2 - 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thờiđiểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phốivào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối vớilợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thờigian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởngđến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kémnên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.2 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.2.1.Phòng bệnh
Như ta đã biết “ Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh đượcđặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn đượcbệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu,xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòngbệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [22], bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không
Trang 17truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, 1993 [24], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá
ô nhiễm do vê ̣sinhchuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sứ c đề kháng dễ bi cạạ̉m nhiễm E.coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trongphòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [21] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ôchuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn náitrước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những
Trang 18chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cầnphải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng vàphun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng
cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trongchăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửachuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phunsát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sựxâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vắcxin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắcxin) mới có miễn dịch
Trang 19+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [12] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng
kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
Trang 20+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.3.Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở thực tập
2.2.3.1 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Phạm Ngọc Thạch (1996) [25] cho biết tiêu chảy là biểu hiện lâm sàngcủa quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh,nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruộttăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạmthời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn.Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù(Archie Hunter, 2000) [1]
Trang 21Theo Trần Đức Hạnh (2013) [11]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêuchảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31.84 % và 5,37 %, tỷ lệ mắc tiêu chảy vàchết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 – 40 ngày( 30,97 và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày.
Nguyễn Chí Dũng (2013) [10] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độcao (12,1,2 %) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18 %)
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thayđổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơthể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thíchnghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [8]
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [16], bệnh tiêu
chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella, trong đó
Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng
tiêu chảy (Radosits O M., 1994) [34]
- Theo Glawisschning E Bacher H (1992) [32], nguyên nhân gây bệnhphân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinhdưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
- Bệnh tiêu chảy trên heo con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổitheo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao ðiểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14ngày tuổi (Nagy B., Fekete PZS 2005) [33]
Triệu chứng:
Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng
Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa
Người lợn con bị bẩn do dính phân
Vú lợn mẹ dính phân lợn con
Trang 22* Viêm phổi
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phânlập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức
ăn, cách vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa
ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tìnhtrạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị.Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụchăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìmmọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên
lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp.Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiếtthay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chungvới con nhiễm bệnh
2.2.3.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn
nái * Bệnh viêm tử cung
- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [9], viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs,
2002 [15], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
Trang 23+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang con lợn khỏe.
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung + Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm tử cung
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện xâmnhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài, 2002 [7], nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tu ̣cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli….
Lê Văn Năm, 1999 [19] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnhgây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụhay thuốc sản khoa sai kỹ thuâṭdẫn đêń chất nhày trong cơ quan sinh dục bị pháhủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăn nuôi, nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vậnđộng đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữabình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ).Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứngnhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây ra trong thời gian động đực(vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kĩ thuật
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần thiếuhay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung.Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây hiện tượng đẻ khó, viêm tử cung doxây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Trang 24- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệttới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđục, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tửcung lan sang làm chết thai
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinhdục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnhhưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triểncủa lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [9], Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tửcung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi
dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết
nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến
thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng
Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung
tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
Trang 25+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu:
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp
phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone
giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đóbào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên pháttriển kém hoặc chết lưu
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy: Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung,
trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra
nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên,
do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thayđổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại:
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể vàng vẫn
tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên
tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợnnái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được.
Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong cácnguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sốngthấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
- Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiệnvào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nêndịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới
200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu
Trang 26trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá.Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì cóthể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân gây bệnh viêm vú:
Trần Minh Châu (1996) [4] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng
cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảmkhẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra
Trang 27quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu làmôi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm.
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… Khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợncon bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (TrươngLăng, 2000) [14]
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn,sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
- Triệu chứng:
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [26], viêm vúthường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứngđau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dàitrong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vúxuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹđòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê HồngMận, 2002) [18] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa cónhững cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu
- Hậu quả của bệnh viêm vú:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Trang 28Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [17], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con.Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2]: Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từbệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục
2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trìnhtrao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa
bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạnchế, thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
* Bệnh sót nhau
Trong quá trình sinh đẻ bình thường, sau khi thai ra một thời gian nhấtđịnh tuỳ thuộc vào từng loài gia súc: Ngựa 20 - 60 phút, trâu bò 4 - 6 giờ(Bình thường không quá 12 giờ), dê, cừu 30 phút - 2 giờ, và ở lợn là 10 – 60phút nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Nếu quá thời gian trung bìnhtrên, nhau thai còn nằm lại trong tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010 [27]: Sau khi đẻ tửcung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật khôngđược vận động đầy đủ Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P.Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai,thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
Trang 29+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhaucòn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau rangoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
- Hậu quả:
Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽ kếphát sang nhiều bệnh nguy hiểm khác: Viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm ốngdẫn trứng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻ lầnsau Có trường hợp gây viêm tử cung tích mủ mãn tính, dẫn đến tình trạng lợnnái mất khả năng sinh sản
Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điềutrị bệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát
- Chẩn đoán:
+ Để chẩn đoán bệnh sát nhau chủ yếu dựa vào các triệu chứng cục bộ vàtoàn thân như: lợn mẹ không yên tĩnh, đau nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn,thân nhiệt tăng, lợn hay uống nước Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịchmàu nâu
+ Quan sát trực tiếp trực tiếp qua âm đạo: Trường hợp sát nhau hoàntoàn, chỉ nhìn thấy màng mỏng và trong suốt (màng ối, màng niệu) còn ởtrong âm đạo, hay còn treo lòng thòng ở mép âm môn
+ Trường hợp sát nhau không hoàn toàn nhìn thấy được các màng thaivàmột số núm nhau con (trâu, bò) hay nhung mao trên bề mặt màng nhung(ngựa, lợn)
Trang 30+ Trường hợp sát nhau từng phần thì quan sát phần rau đã ra ngoài.Trảinó lên mặt đất có thể phát hiện được những phần mang thai đã bị đứt,phần màng thai còn lại nằm trong tử cung.
- Điều trị:
Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽgây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránhnhững tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung chonhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.2.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài
Pendistrep LA
- Dạng thuốc: huyễn dịch tiêm
- Quy cách sản phẩm: lọ 100 ml
- Thành phần: Trong 100 ml có:
Procaine penicillin G 20 triệu UI và streptomycin 20.000 mg
- Công dụng: Điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết trùng,đóng dấu, viêm tử cung, đau móng, viêm vú
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/15 kg TT,điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau, hạsốt, trợ sức, trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh Lắc kĩtrước khi dùng
Cơ chế tác dụng của Streptomycin và Penicillin
Penicillin có cơ chế tác dụng gần như amoxicillin
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid (AG – amonosid)
là thuốc kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, ức chế sự tổng hợp protein của vikhuẩn ở mức ribosome Streptomycin gắn đặc hiệu vào tiểu phần 30s củaribosome Do vậy mã bị đọc sai, gây tổng hợp và tích lũy các protein sai lạckìm hãm hãm vi khuẩn phát triển Streptomycin còn gây rối loạn cả giai đoạn
Trang 31tổng hợp protein từ khâu khởi đầu, kéo dài đến kết thúc Ngoài ra, còn các cơchế khác như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, thay đổi ADN của vikhuẩn Một số AG khác còn gắn vào tiểu phần 50s.
Kích thích sinh sản: trâu cái, bò cái: 10 ml/con Heo nái: 6 ml/con Cừucái, dê cái: 5ml/con Chó cái, mèo cái: 1 ml/con
Kích thích tiết sữa: trâu cái, bò cái: 3 ml/con, heo nái: 2 ml/con, cừu cái,
dê cái: 1 ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con
+ Cơ chế tác dụng của oxytocin:
Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung, có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ
Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kích thích bài tiết sữa
Oxytocin cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bàng quang
và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung
Trang 322.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.5.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi conChính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [21] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải
là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ănthức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc épthai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe
cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợnnái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước
2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thìkhông giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăngcường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vàothể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinhdưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách độtngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái
* Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,
Trang 332004 [21] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trườnghợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngàycần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng,nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phảikhô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên đểtrống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần
vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dínhtrên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làmnhư vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trựctiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợnnái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quendần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,
2004 [21] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn
mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, màlợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện
để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào nhữngtháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớmcho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không
bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái,cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úmđược cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợncon sơ sinh
2.2.5.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [21] thức ăn cho lợn nái nuôi con phải